1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la

62 554 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân, sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới, Trung Quốc được coi là nước sản xuất và xuất khẩu với sản lư

Trang 1

TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƠN LA

KHOA NÔNG LÂM

= = = o0o = = =

BÁO CÁO THỰC TẬP TỐT NGHIỆP

Chuyên ngành: KHOA HỌC CÂY TRỒNG

Chuyên đề:

“Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi

trồng nấm sò trắng tại xã Thôm Mòn-huyện Thuận Châu-tỉnh Sơn La”

Sơn La – Tháng 04/2013

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN………3

DANH MỤC CÁC CHŨ VIẾT TẮT 4

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 5

1.1 Đặt vấn đề 5

1.2 Mục đích và yêu cầu: 7

1.2.1 Mục đích: 7

1.2.2 Yêu cầu: 7

PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 8

2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới 8

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nước 13

2.3 Tình hình sản xuất Nấm ở Sơn La 19

2.4 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm 21

PHẦN 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 22

3.1.1 Đối tượng và vật liệu 22

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

3.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

3.2 Nội dung nghiên cứu 22

3.3 Phương pháp nghiên cứu 22

3.3.1 Xử lí nguyên liệu 23

3.3.2 Kĩ thuật trồng nấm trong túi màng mỏng 23

3.4 Các chỉ tiêu tiêu theo dõi 24

3.4.1.Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày) 24

3.4.2.Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (cụm) 25

3.4.3 Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất 25

3.5 Sâu bệnh chính 25

3.5.1 Chỉ tiêu sinh trưởng 27

3.5.2 Chỉ tiêu phát triển 27

Trang 3

3.5.3 Chỉ tiêu về chất lượng 28

3.5.4.Chỉ tiêu về các yếu tố cấu thành năng suất 28

3.5.5 Bệnh hại chính 28

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28

PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29

4.1 Đặc điểm hình thái của các giống tham gia thí nghiệm 29

4.2.1 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch 30

4.2.2 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch 30

4.2.3 Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch đợt 1 30

4.2.4 Thời gian từ khi cấy giống đến khi thu hái đợt nấm cuối cùng 31

4.3 Ảnh hưởng của sâu bệnh hại đến sinh trưởng và phát triển của nấm Sò 31

4.4 Theo dõi các chỉ tiêu về sinh trưởng của nấm 32

4.4.1 Chiều dài cuống nấm và tốc độ tăng chiều dài cuống nấm 32

4.4.2 Đường kính gốc nấm 34

4.3 Số cây trên cụm trên các công thức thí nghiệm 35

4.3.1 Khối lượng trung bình của một cụm 36

4.3.2.Khối lượng trung bình của một cụm (kg) 37

4.4 Đường kính của mũ nấm 39

4.4.1 Đường kính trung bình mũ nấm 39

4.4.2 Đường kính mũ nấm và tốc độ tăng đường kính mũ nấm 40

5.1 Kết luận 46

5.2 Kiến nghị 47

PHỤ LỤC 1: CÁC HÌNH ẢNH NUÔI TRỒNG NẤM 48

PHỤ LỤC 2: TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ XỬ LÝ SỐ LIỆU THÍ NGHIỆM 54

Trang 4

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên tôi trong suốt quá trình thực hiên chuyên đề

Do kiến thức và thời gian thực tập có hạn chế cho nên báo cáo này không tránh khỏi sai sót Kính mong thầy cô và bạn bè góp ý để báo cáo được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Sơn La,ngày 24 tháng 4 năm 2013

Sinh viên

Lường Thị Mùi

Trang 6

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước sản xuất nông nghiệp lớn nên hàng năm sau mỗi mùa vụ lượng phế thải như rơm rạ, vỏ lạc, thân cây ngô,…để lại đồng ruộng là rất lớn Nếu không được sử dụng thì gây lãng phí và có thể là nơi ủ bệnh cho vụ sau Vì thế, việc sử dụng rơm rạ, vỏ lạc, thân cây ngô…làm nguyên liệu cho nghề trồng nấm được xem là một trong những giải pháp hợp lý và hiệu quả Vừa giải quyết được công ăn việc làm của người dân lúc nhàn dỗi, vừa tăng thêm thu nhập lại vừa giải quyết được vấn đề ô nhiễm môi trường, góp phần xây dựng nền nông nghiệp bền vững

Nấm ăn bao gồm nhiều loại như: nấm Rơm, nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Linh Chi, nấm Hương, Mộc Nhĩ,…Nấm ăn là món ăn quý không chỉ vì thơm ngon

mà còn có giá trị dinh dưỡng cao Đặc biệt có sự hiện diện của 9 loại axit amin không thay thế rất cần thiết cho con người Nấm ăn giàu lơxin và lizin là hai loại axit amin ít có trong ngũ cốc Do đó xét về chất lượng đạm của nấm ăn không thua gì so với đạm của động vật

Nấm ăn là một loại thực phẩm có chứa rất nhiều chất dinh dưỡng đặc biệt chứa nhiều loại vitamin: B, C, K, A, D, E Trong đó có nhiều nhất là vitamin B:

B1, B2, B3, Nếu so với rau rất nghèo sinh tố B12 thì chỉ cần ăn 3 gam nấm tươi là

đủ cung cấp lượng sinh tố B12 cho nhu cầu mỗi ngày Tương tự như hầu hết các loại rau quả khác nấm ăn chứa nhiều các nguyên tố khoáng (K, Na, Fe, Al, Mn,…) Qua nghiên cứu khoa học ăn 100g nấm tươi ngang với 2 quả trứng vịt

Ngoài có giá trị dinh dưỡng cao nấm ăn còn có giá trị dược liệu dùng chữa một số bệnh: làm hạ huyết áp, chống bệnh béo phì, chữa bệnh đường ruột, giảm lượng cholesterol trong máu, phòng chống bệnh ung thư Bởi vậy, nấm ăn được xem như một loại “rau sạch “ và “ thịt sạch “ được sử dụng rỗng rãi trong

các bữa ăn hàng ngày của con người

Trang 7

Ngành sản xuất nấm ăn đã được hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay Ngày nay giá trị của các loại nấm ăn càng được tăng lên nhờ những chứng minh khoa học về giá trị dinh dưỡng và khả năng trị bệnh của chúng Trong các loại nấm ăn được trồng phổ biến ở Việt Nam thì nấm không chỉ là loại

thức ăn ngon giàu dinh dưỡng mà còn có giá trị rất lớn về mặt dược liệu

Kỹ thuật nuôi trồng nấm khá đơn giản, không cần thiết bị gì đặc biệt, đầu tư

thấp, nguồn nguyên liệu dồi dào từ tất cả các phế phụ phẩm của ngành nông nghiệp,

lâm nghiệp giàu Xellulose đều có thể trồng được nấm Do vậy mà phát triển nghề

trồng nấm đã làm tăng thu nhập cho xã hội, giải quyết nguồn thực phẩm đang

còn rất thiếu ở nước ta Mặt khác nó còn góp phần tạo công ăn việc làm, giải quyết tỷ lệ thất nghiệp cho nhân dân, từng bước xoá đói giảm nghèo ở vùng

nông thôn Hơn nữa nuôi trồng nấm còn là biện pháp xử lý có hiệu quả nguồn phế thải nông nghiệp, bảo vệ môi trường và ngoài ra phế phẩm của việc nuôi trồng nấm có thể sử dụng trong chăn nuôi và trồng trọt

Hiện nay việc nuôi trồng nấm ăn đặc biệt là nấm sò sẽ được người dân chú ý Tuy nhiên vẫn còn ở mức độ nhỏ lẻ, manh mún chưa có sự đầu tư Việc nuôi trồng nấm chủ yếu phát triển trên nền cơ chất tự nhiên mà không bổ sung thêm các chất dinh dưỡng hữu cơ khác Do vậy sản phẩm thu được thường không đạt nhu cầu như mong muốn chẳng hạn: cụm nấm nhỏ, đường kính mũ nấm nhỏ, tốc độ sinh trưởng chậm làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm không cao… Việc nuôi trồng nấm trên nguyên liệu như bông phế thải, bổ sung một số chất dinh dưỡng khác nhau trên bông thải ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng Nấm như thế nào? Đó là vấn đề rất quan trọng, vì vậy tôi quyết định chọn

đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất

thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã Thôm Mòn-huyện Thuận tỉnh Sơn La”

Trang 8

Châu-1.2 Mục đích và yêu cầu:

1.2.1 Mục đích:

- Xác định được cơ chất thích hợp cho năng suất và phẩm chất cao

1.2.2 Yêu cầu:

- Khảo sát khả năng và tốc độ sinh trưởng của cây

- Khảo sát độ bền của cá thể nấm sau thu hoạch

- Khảo sát hình thái và chất lượng của cá thể nấm

- Thu thập tài liệu liên quan

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trên thế giới

Tình hình nghiên cứu nấm ăn trên thế giới cũng đang phát triển mạnh mẽ, nhiều công trình nghiên cứu và phát triển với quy mô lớn đã được hình thành Đặc biệt là Trung Quốc - một nước có nghề trồng nấm phát triển từ lâu và rất mạnh mẽ Năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn toàn thế giới là 3.763.000 tấn, trong đó: nấm Mỡ là 1.424.000 tấn, nấm Hương là 393.000 tấn Năm 1994, tổng sản lượng nấm thế giới lên 4.909.000 tấn, trong đó: nấm Mỡ là 1.846.000 tấn (37,6%), nấm Hương là 826.200 tấn (16,8%), nấm Rơm là 798.800 tấn (6,1%)…

So sánh năm 1994/1990 thì nấm Mỡ, nấm Hương, nấm Rơm… đều tăng mạnh Các nước sản xuất nấm chủ yếu năm 1994 là Trung Quốc có 2.850.000 tấn (chiếm 53,79% tổng sản lượng) Hoa Kỳ 393.400 tấn (chiếm 7,61%); Nhật Bản 360.100 tấn (7,34%); Pháp 185.000 tấn; Inđônêxia 118.800 tấn.[1]

Hiện nay các nước trên thế giới đang tập chung nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ các công trình nuôi trồng nấm ăn và nấm dược liệu Khu vực bắc Mỹ

và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp là chính Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 – 1.000 tấn/năm được cơ giới hoá cao từ khâu

xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến do máy móc thực hiện, năng suất nấm trung bình của các nước này đạt 40 - 60% so với nguyên liệu ban đầu (nấm Mỡ,

nấm Sò).[1]

Khu vực Châu Á triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ Nghề trồng nấm của khu vực này cũng phát triển mạnh mẽ, một số loại nấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến như: nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ Bắt đầu

từ những năm 90 tại đây đã phát triển toàn diện và tập trung quy mô nghiên cứu

về sinh vật, di truyền học phòng trừ sâu bệnh hại và chế biến dược phẩm từ nấm

Ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân, sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới, Trung Quốc được coi là nước sản xuất và xuất khẩu với sản lượng lớn nhất, năm 1995 có sản lượng là: 3.000.000 tấn, chiếm 60% tổng sản lượng thế giới Đồng thời Trung Quốc cũng

Trang 10

là nước suất khẩu nấm nhiều nhất với khoảng 1.5 triệu tấn sản phẩm trên một năm.[2]

Nấm ăn được dùng từ rất lâu đời Theo tài liệu khảo cổ học chúng ta đã biết được cách đây 3000 năm nấm được dùng làm thực phẩm Cũng theo tài liệu

khảo cổ thì từ thời kỳ đồ đá cũ 3000 - 4000 năm TCN các cư dân Trung Quốc đã biết thu hái và sử dụng nhiều loại nấm từ thiên nhiên Năm 400 TCN các nước này đã có miêu tả khoa học về sinh lý, sinh thái của không ít các loài nấm Năm

300 nấm ăn được coi là mỹ thực trong cung đình Trung Hoa, từ thời ấy nấm đã được coi là nhóm sinh vật đặc biệt không phải là thực vật Năm 200 - 100 TCN trong sách thần nông bản thảo kinh đã miêu tả tỉ mỉ về hình thái, tính năng, công dụng của các loài nấm dùng làm thuốc chữa bệnh hoặc bồi bổ cơ thể như: thanh chi, xích chi, hoàng chi Năm 100 TCN bắt đầu có những ghi chép đầu tiên về

kỹ thuật nuôi trồng nấm.[2]

Riêng đối với nấm rơm năm 1822 trong sách “Quảng Đông Thông Chí” đã

có ghi chép về kỹ thuật trồng nấm rơm Năm 1897 Hội nông dân Mỹ đã cho

xuất bản cuốn “Phương pháp trồng nấm rơm trong nhà” chỉ 1 năm sau cuốn sách

này đã được in và dịch tại Trung Quốc Trong luận án của TS Beker (Malaysia)

đã xác nhận nấm rơm được trồng đầu tiên ở Trung Quốc sau đó phổ biến sang các nước Đông Nam Á và Bắc Phi Cũng có tài liệu cho rằng nấm rơm được

trồng đầu tiên tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam cách đây 2000 năm.[4]

Năm 1907 trong báo cáo của tác giả Touricforil (Pháp) đã mô tả phương

pháp dùng phân ngựa rồi cấy vào đó bào tử của cây nấm trưởng thành Đây

chính là phương pháp chọn giống sơ khai nhất.[4]

Từ những năm đầu của thế kỷ XX nhất là từ năm 1950 trở lại đây khi công nghệ sinh học phát triển đã mở ra cho nghề trồng nấm những bước tiến

mới Các nước có nghề trồng nấm phát triển đã nghiên cứu và chọn tạo ra những giống nấm mới có giá trị về mặt dinh dưỡng, kinh tế và dược liệu được chọn lọc bằng nhiều phương pháp khác nhau kể cả mức độ phân tử.[4]

Năm 1954 Takemura đã thực hiện phép lai bắt cặp giữa hai dòng đơn

nhân ở nấm Colibiaveltipes

Trang 11

Năm 1973 Denies và Wessel thực hiện kỹ thuật dung hợp tế bào trần trên

nấm sò (pleurotuspp) và linh chi (G lucidum)

Hiện nay thế giới đã ghi nhân được khoảng 20.000 loài nấm ăn, trong đó có

80 loài nấm ăn ngon, có giá trị đã và đang được nghiên cứu, nuôi trồng Năm

1939 toàn thế giới mới chỉ có 10 nước nuôi trồng Nhưng đến năm 1995 đã có trên 100 nước sản xuất nấm ăn

Trong những năm gần đây việc nghiên cứu và nuôi trồng nấm ăn có những bước phát triển nhảy vọt, nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực phẩm thực thụ ở nhiều nước phát triển như: Hà Lan, Mỹ, Đức, Pháp, nghề trồng

nấm được cơ giới hoá từ khâu xử lý nguyên liệu đến khâu thu hái và chế biến

đều do máy móc tự thực hiện

Ở Châu Á, Nhật Bản là nước đi đầu trong việc đưa máy móc vào quy

trình trồng nấm Nhiều nhà máy với những dây chuyền gần như tự động hoá và

sản lượng có thể đạt hàng chục tấn/năm Phần lớn các nước trong khu vực Châu

Á còn lại nhất là các nước trong khu vực Đông Nam Á, trồng nấm mang tính chất thủ công lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên tỷ lệ rủi ro khá cao Năm 1990 tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới là: 3.763.000 tấn

Năm 1994 tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới là: 4.909.000 tấn

Năm 2001 đạt: 6.280.000 tấn Trong đó Trung Quốc có sản lượng đạt

5.230.000 tấn chiếm khoảng 5/6 sản lượng nấm trên toàn thế giới

Đến năm 2005 thì tổng sản lượng nấm ăn trên toàn thế giới đạt khoảng 20 triệu tấn Riêng Trung Quốc chiếm 50% sản lượng so với toàn thế giới Tốc độ tăng trưởng về sản lượng nấm năm sau cao hơn năm trước 5%

Ngành sản xuất nấm ăn trên thế giới đã phát triển nhanh và mạnh mẽ Trong đó phải kể đến Trung Quốc là nước có nghề trồng nấm từ xa xưa (cách đây khoảng 5.000 – 4.000 năm trước Công nguyên) những cư dân nguyên thuỷ của Trung Quốc đã biết thu lượm và sử dụng nhiều loại nấm ăn từ thiên nhiên Cho đến nay, tổng sản lượng nấm ăn của Trung Quốc chiếm 60% tổng sản lượng nấm ăn trên thế giới bao gồm nhiều loại nấm như: nấm Hương, nấm Rơm,

Trang 12

nấm Mỡ, Mộc Nhĩ, Linh Chi,…hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Nga, Ba Lan

Mức tiêu thụ nấm bình quân tính theo đầu người của Châu Âu, Châu Mỹ khoảng 2 - 3 kg/năm Nhật, Đức khoảng 4 - 5 kg/năm Dự kiến mức tiêu thụ này trong tương lai sẽ tăng với mức 3.5%/năm Trên thị trường Châu Âu nấm Mỡ

chiếm 80 - 95%, Mộc Nhĩ khoảng 10% thị trường

Ở khu vực Châu Á, các nước như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc,…triển khai sản xuất nấm theo mô hình vừa và nhỏ Một số loại nấm ăn được nuôi trồng khá phổ biến đó là nấm Hương, nấm Sò, Mộc Nhĩ, nấm Mỡ Đặc biệt là Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân; sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc lớn nhất thế giới: năm 1995 sản lượng của Trung Quốc là 3.000.000 tấn, chiếm 60% tổng sản lượng nấm ăn trên thế giới gồm nhiều loại nấm như: nấm Mỡ, nấm Hương, nấm Rơm, Mộc Nhĩ,…Hàng năm Trung Quốc xuất khẩu hàng triệu tấn nấm sang các nước phát triển thu về nguồn ngoại tệ hang tỷ đô la Hiện nay Trung Quốc đã dùng kỹ thuật

“ khuẩn thải học” để trồng nấm nghĩa là dùng các loại cỏ cây thân thảo để trồng nấm thay cho gỗ rừng và nguồn nguyên liệu tự nhiên ngày càng cạn kiệt Riêng Phúc Kiến đã có 800.000 tấn (chiếm 26,67% cả nước; 6,4% cả thế giới)

Nước xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/năm; giá bán nấm mỡ trung bình 600 – 1.000 USD/tấn cao hơn 1,2 – 1,5 lần so với thịt bò; nấm Mỡ muối có giá bán khoảng 1.300 – 1.500 USD/tấn; các loại sản phẩm nấm như Mộc nhĩ, nấm Hương, nấm Rơm,…cũng có giá bán dao động trong khoảng 1.700 – 6.500 USD/tấn Mỗi năm, Phúc Kiến xuất sang Mỹ 23.000 – 26.000 tấn nấm Mỡ đóng hộp và bán sang Nhật: 11.000 – 13.000 tấn nấm Mỡ đóng hộp, trị giá 15.000.000 triệu USD Nên các nước này việc nghiên cứu nấm rất được chú trọng Như Trung Quốc ở một số trường đại học đã có cả các môn học về nấm trồng và các viện nghiên cứu về nấm như tỉnh Phúc Kiến của Trung Quốc hiện đã nuôi trồng tới 45 chủng nấm ăn và hơn 100 chủng loại nấm dại Lực lượng làm nấm cũng rất hùng hậu

Trang 13

với khoảng hơn 20 cơ quan nghiên cứu triển khai về nấm ăn gần 100 cán bộ kỹ thuật cao cấp, hơn 600 cán bộ trung cấp và nhiều kỹ thuật viên khác…

Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan

và các nước Châu Âu… Tổng sản lượng nấm ăn trên thị trường thế giới vào khoảng 20 triệu tấn sản phẩm/năm và đang có xu hướng tăng Nước xuất khẩu nấm nhiều nhất trên thế giới hiện nay là Trung Quốc với khoảng 1,5 triệu tấn sản phẩm/năm; giá bán nấm Mỡ tươi trung bình 600 – 1.000 USD/tấn; nấm Mỡ muối có giá bán khoảng 1.300 – 1.500 USD/tấn; các loại sản phẩm nấm khác như Mộc Nhĩ, nấm Hương, nấm Rơm… cũng có giá bán dao động trong khoảng 1.700 – 6.500 USD/tấn

Nhìn chung nghề trồng nấm phát triển nhanh và rộng khắp, nhất là trong

20 năm trở lại đây, với 8 loài nấm ăn được nuôi trồng phổ biến và hơn 50 loài

khác đang dần đưa vào sản xuất

Sản lượng nấm thế giới năm 2011 có thể đạt 30 triệu tấn, tăng 6,2% so với năm trước Đây là con số dự đoán của Hiệp hội các nước sản xuất nấm Các chuyên gia cho rằng, việc sản lượng nấm thế giới tăng trong năm 2011 là do các nước đã mở rộng quy mô sản xuất nấm Đây cũng là thuận lợi khiến sản lượng nấm toàn cầu có thể đạt mục tiêu đề ra trong năm 2011

Trung Quốc là nước sản xuất nấm lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là nguồn cung chủ yếu mặt hàng này, chiếm 50% của nguồn cung toàn cầu, tăng 5,5%, đạt 3,43 triệu tấn trong năm 2011 do tăng diện tích Sau Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a là nước sản xuất nấm thứ hai trên thế giới, chiếm khoảng 29% nguồn cung toàn cầu ANRPC dự kiến nguồn cung của In-đô-nê-xi-a sẽ tăng 8%, với 2,95 triệu tấn trong năm nay Ấn Độ hiện nay có năng suất cao su thiên nhiên cao nhất trên thế giới

Nguồn cung của Ấn Độ có thể đạt 884.000 tấn trong năm nay, tăng 3,9%

so với năm ngoái do ước tính tăng: 14.000 ha nhà xưởng nuôi trồng nấm và năng suất tốt hơn Theo số liệu của ANRPC, sản lượng của các nước đứng đầu khác như Việt Nam và Trung Quốc cũng dự kiến tăng trong năm nay Việt Nam

sẽ có sản lượng 755.000 tấn, Trung Quốc 647.000 tấn, Srilanka 153.000 tấn,

Trang 14

Philippines 99.000 tấn và Campuchia 42.000 tấn

Theo đánh giá của hiệp hội khoa học nấm ăn quốc tế (ISMS) có thể sử dụng khoảng 250 phế phụ liệu trong nông lâm nghiệp để trồng nấm đem lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội Sản xuất nấm ăn đem lại nguồn thực phẩm, tạo việc làm tại chỗ, vệ sinh môi trường đồng ruộng chống lại việc đốt rơm, đốt phá rừng, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho cải tạo đất, góp phần tích cực vào chu trình chuyển hóa vật chất Trong sinh học nhờ sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong nghề trồng nấm về chọn tạo giống nấm, về kỹ thuật nuôi trồng và sự bùng nổ của thông tin, nghề trồng nấm đã và đang phát triển trên toàn thế giới, được coi là nghề xóa đói, giảm nghèo và làm giàu thích hợp với các vùng nông thôn miền núi

2.2 Tình hình nghiên cứu và sản xuất trong nước

Việt Nam có rất nhiều tiềm năng để phát triển nghề trồng nấm, riêng lượng rơm rạ 20 – 30 triệu tấn/năm đủ để cho “ra đời” 2 triệu tấn nấm tươi, trị giá 1 tỷ USD, thậm chí, nếu chế biến thành đồ hộp, giá trị còn cao hơn Năm 2002, cả nước mới sản xuất được 100.000 tấn nấm thực phẩm thì đến nay đã đạt 150.000 tấn/năm Kim ngạch xuất khẩu đạt trên 60 USD/năm Điều đó chứng tỏ nghề trồng nấm đang mang lại hiệu quả kinh tế cao

Từ những năm 70 của thế kỷ XX vấn đề nghiên cứu và sản xuất nấm ăn được bắt đầu Đến năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại trường Đại học Tổng Hợp Hà Nội

Tuy nhiên trong vòng 20 năm trở lại đây, trồng nấm mới được xem là một

nghề đem lại hiệu quả kinh tế Hiện nay đang triển khai trồng 6 loại nấm ăn chính là: nấm Rơm, Mộc nhĩ, nấm Sò, nấm Mỡ, nấm Hương và nấm dược liệu Linh Chi Mặc dù các loại nấm này có thể trồng quanh năm ở nhiều nơi trong cả

nước nhưng ở phía Nam chủ yếu trồng nấm Rơm, Mộc Nhĩ, sản lượng đạt trên

10.000 tấn/năm, các tỉnh phía Bắc chủ yếu là sản xuất nấm Mỡ, nấm Sò nấm Hương

Trong những năm đầu của thập kỷ 90 phong trào trồng nấm mỡ được phát triển mạnh mẽ Tổng sản lượng đạt khoảng 500 tấn/năm Thị trường tiêu thụ chủ

Trang 15

yếu là nấm muối xuất khẩu sang Nhật Bản, Italia, Đài Loan, Thái Lan

Năm 1985 và 1986 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh thành lập trung tâm sản xuất nấm thương mại – Hà Nội (sau này đổi thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội)

và thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh

Cũng trong khoảng thời gian này một số đơn vị sản xuất nấm khác cũng được thành lập như: công ty nấm Thanh Bình (Thái Bình), Xí nghiệp nấm (Tổng công ty Rau Quả Việt Nam - VEGETEXCO), các Công ty Liên doanh sản xuất

và Chế biến nấm ở Cần Thơ, Đà Lạt

Đến nay nghề trồng nấm đang dần đi sâu vào từng vùng từng hộ nông dân

ở nước ta, được phổ biến ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước từ Bắc vào Nam, với những thành công thu được đáng kể, với công nghệ nuôi trồng cũng được cải thiện rõ rệt, năng suất được nâng lên

Miền Bắc nấm được trồng nhiều ở các tỉnh như: Thái Bình, Ninh Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội Hiện nay các nhà khoa học đã có trong tay một

số lượng lớn khá phong phú về các giống nấm và công nghệ nuôi trồng nấm thông qua các quá trình nghiên cứu và trao đổi quốc tế Năm 1984 thành lập trung tâm nghiên cứu nấm ăn tại trường đại học tổng hợp Hà Nội Năm 1985 tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố Hà Nội thành lập trung tâm sản xuất nấm Thương Mại – Hà Nội (sau đó đổi tên thành công ty sản xuất giống, chế biến và xuất khẩu nấm Hà Nội) Năm 1986 được tổ chức FAO tài trợ UBND thành phố

Hồ Chí Minh thành lập xí nghiệp nấm thành phố Hồ Chí Minh Năm 1992 –

1993 công ty nấm Hà Nội nhập thiết bị chế biến nấm và “nhà trồng nấm công nghiệp” của Italia Phong trào sản xuất nấm Mỡ trong những năm 1988 – 1992

đã mở rộng đến hầu hết các tỉnh phía Bắc Vì vậy sản lượng nấm đã tăng từ khoảng 30 tấn/năm (1988) lên 250.000 tấn/năm vào năm 1993 Tuy nhiên do sản xuất thua lỗ, nhiều cơ sở bị giải thể và nhiều lí do khác mà phong trào trồng nấm tạm lắng xuống Đến năm 1996 sản lượng nấm ăn lại quay trở về điểm xuất phát của năm 1989 là 50.000 tấn/năm

Trang 16

Trong những năm gần đây được sự quan tâm của Nhà nước, nghề trồng nấm đã thực sự hồi sinh và từng bước phát triển bền vững Với những chương trình như: chương trình mỗi quốc gia và khoảng 40 tỉnh thành trong trong các dự

30 triệu đồng và 100m2 diện tích nhà xưởng

Một điểm thuận lợi khác là thị trường tiêu thụ nấm trong nước và xuất khẩu ngày càng được mở rộng Giá bán buôn nấm tươi tại các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Lạng Sơn khá cao ( dao động từ 30.000-50.000đ/kg tùy từng loại) Ngoài giá trị dinh dưỡng (giàu protein, glucid, lipid, các axit amin, vitamin, khoáng chất… trong nấm còn có các hoạt tính sinh học (các chất

đa đường, axit nucleic ) nên nấm được coi là “rau sạch”, “thịt sạch” và là “thực phẩm thuốc” Vì lẽ đó, nhu cầu ăn nấm của nhân dân đang ngày càng tăng Trên thị trường quốc tế, sản phẩm nấm mỡ, nấm rơm muối, sấy khô, đóng hộp của Việt Nam chưa cung ứng đủ Việc có thị trường rộng và ổn định là những điều kiện thuận lợi để hỗ trợ rất tốt phát triển nghề trồng nấm ở nước ta

Để góp phần tạo nên bước đột phá về quy mô và sản lượng nghề sản xuất nấm, phấn đấu đạt mục tiêu đến năm 2020, Việt Nam có thể sản xuất được 1

Trang 17

triệu tấn nấm, tức là giải quyết được việc làm cho 1 triệu lao động, Trung tâm Công nghệ sinh học thực vật-Viện Di truyền nông nghiệp đề xuất các cơ quan hữu quan cần có chiến lược tuyên truyền sâu rộng về nghề trồng nấm với phương châm: “nhiều người biết trồng nấm, người người biết ăn nấm” nhằm nâng cao chất lượng khẩu phần ăn của người Việt Nam Bên cạnh đó, cần nhanh chóng đầu tư xây dựng các trung tâm, xưởng sản xuất giống trong cả nước để chủ động cung ứng đủ nhu cầu giống nấm cho nông dân Có cơ chế thu mua nấm tươi chế biến muối, sấy khô, đóng hộp tập trung Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ về giống và giao quyền sử dụng đất một cách hợp lý để khuyến khích việc mở rộng quy mô sản xuất nấm hàng hóa theo kiểu trang trại tập trung cho những người sản xuất nấm chuyên nghiệp Cần coi việc sản xuất nấm là một nghề trong sản xuất nông nghiệp và sự đầu tư đúng hướng của cơ quan quản lý nhà nước Làm được như vậy thì đến năm 2020, về cơ bản, Việt Nam có thể phát triển được ngành công nghiệp sản xuất giống, nuôi trồng và chế biến nấm.

Theo Nguyễn Lân Dũng, kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả tháng 8/2010 đạt 28,8 triệu USD Tổng kim ngạch nhập khẩu rau hoa quả 8 tháng đầu năm đạt 176,4 triệu USD Trong đó Nấm là mặt hàng đạt kim ngạch cao nhất đồng thời

có mức tăng rất mạnh so với cùng kì, 8 tháng đầu năm 2010, kim ngạch xuất khẩu nấm đạt 9,7 triệu USD tăng 101,8% Đây là mặt hàng được ưa chuộng tại thị trường Việt Nam, nhất là những tháng cuối năm

* Một số thuận lợi để trồng nấm

1 Nguyên liệu trồng nấm rất sẵn có như: Rơm rạ , mun cưa, than cây gỗ, thân lõi ngô, bông phế thải ở các nhà máy xí nghiệp dệt, bã mía ở các nhà máy đường ước tính có trên 40 triệu tấn nguyên liệu chỉ cần sử dụng 10 - 15% lượng này để trồng nấm đã tạo ra trên một triệu tấn trên năm và hàng trăm tấn phân hữu cơ

2 Trong những năm gân đây nhiều đơn vị nghiên cứu ở các viện, trường, trung tâm đã tạo được một số loại giống ăn, nấm dược liệu có khả năng thích ứng với môi trường ở Việt Nam cho năng suất khá cao Các tiến bộ kỹ thuật về nuôi trồng, chăm sóc và bảo quản, chế biến nấm ngày càng được hoàn thiện,

Trang 18

trình độ và kinh nghiệm của người nông dân được nâng cao Năng suất trung bình của các loại nấm đang nuôi trồng hiện nay cao gấp 1,5 - 3 lần so với 10 năm về trước

Một số trung tâm sản xuất nấm có uy tín như Viện di truyền Nông nghiệp,

Sở khoa học và công nghệ Hòa Bình, xí nghiệp nấm Toàn Thắng ( Bắc Giang), trung tâm công nghệ sinh học ứng dụng - Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa sinh học – Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

* Đến nay nghề trồng nấm cũng đang dần được khôi phục và phát triển mạnh mẽ thể hiện ở các mặt sau:

- Về giống nấm: Nước ta có khả năng phát triển rất nhiều các chủng loại nấm khác nhau giống như ở Trung Quốc và các nước trong khu vực song hiện nay đang tập trung triển khai 6 loại nấm chính đó là: nấm Rơm, nấm Sò Mộc Nhĩ, nấm Mỡ, nấm Hương, nấm dược liệu Linh Chi Với điều kiện khí hậu từng vùng khác nhau có thể nói nước ta trồng được nấm quanh năm, nước ta có một

số Trung tâm sản xuất giống nấm có uy tín như: viện Di Truyền Nông Nghiệp, Trung tâm Công Nghệ Sinh Học Ứng Dụng – Đại học Quốc Gia Hà Nội, Khoa Sinh học - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh

Các giống nấm đã và đang được nuôi trồng ở Việt Nam từ nhiều nguồn giống khác nhau, một số giống nấm nhập từ Hà Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Italia, Nhật Bản…Một số khác thì được sưu tầm trong nước

1 Nấm rơm được trồng chủ yếu ở các tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm 90% lượng nấm rơm trong cả nước Ở các tỉnh phía bắc nấm rơm chỉ được trồng trong mùa hè nên sản lượng nấm rơm không cao

2 Mộc nhĩ trồng tập trung ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ như Đồng Nai, Bình Phước, … chiếm 50% sản lượng Mộc nhĩ trong cả nước

3 Nấm Mỡ, nấm Sò, nấm Hương chủ yếu được trồng ở các tỉnh miền Bắc sản lượng mỗi năm đạt 3.0000 tấn

4 Nấm dược liệu: Linh chi, Vân chi, Đầu khỉ,…mới được nuôi trồng ở một số tỉnh thành phố như Hà Nội, Hưng Yên, Vĩnh Phúc,…sản lượng mỗi năm đạt 150 tấn

Trang 19

5 Một số loại nấm khác như: Nấm Trân châu, Kim châm,… Đang nghiên cứu sản xuất thử nghiệm sản lượng chưa đáng kể vì đầu tư cao và chi phí lớn

- Về sản lượng Sau những nỗ lực, cố gắng của một số cơ quan trong nước cùng với sự hợp tác giúp đỡ của các tổ chức trong và ngoài nước, cũng như sự

mở rộng thị trường, nghề sản xuất nấm dần được khôi phục, tổng sản lượng nấm các loại được sản xuất ở nước ta hiện nay vào khoảng 100.000 tấn/năm Trong

đó xếp theo thứ tự giảm dần giữa các loại nấm là: nấm Rơm, Mộc Nhĩ, nấm Sò, nấm Mỡ, Linh Chi và nấm Hương

- Về năng suất Năng suất tính theo nguyên liệu các loại nấm khác nhau thì tương đối khác nhau Nấm Sò có năng suất cao nhất đạt trung bình 700 kg nấm tươi/ 1000kg nguyên liệu khô; sau đó là Mộc Nhĩ (600 kg); nấm Hương (500kg); nấm Mỡ (200 kg); nấm Rơm (100 kg) và cuối cùng là Linh Chi (75 kg) Nhìn chung năng suất nấm của nước ta chỉ bằng 50 – 70 % so với năng suất bình quân trên thế giới

- Về quy mô sản xuất Nhìn chung hầu hết các tỉnh trong cả nước hiện nay đều đã bắt đầu phát triển nghề sản xuất nấm, song chủ yếu vẫn là sản xuất ở quy

mô hộ, mang tính đơn lẻ, với năng lực dao động từ 1 – 6 tấn nguyên liệu mỗi hộ

1 vụ, các hộ này thường sử dụng công nghệ sản xuất thủ công, không đồng bộ, nên năng suất thấp

- Về vấn đề chế biến Hiện nay ngoài khoảng 50% sản lượng được tiêu thụ dưới dạng tươi, ngoài ra nấm còn được sấy khô để tiêu thụ

Mặc dù đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu nhưng hiện nay sản xuất nấm nước ta vẫn còn nhỏ lẻ, manh mún và vấn đề liên kết giữa nhà doanh nghiệp và các hộ nông dân sản xuất vẫn chưa thực sự chặt chẽ nên vẫn thường xuyên xảy

ra hiện trạng người dân sản xuất ra nhưng không có đầu ra cho sản phẩm, còn doanh nghiệp kinh doanh lại không có sản phẩm để thu mua Một vấn đề không thể không nhắc tới là nấm ăn chưa có thương hiệu và có nguy cơ các nhà xuất khẩu Việt Nam phải chịu để các nhà doanh nghiệp nước ngoài đóng gói lại sản phẩm của mình với nhãn mác mới, tiếp tục bán ra thị trường với giá cao hơn

Trang 20

2.3 Tình hình sản xuất Nấm ở Sơn La

Sơn La là tỉnh miền núi phía Tây Bắc có đầy đủ điều kiện thuận lợi để phát triển nghề trồng nấm Đa số người dân sống bằng nghề nông, thu nhập của bà con chưa cao Vì vậy, bà con mong có một nghề làm thêm để tăng thu nhập Khí hậu của vùng rất thuận lợi cho sự phát triển ngành nghề trồng nấm: Có độ ẩm cao (trung bình 80%), nhiệt độ ổn định (trung bình năm 21,60

C)

Hiện nay, sản lượng nấm trong tỉnh còn ít chủ yếu vì người dân chủ yếu sản xuất theo quy mô gia đình, nhỏ lẻ, không tập trung công nghệ sản xuất lạc hậu các thiết bị sản xuất thô sơ, cho nên năng suất đạt được còn thấp chỉ cung cấp trong tỉnh, cung cấp cho người dân dưới dạng tươi như nấn sò, nấm rơm, mộc nhĩ Các sản phẩm nấm gần đây cũng đã được đưa vào các nhà hàng lớn Các giống nấm cung cấp cho bà con chủ yếu lấy từ xí nghiệp sản xuất giống và chế biến nấm xuất khẩu tỉnh Sơn La Đây là nơi sản xuất giống có uy tín của tỉnh

Gần đây tỉnh đã có một số dự án để đẩy nhanh sản xuất nấm trong địa phương, mở các lớp đào tạo triển khai kỹ thuật tiến bộ cho bà con, cung cấp giống, hỗ trợ vốn cho bà con sản xuất nấm Nhằm đưa nghề nấm phát triển mạnh

mẽ trong địa phương Chính vì vậy mô hình trồng nấm ở địa phương ngày càng được mở rộng và thu hút đông đảo bà con tham gia

Nguyên liệu trồng nấm ở Sơn La có rất sẵn Tính đến năm 2003 diện tích đất nông nghiệp của Sơn La có 191.828 ha Trong đó diện tích trồng lúa 38.465

ha, ngô 64.664 ha Vì vậy phế thải nông nghiệp như: rơm rạ, lõi ngô, rất nhiều, thuận lợi cho việc trồng nấm trên nguyên liệu sẵn có ở địa phương, tiết kiệm chi phí vận chuyển và giá thành sản xuất Huyện Thuận Châu với 6.934 ha và huyện Sông Mã với 8.080 ha là hai huyện có diện tích trồng lúa lớn nhất Với diện tích trồng ngô ở Mai Sơn và Yên Châu cũng rất nhiều và thuận tiện giao thông vì vậy nguyên liệu lõi ngô và mày ngô có khối lượng rất lớn nhưng chưa tận dụng được hết để trồng nấm Hiện tại lõi ngô mới được dùng như nguyên liệu thay củi đốt và giá thành 300 đồng/kg Mày ngô có sẵn hàng chục tấn và gần như cho không, đó là nguồn cơ chất rất tốt để nấm Sò, nấm Rơm, Linh Chi phát triển

Trang 21

Tại Sơn La có một xí nghiệp sản xuất giống nấm chất lượng tốt cung cấp giống nấm cho tỉnh và các tỉnh lân cận, ngoài ra trung tâm còn kết hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh đi về các huyện mở lớp hướng dẫn nuôi trồng chăm sóc các loại nấm Nguồn giống nấm được cung cấp tại Sơn La chủ yếu từ

2 nguồn

- Xí nghiệp sản xuất giống nấm và chế biến nấm xuất khẩu Sơn La

- Trung tâm Công nghệ sinh hoc thực vật - Viện Di truyền Nông nghiệp

Hà Nội

Hai trung tâm này chủ yếu cung cấp các loại giống nấm sau:

1 Nấm Rơm (Volvariall volvaceae)

2 Nấm Mỡ (Agaricus bisporus)

3 Nấm sò (Pleurotus spp)

4 Mộc nhĩ (Auricularria spp)

5 Nấm Hương ( Letunus edodes)

6 Nấm linh chi (Ganoderma lucidum)

Nấm sản xuất ra chủ yếu tiêu thụ dạng nấm tươi cung cấp cho các chợ địa phương, tại các chợ nội Thành Phố nơi tập chung đông dân cư hay tại các chợ thị trấn như: Chợ Trung tâm, chợ bệnh viện, chợ bến xe khách, chợ Quyết thắng Ngoài hình thức tiêu thụ nấm tươi thì tại xí nghiệp nấm Sơn La còn chế biến thành nấm khô bao gói như nấm Mèo, Linh chi

Ở Thuận Châu nghề trồng nấm được phát triển từ rất sớm cho đến nay đang được phát triển rộng rãi, tuy nhiên cũng gặp nhiều khó khăn và bất cập như: Nguồn phế phẩm nông nghiệp nhiều như lõi ngô lại không có máy nghiền, bông phế thải mua ở xa, kĩ thuật người dân chưa nắm vững, nguồn giống nấm mua ở xa Vì thế, người dân chưa mặn mà với cây nấm Trên thực tế, nhu cầu

sử dụng nấm tại tỉnh rất lớn và đường tiêu thụ tại tỉnh cũng rất thuận lợi ra thị trường lớn như Hà Nội

Hiện nay, tại Thuận Châu chưa có cơ sở nào sản xuất giống nấm cung ứng cho bà con nông dân, mặc dù nơi đây người dân đã biết sử dụng nấm ăn từ lâu đời Việc trồng nấm Sò cũng đã xuất hiện cách đây khoảng chục năm nhưng

Trang 22

chủ yếu với quy mô nhỏ lẻ và tập chung chủ yếu vẫn ở một số xã xung quanh thị trấn như: Thị trấn Thuận Châu, Thôm Mòn, Chiềng Ly, Nguồn giống nấm bà con nông dân chủ yếu mua của Công ty xuất nhập khẩu Sơn La

* Các địa điểm đang tiêu thụ nấm tốt ở Sơn La:

- Thị xã Sơn La, thị trấn Mường La, chợ thị trấn Yên Châu và các chợ nhỏ trong xã cũng đều tiêu thụ nấm

2.4 Hiệu quả kinh tế của việc trồng Nấm

Trồng Nấm mang lại hiệu quả kinh tế cao do các yếu tố sau:

- Với diện tích nhỏ nhất vẫn có thể cho năng suất cao nhất

- Vốn đầu tư cho việc trồng nấm thấp, quay vòng nhanh và chu kỳ cho việc nuôi trồng ngắn

- Thời gian cho mỗi đợt trồng nấm kéo dài khoảng 2 - 2,5 tháng

- Nếu trong thời gian trồng mà gặp khí hậu bất lợi hoặc có sự biến động của thị trường (giá cả bấp bênh) người sản xuất vẫn kịp dừng sản xuất hoặc chuyển hướng canh tác khác phù hợp

- Nguyên liệu nhiều, dồi dào và giá rẻ: Rơm rạ, lõi ngô, mùn cưa, bông phế thải …

- Thu hút lượng lớn lao động, giải quyết công ăn việc làm cho những lao động nông nghiệp nhàn dỗi

- Phế phẩm sau trồng nấm có thể sử dụng làm phân bón cho trồng trọt

Trang 23

PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng và vật liệu

* Giống nấm sò trắng – nguồn do công ty xuất nhập khẩu nấm Sơn La cung cấp

* Nguyên liệu: bột ngô, bột đậu tương, bông phế thải nông nghiệp

* Dụng cụ:

- 300kg bông phế thải, 6kg vôi bột, bột đậu tương, bột ngô, giống nấm

- Bạt, nước, tre, dao, túi bóng pp, dây nịt, nút cổ bông, dây treo, kéo, bình phun dạng mù (cỡ lớn)

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Tại Xã Thôm Mòn - Huyện Thuận Châu - Tỉnh Sơn La

3.1.3 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian thực tập: Từ 18/2 – 28/4/2011

3.2 Nội dung nghiên cứu

So sánh năng suất của nấm trồng trên bông phế thải có bổ sung các loại dinh dưỡng khác nhau: bột ngô, bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá, bông phế thải nông nghiệp

3.3 Phương pháp nghiên cứu

- Thí nghiệm được bố trí theo ô lớn ô nhỏ Split - plot Nhân tố chính là (bột ngô, bột cám gạo, bột đậu tương, bột cá, bông phế thải), nhân tố phụ là Giống (N1,N2) Mỗi công thức là 1 ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm bố trí 20 bịch, khối lượng mỗi bịch là 2kg Bố trí thí nghiệm mỗi công thức 4 lần nhắc lại

- Với 2 giống nấm Sò trắng trên 3 công thức khác nhau, mỗi công thức là

1 ô thí nghiệm, mỗi ô thí nghiệm bố trí 20 bịch, khối lượng mỗi bịch là 2kg Bố trí thí nghiệm mỗi công thức 3 lần nhắc lại

Trang 24

- Công thức 1: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg

- Công thức 2: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg, bột đâu tương 10kg

- Công thức 3: bông phế thải 100kg, vôi bột 2kg, bột ngô 5kg

3.3.1 Xử lí nguyên liệu

Ngâm bông nhanh trong dung dịch nước vôi theo tỷ lệ: 3,5kg vôi đã tôi hòa tan với 1.000 lít nước vắt nhẹ, ủ lại thành đống, che kín bằng bao dứa hoặc nilon Ủ bông được 3 ngày, đảo đống lần 1, ủ tiếp 3 ngày, đảo lần 2, sau đó ủ thêm 3 ngày nữa thì đóng bịch và cấy giống Khi trồng nấm cần làm thật tơi nguyên liệu bằng cách dùng tay hoặc cào sắt xé bông vụn

Sau khi ủ đống các nguyên liệu theo thời gian quy định, ta cần kiểm tra độ

ẩm và chỉnh độ ẩm cho nguyên liệu đạt 65% là vừa, nếu quá ẩm thì ta phải đem phơi, nếu quá khô thì phải làm ẩm nguyên liệu bằng cách pha nước vôi rồi vảy lên đống ủ rồi ủ lại 1 - 2 ngày sau mới trồng

3.3.2 Kĩ thuật trồng nấm trong túi màng mỏng

Sử dụng túi màng mỏng dày 0,03 - 0,04mm, có kích thước như sau: chiều

cao 21- 35cm có thể đựng được 1,5 - 2 kg nguyên liệu

Trang 25

Lộn ngược túi màng mỏng hoặc gấp hai mép túi lại và hơ lửa sau đó lộn túi ra để cho bịch nấm được đẹp và không tạo khoảng trống tích tụ nước dưới đáy túi Ta nhồi nguyên liệu vào túi và ấn chặt vừa tay, cứ khoảng 5 – 8cm chiều cao nguyên liệu thì dừng lại cấy một lớp giống xung quanh rìa ngoài của nguyên liệu Sau đó lại nhồi nguyên liệu vào túi rồi lại dừng lại cấy lớp giống thứ 2 và

cứ tiếp như vậy Tuỳ vào mùa vụ mà cấy số lớp nguyên liệu khác nhau: thường

vụ Xuân hè cấy 3 lớp, vụ thu đông cấy 4 lớp Phía trên cùng cấy một lớp giống nữa, lớp giống này phải trải đều trên nguyên liệu Sau khi đã cấy giống xong ta lấy một đoạn ống nhựa và dùng dây nịt buộc chặt rồi làm nút bông

Sau khi hoàn tất công việc, ta đặt bịch vào giá hay treo lên (phải để nơi thoát nước), để khoảng 20 ngày sau, lúc này giống đã lan mọc trắng hết túi, khi

đó ta tháo dây chun, bỏ bông ra và buộc chặt miệng túi lại, treo lộn ngược bịch nấm theo chiều nút bông quay xuống và tiến hành rạch bịch, trong 5 - 7 ngày tiếp theo ngưng tưới nước vào bịch trực tiếp mà chỉ tưới dưới dạng phun sương

để tạo độ ẩm cho xung quanh tường và nền nhà Khi phát hiện thấy các cụm nấm

sò đã mọc ra ở các vết rạch thì phun sương trực tiếp vào các vết rạch và tưới cho nấm nhiều lần trong ngày tùy thuộc vào độ ẩm không khí

Sau khi hái đợt 2 tiến hành nén túi Ta tháo túi ra nén cơ chất chặt xuống rồi lại buộc miệng túi lại, treo lên và tiếp tục thu đợt sau

3.4 Các chỉ tiêu tiêu theo dõi

3.4.1.Thời gian sinh trưởng phát triển của quả thể nấm (ngày)

Thời gian từ đóng bịch (bánh), cấy giống đến khi rạch bịch: thời gian này được xác định khi các sợi nấm ăn trắng bịch nấm tạo nên màu trắng đồng nhất, bịch nấm rắn chắc

Thời gian từ đóng bịch (bánh), cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch được xác định khi các cụm nấm sò bắt đầu xuất hiện và nhô ra ở các vết rạch

Trang 26

Thời gian từ đóng bịch (bánh), cấy giống đến thu hoạch đợt 1: được xác định khi cụm nấm đã khá to, bắt đầu thấy các bào tử đâm phát tán vào không khí những lớp khói trắng bay ra

Thời gian từ khi trồng nấm đến khi thu hoạch cuối cùng: được xác định khi các cụm nấm mọc yếu dần đi, các sợi trắng trên nguyên liệu giảm dần và nguyên liệu trở nên xốp

3.4.2.Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng (cụm)

- Chiều dài cuống nấm(cm)

- Đường kính mũ nấm(cm)

3.4.3 Các chỉ tiêu liên quan đến năng suất

- Số cây nấm trên cụm(cây/cụm)

- Khối lượng trung bình 1 cụm(gam)

- Năng suất của bịch: tổng khối lượng thu hái(kg/tạ)

Trang 27

+ Nước tưới: chi phối toàn bộ hoạt động sống của nấm, ngoài vấn đề dư nước hoặc thiếu nước, thì tính chất của từng loại nước rất quan trọng (nước phèn, nước mặn, nước nhiễm bẩn vi sinh hoặc hóa học, )

+ Tơ nấm bị nước phèn thì mọc chậm, thưa, đầu sợi tơ sẽ cong lại, tai nấm

sẽ dị hình tạo dạng bông cải hoặc chết non

+ Nước nhiễm mặn: làm cho sự tăng trưởng và phát triển của nấm khó khăn hơn, tơ nấm đổi màu, rối bông, không hình thành quả thể

Bảng 3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ lên nấm Sò

Tơ nấm

Lớn hơn hay bằng 400

C Tơ nấm mọc chậm, thưa

dần rồi chết Nhỏ hơn hay bằng 150

C Tơ ngừng tăng trưởng và không mọc lại được

+ Mức độ nặng: sử dụng các thuốc diệt mốc như Bennomyl (Benlate-C) 0,1%, Zineb (Tritofboral) 7% hoặc Validacin 3% (cho bệnh trứng cá),

Trang 28

+ Trước khi nấm sò xuất hiện, thường thấy nấm dại phát triển mạnh, phổ biến là nấm gió (Coprinus) Điều kiện để nấm dại mọc là: nguyên liệu dư ẩm (>70%), giàu đạm (urê) và pH <5 Cần tránh nấm dại bằng cách hạn chế các nguyên nhân trên

+ Ngoài ra, nấm còn bị một số côn trùng như: ruồi, mạc gà, bọ nhảy, cuốn chiếu, kiến, tuyến trùng, tấn công Biện pháp tốt nhất để phòng ngừa là xử lý nền đất trước khi trồng: tưới nước, xới nhẹ, rải thuốc diệt tuyến trùng như Furadan, Mocap, Khi tưới đón nấm, rắc vôi xung quanh mô (nếu trồng dưới đất)

+ Bệnh xảy ra thường làm giảm năng suất và gây thất thu cho người trồng

Do đó, càng hạn chế được bệnh tốt thì người trồng càng có lợi cao, muốn vậy phải có biện pháp phòng trừ tổng hợp, như

3.5.1 Chỉ tiêu sinh trưởng

- Theo dõi thời gian phát sợi sau cấy giống

+ Thời gian phát sợi sau cấy giống đến khi mọc sơi: 50% số mô có sợi ăn lan

+ Thời gian sau cấy giống đến khi sợi ăn trắng mô: 80% số mô có sợi ăn lan trắng mô

+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu mọc nấm: 50% số mô có nấm mọc

+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 1: 80% số mô có nấm

+ Thời gian sau cấy giống đến khi bắt đầu thu hoạch đợt 2: 80% số mô có nấm

3.5.2 Chỉ tiêu phát triển

Theo dõi thời điểm xuất hiện quả thể và đo kích thước

- Đo tốc độ lan sợi bằng cách đo chiều dài sợi cho đến khi xuất hiện quả mỗi ngày

- Tốc độ tăng trưởng quả thể

+ Đo kích thước quả thể( đường kính, chiều cao) theo các giai đoạn phát

Trang 29

triển của quả nấm, mỗi giống đo 10 quả(với 3 lần lặp lại ở mỗi giống)

+ Đo chiều dài của cuống nấm cm đo mấy ngày

+ Đo đường kính mũ nấm

- Tích luỹ chất khô

+ Theo dõi thời gian phát triển quả thể, bằng cách theo dõi trên các giống

từ khi xuất hiện quả thể đến khi thu hoạch quả thể đạt tiêu chuẩn

+ Theo dõi động thái tích luỹ chất khô bằng cách lấy mẫu theo các giai đoạn phát triển của quả thể Mỗi giống lấy 10 quả, đem loại bỏ tạp chất đưa vào sấy ở nhiệt độ 45 - 500C đến khô rồi nâng nhiệt độ lên 55 - 600C sấy đến khi trọng lượng không đổi, đem cân ( với 3 lần lặp lại của mỗi giống)

Trang 30

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1 Đặc điểm hình thái của các giống tham gia thí nghiệm

Trong thời gian thực hiện đề tài, điều kiện thời tiết có nhiều thuận lợi và

do được chăm sóc tốt nên cây nấm sinh trưởng và phát triển mạnh Các nguyên liệu trên các công thức thí nghiệm đã thể hiện được rõ các đặc thù riêng sinh trưởng và phát triển Đó là sự biểu hiện của môi trường sống lên các công thức thí nghiệm Qua quá trình theo dõi thí nghiệm chúng tôi thu được các kết quả sau:

4.2 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của nấm Sò Bảng 4.1 Giai đoạn sinh trưởng và phát triển của hai giống nấm Sò

Giống CT

Thời gian cấy đến khi mọc

Thời gian cấy đến khi ăn trắng bịch

Thời gian rạch bịch đến nấm mọc

Thời gian

từ khi nấm mọc đến khi nấm ra rộ

Tổng thời gian sinh trưởng

Trang 31

4.2.1 Thời gian từ cấy giống đến khi nấm ăn trắng hết bịch và rạch bịch

Đây còn được gọi là thời kì ươm, cũng giống như các loại cây trồng khác giai đoạn sinh trưởng này của nấm chịu ảnh hưởng rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh và sự chăm sóc của con người Điều kiện tối ưu cho sợi nấm phát triển giai đoạn này là có độ ẩm nguyên liệu từ 60 - 70%, nhiệt độ không khí là 23 - 280C,

và độ ẩm không khí từ 70 - 80% Nếu đáp ứng được yêu cầu này thì cụm nấm sẽ

ra nhiều và cho năng suất cao

Sau khi các sợi nấm đã ăn trắng hết bịch ta tiến hành rạch bịch, ta rạch 4

-6 đường xung quanh bịch, chiều dài vết rạch từ 2 - 3 cm, vết rạch phải so le nhau Trong đó tốc độ sợi nấm ăn trên nền cơ chất bông thải có bổ sung phân đạm công thức 3 nhanh hơn so với các công thức khác là 1- 4 ngày, công thức 2

là 24 ngày, công thức 1 là 27 ngày sau khi cấy giống

4.2.2 Thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm bắt đầu mọc ra ở các vết rạch

Do các công thức thí nghiệm có thời gian từ khi cấy giống đến khi rạch

bịch là khác nhau (dao động từ 24 - 27 ngày) Nên thời gian từ khi cấy giống đến khi nấm mọc ra ở các vết rạch của các công thức cũng khác nhau Ở công thức 3 có nấm mọc ra sớm nhất (28 ngày sau khi cấy giống), công thức 1 có

thời gian nấm mọc ra muộn nhất (32 ngày sau khi cấy giống)

Như vậy những cơ chất có thời gian sợi nấm ăn trắng hết bịch sớm hơn thì thời gian nấm mọc ra ở những vết rạch cũng sớm hơn Thời gian từ khi rạch bịch đến khi nấm mọc ra ở vết rạch là rất ngắn khoảng từ 5 - 8 ngày Giai đoạn này cần duy trì độ ẩm không khí là 75 - 90%, nhiệt độ 25 - 300

C trong nhà trồng nấm

để cho nấm mọc ra dễ hơn và tỉ lệ mọc ra cũng nhiều hơn

4.2.3 Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch đợt 1

Thời gian này được xác định bằng khi trong ô thí nghiệm có 30% số cụm của ô thí nghiệm cho thu hoạch Căn cứ để xác định thời điểm thu hoạch là khi

mũ nấm bắt đầu nở xòe và có một lớp bào tử nấm màu trắng ở xung quanh mũ nấm

Thời gian từ khi cấy giống đến khi bắt đầu cho thu hoạch nấm nằm trong khoảng từ 34 - 38 ngày sau khi cấy giống Kết quả thí nghiệm cho thấy cơ chất

Ngày đăng: 23/08/2015, 15:23

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Tốc độ tăng trưởng chiều dài cuống nấm của - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 1. Tốc độ tăng trưởng chiều dài cuống nấm của (Trang 34)
Hình 2. Động thái tăng trưởng đường kính gốc nấm của - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 2. Động thái tăng trưởng đường kính gốc nấm của (Trang 36)
Bảng 4.4. Khối lƣợng cụm nấm của các công thức. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 4.4. Khối lƣợng cụm nấm của các công thức (Trang 37)
Hình 4. Năng suất bịch qua các đợt thu hái kg. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 4. Năng suất bịch qua các đợt thu hái kg (Trang 39)
Bảng 4.6. Đường kính trung bình mũ nấm của cả hai giống. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 4.6. Đường kính trung bình mũ nấm của cả hai giống (Trang 40)
Bảng 4.7. Động thái đường kính mũ nấm ở cả                                                 hai giống của các công thức trong thí nghiệm - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 4.7. Động thái đường kính mũ nấm ở cả hai giống của các công thức trong thí nghiệm (Trang 42)
Bảng 4.8. Tốc độ tăng đường kính mũ nấm của                                               hai giống trong công thức thí nghiệm - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 4.8. Tốc độ tăng đường kính mũ nấm của hai giống trong công thức thí nghiệm (Trang 43)
Bảng 4.9. Năng suất trung bình của một bịch của các - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Bảng 4.9. Năng suất trung bình của một bịch của các (Trang 45)
Hình  2. Giai đoạn ủ đống. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
nh 2. Giai đoạn ủ đống (Trang 49)
Hình  1. Giai đoạn xử lý nguyên liệu. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
nh 1. Giai đoạn xử lý nguyên liệu (Trang 49)
Hình  3. Giai đoạn đảo đống - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
nh 3. Giai đoạn đảo đống (Trang 50)
Hình  4. Giai đoạn xé bông. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
nh 4. Giai đoạn xé bông (Trang 50)
Hình 5. Giai đoạn đóng bịch. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 5. Giai đoạn đóng bịch (Trang 51)
Hình 6. Giai đoạn treo và rạch bịch. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 6. Giai đoạn treo và rạch bịch (Trang 51)
Hình 7. Tưới và thu hái nấm. - Nghiên cứu quy trình sử dụng bông phế thải và cơ chất thích hợp để nuôi trồng nấm sò trắng tại xã thôm mòn huyện thuận châu tỉnh sơn la
Hình 7. Tưới và thu hái nấm (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm