1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la

58 457 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 554,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột lạnh, ẩm, gió lùa kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đả

Trang 1

ĐIỀU TRA TÌNH HÌNH MẮC BỆNH PHÂN TRẮNG LỢN CON

VÀ BIỆN PHÁP PHÕNG, ĐIỀU TRỊ BỆNH TẠI XÃ PHIÊNG

KHOÀI - HUYỆN YÊN CHÂU - TỈNH SƠN LA

CHUYÊN NGHÀNH: CHĂN NUÔI

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: NGUYỄN THỊ NGA SINH VIÊN THỰC HIỆN: VÌ THỊ HƯƠNG

LỚP: CAO ĐẲNG CHĂN NUÔI K49 KHÓA HỌC: 2012 - 2015

Sơn La, tháng 5 năm 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Trường cao đẳng Sơn La đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Nguyễn Thị Nga đã tận tình

hướng dẫn và chỉ bảo trong suốt quá trình thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Nông Lâm, đặc biệt

là các thầy cô giáo trong bộ môn chăn nuôi - thú y đã giúp tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này

Xin cảm ơn anh Đặng Ngọc Tú là người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực tập ở xã Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các bác, các chú, các anh chị cán bộ xã Phiêng Khoài đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi để hoàn thành chuyên

đề tốt nghiệp của mình

Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời gian thực tập tốt nghiệp

Sơn la, ngày10 tháng 5 năm 2015

SINH VIÊN

Trang 3

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 Lý do chọn đề tài 7

1.2 Mục đích nghiên cứu 8

2.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng trong và ngoài nước 8

2.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới 8

2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam 8

2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con 9

2.2.1 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con 9

2.2.2 Đặc điểm thích ứng của lợn con 10

2.2.3 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con 10

2.2.4 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con 12

2.3 Bệnh phân trắng lợn con 12

2.3.1 Nguyên nhân gây bệnh 12

2.3.2 Cơ chế sinh bệnh 17

2.3.3 Triệu chứng của bệnh 17

2.3.4 Bệnh tích của bệnh 18

2.3.5 Biện pháp phòng trị bệnh 19

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Đối tương và phạm vi nghiên cứu 24

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 24

3.2 Nội dung nghiên cứu 24

3.3 Vật Liệu 24

3.4 Phương pháp nghiên cứu 24

3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 24

3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu 25

3.4.3 Phương pháp mô tả 25

Trang 4

3.4.4 Phân lô thí nghiệm một số phác đồ điều trị 25

3.4.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu 26

3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 26

CHƯƠNG 4: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 27

4.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phiêng Khoài 27

4.1.1 Vị trí địa lí 27

4.1.2 Điều kiện địa hình 27

4.1.3 Điều kiện khí hậu 27

4.1.4 Đặc điểm thủy văn và nguồn nước 28

4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội 28

4.2.1 Dân số 28

4.2.2 Dân tộc 28

4.2.3 Văn hoá, giáo dục, y tế 28

4.2.4 Kinh tế xã hội 29

4.2.5 Lao động thu nhập 29

4.2.6 Dịch vụ thương mại 29

CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

5.1 Tình hình chăn nuôi và thú y của xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La 30

5.1.1 Tình hình chăn nuôi lợn của xã Phiêng Khoài 30

5.1.2 Công tác vệ sinh phòng bệnh 31

5.1.3 Tình hình dịch bệnh trên đàn lợn 33

5.2 Kết quả điều tra tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 4 tháng đầu năm 2015 35

5.3 Kết quả điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ 39

5.4 Kết quả theo dõi tỷ lệ mắc bệnh lợn con phân trắng theo độ tuổi 40

5.5 Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ 43

Trang 5

5.5.1 Kết quả sử dụng một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con theo

mẹ 43

5.5.2 Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 46

CHƯƠNG 6: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48

6.1 Kết luận 48

6.2 Kiến nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 52

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

Bảng 5.1: Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm xã Phiêng khoài từ năm 2012 -2015 30

Bảng 5.2: Quy trình sử dụng vacxin và các chế phẩm thú y phòng bệnh cho lợn 32

Bảng 5.3: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại xã Phiêng Khoài 34

Bảng 5.4 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ 37

Bảng 5.5: Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng qua các năm 2012, 2013, 2014 và 4 tháng đầu năm 2015 39

Bảng 5.6: Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi 41

Bảng 5.7: Các phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con theo mẹ 43

Bảng 5.8 Các phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con theo mẹ 44

Bảng 5.9 : Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh phân trắng lợn con 46

Biểu đồ 5.1: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi qua các năm 35

Biểu đồ 5.2: Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng và tỷ lệ chết do bệnh phân trắng trong 4 tháng đầu năm 2015 38

Biểu đồ 5.3: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi 43

Biểu đồ 5.4 Một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng ở lợn con theo mẹ 46

Trang 7

CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Lý do chọn đề tài

Chăn nuôi lợn là nghề truyền thống ở nước ta nhưng để chăn nuôi lợn phát triển tốt hơn theo hướng gắn với thị trường, an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường nhằm nâng cao năng suất chất lượng, hiệu quả và vệ sinh an toàn thực phẩm, các địa phương đang đẩy mạnh phát triển các sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh, khuyến khích các tổ chức cá nhân đầu tư chăn nuôi theo hướng trang trại, hỗ trợ tạo điều kiện cho các hộ chăn nuôi truyền thống chuyển dần sang chăn nuôi trang trại và công nghiệp

Cùng với việc chăn nuôi được mở rộng thì dịch bệnh là yếu tố đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả chăn nuôi Một trong những bệnh gây thiệt hại kinh tế cho các cơ sở chăn nuôi lợn sinh sản là bệnh phân trắng lợn con ở giai đoạn sơ sinh đến 21 ngày tuổi Bệnh xảy ra khắp nơi trên thế giới Ở các nước đang phát triển như Việt Nam bệnh xảy ra hầu như quanh năm, đặc biệt khi thời tiết có sự thay đổi đột ngột (lạnh, ẩm, gió lùa) kết hợp với điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng không đảm bảo vệ sinh; lợn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố stress, lợn con sinh ra không được bú sữa kịp thời hoặc do sữa đầu của mẹ thiếu không đảm bảo chất lượng dinh dưỡng Khi lợn con mắc bệnh nếu điều trị kém hiệu quả sẽ gây còi cọc chậm lớn ảnh hưởng đến giống cũng như khả năng tăng trọng của chúng, gây tổn thất lớn về kinh tế Do đó, phòng tiêu chảy cho lợn con góp phần làm tăng hiệu quả chăn nuôi lợn sinh sản, đảm bảo cung cấp con giống có chất lượng tốt

Đã có nhiều công trình nghiên cứu trong nước về hội chứng tiêu chảy ở lợn con và đưa ra các biện pháp phòng trị bệnh, góp phần không nhỏ trong việc hạn chế những thiệt hại do tiêu chảy gây ra ở lợn con theo mẹ Tuy nhiên sự phức tạp của cơ chế gây bệnh, những tác động phối hợp của các nguyên nhân, đặc điểm cơ thể gia súc non… đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu Vì thế các giải pháp đưa ra chưa thực sự đem lại kết quả mong muốn Hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ vẫn là nguyên nhân gây thiệt hại lớn cho các cơ sở chăn nuôi lợn

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu chuyên đề:

“Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, trị bệnh tại xã Phiêng Khoài - huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La”

Trang 8

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Tìm hiểu, đánh giá quy trình chăn nuôi lợn, vệ sinh phòng bệnh cho lợn

tại xã Phiêng Khoài - huyện Yên Châu - tỉnh Sơn La

- Điều tra, đánh giá tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con ở giai đoạn theo mẹ

- Ứng dụng một số phác đồ điều trị tiêu chảy ở lợn con theo mẹ

2.1 Vài nét về tình hình nghiên cứu bệnh lợn con phân trắng trong và ngoài nước

Bệnh phân trắng lợn con rất hay gặp trong chăn nuôi lợn Bệnh gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi, làm giảm tăng trọng, lợn con dễ bị suy kiệt

và chết

2.2.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứu về bệnh phân trắng lợn con

2.1.2 Những nghiên cứu về bệnh ở Việt Nam

Bệnh phân trắng lợn con ở nước ta đã được nghiên cứu từ năm 1959 tại các

cơ sở chăn nuôi tập trung (trại chăn nuôi và các nông trường quốc doanh)

Năm 1993, Lê Văn Tạo và cộng sự đã nghiên cứu các yếu tố gây bệnh của

các chủng E.coli gây bệnh, chọn chủng E.coli để chế tạo vacxin chết dưới dạng

Vacxin dùng cho lợn con sau đẻ 2 giờ, uống với liều 1ml/con, liên tục trong 3- 5 ngày Kết quả làm giảm tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con từ 30 - 35% so với đối chứng [12]

Theo Nguyễn Như Thanh và cộng sự (2001) thì bệnh phân trắng lợn con là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc biệt là dạng viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh

chủ yếu là E.coli, ngoài ra có sự tham gia của Salmonella và vai trò thứ yếu là Proteus, Streptococcus Bệnh xảy ra quanh năm ở những nơi tập trung nhiều gia

súc, bệnh thường phát mạnh từ mùa đông sang mùa hè (tháng 11 đến tháng 5) đặc biệt khi thời tiết thay đổi đột ngột (từ oi bức chuyển sang mưa rào, từ khô

ẩm chuyển sang rét) Tỷ lệ mắc bệnh tới 50% và tỷ lệ chết tới 30 - 45% (Nguyễn Như Thanh, 1997).[13]

Lý Thị Liên Khai (2001) [8] đã phân lập và xác định độc tố ruột của các

chủng E.coli gây bệnh tiêu chảy cho lợn con Tác giả cho rằng các chủng K88

sinh độc tố ruột LT và ST; K99 và 987P sinh độc tố ruột ST, độc tố ruột ST trở nên rất độc khi sức đề kháng của vật chủ giảm, gây tiêu chảy cho lợn con đang

Trang 9

bú mẹ, phổ biến ở 1 đến 2 tuần tuổi

Theo Đỗ Ngọc Thuý và Cù Hữu Phú (2002), [15] các chủng

Enterotoxinogenic Escherichia coli (ETEC) gây bệnh cho lợn con ở các tỉnh miền

Bắc Việt Nam thuộc về 5 tổ hợp các yếu tố gây bệnh và 5 nhóm serotyp kháng nguyên O (O149: K91, O8: G7, O8, O101, O64) Trong đó chủng O149: K91 mang các yếu tố gây bệnh F4/STa/STb/LT là chủng phổ biến nhất gây bệnh tiêu chảy ở lợn con trước cai sữa

Đoàn Thị Kim Dung (2003) [3] dùng Apramycin hoặc Apramycin phối hợp với Bioseptin có tác dụng tốt nhất đối với bệnh tiêu chảy ở lợn con (dùng riêng khỏi 80%, dùng phối hợp khỏi 98%) Bên cạnh đó các phác đồ điều trị đều không thể thiếu được việc bổ sung các chất điện giải cho lợn bệnh vì nó nâng cao hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị

Trịnh Quang Tuyên (2005) qua nghiên cứu cho rằng tỷ lệ nhiễm vi khuẩn môi sinh trong các trại chăn nuôi tập trung cao và có liên quan đến tình hình dịch

bệnh của đàn lợn Trong đó E.coli có tỷ lệ nhiễm từ 28,5% đến 44,1%, Staphylococcus spp từ 29,8% đến 38,9%, Streptococcus spp từ 24,3% đến 41,3%,

giảm xuống khi cơ sở chăn nuôi được cải tạo chuồng nuôi và nguồn nước cấp [16]

2.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con

2.2.1 Đặc điểm tiêu hoá của lợn con

Lợn con mới sinh ra sống nhờ vào sữa mẹ, sau khi cai sữa cơ thể lợn trải qua một quá trình thay đổi không ngừng về hình thái, cấu tạo và sinh lý của ống tiêu hoá để thích ứng với điều kiện mới

Sau khi sinh ra, ở lợn con chức năng tiêu hoá của dạ dày còn hạn chế, dễ gây rối loạn trao đổi chất mà hậu quả là rối loạn tiêu hoá, gây tiêu chảy, còi cọc, thiếu máu và chậm lớn

Lợn con trước 1 tháng tuổi có hàm lượng HCl tự do trong dạ dày rất ít, giai đoạn này gọi là giai đoạn thích ứng cần thiết tự nhiên giúp cơ thể thẩm thấu được các kháng thể miễn dịch trong sữa đầu của lợn mẹ Dịch vị không có hoạt tính phân giải protein mà chỉ có hoạt tính làm vón sữa đầu, albumin và globulin được chuyển xuống ruột để vào máu

Tuy nhiên, lợn con trên 14 - 16 ngày tuổi tình trạng thiếu HCl ở dạ dày không còn là sự cần thiết cho sinh lý bình thường nữa (Đào Trọng Đạt và cộng

sự, 1986) [5] Vì vậy, việc tập cho lợn con ăn sớm đã rút ngắn được giai đoạn thiếu HCl, giúp hoạt hoá hoạt động tiết dịch, tạo khả năng xây dựng nhanh

Trang 10

chóng các đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Sau 20 ngày lượng sữa mẹ giảm dần trong khi nhu cầu của lợn con tăng lên Vì vậy, lợn con rất dễ rơi vào trạng thái khủng hoảng Để khắc phục tình trạng này cần tập cho lợn con tập ăn sớm để bổ sung thêm chất dinh dưỡng, có tác dụng kích thích tăng tiết dịch, tăng hàm lượng HCl và men tiêu hóa, sự phát triển của dạ dày và ruột để đáp ứng kịp thời với chế độ sau cai sữa

2.2.2 Đặc điểm thích ứng của lợn con

Sự thích ứng của lợn con khi thay đổi môi trường sống là rất kém Đặc biệt

ở giai đoạn lợn con chuyển từ môi trường sống trong bụng mẹ ra môi trường bên ngoài, từ nuôi dưỡng qua sữa mẹ đến chế độ tập ăn sớm

Hơn nữa, sự thành thục và thiếu hoàn chỉnh về chức năng của các cơ quan nội tạng, nhất là bộ máy tiêu hoá, liên quan mật thiết đến sự phát triển của hệ vi sinh vật có lợi hoặc có hại trong ruột và sức đề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật Quá trình tuần hoàn chuyển từ tuần hoàn máu qua nhau thai sang tuần hoàn nhờ tim phổi, toàn bộ máu ở mạch máu rốn qua gan Sự cân bằng nhiệt của lợn con cũng phải tự thiết lập để thích ứng với môi trường bên ngoài, không thể nhờ vào cân bằng nhiệt lượng của cơ thể mẹ như trong giai đoạn bào thai

Quá trình chuyển hoá, cân bằng năng lượng từ giai đoạn bào thai sang giai đoạn sau khi sinh rất chậm, chưa thích nghi ngay nên dễ bị tác động bởi môi trường Nhờ quá trình oxy hoá mô mỡ nên lợn con điều chỉnh được thân nhiệt Khả năng điều chỉnh thân nhiệt khác nhau ở lợn con là do mức độ phát triển khác nhau của mô mỡ ở từng cá thể, từng loại gia súc (Đào Trọng Đạt và cộng

sự, 1986) [5]

Lợn con có nhu cầu dinh dưỡng rất cao Axit amin là nguyên liệu chủ yếu cho sự sinh trưởng và phát triển của lợn con Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất nhanh, trong vòng 10 đến 14 ngày, thể trọng tăng gấp 1,3 lần; sau 2 tháng tuổi khối lượng lợn con có thể tăng 14 đến 15 lần so với sơ sinh Nếu sữa mẹ không đảm bảo đủ chất lượng, trong khẩu phần ăn thiếu đạm, sự sinh trưởng của cơ thể sẽ bị chậm hoặc ngừng lại, khả năng chống đỡ bệnh tật rất kém nên

cơ thể dễ bị nhiễm bệnh

2.2.3 Hệ vi sinh vật đường ruột ở lợn con

Ở gia súc trưởng thành, trong đường ruột có hệ vi sinh vật có lợi thường trực cộng sinh có khả năng khống chế sự xâm nhập và nhân lên của các loài vi sinh vật khác lạ từ môi trường bên ngoài, đồng thời tham gia vào quá trình tiêu

Trang 11

hoá hấp thu Trong đường ruột của gia súc non, hệ vi sinh có lợi - vi sinh vật đối kháng với vi khuẩn gây bệnh chưa hình thành, chức năng tiêu hoá chưa thành thục, môi trường sống, điều kiện ngoại cảnh, chăm sóc không tốt đều là những stress đối với gia súc non Khi chuyển từ bào thai sang nuôi dưỡng bằng sữa mẹ

và chế độ tập ăn, tiếp xúc thường xuyên với môi trường bên ngoài và nhất là điều kiện không vệ sinh, vi sinh vật gây bệnh dễ dàng xâm nhập và gây bệnh đường ruột cho gia súc non, có thể ở dạng cấp tính hay mãn tính

Ở trạng thái sinh lý bình thường, giữa cơ thể vật chủ và hệ vi sinh vật trong đường tiêu hoá cũng như giữa các loài vi sinh vật trong khu hệ vi sinh vật với nhau luôn luôn ở trạng thái cân bằng, sự cân bằng này là cần thiết cho sức khoẻ của vật chủ Họ vi khuẩn đường ruột là một họ lớn, bao gồm các trực khuẩn gram

âm sống trong ống tiêu hoá của người và động vật Chúng có thể gây bệnh hoặc không gây bệnh, hiếu khí hoặc hiếu khí tuỳ tiện, bao gồm vi khuẩn sinh axit

lactic, vi khuẩn bifidium, một số loại cầu khuẩn đường ruột có khả năng ức chế

và tiêu diệt vi khẩn Salmonella, Proteus vulgaris và các loại vi khuẩn sinh thối rữa, vi khuẩn Lactobacillus, Bacilus subtilis Ở gia súc sơ sinh, chưa hình thành

hoặc hình thành không ổn định hệ vi sinh vật có lợi này, có nghĩa là chưa có vi khuẩn ức chế và tiêu diệt sự xâm nhập của vi khuẩn gây bệnh đường tiêu hoá

Hệ vi sinh vật có hại hay gặp trong đường ruột là vi khuẩn Salmonella spp, E.coli, một số chủng Clostridium spp, Shigella Cho đến nay nhiều công bố

nghiên cứu khoa học đã cho biết nguyên nhân gây tiêu chảy ở gia súc non gồm

3 loại chính là E.coli, Salmonella spp, Clostridium perfrigens

Trong hệ vi khuẩn đường ruột, vi khuẩn E.coli là phổ biến nhất và chúng

xuất hiện sớm trong đường ruột của người, động vật sơ sinh, thường ở phần sau của ruột, đôi khi còn thấy ở niêm mạc của nhiều bộ phận trong cơ thể (Nguyễn Như Thanh, 2001) [13]

Clostridium perfrigens typ C gây bệnh viêm ruột hoại tử cho lợn ở lứa tuổi

1 đến 14 ngày tuổi, đặc biệt xảy ra trầm trọng ở 1 đến 7 ngày tuổi, tỷ lệ chết cao (50%), bệnh lây nhiễm qua phân

Tiêu chảy ở lợn con do Salmonella cholerasuis gây ra thường thể hiện ở 2

dạng là bại huyết và thần kinh Khi mổ khám chúng ta thấy có hiện tượng viêm ruột hoại tử có xuất huyết ở ruột, màng treo ruột, viêm màng ruột, đoạn trước trực tràng phình to

Trang 12

2.2.4 Khả năng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Khả năng miễn dịch của cơ thể là khả năng phản ứng của cơ thể đối với các chất lạ khi xâm nhập vào cơ thể Các chất lạ có thể là mầm bệnh, các mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể gia súc non tương đối dễ do các cơ quan bảo vệ cơ thể phát triển chưa hoàn chỉnh Trong hệ thống tiêu hoá của lợn con lượng enzym tiêu hoá và lượng HCl tiết ra chưa đủ để đáp ứng cho quá trình tiêu hoá, gây rối loạn trao đổi chất, tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng kém Do vậy, các

mầm bệnh như E.coli, Salmonella… dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường

tiêu hoá và gây bệnh

Ở lợn con, các yếu tố miễn dịch như bổ thể, profecdin và lysozim được tổng hợp còn ít, khả năng thực bào kém Vì vậy, việc cho lợn con bú sữa đầu là rất cần thiết do trong sữa đầu có rất nhiều globulin miễn dịch, bảo vệ cơ thể lợn con chống lại mầm bệnh Hai giờ sau khi đẻ, lợn con phải được bú sữa đầu để hấp thu được nhiều globulin từ sữa đầu vào máu trong thời gian 24 - 36 giờ, nhờ

đó có đủ kháng thể trong 5 tuần đầu tiên

Tuy nhiên còn một yếu tố quan trọng nữa là sự phát triển của hệ vi sinh vật trong đường ruột gia súc non có những đặc thù riêng Việc cân bằng khu hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột nhằm khắc phục, hạn chế sự loạn khuẩn trong quá trình phát triển và trưởng thành của cơ thể lợn con là rất quan trọng Sử dụng chế phẩm sinh học để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con là rất cần thiết

2.3 Bệnh phân trắng lợn con

Ở nước ta bệnh xảy ra quanh năm nhưng chủ yếu vào mùa đông xuân, nhất

là sau những trận mưa lớn, những ngày có độ ẩm cao và khi thời tiết thay đổi đột ngột

Ở các trại chăn nuôi tập trung bệnh xảy ra rất nhiều, mặc dù đã thực hiện tốt các khâu về chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho lợn con, lợn mẹ nhưng bệnh vẫn xảy ra lúc lẻ tẻ, lúc ồ ạt gây thiệt hại kinh tế

2.3.1 Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh phân trắng lợn con đã và đang được rất nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra những nhận định về nguyên nhân theo nhiều hướng khác nhau song tập trung vào 2 hướng:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh phân trắng lợn con không phải bệnh nhiễm trùng mà là chứng khó tiêu, hậu quả của các yếu tố ngoại cảnh như thời tiết khí hậu, chất lượng sữa mẹ, vệ sinh chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng lợn

Trang 13

con, lợn mẹ kém…gây nên

- Quan điểm thứ 2 cho là bệnh nhiễm trùng đường tiêu hoá, chủ yếu do vi

khuẩn E.coli gây ra

Gần đây nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh do nhiều nguyên nhân phối hợp, liên quan đến hàng loạt các yếu tố Do đó việc phân chia nguyên nhân nào

là chính, nguyên nhân nào là phụ để có biện pháp điều trị hiệu quả

Yếu tố ngoại cảnh

Trong điều kiện sinh lý bình thường có sự cân bằng giữa sức đề kháng của

cơ thể đối với các yếu tố gây bệnh Khi sức đề kháng của cơ thể giảm, thì cân bằng này mất đi, làm cho cơ thể rơi vào trạng thái bệnh lý

Khi còn nằm trong bụng mẹ, sự cân bằng nhiệt của bào thai do thân nhiệt của

cơ thể mẹ quy định Sau khi sinh ra cơ thể lợn con chưa thể bù đắp được lượng nhiệt mất đi do ảnh hưởng của môi trường bên ngoài Lúc này, các yếu tố bất lợi làm giảm sức đề kháng của cơ thể, tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh và tiến triển Trong những yếu tố về khí hậu thì yếu tố về nhiệt độ ẩm là quan trọng nhất Nhiệt độ 28o

C - 30oC, độ ẩm từ 75% - 85% là thích hợp cho lợn con Vì vậy vào những tháng giao mùa, tháng mưa nhiều, độ ẩm cao 86% - 90%, nhiệt độ thay đổi thất thường lợn con sẽ mắc bệnh nhiều, có khi tỷ lệ bệnh phân trắng lợn con trong đàn 90% - 100% (Đào Trọng Đạt, Phan Thanh Phượng, 1986) [5]

Nhiều tác giả cho rằng nguyên nhân của bệnh phân trắng lợn con không có tính đặc hiệu nhưng mang tính tổng hợp, trong đó các yếu tố lạnh, ẩm được đánh giá là yếu tố hàng đầu của bệnh Lạnh, ẩm làm hệ thống điều hoà bị rối loạn, dẫn đến rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, các mô bào, các tế bào của

cơ thể, làm giảm sức đề kháng, tạo điều kiện cho virus, vi khuẩn có sẵn trong đường ruột hay từ ngoài vào có cơ hội phát triển tăng nhanh về số lượng và tăng cường độc lực gây bệnh

Mặt khác, ở gia súc non các men tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, đặc biệt trong dịch vị chưa có đủ lượng HCl tự do nên không hoạt hoá được men pepsin Vì vậy mà không tiêu hoá được hết sữa mẹ trong khi sữa mẹ là môi trường phát triển tốt của nhiều loại vi khuẩn (Sử An Ninh, 1993) [9]

Do vi khuẩn

Vi khuẩn E.coli

Vai trò của vi khuẩn gây tiêu chảy ở lợn con đã và đang được nhiều nhà

khoa học quan tâm Nhưng trong đó vi khuẩn E.coli là nguyên nhân quan trọng

Trang 14

nhất trong hội chứng tiêu chảy của lợn con mới sinh và sau cai sữa E.coli là một

loại trực khuẩn đường ruột sống ở ruột già, chỉ một vài giờ sau khi sinh và tồn tại đến khi con vật chết Theo Nguyễn Như Thanh (2001) [13] thì bệnh lợn con phân trắng là một hội chứng hay nói cách khác là một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày ruột, tiêu chảy và gầy sút nhanh

Hầu hết E.coli gây bệnh cho ký chủ nhờ yếu tố bám dính và độc tố đường ruột E.coli bám dính vào niêm mạc ruột rồi sản sinh độc tố đường ruột Các chủng E.coli gây bệnh đều sản sinh ra một hay nhiều kháng nguyên bám dính,

chúng nằm trên Fibriae - một cấu trúc giống sợi lông, xuất phát từ một đĩa giống trong màng nguyên sinh chất của tế bào vi khuẩn Chính các yếu tố bám dính

cùng với các độc tố đường ruột đã gây quá trình sinh bệnh đặc trưng của E.coli

Vi khuẩn Salmonella

Salmonella có mặt trong thức ăn, nước uống, môi trường thiên nhiên và

trong cơ thể động vật, có khả năng gây bệnh khi gặp điều kiện thuận lợi

Salmonella cũng đóng vai trò rất quan trọng trong nguyên nhân gây hội

chứng tiêu chảy ở lợn con vì vi khuẩn này là nguyên nhân gây bệnh phó thương

hàn ở lợn bao gồm Salmonelle cholera suis (chủng kunzendorf) và Salmonella typhysuis (chủng Voldagsen) (Nguyễn Như Thanh, 2001) [13]

Vi khuẩn Clostridium perfrigens

Một trong những nguyên nhân quan trọng khác đóng vai trò kế phát gây

bệnh là vi khuẩn yếm khí Cl.perfrigens hình thành độc tố gây dung huyết, gây

hoại tử tổ chức phần mềm và gây chết Vi khuẩn có khả năng gây ra các chứng nhiễm độc, viêm ruột xuất huyết trầm trọng ở lợn con

Các chủng Cl.perfrigens sản sinh ra nhiều độc tố và enzym khác nhau, mỗi

chủng có những đặc điểm riêng trong việc sản sinh ra một vài loại độc tố hay

enzym nào đó Những độc tố gây bệnh chủ yếu do Cl.perfrigens bao gồm độc tố

α, β, δ Dựa vào hầu hết các đặc điểm mô tả thì Cl.perfrigens typ C gây ra viêm

Trang 15

không được tiêm phòng, tỷ lệ khỏi rất thấp, tỷ lệ chết có thể lên tới 100%

Do virus

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vai trò của virus Một đại diện của virus được chú ý nhiều trong hội chứng tiêu chảy của lợn đó là

Transmissble gastroenteritis virus (TGE) TGE (viêm dạ dày ruột truyền

nhiễm), là một bệnh có tính truyền nhiễm cao, biểu hiện đặc trưng là nôn mửa

và tiêu chảy nghiêm trọng, bệnh thường xảy ra ở các cơ sở chăn nuôi tập trung khi thời tiết rét lạnh

Virus TGE xâm nhập chủ yếu qua đường tiêu hoá Virus này gây bệnh cho lợn ở các lứa tuổi khác nhau, ở lợn virus nhân lên mạnh nhất ở trong niêm mạc của không tràng rồi đến hồi tràng, chúng không sinh sản trong dạ dày và kết tràng

Một số virus như Cornavirus, paravirus, rotavirus và adenovirus đều có

tính hướng đến các tế bào ruột Các tế bào niêm mạc ruột bị phá huỷ do lông nhung bị teo dẫn đến sự tiêu hoá và hấp thu kém Những chất không tiêu hoá được trong ruột non sẽ kéo theo chất lỏng vào xoang ruột non Khi được vận chuyển vào ruột già, một số được tiêu hoá hoặc không tiêu hoá đều có thể tham gia vào quá trình gây tiêu chảy

Do ký sinh trùng

Các bệnh ký sinh trùng ở đường tiêu hoá cũng là nguyên nhân dẫn đến tiêu chảy ở lợn con cũng như ở một số gia súc khác Nguyên nhân này xảy ra chủ yếu ở lợn lứa tuổi sau cai sữa, còn lợn con theo mẹ ít gặp hơn vì đa số tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng tăng theo độ tuổi của lợn

Tác hại của ký sinh trùng là do chúng ký sinh, phát triển trong đường tiêu hoá, cướp chất dinh dưỡng của cơ thể, tiết độc tố, quá trình bám dính và di hành chúng làm tổn thương niêm mạc ruột, giảm sức đề kháng của cơ thể lợn

Tất cả các yếu tố trên tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn xâm nhiễm, bội nhiễm và gây bệnh

Theo Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Giun đũa lợn (Ascarisuum), sán

lá ruột lợn (Fassiolopsis buski), ký sinh trùng đường máu như tiên mao trùng (T.evansi) với triệu chứng tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính [11]

Do độc tố nấm mốc

Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội Ngoài ra việc gây tiêu

Trang 16

chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực tiếp cho người dùng thực phẩm

bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn dư trong thực phẩm

Do điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng

Tình trạng sức khoẻ và chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ ảnh hưởng đến dinh dưỡng bào thai và tích luỹ chất dinh dưỡng để tạo ra sữa trong giai đoạn cuối Việc nuôi dưỡng lợn nái chửa kỳ cuối rất quan trọng, nó quyết định trọng lượng sơ sinh của lợn con - một trong những chỉ tiêu để nâng cao năng suất của đàn nái sinh sản, đồng thời nói lên sức khoẻ của lợn con sơ sinh

Các chất dinh dưỡng cung cấp cho lợn mẹ, ngoài việc đáp ứng nhu cầu năng lượng và protein còn cung cấp các vitamin, khoáng, đặc biệt là protein tạo kháng thể chống lại các vi khuẩn có hại

Lợn con khi sinh không ngừng sử dụng protein để xây dựng các mô bào mới trong quá trình phát triển, đồng thời khôi phục và tu bổ lại tế bào cũ Vì vậy, nếu khẩu phần ăn của lợn mẹ không đủ protein, thiếu khoáng đa lượng, vi lượng, dẫn đến thiếu dinh dưỡng, lượng sữa giảm, chất lượng sữa giảm, ảnh hưởng đến sức khoẻ của lợn con

Thân nhiệt của lợn mới sinh ra là 38,9o

C - 39,1oC, nhưng sau 30 phút giảm xuống còn 36,7o

C - 37,1oC Trong vòng 1 giờ sau khi sinh, nếu con vật được bú sữa đầu thì sau 8 - 12 giờ thân nhiệt của lợn con sẽ được ổn định trở lại, nếu lợn con không được bú sữa đầu thì sự mất nhiệt sẽ là nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con

Trong sữa đầu hàm lượng vitamin A, D, B1, C cao hơn rất nhiều so với sữa thường Ngoài ra, trong sữa đầu còn có MgSO4 có tác dụng tẩy rửa các chất cặn

bã trong đường tiêu hoá Đặc biệt còn có hàm lượng kháng thể γ - globulin, do

đó cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ rất cần thiết nhằm cung cấp hàm lượng kháng thể đáng kể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn gây bệnh, tăng sức đề kháng của cơ thể

Đặc điểm sinh lý lợn con

Khi mới sinh ra, cơ thể lợn con phát triển để dần hoàn chỉnh về cấu tạo, chức năng hệ tiêu hóa và hệ miễn dịch Lợn con trước một tháng tuổi không có HCl tự do trong dịch vị vì lúc này lượng axit tiết ra và nhanh chóng liên kết với dịch nhầy Đây là điều kiện để vi sinh vật phát triển gây bệnh dạ dày - ruột ở lợn con Hơn nữa vì thiếu axit HCl nên pepsinogen tiết ra không trở thành pepsin hoạt động được gây rối loạn tiêu hóa sữa, sữa bị kết tủa dưới dạng casein gây rối loạn

Trang 17

tiêu hóa, tiêu chảy màu phân trắng (màu của casein chưa được tiêu hóa)

Mặt khác khi mới sinh vỏ não và các trung tâm điều tiết thân nhiệt chưa hoàn chỉnh Hơn nữa lượng mỡ dưới da của lợn con mới sinh chỉ có khoảng 1% Lúc khí hậu thay đổi lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt Đặc điểm này đã lý giải tại sao bệnh lại hay xảy ra hàng loạt ồ ạt khi thời tiết thay đổi thất thường

Theo Cù Xuân Dần (1996) [4] lượng sữa mẹ từ khi đẻ tăng đến ngày thứ

15 là cao nhất, đến ngày thứ 20 đột ngột giảm xuống thấp trong khi nhu cầu về sữa mẹ của lợn con tăng lên Do đó nếu ở giai đoạn này lợn mẹ mà thiếu chất dinh dưỡng thì lợn con lại càng thiếu sữa, cơ thể lợn con trở nên suy nhược, giảm sức đề kháng, lợn dễ bị stress

Một trong các nguyên nhân quan trọng nhất gây bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Khi còn là bào thai lượng sắt cần thiết được mẹ cung cấp Khi ra ngoài môi trường sống, sữa mẹ chỉ cung cấp được 1/6 lượng sắt mà cơ thể non yêu cầu Trong khi cơ thể sơ sinh cần tới 40 - 50 mg sắt/ngày, nhưng lợn con chỉ nhận được 1mg/ngày thông qua sữa mẹ Vì vậy, cần bổ sung thêm ít nhất là 200

- 250mg/con để lợn con tránh thiếu máu Trong sữa mẹ không những chỉ thiếu sắt mà còn thiếu cả Coban, Vitamin B12 tham gia vào quá trình tạo máu, tổng hợp và hoạt hóa một số enzym Do đó lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm, lợn con dễ mắc bệnh phân trắng

2.3.2 Cơ chế sinh bệnh

Theo Phạm Ngọc Thạch (2006) [18], khi bị bệnh, đầu tiên dạ dày giảm tiết dịch vị, nồng độ HCl giảm, làm giảm khả năng diệt trùng và khả năng tiêu hóa protein Khi độ kiềm trong đường tiêu hóa tăng cao tạo điều kiện cho các vi khuẩn trong đường ruột phát triển mạnh, làm thối rữa các chất chứa trong đường ruột và sản sinh nhiều chất độc Những sản phẩm trên kích thích vào niêm mạc ruột làm tăng nhu động ruột, con vật sinh ra ỉa chảy Khi bệnh kéo dài, con vật bị mất nước (do ỉa chảy) gây nên rối loạn trao đổi chất trong cơ thể như nhiễm độc toan hoặc mất cân bằng các chất điện giải, làm cho bệnh trở nên trầm trọng, gia súc có thể chết

2.3.3 Triệu chứng của bệnh

Bệnh thường xảy ra ở lợn con, đặc biệt ở lợn mới sinh đến 21 ngày tuổi, có con mắc sớm hơn, ngay sau khi sinh ra 1 đến 3 giờ và mắc muộn khi 4 tuần tuổi Lợn con mắc bệnh đa số thân nhiệt tăng sau 2 đến 3 ngày thì hạ xuống do

Trang 18

ỉa chảy mất nước nhiều Trong 1 đến 2 ngày đầu mắc bệnh lợn vẫn bú sau đó gầy tọp nhanh, lông xù, đuôi rũ, da nhăn nheo, nhợt nhạt, hai chân sau dúm lại

và run rẩy, đuôi và khoeo dính đầy phân

Tiêu chảy ở mức độ nhẹ lợn không có biểu hiện mất nước nhưng cũng có thể tiêu chảy nặng Khối lượng cơ thể bị giảm sút 30 - 40% do mất nước Cơ bụng hóp lại, lợn gầy, suy kiệt và đi siêu vẹo, mắt trũng sâu, da tái xám và nhợt nhạt Trong trường hợp mãn tính, da quanh vùng hậu môn có thể đỏ lên do tiếp xúc với phân kiềm tính, lợn ít bị mất nước và nếu điều trị tích cực thì có thể khỏi bệnh

Ngoài việc chẩn đoán dựa vào triệu chứng trên thì bệnh còn được xác định chủ yếu dựa vào trạng thái biến đổi của phân Về trạng thái phân có thể chia làm

đã loãng như nước, tháo tung toé Lúc này lợn con mất nước nặng, nếu kiểm tra phân dưới kính hiển vi sẽ thấy trong phân có những hạt mỡ chưa tiêu hoá, các tế bào niêm mạc ruột hoặc có thể lẫn một ít hồng cầu

- Giai đoạn bệnh chuyển sang lành, phân từ màu trắng xám chuyển thành xám đen Phân đặc dần thành khuôn như phân lợn khoẻ

Một số trường hợp lợn con bị viêm phổi, xoang ngực, xoang bụng chứa dịch

Trang 19

2.3.5 Biện pháp phòng trị bệnh

2.3.5.1 Phòng bệnh

Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

Thực hiện tốt khâu vệ sinh (chuồng trại, các thiết bị, dụng cụ ở chuồng

nuôi lợn đẻ) nhằm hạn chế E.coli gây bệnh, đảm bảo độ thông thoáng hợp lý để

duy trì nhiệt độ, độ ẩm thích hợp cho lợn ở từng giai đoạn, ấm về mùa đông, thoáng mát vào mùa hè, vệ sinh sạch sẽ Nếu phát hiện lợn con bị tiêu chảy do

E.coli thì cần nhanh chóng điều trị bằng thuốc

Theo Sử An Ninh (1995) [10], cần hạn chế dùng nước tắm rửa cho lợn ở giai đoạn lợn con theo mẹ cũng như cai sữa, ẩm độ thích hợp cho lợn con được khuyến cáo là 70 - 85%

Theo Phạm Khắc Hiếu và cộng sự (1998) [7] lợn con sau khi đẻ ra cần được sưởi ấm ở nhiệt độ 34oC trong tuần lễ đầu tiên sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC Như vậy lợn sẽ tránh được stress lạnh ẩm Thiết kế chuồng đẻ về kích thước, độ cao nền chuồng, bề mặt nền chuồng cũng rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến tỷ lệ lợn con bị phân trắng Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt đàn lợn con và lợn mẹ nhằm nâng cao sức đề kháng tự nhiên cho lợn con, phải cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt Phải đảm bảo các thành phần dinh dưỡng trong khẩu phần ăn đặc biệt là các khoáng và vitamin… Nên cho lợn con tập ăn sớm vào ngày tuổi thứ 7 - 8

Lợn con ở giai đoạn bú sữa thường có triệu chứng thiếu máu do thiếu sắt, đây là một trong những nguyên nhân gây rối loạn tiêu hoá và gây tiêu chảy nên phải tiêm bổ sung sắt cho lợn vào ngày tuổi thứ 3 và thứ 10

Phòng bệnh bằng vacxin

Những vacxin sản xuất đại trà sử dụng cho lợn mẹ thường được sản xuất bằng cách dùng toàn bộ hoặc những tiểu phần tinh chế của vi khuẩn làm kháng nguyên Thành phần chủ yếu của vacxin là những yếu tố bám dính Bằng công nghệ tái tổ hợp có thể sản xuất một lượng kháng nguyên lông tinh chế cần thiết cho sản xuất vacxin Vacxin này thường dùng cho lợn chửa 5 tuần và 2 tuần trước khi đẻ Trong các trại chăn nuôi tập trung hiện nay đang phổ biến dùng vacxin Litter Guard, loại vacxin vô hoạt bằng phương pháp hoá học dùng cho lợn nái mang thai khoẻ mạnh để phòng tiêu chảy cho lợn con theo mẹ gây ra bởi

độc tố β của vi khuẩn Cl.perfingens chủng C và các chủng E.coli sản sinh độc tố

không chịu nhiệt LT, có kháng nguyên bám dính K99, K88, 987P, F41 Kháng thể

Trang 20

thụ động được truyền cho lợn con thông qua sữa đầu

Để phòng bệnh do Clostridium perfingens ở lợn con theo Bergeland (1992) [26], có thể sử dụng giải độc tố yếm khí Cl.perfingens typ C để tiêm cho lợn mẹ

2 lần trong thời kỳ mang thai (lần tiêm thứ nhất vào giữa kỳ và nhắc lại lần 2 trước khi đẻ 2 - 3 tuần) Lợn con sẽ được bảo vệ bởi globulin miễn dịch trong sữa đầu tác dụng phòng bệnh có thể kéo dài đến sau khi cai sữa

Ngoài ra có thể dùng thốc nam để phòng bệnh: Để phòng bệnh, có thể hái khoảng 200g cây nhọ nồi cho lợn mẹ ăn sống hoặc nấu chín cùng thức ăn, cứ

2 - 3 ngày một lần như vậy lợn con sẽ không bị ỉa phân trắng (Báo Nông nghiệp

số 254, năm 2007)

2.3.5.2 Điều trị

Hiện nay các vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học là hiệu quả điều trị bệnh Nhiều nghiên cứu đã kết luận: cần điều trị sớm, kết hợp nhiều biện pháp tổng hợp nhằm khống chế, khắc phục rối loạn tiêu hoá và hấp thu, chống loạn khuẩn đường ruột, đồng thời phải kết hợp điều trị nguyên nhân với điều trị triệu chứng

Để điều trị có hiệu quả phải đảm bảo toàn diện các hướng sau:

- Chống viêm ở niêm mạc đường tiêu hoá

- Chống vi khuẩn gây bệnh kế phát

- Chống loạn khuẩn, khôi phục lại hệ vi sinh vật có lợi trong đường tiêu hoá

- Bổ sung nước và điện giải

- Bổ sung sắt và các vitamin

- Thực hiện tốt vệ sinh, chăm sóc, nuôi dưỡng

Điều trị bằng kháng sinh, hoá dược

Để có hiệu quả điều trị cao, điều quan trọng nhất đó là phải xác định được vai trò của vi khuẩn gây bệnh và sự mẫn cảm của chúng đối với kháng sinh và hoá dược sẽ dùng trong điều trị Trong thực tế, nên sử dụng loại kháng sinh phổ rộng ngay từ lúc đầu trong khi chờ kết quả của kháng sinh đồ

Dùng kháng sinh cầm ỉa chảy như: Sulfathiazon 10% tiêm dưới da, Streptomycin uống, Kanamycin tiêm bắp, Neomycin cho uống, Norfloxacin, Enrofloxacin… (Phạm Ngọc Thạch, 2006) [18]

Điều trị triệu chứng

Lợn con bị tiêu chảy nặng thường dẫn đến tình trạng mất nước và có biểu hiện rối loạn nghiêm trọng các chất điện giải Do đó kết hợp với điều trị bằng

Trang 21

thuốc cần phải kịp thời chống mất nước và chất điện giải cho lợn con, đồng thời nên trợ tim cho lợn con bằng Cafein 20%, bổ sung đường glucose, tăng cường các vitamin đặc biệt là các vitamin nhóm B

Khôi phục hệ vi sinh vật đường ruột

Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột sẽ

có ảnh hưởng tốt đến hiệu quả điều trị Đỗ Trung Cứ và cộng sự (2000) [2] sử dụng chế phẩm Biosubtyl để điều trị tiêu chảy cho lợn con trước và sau cai sữa cho tỷ lệ lợn con mắc tiêu chảy giảm, khả năng tăng trọng tốt Tạ Thị Vịnh và cộng sự (2004) [19] cho biết khi sử dụng chế phẩm VITOM 1 và VITOM 3 để phòng và trị tiêu chảy cho lợn con từ sơ sinh đến 3 tuần tuổi cho kết quả tốt, ngoài tác dụng điều trị, chế phẩm còn góp phần kích thích tăng trọng lợn

Một số thuốc điều trị phân trắng lợn con

* Enrovet là sản phẩm của công ty Cipla sản xuất, do công ty TNHH thú y

Xanh Việt Nam phân phối

hoạt chất chính là Enrofloxacin thuộc nhón Fluoroquinoloes là nhóm có tác dụng

tốt với vi khuẩn gram dương, gram âm, Mycoplasma và các loại vi khuẩn khác

Enrovet ức chế quá trình sinh tổng hợp DNA của vi khuẩn, tiêu diệt vi khuẩn nhanh chóng trước khi chúng kịp kháng thuốc

Thuốc phòng trị các bệnh như tiêu chảy, nhiễm trùng huyết do E.coli, các bệnh do Mycoplasma gây ra, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, bệnh tụ

huyết trùng, bệnh phó thương hàn, các bệnh nhiễm khuẩn đường tiêu hoá, bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu sinh dục, bệnh nhiễm trùng kế phát do virus

Liều lượng: 1ml/20kg thể trọng (TT) tiêm bắp ngày 1 lần, trong 3 - 5 ngày

* Pharsulin: (Phamavet sản xuất và phân phối)

Thành phần: 100ml có 10g Tiamulin

Parsulin là một loại thuốc đặc trị hồng lỵ, tiêu chảy, chướng bụng, phân vàng, hen suyễn, viêm phổi, viêm khớp, viêm bao khớp, leptospirosis ở lợn

Trang 22

Cách dùng: Tiêm bắp ngày 1 lần, tiêm 3 ngày liên tục

+ Bệnh hồng lỵ: 1ml/10kg khối lượng cơ thể, lặp lại sau 24 giờ nếu cần + Bệnh khác: 1,5ml/10kg khối lượng cơ thể

* Men tiêu hoá Lactobac - C

Lactopac - C do công ty Bayer sản xuất

Tạo môi trường tối ưu giúp cho sự sinh trưởng và hoạt động của vi khuẩn

có lợi trong đường ruột

Gia tăng sản xuất axit lactic, ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh Duy trì tỷ lệ thích hợp giữa Natri và Kali, thay thế lượng muối bị mất (đặc biệt khi bị tiêu chảy) và duy trì cân bằng hấp thu muối

Tăng khẳ năng tiêu hoá tinh bột và protein

Kích thích sinh trưởng ở gia súc, gia cầm

Liều lượng và cách sử dụng: Trộn thức ăn hoặc hoà nước uống

Trộn 500 - 700g/100kg thức ăn hoặc pha 1g với 1 - 2 lít nước uống (1g/3 - 5kg TT), dùng 1 ngày/tuần trong suốt quá trình nuôi hay 2 - 3 ngày/tuần khi gia súc, gia cầm bị stress: 3 - 5 ngày khi gia súc bị tiêu chảy hoặc sau khi điều trị bằng kháng sinh

* Điện giải: Vitamin C Antistress

Thành phần: Dạng bột, 100g chứa: Vitamin C 13g

Citric acid 25g Phụ liệu bổ sung 100g

Trang 23

Công dụng:

Chống stress cho lợn khi nhiệt độ cao, lúc chuyển chuồng, cai sữa, bị đuổi bắt, mật độ nuôi cao, dịch bệnh, chủng ngừa hoặc khi cắt mỏ, thay lông ở gia cầm Giúp lợn tăng sức đề kháng, tăng trọng nhanh và tăng trọng tốt

Liều lượng và cách sử dụng: hoà nước uống Dùng 1g sản phẩm A - T111 vitamin C antitress hoà tan trong 2 đến 4 lít nước cho gia súc, gia cầm uống (1g/10kg TT)

Trang 24

CHƯƠNG 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tương và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Lợn con theo mẹ từ 1 đến 21 ngày tuổi mắc bệnh phân trắng tại xã Phiêng Khoài

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá tình hình chăn nuôi lợn của xã Phiêng Khoài huyện Yên Châu tỉnh Sơn La

- Điều tra, xác định tỷ lệ lợn con mắc hội chứng tiêu chảy, tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng tại xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La qua các năm 2012, 2013, 2014 và 4 tháng đầu năm 2015

- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo độ tuổi

- Thí nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con

3.3 Vật Liệu

-Lợn con theo mẹ từ 1 đến 21 ngày tuổi

-Các thuốc sử dụng để điều trị bệnh phân trắng lợn con: Enrovet, Pharsulin, Lactopac - C, Vitamin C Antistres

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu

* Căn cứ chọn điểm nghiên cứu:

Nghiên cứu tình hình chăn nuôi lợn và bệnh phân trắng lợn con ở xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La

* Chọn Bản nghiên cứu:

Chọn 3 bản thuộc xã Phiêng Khoài để nghiên cứu, trong đó có 1 bản chăn nuôi lợn nhiều nhất, 1 bản chăn nuôi lợn ít nhất, 1 bản chăn nuôi lợn trung bình

Trang 25

* Chọn hộ điều tra:

Mỗi bản điều tra tiến hành phỏng vấn 20 hộ nông dân và phỏng vấn ngẫu nhiên

3.4.2 Phương pháp thu thập tài liệu

3.4.2.1 Thu thập tài liệu thứ cấp

- Các số liệu về tổng quan địa bàn nghiên cứu

- Quy mô, cơ cấu và biến động đàn lợn qua các năm

- Kết quả sản xuất các ngành kinh tế và ngành chăn nuôi qua các năm

- Diễn biến bệnh dịch và kết quả tiêm phòng chống dịch bệnh cho đàn lợn qua các năm

Các số liệu trên được thu thập thông qua việc sao chép số liệu tại phòng thống kê của xã, sao chép số liệu của cán bộ thú y xã

3.4.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp

- Các số liệu về tình hình chung của hộ, kết quả sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất khác của hộ, số lượng gia súc, gia cầm chăn nuôi trong hộ; tình hình tiêm phòng và dịch bệnh, kết quả điều trị bệnh đặc biệt là bệnh phân trắng lợn con, vốn và đầu tư vốn cho sản xuất của hộ; sử dụng lao động trong hộ; cách tổ chức sản xuất, tình hình tiêu thụ sản phẩm, các khó khăn vướng mắc của hộ; sự giúp đỡ, hỗ trợ từ phía chính quyền các cấp đối với hộ; các ý nhận xét và kiến nghị của hộ… Số liệu sơ cấp được thu thập bằng phiếu điều tra với các câu hỏi điều tra phỏng vấn và mẫu biểu được chuẩn bị trước theo mục đích nghiên cứu

3.4.3 Phương pháp mô tả

- Xác định tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con

- Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng lợn con theo độ tuổi

Xác định nội dung này, chúng tôi tiến hành chọn những lô đồng đều về ngày đẻ, lứa đẻ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và theo dõi số con mắc bệnh qua

1, 2 và 3 tuần tuổi Những con mắc bệnh được chuẩn đoán dựa vào triệu chứng lâm sàng, mổ khám gia súc chết và quan sát bệnh tích

3.4.4 Phân lô thí nghiệm một số phác đồ điều trị

Lô 1: Thí nghiệm phác đồ điều trị 1

- Phác đồ điều trị 1 như sau:

Enrovet: 1ml/20kg TT, ngày tiêm 1 lần

Lactopac - C

Vitamin C Antistress

Trang 26

Lô 2: Thí nghiệm phác đồ điều trị 2

- Phác đồ điều trị 2 như sau:

Pharsulin: 1ml/10kgTT, ngày tiêm 1 lần

Lactopacs - C

Vitamin C Antistress

3.4.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu

Các chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ lợn con mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ

lệ tái phát và thời gian trung bình được tính theo công thức:

Tỷ lệ mắc bệnh (%) = (Tổng số con mắc bệnh/Tổng số con theo dõi) x 100

Tỷ lệ chết (%) = (Tổng số con chết/Tổng số con mắc bệnh) x 100

Tỷ lệ khỏi (%) = (Tổng số con khỏi/Tổng số con điều trị) x 100

Tỷ lệ tái phát (%) = (Tổng số con tái phát/Tổng số con khỏi sau điều trị) x

100

3.4.6 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel

Trang 27

CHƯƠNG 4: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU

VỰC NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên của xã Phiêng Khoài

4.1.1 Vị trí địa lí

Xã Phiêng Khoài là xã vùng cao biên giới, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định: 447/ QĐ - UBDT, ngày 19/9/2013 của Ủy ban dân tộc trung ương Tổng diện tích đất tự nhiện 9172 ha Có chiều dài đường biên 21km

Vì vậy xã có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế, thương mại, dịch vụ giao lưu trao đổi hàng hóa với nước bạn Lào Nhưng vẫn còn gặp nhiều khó khăn địa bàn xã rộng, dân số đông trình độ dân trí không đồng đều, giao thông

đi lại khó khăn nhất là vào mùa mưa Tỷ lệ hộ cao chiếm 39% (Năm 2014) Nhưng được sự chỉ đạo của Đảng uỷ - HĐND xã đưa ra các nghị quyết đúng đắn nhân dân thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, tình hình an ninh chính trị luôn ổn định trật tự an toàn xã hội đường biên mốc giới được giữ vững

4.1.2 Điều kiện địa hình

Đất đai xã Phiêng Khoài màu mỡ, có độ phì nhiêu cao, địa hình không được bằng phẳng, chủ yếu là trồng ngô và trồng lúa với cây công nghiệp ngắn

ngày

4.1.3 Điều kiện khí hậu

Nằm ở khu vực phía đông Nam, xã Phiêng Khoài chịu ảnh hưởng trực

tiếp của chế độ gió mùa đông Bắc, gió tây Nam hay còn gọi là gió Lào Hàng năm thường xảy ra hạn hán và giá rét

Giữa các mùa trong năm có sự biến thiên lớn về nhiệt độ Tháng có nhiệt

độ cao nhất trong năm là tháng 4, tháng 5, tháng 6 tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 11, tháng 12 và tháng 1 năm sau Nhiệt độ trung bình hàng năm là 19 -

30oC Do sự chênh lệch về nhiệt độ đã làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng

và phát của cây trồng và vật nuôi

Về mùa nắng thường bắt đầu vào cuối tháng 3 đến tháng 10, trong thời tiết này thường kết hợp với gió tây Nam làm nhiệt độ có lúc lên tới 37 - 380

C Đồng thời xảy ra hạn hán, cây trồng bị chết héo, gia súc, gia cầm bị dịch bệnh

Trang 28

làm cho năng xuất thấp

4.1.4 Đặc điểm thủy văn và nguồn nước

Do địa hình cao và chia cắt nên hệ thống sông suối phân bố không đồng đều, mùa khô lưu lượng nước nhỏ, mùa mưa lũ lưu lượng nước lại rất lớn, tốc độ dòng chảy cao, lượng nước tập trung thường gây ra lũ quét, lũ ống ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất và đời sống của nhân dân Xã Phiêng Khoài có diện tích mặt nước chuyên dùng khá mỏng nên không có tiềm năng để phát triển ngành đánh bắt thủy sản và giao thông đường thủy

4.2 Điều kiện kinh tế, xã hội

4.2.1 Dân số

Tổng số hộ 2645, Số khẩu 10.560, Hộ nghèo 1049 hộ chiếm 39% Có 16 bản đặc biệt khó khăn, có 06 bản giáp biên giới

4.2.2 Dân tộc

Toàn xã có 4 dân tộc anh em cùng chung sống (Kinh, thái, Mông, Xinh

mun): Dân tộc kinh chiếm 39,5%; Dân tộc Thái chiếm 16,3%; Dân tộc Mông

chiếm 12,95; Dân tộc Xinh Mun chiếm 31,3%

4.2.3 Văn hoá, giáo dục, y tế

Hiện nay xã có 1 trạm y tế với 4 cán bộ, trong dó có 1 bác sỹ 3 kỹ thuật

viên và đã có 19/27 bản có cán bộ y tế bản Trong đó 50% số cán bộ y tế tế bản chưa qua đào tạo

Nhìn chung công tác y tế đã cơ bản đã đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Về cấp phát thẻ cho nhân dân được 6.636 thẻ

Tuy nhiên nhiên vẫn còn một số hạn chế chưa đáp ứng đủ cho nhân dân:

Cơ sở vật chất còn nghèo, thiếu thốn về trang bị kỹ thuật

Phong trào xây dựng đời sống văn hóa mới được các cấp chính quyền quan tâm chỉ đạo 100% số bản thực hiện tốt các quy ước, hương ước Đã bỏ dần một số thủ tục lạc hậu và cùng nhau đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới ở

cơ sở giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc

Sự nghiệp giáo dục đào tạo của xã trong những năm qua đã có những chuyển biến đáng khích lệ, phát triển cả về số lượng đào tạo Số lượng học sinh

ở các cấp luôn được duy trì, tỷ lệ học sinh được chuyển lớp và hết cấp đạt trên 80%

Trang 29

Năm 2005 - 2006 toàn xã có 8 trường học các cấp với 129 lớp Đội ngũ giáo viên dần dần được chuẩn hóa, toàn xã năm 2006 có 206 giáo viên các cấp Chất lượng giao dục có nhiều chuyển biến tích cực, đến nay toàn xã được công nhận xóa mù chữ

4.2.4 Kinh tế xã hội

Xã có điều kiện giao lưu, trao đổi hàng hóa thuận lợi, đặc biệt là tuyến đường bộ liên xã đi qua xã Yên Sơn, xã Lóng Phiêng và đi qua 3 xã của nước bạn Lào…Có điều kiện thuận lợi để tiếp để tiếp nhận với thị trường bên ngoài, việc tiếp thu khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và đời sống dân cư cũng có thuận lợi hơn so với các xã khác trong huyện

4.2.5 Lao động thu nhập

Kinh tế xã Phiêng Khoài phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng trung bình

qua các năm đạt 12%/năm, cơ cấu sản xuất đã chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa trong đó trồng trọt chiếm 44,75%, chăn nuôi chiếm 15,75% lâm nghiệp chiếm 42,57%, giá trị sản xuất trên 1ha đạt 15.000.000 đồng Tổng diện tích gieo trồng 2.529,92 ha, diện tích trồng lúa 92,14 ha, diện tích trồng ngô 1.630 ha, tổng sản lượng lương thực 642kg/người/năm Bình quân thu nhập

3.480.000 đồng/người/năm

4.2.6 Dịch vụ thương mại

Tập trung phát triển mạnh dọc theo tỉnh lộ 103 khu trung tâm xã là nơi trung tâm buôn bán tập trung xuất hiện ngày càng nhiều tiểu thương buôn bán các mặt hàng nông nghiệp, công nghiệp, điện tử, tiêu dùng đảm bảo đầy đủ các mặt hàng thuận tiện trong việc mua bán trao đổi của nhân dân

Đạt được những kết quả nêu trên nhờ Đảng uỷ luôn được sự quan tâm, lãnh đạo chỉ đạo thường xuyên, cùng với sự giúp đỡ, hướng dẫn của các ban, ngành đoàn thể của xã, các cơ quan đơn vị đóng trên địa bàn xã, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết của đảng uỷ về phát triển KT - XH trên địa bàn

Ngày đăng: 23/08/2015, 15:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5.1: Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm xã Phiêng khoài từ năm 2012 -2015 - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.1 Cơ cấu đàn lợn của Trung tâm xã Phiêng khoài từ năm 2012 -2015 (Trang 30)
Bảng 5.3: Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại xã Phiêng Khoài - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.3 Một số bệnh thường gặp trên đàn lợn con theo mẹ tại xã Phiêng Khoài (Trang 34)
Bảng 5.5: Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng qua các năm - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.5 Kết quả điều tra tình hình bệnh lợn con phân trắng qua các năm (Trang 39)
Bảng 5.6: Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.6 Kết quả theo dõi tỷ lệ lợn con mắc bệnh phân trắng theo độ tuổi (Trang 41)
Bảng 5.7: Các phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con theo mẹ - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.7 Các phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con theo mẹ (Trang 43)
Bảng 5.9 : Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh phân trắng lợn con - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Bảng 5.9 Kết quả theo dõi tỷ lệ tái phát bệnh phân trắng lợn con (Trang 46)
Hình 1. Bệnh ỉa phân trắng ở lợn con theo mẹ tại xã Phiêng Khoài - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Hình 1. Bệnh ỉa phân trắng ở lợn con theo mẹ tại xã Phiêng Khoài (Trang 52)
Hình 2. Phòng bệnh cho đàn lợn tại xã Phiêng Khoài - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Hình 2. Phòng bệnh cho đàn lợn tại xã Phiêng Khoài (Trang 53)
Hình 4. Mô hình chăn nuôi lợn tại xã Phiêng Khoài - Điều tra tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con và biện pháp phòng, điều trị bệnh tại xã phiêng khoài, huyện yên châu, tỉnh sơn la
Hình 4. Mô hình chăn nuôi lợn tại xã Phiêng Khoài (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w