Bài làm: Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là một quốc sách, là động lực để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, vài vậy ngân sách củ
Trang 1Thực trạng đầu tư của nhà nước cho đầu tư xây dựng
cơ bản trong giáo dục?
Bài làm:
Đảng và Nhà nước ta luôn coi giáo dục là một quốc sách,
là động lực để thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, vài vậy ngân sách của Nhà nước hàng năm luôn ưu tiên hàng đầu cho GD&ĐT và có những cơ chế phù hợp cho ngành đồng thời huy động nguồn lực tham gia vào lĩnh vực giáo dục
Đầu tư của Nhà nước cho GD bao gồm các khoản sau: Chi thường xuyên cho GD
Chi thực hiện các dự án ODA
Chi thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia
Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi nghiên cứu khoa học
Sau đây chúng ta cùng đi tìm hiểu về chi đầu tư xây dựng
cơ bản cho giáo dục
I.Các vấn đề chung
I.1 Đầu tư xây dựng cơ bản
Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài
Trang 2sản cố định, nhằm từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế
I.2 Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách nhà nước là vốn của ngân sách nhà nước được cân đối trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm từ các nguồn thu trong nước, nước ngoài (vay nước ngoài của chính phủ và vốn viện trợ của nước ngoài cho chính phủ, các cấp chính quyền và các cơ quan nhà nước) để cấp phát và cho vay ưu đãi về đầu tư xây dựng cơ bản
I.3 Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Chi đầu tư xây dựng cơ bản là khoản chi tài chính nhà nước được đầu tư cho các công trình thuộc kết cấu hạ tầng “cầu cống, bến cảng sân bay, giao thông, hệ thống thủy lợi,năng lượng, viễn thông…” các công trình kinh tế có tính chất chiến lược, các công trình và dự án phát triển văn hóa xã hội trọng điểm, phúc lợi công cộng nhằm hình thành thế cân đối cho nền kinh tế, tạo ra tiền đề kích thích quá trình vận động vốn doanh nghiệp và tư nhân nhằm mục đích tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân
I.4 Chi đầu tư xây dựng cơ bản trong GD&ĐT
Chi đầu tư xây dựng cơ bản trong GD bao gồm: xây dựng trường học, phòng học, phòng thư viện, phòng thí nghiệm,
Trang 3phòng thực hành, sân chơi, bãi tập, trang thiết bị phục vụ dạy học…
2 Cơ sở pháp lý:
Thông tư số 10/2005/TT-BTC ngày 02/02/2005 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với việc phân bổ, quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước
Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày 12 tháng 9 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2007 – 2010
3 Nguyên tắc
Theo QĐ số 210/2006/QĐ-TTg quy định rõ:
Nguyên tắc và định mức phân bổ đầu tư:
Hàng năm Bộ Kế hoạch và đầu tư cùng thống nhất với Bộ Tài chính giao kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản cho các địa phương trong đó có kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản cho ngành GD&ĐT UBND các tỉnh, thành phố thông qua Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố quyết định việc phân bổ cụ thể cho các dự án
Tùy theo cơ chế phân cấp của từng địa phương mà Sở GD&ĐT được tham gia vào với mức độ khác nhau vào quá
Trang 4trình lập kế hoạch, phân bổ kinh phí , điều hành thực hiện vốn đầu tư trên địa bàn
Bắt đầu từ năm 2007 cho đến nay, nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước thực hiện theo Quyết định số 210/2006/QĐ-TTg ngày
12 tháng 9 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Về việc ban hành các nguyên tắc, tiêu chí và định mức phân bổ chi đầu tư phát triển bằng nguồn ngân sách nhà nước theo nguyên tắc chung là:
Nguyên tắc xác định các tiêu chí và định mức phân bổ vốn đầu tư trong cân đối cho các địa phương
Trên cở sở tổng mức vốn được Quốc hội phê duyệt, Thủ tướng Chính Phủ giao các bộ, ngành phân bổ vốn cho các công trình, dự án cụ thể việc phân bổ phải đảm bảo Thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách nhà nước, cân đối ngân sách nhà nước các tiêu chí và định mức chi đầu tư phát triển được xây dựng cho năm 2007, là cơ sở để xác định tỷ lệ điều tiết và
số bổ sung cân đối của ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương, được ổn định trong 4 năm của giai đoạn 2007 - 2010;
- Bảo đảm tương quan hợp lý giữa việc phục vụ các mục tiêu phát triển các trung tâm chính trị, kinh tế của cả nước, các vùng kinh tế trọng điểm, với việc ưu tiên hỗ trợ các vùng miền núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn khác để góp phần thu hẹp dần khoảng cách về trình độ
Trang 5phát triển kinh tế, thu nhập và mức sống của dân cư giữa các vùng miền trong cả nước;
- Bảo đảm sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư của ngân sách nhà nước, tạo điều kiện để thu hút các nguồn vốn khác, bảo đảm mục tiêu huy động cao nhất các nguồn vốn cho đầu tư phát triển;
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch, công bằng trong việc phân bổ vốn đầu tư phát triển;
- Mức vốn đầu tư phát triển trong cân đối của từng địa phương không thấp hơn số dự toán năm 2006 Thủ tướng Chính phủ đã giao
Đối với chi đầu tư phát triển trong cân đối của các địa phương: được phân bổ trên cơ sở tính điểm theo các tiêu chí về dân số, về trình dộ phát triển, về diện tích tự nhiên, về đơn vị hành chính và các tiêu chí bổ sung khác
- Tiêu chí dân số gồm 2 tiêu chí: số dân của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và số người dân tộc thiểu số;
- Tiêu chí về trình độ phát triển gồm 3 tiêu chí: tỷ lệ hộ nghèo, thu nội địa (không bao gồm khoản thu về đất) và tỷ lệ điều tiết về ngân sách trung ương;
- Tiêu chí diện tích tự nhiên của các tỉnh, thành phố;
Trang 6- Tiêu chí về đơn vị hành chính: bao gồm 4 tiêu chí số đơn
vị hành chính cấp huyện; số huyện miền núi; vùng cao, hải đảo
và biên giới của từng tỉnh, thành phố;
- Các tiêu chí bổ sung, bao gồm:
+ Tiêu chí thành phố đặc biệt: Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh;
+ Tiêu chí các thành phố trực thuộc Trung ương: Hải phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ;
+ Tiêu chí thành phố loại I thuộc tỉnh: thành phố Huế (Thừa Thiên Huế);
+ Tiêu chí các tỉnh, thành phố thuộc vùng kinh tế trọng điểm, các trung tâm phát triển của vùng và tiểu vùng
Với hình thức phân vốn như đã nói thì các địa phương phải chủ động nguồn thu và bố trí ngân sách cho các nhiệm vụ chi trên địa bàn Trong thực tế việc bố chí vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh, thành phố phụ thuộc trực tiếp vào khả năng thu của mỗi địa phương Bộ GD&ĐT không có thông tin chính thức về tổng số vốn đầu tư cho các cơ sở GD&ĐT tại địa phương, do đó cũng không có tổng hợp chính thức về tổng chi đầu tư xây dựng
cơ bản của toàn ngành GD&ĐT Bộ GD&ĐT cũng chưa có quy định kiểm tra, giám sát chi tiêu vốn đầu tư tại các địa phương, yêu cầu với các địa phương phải có những báo cáo cụ thể cho
Bộ GD&ĐT để Bộ tổng hợp vốn đầu tư theo các lĩnh vực
II Thực trạng
Trang 71 Thực trạng về chi đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản được hình thành từ các nguồn Vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ngân sách nhà nước được hình thành từ các nguồn sau
Một phần tích lũy trong nước từ thuế, lệ phí, phí Vốn viện trợ theo dự án của chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác
Thực tế hiện nay trong nghành giáo dục nguồn đầu tư xây dựng cơ bản có hai nguồn thu từ ngân sách nhà nước, hai là thu
từ các nguồn huy động các cá nhân các tổ chức xã hội
Chi đầu tư xây dựng cơ bản: Đơn vị: tỷ đồng
Chi đầu tư
Xây dựng
cơ bản
3.665 4.789 7.226 10.000 14.584 18.844 20.752
Tỷ trọng
trong
tổng số
chi NSNN
cho
GD&ĐT
18,7% 16,5% 16,8% 18,2% 16,8% 18,2% 19,45%
Trang 881,3%
Năm 2001
Chi ĐTXDCB Chi khác
Trang 9Theo biểu đồ trên ta thấy NSNN chi cho đầu tư xây dựng
cơ bản ngày càng tăng, năm 2001 là 3.665 tỷ đồng, năm 2010 là 20.752 tỷ
Còn tỷ trọng đầu tư xây dựng cơ bản trong tổng số chi NSNN cho giáo dục từ 2001-2010 tăng 0,8% nhưng rất nhỏ có thời kỳ còn giảm 2001-2003 giảm 2,1%,
Trong chi đầu tư xây dựng cơ bản nguồn chi tại địa phương luôn chiếm gần 50% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm và có xu hướng tăng Nó khẳng định các địa phương
đã chủ động được việc huy động nguồn vốn cho xây dựng cơ bản
Vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung được ngân sách nhà nước giao hàng năm chiếm từ 16,5% năm 2003 đến 23,1% năm
2008 tổng chi NSNN cho GD, trong đó phần chi đầu tư xây dựng cơ bản ở các tỉnh, thành phố trực thuộc TW chiếm khoảng
Trang 1062% phần còn lại chi cho các chi cho các khối trương ĐH, CĐ, Trung cấp chuyên nghiệp, Dậy nghề trực thuộc các bộ, ngành… vốn đầu tư xây dựng cơ bản tập trung được NSNN bố trí cho các trường và các đợn vị thuộc Bộ GD&ĐT bình quân là 7,6% tổng vốn đầu tư toàn ngành
Với kinh phí xây dựng cơ bản tập trung hàng năm, cùng với chương trình mục tiêu quốc gia, kinh phí từ các nguồn xã hội hóa cơ sở vật chất, trường lớp thiết bị dạy học không ngừng được tăng cường đặc biệt ngành GD thực hiện tốt chương trình kiên cố hóa trường lớp bằng các nguồn công trái GD trong 4 năm từ 2002-2006 với khoảng 9 nghìn tỷ đồng công trái giáo dục cả nước đã xây dựng được 60 nghìn phòng học thực hiện kiên cố hóa trường lớp xóa phòng học 3 ca phòng học tạm, đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định
Trang 1120/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 về kiên cố hóa trường lớp và nhà công vụ cho giáo viên giai đoạn 2008-2012vowis tổng kinh phí 25 nghìn tỷ, chi cho đầu tư xây dựng cơ bản để xóa phòng học tạm, 3 ca…
Trong thập kỷ đầu của thế kỷ XXI Nhà nước đã và đang đầu tư cho GD&ĐT từ chỗ chỉ 13% lên tới 20% tổng chi ngân sách NN, với tỷ lệ như trên thì VN thuộc vào những nước có tỷ
lệ chi cho GD cao trên thế giới Mặc dù chi ngân sách NN cho
GD chiếm tỷ lệ lớn trong GDP và ngày càng tăng nhưng do GDP của nước ta lại thấp vì vậy ngành GD vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn chô việc đảm bảo chất lượng GD
Nguồn NSNN đầu tư cho GD tăng từ 19 nghìn tỷ đồng năm 2001 lên 81 nghìn tỷ năm 2008 tăng 4,1 lần Tỷ trọng chi NSNN cho GD trong GDP năm 2001 là 4,1% chiếm 15,5% tổng chi NSNN, năm 2006 là 5,6% chiếm 18,4% tổng chi NSNN, từ năm 2008 trở đi chính phủ đã dành 20% tổng chi NSNN cho GD
Trang 12Sơ đồ phân bổ vốn đầu tư xây dựng cơ bản:
Nguồn NSNN
đành cho đầu tư
Chương trình
mục tiêu quốc gia
Các dự án ODA
Học phí
Xổ số kiến thiết
Công trái GD
Đầu tư cho các cơ sở GD&ĐT Các tỉnh, thành phố
Đầu tư cho các cơ sở GD&ĐT Trung ương
Xây dựng phòng học, phòng chức năng, nhà hiệu bộ, phòng làm việc cho giáo sư.
Xây dựng thư viện,phòng thí nghiệm hiện đại
Xây dựng ký túc xá cho sinh viên
Xây dựng trường đại học đẳng cấp quốc tế.
Xóa phòng học 3 ca, phòng học tạm.
Xây dựng phòng thư viện, thí nghiệm, các phòng học bộ môn.
Xây dựng nhà ở công vụ cho giáo viên vùng miền núi, vùng khó khăn
Trang 13Chi cho GD ở Việt nam cao nhưng chưa hiệu quả, đầu tư
cơ sở vật chất chưa đồng bộ, còn lãng phí trong quá trình chi thực hiện dự án
=>GS.VS Phạm Minh Hạc, nguyên Bộ trưởng Bộ GD&ĐT cho rằng, bức tranh giáo dục nước nhà đã tồn tại nhiều vấn đề chưa giải quyết tốt, việc lạm thu ở nhiều trường càng làm cho bức tranh ấy thêm rối rắm.
Trang 14Nước ta là nước nghèo, dù ngân sách đầu tư cho giáo dục
đã tăng lên nhiều Trong hơn 20 năm qua, ngân sách đầu tư cho giáo dục tăng lên đến 4 lần rồi, từ khoảng 5% lên đến 20% Nhưng nó đi đến đâu thì chưa rõ, chỉ biết là các trường còn thiếu nhiều thứ Đó cũng là một trong những nguyên nhân đẻ ra việc lạm thu ở các trường Xã hội hoá giáo dục nhằm kêu gọi cả
xã hội ủng hộ ngành giáo dục là quy định đúng và không có gì sai cả nhưng nó phức tạp là ở từng trường thôi
Đúng là hiện nay, trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học
ở nước ta còn thiếu nhiều thứ Ví dụ như, học sinh phô tô tài liệu học tập cũng mất tiền Ở những nước khác họ có máy phô
tô đặt ở ngoài hành lang và học sinh có thể phôtô tài liệu hàng mấy trăm trang
Bên cạnh đó, một số khoản tiền đáng lý nhà trường không được đứng ra thu thì lại thu Ví dụ như việc thu tiền bảo hiểm
Đó là khoản tiền mà các quỹ bảo hiểm phải đứng ra thu, nhưng nhà trường lại đứng ra thu vì có hoa hồng từ việc đó
Tuy nhiên, việc lạm thu chỉ diễn ra ở một số trường, đặc biệt là ở thành thị, còn ở nông thôn thì không nhiều Hiện nay, các nhà trường chưa thể có điều kiện để lắp điều hoà nhiệt độ, thậm chí nhiều trường còn thiếu cả quạt điện Nhưng nhiều người lại nghĩ ra lắp máy lạnh, lắp hệ thống loa, âm ly để tăng
âm dù phòng học rất nhỏ khiến nhiều phụ huynh có khả năng kinh tế hạn chế khốn đốn Theo tôi đó là việc làm không nên,
Trang 15bởi sẽ làm nên những tác động không tốt đến cả phụ huynh và học sinh Nếu trong các trường dân lập, học sinh đều là con nhà giàu cả, hàng tháng người ta đóng nhiều tiền thì họ được học trong môi trường tốt, có ăn trưa, căng tin buổi sáng, thì không
có chuyện gì cả
III Kết luận
Trong bất kì chế độ xã hội nào dù là xã hội chủ nghĩa hay
tư bản chủ nghĩa thì giáo dục luôn là hoạt động quan trọng đối với sự phát triển kinh-tế xã hội của một quốc gia Bởi lẽ giáo dục là nền tảng văn hoá, là cơ sở hình thành nhân cách và nâng cao ý thức của mỗi con người trong xã hội
Chi NSNN đầu tư xây dựng cơ bản là cơ sở để đảm bảo và nâng cao chất lượng GD phục vụ cho việc dạy, học và nghiên cứu của người học tốt hơn vì vậy Đảng và Nhà nước có những chính sách đầu tư xây dựng hơn nữa cho giáo dục mà hàng đầu
là đầu tư xây dựng cơ bản để xóa phòng học tạm, phòng học 3
ca, phòng học tranh tre nứa lá đặc biệt là các vùng sâu vùng xa, huy động xã hội hóa GD để mọi người đều tham gia GD và đều được GD một cách toàn diện đó là trách nhiệm không chỉ của riêng Đảng và Nhà nước mà còn trách nhiệm và nghĩa vụ của toàn xã hội
IV Giải pháp
Tăng cường kiểm toán
Tăng cường thanh tra
Trang 16Hoàn thiện cơ chế quản lý cấp phát vốn NSNN cho GD
Bố chí hợp lý cơ cấu chi tiêu và sử dụng có hiệu quả các nguồn kinh phí đầu tư cho GD