Ngoài mục đích hoàn thành Đề tài tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ Kinh tế do trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, bản thân cố gắng phấn đấu đưa khoa học, lý
Trang 1NGUYEN VAN CAM
QUAN TRI VA PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TAI
CONG TY XANG DAUBA RIA - VUNG TAU
Chuyén nganh : QUAN TRI KINH DOANH
Mã số : 50702
LUAN VAN TOT NGHIEP THAC SY KINH TE
Giáo viên hướng dẫn : Giáo sư - Tiến sỹ Vũ Thế Phú
TP HỒ CHÍ MINH - 2001
Trang 2Lý do chọn để tài
Nội dung nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của để tài
Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG!1: TỔNG QUAN VE LY LUAN QUAN TRI NGUON NHAN LUC
1.1 Khái niệm, mục tiêu, mô hình quản trị nguồn nhân lực
1.1.1 Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực
1.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của quản trị nguồn nhân lực
1.1.3 Sơ lược qúa trình phát triển của quản trị nguồn nhân lực
1.1.4 Các mô hình quản trị nguồn nhân lực
1.2 Nội dung, chức năng chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực
1.2.1 Thu hút nguồn nhân lực
1.2.1.1 Hoạch định nguồn nhân lực
1.2.1.2 Phân tích công việc
1.2.1.3 Qúa trình tuyển dụng
1.2.2 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1.2.2.1 Các nguyên tắc trong đào tạo
1.2.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo
1.2.3 Chức năng duy trì nguồn lực
1.2.3.1 Đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên
1.2.3.2 Trả công lao động
1.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VỀ QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI
CÔNG TY XĂNG DẦU BÀ RỊA-VŨNG TÀU
2.1 Giới thiệu chung về Công ty
2.1.1 Sơ lược quá tình hình thành và phát triển của Ngành xăng đầu VN
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của Công ty xăng dầu BR-VT
2.1.3 Tổ chức bộ máy của Công ty
2.1.3.1 Mô hình tổ chức của Công ty
2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ của phòng tổ chức hành chính Công ty
2.1.3.3 Chức năng, nhiệm vụ của các phòng, đơn vị khác trong Công ty
Trang 32.2.1.2 Anh hưởng môi trường bên ngoài Công ty 54
2.2.2 Đặc điểm và cơ cấu nguồn nhân lực tại Công ty 61
2.2.3 Các biện pháp thu hút nguồn nhân lực mà Công ty đã thực hiện 66
2.2.4 Công tác đào tạo và phát triển nguôn nhân lực 69
2.2.5 Chính sách tiễn lương, thưởng áp dụng trong Công ty 73
2.2.6 Các hình thức khuyến khích động viên trong Công ty 78
2.3 Đánh giá hoạt động của công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty 79
CHƯƠNG 3 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUAN TRI VA PHAT TRIEN NGUON NHAN LUC TAI CÔNG TY XĂNG
3.1 Mục tiêu và chiến lược phát triển Công ty xăng đầu Bà rịa-Vũng tần 83
3.1.1 Một số nhân tố ảnh hưởng 83
3.1.2 Mục tiêu chiến lược phát triển của Công ty xăng dầu BR-VT 86
3.2 Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị và phát triển nguồn nhân lực tại
3.2.2 Các biện pháp đổi mới tổ chức lao động của Công ty 95
3.2.5 Khách quan và chuẩn xác trong đánh giá về nhân viên 116 3.3 Đổi mới công tác quy hoạch cán bộ và đào tạo nguồn nhân lực 117
3.4 Cải tiến công tác bổ nhiệm và sử dụng cán bộ 123
3.5 Cải tiến chế độ phân phối tiền lương, tiễn thưởng và phát huy vai trò của các
Trang 4Đất nước Việt Nam chúng ta đang trong qúa trình mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới với mong muốn: quyết tâm đưa dân tộc ta thoát khỏi nghèo
nàn và lạc hậu, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu mạnh Cùng với những đổi
mới trong chủ trương, đường lối và chính sách kinh tế, quản lý xã hội, trong đó có
vấn để quản lý nguồn nhân lực - coi đây là một trong những biện pháp quan
trọng, chiến lược để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu qủa của mọi hoạt động tại các đơn vị Quan niệm trước đây cho rằng lợi thế cạnh tranh chủ yếu của
một công ty hay một quốc gia là do khả năng tài chính mạnh, kỹ thuật công nghệ
phát triển cao đã trở lên lỗi thời, Giờ đây, vấn để quyết định cho sự tổn tại và phát triển của công ty là những con người có học vấn cao, được đào tạo tốt, có đạo đức, có văn hóa và biết cách làm việc hiệu qủa Kinh nghiệm của thế giới đã
chứng minh rằng sự cất cánh và phát triển thành công trong kinh tế của các nước
gắn liền với chính sách, chiến lược phát triển và sử dụng nguôn nhân lực
Quan tri nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp Việt nam hiện nay đang là một vấn đề rất mới, hầu như chưa có nghiên cứu tổng hợp nào về cả lý thuyết cũng như thực tiễn Trong qúa trình đổi mới, nhiều thay đổi cơ bản đã diễn ra trong thực tiễn quản trị nguồn nhân lực, nhưng hiệu qúa của nó bị hạn chế rất nhiều do thiếu các kỹ năng quản trị và thiếu các hướng dẫn về mặt lý luận; những kết qửa về kinh tế mà Việt nam đạt được trong những năm qua còn rất khiêm tốn so với những khả năng tiểm tàng về tài nguyên và lực lượng lao động chăm chỉ, sáng tạo Việc vận dụng lý thuyết quản trị nguồn nhân lực vào các doanh nghiệp để để ra các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh là van dé cấp thiết
Trang 5lâu dài của Công ty, bằng chính mình, Công ty xăng dầu Bà rịa - Vũng tàu phải tìm ra một hướng đi đúng đắn trong chỉnh sách quản trị nguồn nhân lực tại Công
ty mình ở mỗi thời điểm nhất định với những đặc trưng về môi trường, văn hóa và
con người của mình
Xuất phát từ những nhận thức sâu xắc về vai trò của quản trị nguồn nhân lực, cùng với những thực tiễn và trăn trở của bản thân qua công tác tại đơn vị Để
tài: “ Quản trị và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty xăng dầu Bà rịa - Vũng
tàu” được lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ kinh tế
s® Nôi dung nghiên cứu của đề tài:
Trên cổ sở những hiểu biết về mặt lý luận và khoa học quản trị nhân lực, với những thông tin thu thập trong qúa trình công tác tại Công ty xăng dầu Ba ria
- Vũng tàu, bản luận văn này cố gắng đánh giá, phân tích hiện trạng công tác quan trị và phát triển nguồn nhân lực tại Công ty xăng dâu Bà rịa - Vũng tàu, từ
đó có để xuất một số giải pháp cải tiến phương thức quần trị và phát triển nhân
lực tại Công ty
Bản luận văn gồm 3 chương :
Chương ] : Lý luận chung về công tác quản trị nguồn nhân lực
Chương này chú yếu làm sáng tỏ các khái niệm, ý nghĩa vai trò, quá trình
phát triển của quản trị nguồn nhân lực trên thế giới cũng như tại Việt nam trong thời gian qua Đồng thời xem xét các chức năng và những yếu tố cơ bản ảnh
hưởng đến công tác quản trị nguồn nhân lực
Chương 2 : Phân tích và đánh giá thực trạng về công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty xăng dâu Bà rịa - Vũng tàu.
Trang 6trong, bên ngoài , các khía cạnh như cơ cấu tổ chức, tình hình tài chính và kinh
doanh của Công ty từ khi thành lập cho đến nay Nêu bật các đặc điểm về tình hình quản trị và phát triển nguồn nhân lực của Công ty trong những năm qua
Chiến lược về quản trị nguồn tài nguyên nhân lực là một trong những
chiến lược rất quan trọng, hợp thành chiến lược phát triển chung của công ty Do
vậy, xác định chiến lược, chính sách quản trị và phát triển nguôn nhân lực phải được gắn liền với mục tiêu chiến lược sản xuất- kinh doanh mà Công ty đã để ra
Chương 3 : Các biện pháp kiến nghị đối với công tác quản trị nguồn nhân lực tại Công ty xăng dầu Bà rịa - Vũng tàu
Đây là phần cuối cùng của bản luận văn, để xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản trị và phát triển nguồn nhân lực của Công ty Trong phan nay, các giải pháp nhằm chủ yếu vào việc tuyển dụng lao động, các biện pháp đổi mới tổ chức lao động, sắp xếp lại lao động, đổi mới quan hệ điều hành, công tác đánh giá và quy hoạch cán bộ, công tác bổ nhiệm và sử dụng cán
bộ, cải tiến chế độ tiền lương và khen thưởng
Trên quan điểm coi quản trị nguồn nhân lực là một quá trình liên tục, các khâu trong đó phải quan trọng như nhau và phải gắn chặt, thống nhất với nhau
Chính vì thế, khi đưa ra những biện pháp kiến nghị, phải được xem xét trên quan điểm toàn diện và lâu dài Hơn nữa, tác dụng của một chính sách quản trị và phát
triển nguồn nhân lực không thể biểu hiện được ngay kết qủa hay hậu qủa, nó phải có thời gian nhất định để khẳng định Các chính sách quản trị và phát triển nguồn nhân lực chịu tác động rất lớn của các yếu tố khách quan, do đó việc thực hiện phải uyển chuyển thích hợp để tránh những sai lầm đáng tiếc xảy ra.
Trang 7một điểu kiện nhất định về thời gian và không gian cụ thể Trong bản hiận văn
này, tác giả không có tham vọng nêu lên toàn bộ các vấn đề liên quan đến Quản
trị và phát triển nguồn nhân lực mà chỉ dừng lại ở mức nêu ra những quan điểm của mình trong việc định hướng chính sách quản trị và phát triển nguôn nhân lực trong điểu kiện, đặc điểm và tình hình hiện tại của Công ty xăng dầu Bà ria -
Vũng tầu
Trong khuôn khổ bản luận văn này, không đi sâu vào các tính toán cụ thể
mà chỉ dừng lại ở phạm vi về lý luận, các phương pháp mang tính định hướng và
ứng dụng Mặt khác, với mục đích trên, những vấn để được nêu ra trong bản luận
văn chủ yếu dựa trên tình hình thực tế với những phương tiện khả dụng và nằm
trong khả năng có thể thực hiện được tại Công ty
Ngoài mục đích hoàn thành Đề tài tốt nghiệp chương trình đào tạo thạc sỹ
Kinh tế do trường Đại học Mở bán công Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức, bản thân cố gắng phấn đấu đưa khoa học, lý luận vào thực tiễn để hy vọng bản luận văn này có tác dụng như một chuyên để nghiên cứu tiền khả thi về cơ sở lý luận
và để ra một số giải pháp để phục vụ nhu câu thực tế của Công ty xăng dầu Bà ria - Vũng tàu trong lĩnh vực cải tiến chính sách quần trị và phát triển nguồn nhân
lực
© Phương pháp được áp dụng khi nghiên cứu:
Cũng như những môn khoa học kinh tế - xã hội khác, khoa học quản trị nguồn nhân lực lấy Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm kim chỉ nam trong suốt qúa trình luận giải và đúc kết thành lý luận
Trang 8những thay đổi không vượt ra ngoài quy luật phát triển lịch sử của nó - tức là
phát triển có trình tự , kế tục thừa kế hoặc có những bước nhảy vọt
Đồng thời để tài nghiên cứu còn sử dụng các phương pháp sau:
Trang 91.1 Khái niệm, mục tiêu, mô hình quản trị nguồn nhân lực
1.1.1.Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực:
Trong sự phát triển lực lượng sản xuất những năm cuối của thế kỷ 20 đã đem lại nhiều viễn cảnh to lớn, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo điều kiện
khai thác toàn điện những tiêm năng thể lực và trí lực của con người Trong hoạt
động kinh tế người ta thấy một sự chuyển từ những thông số vật chất bên ngoài con người sang những vấn đề bên trong con người, liên quan đến những hiểu biết
và hoạt động sáng tạo của con người: không ngừng nâng cao chất lượng sức lao động; những hình thức sử dụng linh hoạt nguồn lực tiềm năng của con người; kết
hợp sự nỗ lực chung của tập thể công nhân; quan tâm đến các yếu tố văn minh
thẩm mỹ của sản xuất và chất lượng công việc, là những vấn để quan tâm của
các nhà sản xuất - kinh doanh hiện đại
Đối tượng của quản trị nguồn nhân lực là các tổ chức và nhân lực trong
tổ chức đó; quản trị nguồn nhân lực là sự kết hợp của hai vấn để: là khoa học
quản trị và vấn để nguồn nhân lực
Quản trị là quá trình làm cho những hoạt động được hoàn thành đạt hiệu
quả cao bằng cách thông tin qua người khác Việc quản trị có sự phối hợp giữa
tính khoa học và nghệ thuật, đạo đức Khác với phương diện khoa học, Quản trị
gia thành công phải là người nắm vững kiến thức và kỹ năng quản trị Do vậy, về
mặt nghệ thuật, quản trị gia thành công là người có những năng lực như óc thông
minh, tài thuyết phục, tài lôi cuốn người khác làm theo ý mình
Nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, gồm thể lực và trí lực
Trong sản xuất kinh doanh truyền thống, việc tận dụng các tiểm năng về thể lực
Trang 10nhưng còn ở mức mới mẻ, không bao giờ cạn kiệt, vì đây là kho tàng còn nhiều bí
ẩn trong mỗi con người
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành từ các cá nhân, được liên kết, ràng buộc với nhau theo mục tiêu nhất định của tổ chức để ra Trong một tổ
chức, các cá nhân có vai trò, năng lực, đặc điểm và tiểm năng phát triển rất khác
nhau; muốn liên kết họ lại cân phải có một nhà quản trị tài ba và có nghệ thuật
quản trị con người
Quản trị nguồn nhân lực là một bộ phận không thể thiếu của quản trị sản xuất kinh doanh, nó nhằm củng cố và duy trì đầy đủ số và chất lượng người làm
việc cần thiết cho tổ chức để đạt mục tiêu để ra; tìm kiếm và phát triển những
hình thức, những phương pháp tốt nhất để con người có thể đóng góp nhiều sức
lực cho các mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng chính bản thân con người
Đo vậy, “ Quản trị nguôn nhân lực lò hệ thống các triết lý, chính sách và
hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo, phát triển và duy trì con người của một
tổ chức nhằm đạt được kết qủa tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên *Í
Quản trị nguồn nhân lực khác biệt so với quản trị nhân sự về bản chất hay
chỉ là sự nhấn mạnh, sự hoàn thiện hay sự phát triển lên của quản trị nhân sự vẫn còn là đề tài tranh luận của các nhà khoa học lẫn những người hoạt động thực tiễn Nhìn chung, hiện nay trên thế giới có ba quan điểm khác nhau về mối quan
hệ giữa quản trị nhân sự và quản trị nguồn nhân lực:
! Trần Thị Kim Dung - Luận án tiền sỹ kinh tế “ Một số giải pháp hoàn thiện quần trị nguồn nhân lực
trong các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” , năm 2001, trang 15.
Trang 11Quan điểm thứ hai cho rằng quản trị nguồn nhân lực hoàn toàn khác biệt với quản trị nhân sự Quần trị nguồn nhân lực có quan điểm mới, triết lý mới và
dé ra phương pháp mới, một cách tiếp cận mới cho quản trị Quan điểm này nhấn
mạnh tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong tổ chức, nhấn mạnh phương pháp quản trị mới thông qua việc phối hợp các chức năng quản trị con người vào với quản trị chiến lược của doanh nghiệp và nhấn mạnh sự cần thiết phải sử dụng day
đủ và tốt nhất các nguồn lực của tổ chức
Quan điểm thứ ba cho rằng quản trị nguồn nhân lực không phải là một
cuộc cách mạng mà là giai đoạn phát triển tiếp theo, sự mở rộng thêm hay sự hoàn thiện lên của quản trị nhân sự Quan điểm này có tính chất dung hòa giữa
hai quan điểm trên
1.1.2 Mục tiêu, ý nghĩa của quản trị nguôn nhân lực
Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở của những cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định Nhân viên có năng lực, đặc điểm cá nhân khác nhau, có tiém năng phát
triển, có khả năng hình thành các nhóm, các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyển
lợi của họ, có thể đặt câu hỏi đối với hoạt động của các quản trị gia, hành vi của
họ có thể thay đổi phụ thuộc vào chính bản thân họ và sự tác động của môi trường xung quanh, Do đó, quản trị nguên nhân lực khó khăn và phức tạp hơn nhiều so với quản trị các yếu tố khác của qúa trình sản xuất, kinh doanh
Quần trị nguồn nhân lực hướng tới hai mục tiêu cơ bản:
* Tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu qúa của tổ chức
* Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên
Trang 12chính xác, biết cách lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh được các sai lầm trong tuyển chọn và sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp trong việc thực hiện mục tiêu tổ chức và mục tiêu của cá nhân, nâng cao hiệu quả hoạt động của
tổ chức, từ đó dần dần có thể đưa chiến lược con người thành một bộ phận hữu
cơ không thể thiếu được trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Về mặt kinh tế, quản trị nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiểm tàng, nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp về nguồn nhân lực
Về mặt xã hội, quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bắn
về quyển lợi của người lao động, để cao vị thế giá trị của người lao động, chú
trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ỉch giữa tổ chức, doanh nghiệp và người
lao động, góp phân làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản - lao động trong các doanh
nghiệp
Quản trị nguồn nhân lực nhằm vào việc khai thác nhân tố con người trong quá trình sản xuất một cách tốt nhất Sử dụng con người trong xã hội nói chung
và trong tổ chức nói riêng trên cơ sở vì con người, cho con người mới có thể đạt
được phương án tối ưu Nguồn nhân lực là một yếu tố cơ bản và quan trọng để phát triển tổ chức một cách bên vững và ổn định Nguôn nhân lực còn được coi là
“vốn người”- Giữ một vị trí đặc biệt trong cơ cấu của một tổ chức, một doanh nghiệp Gọi là vốn tức là coi nguồn nhân lực như một thứ tài nguyên đặc biệt, là một thứ vốn quý nhất trong một doanh nghiệp Phát triển nguồn nhân lực là một chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ của một tổ chức, một doanh nghép.
Trang 13ứng nhu câu ngày càng tăng của nhân viên Việt Nam cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ, quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường cũng đã bộc lộ rất nhiều yếu kém trong lĩnh vực quản
lý kinh tế Điểu này là những nguyên nhân quan trong can trở quá trình phát triển
kinh tế ở Việt Nam Bên cạnh đó người ta còn phải đối đầu với những vấn để gay gắt của một đất nước sau chiến tranh với một nền kinh tế kém phát triển, đất nước lâm vào tình trạng thiếu thốn đủ thứ, ngoại trừ nguồn lao động không có
trình độ tay nghề Vì thế đổi mới kinh tế nói chung và quản trị nguồn nhân lực nói riêng thực sự quan trọng và là nguồn tiểm năng to lớn thúc đẩy quá trình nên
kinh tế và nâng cao mức sống của toàn dân
1.1.3 Sơ lược qúa trình phát triển của quản trị nguồn nhân lực
khởi đầu của vấn để quản trị con người trong các tổ chức là quản trị nhân
sự (personnel management) với việc chú trọng đơn thuần lên các vấn để quản trị hành chính nhân viên, thụ động giải quyết các vấn để mang tính chất hành chính, sự vụ theo quy định của doanh nghiệp hoặc theo các yêu cầu cửa lãnh đạo
trực tuyến Trong thế kỷ 20, quản trị con người trong phạm vi của tổ chức, doanh
nghiệp đã áp dụng ba cách tiếp cận chú yếu: quản trị trên cơ sở khoa hoc; quan trị theo mối quan hệ người và quản trị nguồn nhân lực:
Phong trào quản trị trên cơ sở khoa học do E.W,Taylor (1856-1915) khởi
xướng Taylor đã tiến hành nghiên cứu và để xuất phương pháp tổ chức lao động
trên cơ sở khoa học Tổ chức quá trình lao động theo phương pháp của Taylor dựa
trên quan điểm “Không để thời gian nhàn dỗi và thao tác thừa xuất hiện trong
quá trình lao động của người công nhân” Hệ thống tổ chức quản lý của Taylor
Trang 14làm việc, thực hiện chế độ trả lương và thưởng khuyến khích đối với công nhân Phương pháp quản trị trên cơ sở khoa học đã được áp dụng rộng rãi và mang lại hiệu qủa to lớn về năng suất lao động
Phong trào quản trị các mối quan hệ con người chú trọng cải thiện các yếu
tố tinh thần của môi trường làm việc thay thế phong trào quản trị trên cơ sở khoa học từ giữa những năm 1930 Cơ sở nền tảng cửa phong trào quần trị dựa trên các mối quan hệ con người là kết quả thành công của các thí nghiệm của Hawthome
và sự phát triển của phong trào công đoàn Nghiên cứu của Hawthome về ảnh hưởng của điều kiện vệ sinh lao động như ánh sáng nơi làm việc, độ dài thời gian làm việc, chu kỳ làm việc và nghỉ ngơi, các ảnh hưởng của nhóm lên các nhân viên, phong cách của nhà lãnh đạo cũng như sự thoải mái của người công nhân tại nơi làm việc sẽ ảnh hướng như thế nào đến năng suất lao động của người công nhân Kết quả cho thấy không chỉ các thiết kế mẫu công việc, cách trả lương, trả thưởng mà các yếu tố về tâm sinh lý cũng ảnh hướng đến năng suất lao động và chất lượng sản phẩm tạo ra Các yếu tố của điều kiện môi trường làm việc như quan hệ nhóm, phong cách lãnh đạo đã tác động mạnh mẽ đến tình cảm, nhiệt tình của người lao động và là nguồn gốc của việc nâng cao hiệu quả làm việc Tuy nhiên, quản trị theo các mối quan hệ con người chỉ đạt được kết qủa rất hạn chế trong việc nâng cao năng suất lao động và sự thỏa mãn trong công việc của công nhân
Quản trị nguồn nhân lực chú trọng đáp ứng cả mục tiêu của tổ chức lẫn nhu
cầu nhân viên Từ cuối năm 70, vấn để cạnh tranh găy gắt trên thị trường cùng
với sự chuyển đổi từ quá trình sẩn xuất công nghiệp theo lối cổ truyền sang quá
Trang 15người, đúng việc, nhằm phối hợp thực tiễn quản trị con người với mục tiêu của tổ
chức, doanh nghiệp Theo cách quản trị này quan điểm chủ đạo là con người
không còn đơn thuần chỉ là một yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh mà là một nguồn tài sản quý báu cần được đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của nhân viên đồng thời mang lại lợi ích lớn hơn cho doanh nghiệp Cách tiếp cận quản trị nguồn nhân lực đòi hỏi cán bộ Phòng Quản trị
nguồn nhân lực phải có hiểu biết tốt về tâm lý, xã hội, nghiên cứu hành vi, tổ
chức, pháp luật và các nguyên tắc kinh doanh Vai trò của Phòng Quản trị nguồn nhân lực sẽ tăng lên rõ rệt và rất quan trọng trong doanh nghiệp
Ở Việt Nam, trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, khu vực kinh tế tư nhân không có điểu kiện phát triển, còn khu vực kinh tế quốc đoanh toàn bộ các chính
sách nhân lực đều thực hiện thống nhất theo các quy định và theo chỉ tiêu kế
hoạch của Nhà nước Những thành phần cơ bản của quản trị nhân lực như chế độ
tuyển dụng, đào tạo và phát triển, lương thưởng, thăng chức, quan hệ lao động đều là các chính sách chung của Nhà nước và hầu như không liên quan đến thực tiễn hoạt động trong từng doanh nghiệp cụ thể Hình thức quản trị nhân lực này
đã tổn tại cứng nhắc trong một thời gian quá dài khi môi trường kinh tế, xã hội
có nhiều thay đổi cơ bản Do đó, nó đã mất đi tính ưu việt ban đầu và dân dân
không có khả năng khuyến khích người lao động tại nơi làm việc Đây chính là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho năng suất lao động giảm và hiệu quả kinh doanh kém Các doanh nghiệp Nhà nước dần dần trở thành gánh
nặng của ngân sách Nhà nước,” lời giả,lỗ thật” và “ lương bao nhiêu, làm bấy nhiêu” là những thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ thực tiễn sản xuất kinh
Trang 16mới của nên kinh tế thị trường dần dần thay thế cho các nguyên tắc, thủ tục quản
lý cũ, sự can thiệp của Nhà nước vào hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước giảm dân Một phương thức quản lý mới được hình thành tạo một môi trường mới cho quản trị nguồn nhân lực, Trongtfc tiễn cửa nền kinh tế thị trường có nhiều thay đổi, từ tuyển dung lao động suốt đời được chuyển sang chế độ lao động hợp
đồng, từ hình thức đào tạo và phát triển như một quyền lợi đương nhiên của người
lao động sang hướng đầu tư cá nhân, từ hệ thống lương bình quân và theo thâm niên do Nhà nước hoạch định sang hệ thống trả công do doanh nghiệp chịu trách
nhiệm, từ việc can thiệp sâu và kiểm tra nghiêm ngặt của Nhà nước với các
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sang việc nâng cao quyển hạn trách
nhiệm của Giám đốc và quyền tự chủ của doanh nghệp.v.v
Biểu 1.1- Một số chỉ tiêu trong cải cách kinh tế ở Việt Nam (1986-2001)
Chung (%) Nông | Công | Dịch xuất | lam phát
nghiệp | nghiệp vụ khẩu(%) (%)
Trang 17
( Nguôn : Thời báo kinh tế việt Nam ngày 17/10/2001.)
Trong quá trình đổi mới kinh tế, Việt nam đã đạt được mức tăng trưởng
kinh tế cao, tốc độ tăng GDP trung bình hàng năm trong giai đoạn 1991 ~ 2000 là 7,59%, lạm phát giảm từ 774,7% năm 1986 xuống còn -0,62% năm 2000
Mặc dù tăng trưởng kinh tế dat ở mức cao trong những năm gần đây, nhưng vấn để quản trị nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn là một để tài mới mẻ Thực tiễn đặt ra yêu cầu cần phải thay đổi cơ bản cách thức hoạt động quản trị nguồn nhân lực trong đoanh nghiệp Các doanh nghiệp cần có hệ thống quản trị nguồn nhân lực với những chính sách về tuyển dụng, đào tạo , trả lương, khen thưởng, đánh giá mới cho phù hợp yêu cầu mới và cách
tiếp cận quản trị nguồn nhân lực trong nên kinh tế thị trường
1.1.4 Các mô hình quản trị nguồn nhân lực:
> Theo nội dung và cách thức chú trọng thực hiện các hoạt động chức năng quản trị con người trong tổ chức, nghiên cứu của Lawler cho thấy thực tế có sáu mô hình: thư ký, luật pháp, tài chính, quản trị, nhân văn và khoa học hành vi
e Mô hình thư ký: Trong mô hình này, chức năng quản trị nguồn nhân lực liên quan chủ yếu đến việc thu nhập các báo cáo, đữ liệu thông tin
và thực hiện các nhiệm vụ hành chính thường ngày trong doanh nghiệp.
Trang 18Đây chính là quản trị kiểu hành chính nhân viên, không thể hiện được
lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực trong các doanh nghiệp
Mô hình luật pháp: Trong mô hình này, các chức năng quản trị nguồn
nhân lực chú trọng đặc biệt đến sự hiểu biết các vấn để pháp luật
nhằm giúp cho doanh nghiệp tránh được những tranh chấp lao động, các rắc rối liên quan đến pháp luật như vi phạm nội qui về an toàn vệ sinh lao động, về các chế độ thù lao, tuyển dung , sa thai, cho nghỉ việc
Mô hình tài chính: Mô hình này chú trọng đến việc giải quyết hài hòa các mối quan hệ về thu nhập giữa các nhân viên, tạo ra cơ cấu hợp lý giữa tiền lương, phụ cấp, thưởng, phúc lợi trong thu nhập của người lao động và sử dựng các chỉ phí liên quan đến nhân viên sao cho có hiệu qủa nhất
Mô hình quản trị: Thể hiện sự phối hợp hài hoà giữa các chức năng
quản trị nguồn nhân lực với các chức năng quản trị doanh nghiệp
Mô hình nhôn văn: Tư tưởng chỉ đạo trong mô hình này là quản trị
nguồn nhân lực tổn tại để phát triển và thúc đẩy các giá trị và tiểm năng của con người trong tổ chức Cán bộ phòng nhân lực có đồng cảm sâu sắc với các cá nhân trong tổ chức và tạo điều kiện giúp đỡ họ tự phát triển cá nhân và thăng tiến trong nghề nghiệp Phòng quản trị
nhân lực giữ vai trò tích cực trong việc thực hiện các chương trình “ nâng cao chất lượng đời sống tại nơi làm việc” và khuyến khích các “ nhóm tự quản”, các “ nhóm chất lượng” trong doanh nghiệp Sự thành
công huyền diệu trong mô hình quản lý của Nhật Bản và sự phổ biến
rộng rãi thuyết Z của Ouchi đã làm cho mô hình nhân văn có tính hiện
thực cao.
Trang 19© M6 hinh khoa hoc hanh vi: M6 hinh khoa hoc hanh vi cho rằng tâm lý
và hành vi tổ chức là cơ sở của các hoạt động cửa quản trị nguồn nhân lực Mục tiêu và cách tiếp cận khoa học đối với hành vi của con người
trong tổ chức có thể áp dụng để giải quyết đối với hầu hết cdc van dé
của quản trị nguồn nhân lực
Cách phân loại các mô hình quản trị con người trong doanh nghiệp từ mô hình thư ký đến khoa học hành vi thể hiện tính chuyên nghiệp ngày càng cao của
bộ phận phụ trách nhân sự/nguôn nhân lực, có ý nghĩa nhất định trong việc xác
định giai đoạn phát triển của con người trong tổ chức,
> Theo cách thức phối hợp thực hiện chiến lược, chính sách nguồn nhân lực với chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, Jefferey Sonnenfeld và Maury Peiperl đưa ra bốn loại mô hình quản trị nguồn nhân lực: đội banh, học viện, câu lạc bộ và thành trì:
* Mô hình câu lạc bộ: Mô hình này chú ý duy trì các thành viên trung thành, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, chú trọng việc đối xử công bằng với mọi thành viên, coi doanh nghiệp là tổ chức có sứ mạng phục
vụ lợi ích của nhân dân Các doanh nghiệp thuộc mô hình câu lạc bộ thường áp dụng chiến lược của “ nhà bảo vệ” trong kinh doanh nhằm
chú trọng liên tục, ổn định tổ chức, và chiến lược duy trì trong quản trị
nguồn nhân lực
© Mé hinh đội banh: Mô hình đội banh sẵn sàng hy sinh hiệu qủa nội bộ
để giữ được tính sáng tạo, đổi mới trong hoạt động doanh nghiệp Nhân
viên được giao nhiệm vụ và thăng tiến, để bạt theo thành tích cá nhân
Tính chất không ổn định trong nghề nghiệp tạo ra áp lực lớn kích thích
tính sáng tạo và thành tích cá nhân.
Trang 20© M6é hinh hoc vién: M6 hinh nay cé co cau té chức tương đối ổn định và
luôn chú trọng phát triển các kiến thức, kỹ năng và cam kết trung thành
của các thành viên, khen thưởng dựa trên các thành tích cá nhân
Doanh nghiệp thường đứng vào vị trí ở giữa của tính sáng tạo nơi các nhà thăm đò ở thị trường mới và tính hiện thực của các nhà bảo vệ thị
trường ổn định Họ không có những rủi ro của nhà thám hiểm nhưng lại
phân phối xuất sắc các sản phẩm và dịch vụ mới Doanh nghiệp áp dụng chiến lược phát triển trong quản trị nguồn nhân lực
© Mô hình thành trì: Thường áp dụng khi doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh cao, thể hiện sự cam kết rất thấp đối với cá nhân Doanh nghiệp có thể thuê mướn hoặc sa thải nhân viên theo phản ứng đối với thị trường Các doanh nghiệp thường áp dụng chiến lược của “ Nhà phản ứng “ trong kinh doanh và chiến lược “tinh giảm” trong quản trị con người
Các mô hình này có ý nghĩa định hướng chiến lược nguễn nhân lực nói chung và định hướng quản trị các đối tượng nhân viên khác nhau trong doanh nghiệp nói riêng, có thể áp dụng trong các hoàn cảnh, điều kiện khác nhau và có giá trị thực tế cao
1.2 Nội dung, chức năng chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực
Hoạt động quản trị nguồn nhân lực lên quan đến tất cả các vấn để thuộc quyền lợi , nghĩa vụ và trách nhiệm cửa nhân viên nhằm đạt được hiệu qủa cao nhất cho tổ chức và nhân viên Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dang,
phong phú và rất khác biệt tuỳ theo các đặc điểm về cơ cấu tổ chức, công nghệ
kỹ thuật, nhân lực, tài chính trình độ phát triển ở các tổ chức Hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực được phân chia theo ba nhóm chức năng chính là:
Trang 21nhóm thu hút nguồn nhân lực, nhóm đào tạo và phát triển, nhóm duy trì nguồn nhân lực
Sơ đồ 1.1- Các yếu tố thành phần chức năng
1.2.1 Thu hút nguồn nhân lực
Nhóm chức năng này chú trọng đến vấn để đảm bảo có đủ số lượng nhân
viên với các phẩm chất phù hợp cho công việc của doanh nghiệp Để có thể tuyển nhân viên được đúng người đúng việc, trước hết doanh nghiệp phải căn cứ
vào kế hoạch sản xuất, kinh doanh và thực trạng tình hình sử dụng nhân viên trong doanh nghiệp nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người Thực hiện các việc phân tích kế hoạch sản xuất, kinh doanh sẽ cho thấy
doanh nghiệp cần tuyển thêm bao nhiêu nhân viên, ở những vị trí nào và với
những yêu cầu gì cho mỗi vị trí Việc áp dụng các kỹ năng tuyển dụng như trắc nghiệm và phỏng vấn sẽ giúp doanh nghiệp chọn được ứng viên tốt nhất cho
công việc Do đó, nhóm chức năng tuyển dụng thường có các hoạt động: dự báo
Trang 22và hoạch định nguồn nhân lực, phân tích công việc, phỏng vấn, trắc nghiệm, thu nhập, lưu trữ và xử lý các thông tin về nguồn nhân lực của doanh nghiệp
Sau đây chúng ta xem xét cụ thể các hoạt động chính trong nhóm chức năng này
1.2.1.1 Hoạch định nguồn nhân lực:
Hoạch định nguồn nhân lực là quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu
nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình, hoạt động
đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ nguồn nhân lực với các phẩm chất và kỹ năng
phù hợp để thực hiện các công việc với năng suất, chất lượng và hiệu quả cao
Qúa trình hoạch định nguồn nhân lực cần được thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với qúa trình hoạch định và thực hiện các chiến lược, chính sách kinh
doanh của doanh nghiệp Qúa trình hoạch định được thực hiện theo các bước sau:
+ Phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược cho doanh nghiệp
+ Phân tích hiện trạng quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
+ Dự báo khối lượng công việc hoặc xác định khối lượng công việc và tiến
hành phân tích công việc
+ Dự báo nguồn nhân lực hoặc xác định nhu câu nguồn nhân lực
+ Phân tích quan hệ cung cầu nguồn nhân lực, khả năng điều chỉnh, và để
ra các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện giúp doanh nghiệp thích ứng với nhu cầu mới và nâng cao hiệu qủa sử dụng nguồn nhân lực
+ Thực hiện chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị nguồn nhân lực
trong từng năm
+ Kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện
Quá trình thực hiện các bước của hoạch định nguồn nhân lực được phản ánh qua sơ đồ 1.2.
Trang 241.2.1.2 Phân tích công việc:
Phân tích công việc là quá trình nghiên cứu nội dung công việc nhằm xác định điều kiện tiến hành các chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyên hạn khi
thực hiện công việc và các phẩm chất, kỹ năng nhân viên cần thiết phải có clể
thực hiện tốt công việc
Khi phân tích công việc cần xây dựng được hai tài liệu cơ bản là bản mô
tả công việc và bản tiêu chuẩn công việc Bản mô tả công việc là văn bản liệt kê
các chức năng, nhiệm vụ, các mối quan hệ trong công việc, yêu cầu cần kiểm tra giám sát và các tiêu chuẩn cần đạt được khi thực hiện công việc Bản tiêu chuẩn
công việc là văn bản liệt kê những yêu câu về năng lực cá nhân như trình độ học vấn, kinh nghiệm công tác, các kỹ năng khác và các đặc điểm cá nhân thích hợp nhất cho công việc
Nội dung, trình tự thực hiện phân tích công việc gồm 6 bước sau:
Bước I1 : Xác định mục đích của phân tích công việc
Bước 2 : Thu thập các thông tin cơ bản
Bước 3 : Chọn lựa các phần việc đặc trưng, các điểm then chốt
Bước 4 : Ấp dụng các phương pháp khác nhau để thu thập thông tin phân tích công việc
Bước 5 : Kiểm tra, xác minh tính chính xác của thông tin
Bước 6 : Xây dựng bảng mô tả công việc và bảng tiêu chuẩn công việc
1.2.1.3 Quá trình tuyển dụng:
Để có thể tuyển dụng một người vào một chức danh nào đó còn trống chúng
ta có hai nguồn sau:
a Nguồn từ trong nội bộ doanh nghiệp:
Thực chất đây là quá trình thuyên chuyển hoặc để bạt Thuyên chuyển là
sự di chuyển về hàng ngang bao hàm một sự đi chuyển tạm thời hay dứt khoát về
Trang 25nhiệm vụ và đơn vị hành chính xuất phát từ nhu cầu của lãnh đạo hay phòng
quan tri Nhân lực Đề bạt là một hình thức chuyên chuyển bao gồm một sự thăng tiến
Để có thể xác định được có bao nhiêu ứng viên từ trong nội bộ, các doanh
nghiệp nên có những thông tin về số lượng, chất lượng và các đặc điểm cá nhân của nhân viên thông qua việc thu thập và xây dựng hề sơ nhân viên, biểu đổ
thuyên chuyển nhân viên và phiếu thăng chức Trong hô sơ nhân viên cần có
thông tin về tuổi tác, sức khỏe, thời gian còn có thể làm việc cho doanh nghiệp, trình độ học vấn, chuyên môn, các lớp đào tạo đã qua, các khả năng đặc biệt,
mức lương hiện tại, mức độ hoàn thành công việc hiện tại, khả năng thăng
tiến,v.v.» Việc tuyển dụng từ nguồn nội bộ có những ưu - nhược điểm sau:
> Ưu điểm của thuyên chuyển nội bộ:
- Nhân viên của doanh nghiệp đã được thứ thách về lòng trung thành, thái
độ nghiêm túc, trung thực, tinh thần trách nhiệm và ít bỏ việc
- Nhân viên của doanh nghiệp sẽ dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc thực
hiện công việc, nhất là thời gian đầu ở cương vị trách nhiệm mới Họ đã làm
quen, hiểu được mục tiêu của doanh nghiệp, do đó mau chóng thích nghỉ với điều
kiện làm việc mới và biết tìm ra cách thức để bạt được mục tiêu đó
> Những hạn chế thường gặp trong quá trình thuyên chuyển nội bộ:
- Việc tuyển nhân viên vào một chỗ trống trong doanh nghiệp theo kiểu thăng chức nội bộ có thể gây ra hiện tượng chai lỳ, xơ cứng do các nhân viên được thăng chức đã quen với cách làm việc của cấp trên trước đây và họ sẽ rập
khuôn lại theo cách làm việc đó, thiếu sáng tạo, không dấy lên được bầu không
khí thi đua mới Điều này rất nguy hiểm nếu doanh nghiệp đang ở trong tình
trạng trì trệ, hoạt động kém hiệu quả
Trang 26- Trong doanh nghiệp dễ hình thành các nhóm “ Ứng viên không thành công”, họ là những người ứng cử vào một chức vụ nào đó còn trống nhưng không
được tuyển chọn, từ đó có tâm lý không phục lãnh đạo, bất hợp tác với lãnh đạo
mới, dễ chia bè phái, mất đoàn kết, khó làm việc
b/Nguén ứng cử viên ngoài doanh nghiệp
Khi xem xét, nghiên cứu tuyển dụng ứng cử viên từ bên ngoài doanh
nghiệp chúng ta cần phải quan tâm đến nguồn cung ứng nhân lực từ thị trường lao động trên cơ sở dự báo tình hình kinh tế nói chung, điểu kiện thị trường địa phương và điều kiện thị trường nghề nghiệp
> Khi tuyển chọn nhân viên từ bên ngoài doanh nghiệp thường có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thu hút ứng cử viên của doanh nghiệp Sau đây
là 5 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến thu hút ứng cử viên cho doanh nghiệp:
- _ Bản thân công việc không hấp dẫn
- _ Doanh nghiệp không hấp dẫn
- _ Chính sách cán bộ của doanh nghiệp
- _ Những chính sách của chính quyền
- _ Khả năng tài chính của tổ chức, doanh nghiệp
> Doanh nghiệp có thể áp dụng một hoặc kết hợp một số hình thức thu hút
ứng viên từ bên ngoài sau:
- Thông qua quảng cáo
- _ Thông qua văn phòng dịch vụ lao động
- _ Tuyển các sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học
-_ Các hình thức khác: trong thực tế, các doanh nghiệp có thể tuyển ứng viên từ bên ngoài theo giới thiệu của chính quyền, của nhân viên trong
doanh nghiệp, do ứng viên tự đến xin việc làm, hoặc gần đây, qua hệ
thống Internet
Trang 27So d6 1.3- Nội dung trình tự của qúa trình tuyển dụng
Trang 281.2.2 Dao tao va phat trién nguén nhan lye
Nhóm chức năng này chú trọng việc nâng cao năng lực của nhân viên, bảo đảm cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao Các doanh nghiệp áp dụng chương trình hướng nghiệp và đào tạo cho nhân viên mới nhằm xác định năng lực thực tế của nhân viên và giúp nhân viên làm quen với công việc của doanh nghiệp
Đồng thời, các doanh nghiệp cũng thường lập các kế hoạch đào tạo, huấn
luyện và đào tạo lại nhân viên mỗi khi có sự thay đổi về nhu cầu sản xuất kinh
doanh hoặc qui trình công nghệ, kỹ thuật, nhóm chức năng đào tạo, phát triển thường thực hiện các hoạt động như: Hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng
thực hành cho công nhân, bổi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật
kiến thức quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ
Giáo dục, đào tạo và phát triển năng lực của người lao động có ảnh hưởng
vô cùng to lớn đến sự phát triển kinh tế, xã hội của một quốc gia nói chung và khả năng cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp nói riêng Đào tạo được xem như là một yếu tố cơ bản nhằm đáp ứng các mục tiêu chiến lược của tổ chức Giờ đây, chất lượng nhân viên đã trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp trên toàn thế giới Thực tế đã chứng minh rằng
trong quá trình sản xuất kinh doanh, đầu tư vào nguồn nhân lực có thể mang lại hiệu quả cao hơn hẳn so với việc đầu tư đổi mới trang bị kỹ thuật và các yếu tố
khác
1.2.2.1 Các nguyên tắc trong đào tạo:
Mọi quá trình đào tạo, phát triển dù diễn ra tại nơi làm việc hay ngoài nơi
làm việc đều là các quá trình giảng dạy và học tập, do đó ở bất kỳ hình thức đào tạo nào, giảng viên cũng cần lưu ý tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau đây:
Trang 29> Kích thích học viên:
Khi bắt đầu quá trình đào tạo, nên cung cấp cho học viên các kiến thức chung về các vấn để sẽ học và chỉ cho học viên thấy được lợi ích của khóa học đối với việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp cũng như mục tiêu của cá nhân Những mục tiêu này có thể nâng chất lượng thực hiện công việc hoặc chuẩn bị tạo cơ hội thăng tiến nghề nghiệp cho nhân viên Điều này kích thích học viên có động cơ rõ ràng trong học tập, hiểu được nội dung của các bước trong quá trình đào tạo và tích cực, chủ động tham gia vào trong quá trình đào tao
> Cung cấp thông tin phần hồi cho người đào tạo:
Thông tin phần hồi trong quá trình đào tạo sẽ giúp học viên giảm bớt hồi
hộp, lo lắng và biết cách làm gì để nâng cao kết quả đào tạo Cung cấp thông tin
phần hồi còn được coi là một phần của chương trình đào tạo đối với phương pháp
đào tạo tại nơi làm việc
> Cách thức tổ chức khóa đào tạo:
Cách thức tổ chức khóa đào tạo cũng ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng và hiệu quả đào tạo Để tổ chức khóa học tốt, cần lưu ý các vấn đề sau:
- Phân chia quá trình đào tạo thành nhiều phần trọn vẹn, học trong những khoảng thời gian nhất định
- Nội dung chương trình phải mang tính tiếp nối, lôgic và lượng thông tin cần cung cấp vừa phải so với khả năng tiếp thu của học viên
- Cố gắng phát triển và liên hệ các vấn để và khái niệm mới với các van dé
và khái niệm quen thuộc trong quá trình giảng dạy
- Lưu ý những vấn đề đặc biệt quan trọng cho học viên
- Đưa ra nhiều câu hỏi để hướng dẫn và thu hút sự quan tâm của học viên, đông thời, nên cố gắng sử dụng nhiều ví dụ minh họa, nhiều phương pháp truyền
Trang 30đạt, thông tin khác nhau (như : nói, vẽ so dé, xem phim video, quan sát thực nghiệp, thực hành v.v ), học viên tiếp thu kiến thức bằng cách thực hành và quan sát thực nghiệm sẽ mau nhớ và lâu quên
> Các biện pháp ứng dụng để giảm bớt các khoảng cách giữa lý thuyết và thực tế thực hiện công việc:
- Cố gắng tối đa để các tình huống trong đào tạo giống với thực tế
- Tạo điểu kiện cho học viên thực tập càng nhiễu các ví dụ thực tế càng tốt
- Thực hành và ôn luyện là phương pháp quan trọng để học các kỹ năng mới
- Minh họa càng nhiều càng tốt các kinh nghiệm thực tiễn trong thực hiện và giải quyết vấn để ( Cả thành công và thất bại)
- Phác thảo quá trình đào tạo sao cho học viên thấy được khả năng ứng dụng kết quả học tập vào thực tiễn giải quyết công việc
1.2.2.2 Xác định nhu cầu đào tạo
Đào tạo thường được sử dụng nhằm nâng cao năng suất, hiệu quả làm việc cho nhân viên trong các tổ chức, doanh nghiệp Các nhà lãnh đạo nên lưu ý các nguyên nhân dẫn đến năng suất và hiệu quả làm việc thấp rất đa dạng: năng lực của nhân viên kém, không có hệ thống kích thích nhân viên, cách thức tổ
chức kém, nhân viên không biết các yêu câu, tiêu chuẩn mẫu trong thực hiện
công việc
> Để xác định chính xác nhu cầu đào tạo cân thực hiện các nghiên cứu :
- - Doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu ở mức độ như thế nào?
- Đội ngũ lao động cần có những kỹ năng nào để thực hiện tốt các công
việc?
- Điểm mạnh và yếu của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp là gì?
> Sau khi nhu cầu đào tạo được xác định, doanh nghiệp cân chuyển các
nhu cầu đào tạo này sang mục tiêu đào tạo hoặc những mong đợi của doanh
Trang 31nghiệp với kết quả đào tạo Những mục tiêu này sẽ được sử dụng để xác minh
cho các chương trình, nội dung đào tạo, các hình thức tiến hành, thời gian và đối
tượng tham dự các khóa đào tạo Đồng thời, mục tiêu đào tạo cần xác định học viên phải tiếp thu học hỏi được gì và mức độ của các kiến thức, kỹ xảo, khả năng thực hiện công vệc sau quá trình đào tạo
1.2.3 Chúc năng duy trì nguôn nhân lực:
Chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp, bao gồm hai chức năng nhỏ hơn là kích thích, động viên và duy trì , phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp Chức năng kích thích, động viên: Liên quan đến các chính sách và các hoạt động nhằm khuyến khích, động viên nhân viên trong doanh nghiệp làm việc hăng say, tận tình, có ý nghĩa trách nhiệm và hoàn thành công việc với chất lượng cao
do đó, xây dựng, áp dụng và quản lý hệ thống, chính sách lương bổng, thăng tiến,
ký luật, thưởng, phúc lợi, phụ cấp, đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên là những hoạt động quan trọng nhất của các chức năng kích thích động viên
Duy trì nguồn nhân lực trong doanh nghiệp là một vấn để rất đa dạng từ việc
đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên, trả lương khen thưởng, kích thích động viên đối với nhân viên đến việc áp dụng các chương trình giao tế nhân lực, khuyến khích nhân viên tham gia quản lý, cải thiện môi trường làm
Trang 32>Mục đích của việc đánh giá:
Các chương trình đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên được
sử dụng rộng rãi từ những năm 1980 khi cạnh tranh trên thị trường trở lên gay gắt, các doanh nghiệp bắt buộc phải chú trọng và khuyến khích nhân viên thực hiện
tốt các mục tiêu yêu cầu cho doanh nghiệp
Đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên sẽ có tác động lên
cả tổ chức lẫn cá nhân, đặc biệt là những người tự ti, những người thường có kết
quả thực hiện công việc không cao hoặc những người không tin tưởng là việc
đánh giá công bằng, hợp lý, họ cảm thấy lo lắng, sợ hãi, thậm chí không an toàn
khi làm việc trong doanh nghiệp Ngược lại, những nhân viên thực hiện công việc
ở mức độ xuất sắc, có nhiều tham vọng, cầu tiến sẽ coi việc đánh giá năng lực
thực hiện công việc của nhân viên như những cơ hội giúp họ khẳng định vị trí
của họ trong doanh nghiệp và gợi thêm cơhội thăng tiến trong nghề nghiệp Đối
với doanh nghiệp, các thông tin đánh giá năng lực thực hiện công việc cửa nhân
viên sẽ giúp doanh nghiệp kiểm tra lại chất lượng của các hoạt động quản trị nguồn nhân lực khác như tuyển chọn, định hướng và hướng dẫn công việc, đào tạo, trả công, v.V
> Cac bước tiến hành đánh giá năng bực thực hiện của nhân viên :
-_ Xác định được các yêu cầu chủ yếu khi thực hiện công việc
-_ Phân loại các mức độ thỏa mãn yêu cầu khi thực hiện công việc
-_ Đánh giá tầm quan trọng của mỗi nhóm yêu cầu đối với hiệu quả thực hiện công việc của nhân viên
- _ Đánh giá tổng hợp về năng lực thực hiện công việc của nhân viên
1.2.3.2 Trả công lao động:
Trên thế giới, khái niệm và cơ cấu tiền lương rất đa dạng và khác nhau
Tiển lương được gọi bằng nhiều tên khác nhau như thù lao lao động, thu nhập lao
Trang 33động bản chất của tiền lương cũng thay đổi tùy theo các điều kiện, trình độ
kinh tế phát triển kinh tế xã hội và nhận thức của con người Trước đây, tiền lương thường được coi là giá cả sức lao động trong nền kinh tế thị trường Giờ
đây, với việc áp dụng quần trị nguồn nhân lực vào trong các doanh nghiệp, tiền
lương không chỉ đơn thuần là giá cả sức lao động nữa, quan hệ giữa người sử
dụng lao động và người lao động đã có những thay đổi căn bản Liệu rằng với
việc áp dụng quản trị nguôn nhân lực trong doanh nghiệp, quan hệ này có thể chuyển từ hình thức bóc lột, mua bán hàng hóa, sang hình thức quan hệ hợp tác song phương, đôi bên cùng có lợi hay không và bản chất tiền lương là gì, hiện vẫn còn là những vấn để đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, phát triển
Khi nghiên cứu vấn đề tiền lương chúng ta phải làm rõ được tiền lương tối thiểu, tiền lương danh nghĩa và lương thực tế
> Lương tối thiểu:
Mức lương tối thiểu là một chế định quan trọng bậc nhất của pháp luật lao
động nhằm bảo vệ quyển và lợi ích của người lao động, được ấn định là bắt buộc
đối với người sử dụng lao động nhất là trong nên kinh tế thị trường và trong điều kiện sức lao động cung lớn hơn câu.Tiển lương tối thiểu cần bảo đảm nhu cầu tối thiểu về sinh học và xã hội học Theo ILO, những yếu tố cần thiết để xác định
mức lương tối thiểu bao gồm những nhu cầu của người lao động và gia đình họ,
có chú ý tới các mức lương trong nước, giá sinh hoạt, các khoản trợ cấp an toàn
xã hội và mức sống so sánh của các nhóm xã hội khác, những nhân tố kinh tế, kể
cả những đòi hồi của phát triển kinh tế, năng suất lao động và mối quan tâm trong việc đạt tới và duy trì một mức sử dụng cao
> Lương danh nghĩa và lương thực tế :
Tiền lương trả cho người lao động với hình thức tiễn tệ là mức lương danh nghĩa Cùng một số tiền như nhau sẽ mua được khối lượng hàng hóa dịch vụ khác
Trang 34nhau ở các vùng khác nhau hoặc trong cùng một vùng nhưng ở các thời điểm
khác nhan, vì giá cả hàng hóa và dịch vụ thay đổi Khái niệm tiền lương thực tế
được sử dụng để xác định số lượng hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ mà người lao động có được thông qua tiễn lương danh nghĩa Tiền lương thực tế phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
- _ Số lượng tiền lương danh nghĩa
-_ Chỉ số giá cả hàng hóa dich vu
Mối quan hệ giữa tiền lương danh nghĩa và tiền lương thực tế thể hiện qua
CPI: Chỉ số giá cả hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ
> Trả công lao động luôn luôn là một trong những vấn để thách thức nhất cho các nhà quản trị ở mọi doanh nghiệp Các doanh nghiệp thường có nhiều quan điểm, mục tiêu khác nhau khi xếp đặt hệ thống trả công, những nhìn chung các doanh nghiệp đều hướng tới các mục tiêu cơ bản sau:
- Thu hút nhân viên: Chúng ta không thể hoặc rất khó so sánh các công việc trong các doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên, mức lương doonh nghiệp để nghị thường là một trong những yếu tố cơ bản nhất cho ứng viên quyết định có chấp nhận làm việc ở doanh nghiệp hay không Các doanh nghiệp càng trả lương cao càng có khả năng thu hút được những ứng viên giỏi từ trên thị trường
Trang 35địa phương Thực hiện các cuộc điều tra tiễn lương trên thị trường sẽ giúp doanh
nghiệp để ra các chính sách trả công và các mức lương thích hợp
- Duy trì những nhân viên giỏi: Để duy trì những nhân viên giỏi cho doanh nghiệp, trả lương cao chưa đủ mà còn phải thể hiện tính công bằng trong nội bộ doanh nghiệp Tính công bằng trong trả lương thể hiện không chỉ là sự công bằng giữa nhân viên thực hiện cùng công việc, có kết quả tương đương, không phân
biệt giới tính, dân tộc, màu da, nguồn gốc gia đình, v.v mà còn ở sự công bằng
giữa những công việc có tầm quan trọng, yêu cầumức độ phức tạp, kỹ năng thực hiện ơng đương, hoặc giữa những nhân viên làm việc trong những bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp Mặc dù không có hệ thống trả công nào có thể làm tất
cả mọi nhân viên trong doanh nghiệp luôn được vừa lòng, nhưng thực hiện định giá công việc và nghiên cứu tiền lương trên thị trường sẽ giúp cho đoanh nghiệp
vừa bảo đảm được tính công bằng nội bộ, vừa bảo đảm được tính công bằng với
thị trường bên ngoài trong trả lương
- Kích thích động viên nhân viên: Tất cả các yếu tố cấu thành thu nhập của người lao động: Lương, thưởng, Phúc lợi, trợ cấp cần được sử dụng có hiệu quả nhằm tạo ra động lực kích thích cao đối với nhân viên Nếu các chính sách và hoạt động quản trị trong doanh nghiệp không để cho nhân viên nhận thấy rằng
sự cố gắng, vất vả và mức độ thực hiện công việc tốt của họ sẽ được dén ba tương xứng, họ sẽ không cố gắng làm việc nữa, dẫn dần có thể hình thành tính ỳ, thụ động trong tất cả nhân viên của doanh nghiệp
1.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến nguồn nhân lực
Một tổ chức được hình thành và hoạt động trong những môi trường nhất định, nên các hoạt động của tổ chức phải phù hợp với các nhân tố của môi trường Khi các nhân tố của môi trường thay đổi thì các tổ chức, doanh nghiệp cũng phải điều chỉnh công tác quần trị cho phù hợp với sự thay đổi đó.
Trang 36Có rất nhiều nhân tế ảnh hưởng đến Quản trị nguồn nhân lực của một tổ chức, các nhân đó được chia làm hai nhóm cơ bản đó là: môi trường bên ngoài và môi trường bên trong
Sơ đỗ1.4- Môi trường quản trị nguồn nhân lực
Kinh tế Dân số/ Lao động
> Môi trường bên ngoài: Các yếu tố ảnh hưởng đến quản trị nguồn nhân
lực của doanh nghiệp từ bên ngoài được gọi là môi trường bên ngoài Đó là các
yếu tố khung cảnh kinh tế, dân số/ lực lượng lao động, pháp luật của Nhà nước,
văn hóa xã hội, đối thủ cạnh tranh, khoa học kỹ thuật, khách hàng và chính trị
»> Môi trường bên trong: Môi trường bên trong là các yếu tố bên trong của công ty, như : Sứ mạng/ mục tiêu của Công ty, chính sách / chiến lược của công
ty, bầu không khí văn hoá của công ty, cổ đông/ công đoàn.
Trang 37CHUONG 2
THUC TRANG VE QUAN TRI NGUON NHÂN LỰC TAL CONG TY XANG DAU BA RIA - VUNG TAU
2.1 Giới thiệu chung về Công ty
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của ngành xăng dâu Việt
Nam
Các hoạt động kinh doanh xăng dầu đã xuất hiện rất sớm ở việt Nam, ngay
từ những năm 1989-1899 tư bản nước ngoài đã có các kho xăng dầu tại các cảng Nhà Bè ( Sài Gòn) và Thượng Lý (Hải Phòng) phục vụ chủ yếu cho quân đội
Pháp Hãng dầu hỏa Pháp -Á tién thân của hãng SHELL kinh doanh chủ yếu dầu
hỏa tại bán đảo Đông Dương và cực nam Trung Quốc là hãng dầu có mặt đầu
tiên ở Việt Nam Tiếp sau đó, vào đầu của những năm 30 của thế kỷ 20 các hãng
dầu lớn của Mỹ là CALTEX, ESSO cũng lần lượt tham gia vào thị trường xăng
dầu Việt Nam Hoạt động của các hãng này đã đáp ứng nhu câu xăng dầu nền
kinh tế Việt Nam trước những năm 1954, tạo ra nên tẳng dù còn nhỏ bé cho
ngành xăng dâu Việt Nam sau năm 1954
Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết và thực thi, chính quyên Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa tiếp quản các cơ sở xăng dầu do thực dân Pháp để lại trong tình trạng tiêu điều, hoang phế do chiến tranh Trước yêu cầu cấp bách phải khôi phục lại các cơ sở này để có thể tiếp nhận cung ứng xăng dầu cho các hoạt động
của Chính phủ và nhân dân ta lúc đó, ngày 29/07/1955 Chủ tịch Ủy ban Quân
chính Thành phố Hải Phòng Đỗ Mười đã ký lệnh trưng dụng sở dầu Thượng lý
Hải Phòng Ngày 12/01/1956 Thứ trưởng Bộ Thương nghiệp Đặng Việt Châu đã
ký quyết định thành lập Tổng công ty xăng dầu mỡ.
Trang 38Tổng công ty xăng dầu mỡ đã có những đóng góp tích cực cho qúa trình phục hôi và phát triển kinh tế miễn Bắc trong giai đoạn 1956-1964 Thời kỳ này Tổng công ty xăng dầu mỡ đã có những phát triển vượt bậc cả về số lượng và
chất lượng: đã thành lập được một tổ chức mạng lưới cung cấp cơ bản xăng đầu
với sự hình thành các chỉ cục xăng dẫu khu vực, xây dựng được hệ thống kho cắng, trạm xăng dầu tương đối hoàn chỉnh trên toàn miền Bắc
Thời kỳ 1956-1975 Tổng công ty xăng dầu mỡ (sau đó được đổi tên lần
lượt thành Cục xăng dầu, Cục xăng dầu hóa chất, Cục nhiên liệu hóa chất, rồi cuối cùng là Tổng công ty xăng dâu) đã có những thành tích oanh liệt trong việc
tiếp nhận, bảo vệ và đáp ứng kịp thời xăng dầu cho cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước và góp phân to lớn giữ vững sản xuất ở miền Bắc
Sau khi đất nước thống nhất (1975), Tổng công ty xăng dầu bước vào một
giai đoạn mới: tiếp quản, khôi phục, hoàn thiện và phát triển trong điều kiện hoà
bình Thời kỳ 1976 -1985 là thời kỳ trì trệ của nền kinh tế Việt nam do cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, tăng trưởng hàng năm chỉ ở mức 0,5-0,7%/năm Do chính
sách tiết kiệm, phân phối theo chỉ tiêu xăng dâu, giá cả do Nhà nước qui định
nên thời kỳ này Việt Nam chưa có thị trường xăng dầu theo đúng nghĩa Hoạt động của Tổng công ty xăng dầu trong suốt giai đoạn này chỉ mới thực hiện được khâu tiếp nhận, bảo quản và phân phối đơn thuần theo chỉ tiêu ổn định từ trên
xuống dưới
Thời kỳ 1986-1990 : thời kỳ này đánh dấu một bước chuyển hướng quan
trọng của mọi hoạt động kinh tế -xã hội Việt Nam xuất phát từ sự khởi xướng chủ
trương đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam, được khẳng định trong Nghị quyết
đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI: “ chúng ta phải kiên quyết xóa bỏ tập trung
quan liêu bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với qui luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế” Tổng công ty xăng dầu từng bước đã xắp xếp
Trang 39lại tổ chức, xây đựng Để án “ chuyển ngành xăng dầu sang hạch toán kinh doanh
xã hội chủ nghĩa”( năm 1988); trong năm 1988 Nhà nước cũng đã quyết định giao cho Tổng công ty xăng dẫu thống nhất kinh doanh từ khâu nhập khẩu đến khâu
bán cho các đối tượng tiêu dùng Suốt thời kỳ từ 1975 cho đến 1990 Tổng công ty xăng dầu đảm bảo cung ứng hơn 80% nhu cầu, ngoài ra còn có Công ty dâu lửa
trung ương (Bộ Nội thương) chuyên cung ứng dẫu lửa làm chất đốt cho nhân dân
và một vài đơn vị thuộc Bộ Ngoại thương được phép ủy thác nhập khẩu theo hiệp định đổi hàng với Liên Xô và các nước XHCN, đảm trách toàn bộ việc cung ứng
xăng dầu cho các đối tượng đã được Nhà nước chỉ định Vào đầu những năm
1990 Liên Xô tan giã, khối SEP đi vào khủng hoảng, đứng trước thách thức lớn là
nguồn hàng theo hiệp định không còn, Chính phủ đã cho phép huy động các nguồn ngoại tệ để nhập khẩu xăng dầu và chính thức cho phép một số đơn vị được kinh doanh xăng dầu Đây là bước đi phù hợp quy luật và là cơ sở cho việc hình thành thị trường xăng dẫu nội địa Việt Nam
Ngành xăng dầu Việt nam từ 1991 đến nay: Sau khi Nhà nước cho phép
một số ngành, địa phương lập doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu và tự cân đối
ngoại tệ từ xuất khẩu các mặt hàng khác để nhập khẩu xăng dầu thì chỉ trong một
thời gian ngắn cả nước đã có đến 32 đơn vị nhập khẩu trực tiếp và 52 đơn vị nhập
y thác xăng dầu thông qua các đầu mối lớn như Petrolimex, Petechim, Sàigòn Petro tập trung chủ yếu ở khu vực Nam Bộ Trên thực tế với việc cấp quota nhập khẩu rộng rãi, cấp giấy phép kinh doanh tràn lan từ 1991-1992 đã xuất hiện
sự mất cân đối cục bộ về lượng hàng, cơ cấu mặt hàng, về giá cả lưu thông trên
từng khu vực, trong từng thời kỳ Năm 1993 Nhà nước đã qui định chỉ cho phép 5 đơn vị được nhập khẩu xăng dâu là Tổng công ty xăng dầu (Petrolimex), Công ty xuất nhập khẩu dầu khí (Petechim), Công ty dầu lửa TW (Kerogasimex), Công ty Sài gòn Petro và Công ty xuất nhập khẩu hàng không (Airimex) Các đơn vị kinh
Trang 40doanh xăng dầu khác có thể nhập ủy thác hoặc đóng vai trò tổng đại lý thông qua các đầu mối này để kinh doanh Từ cuối năm 1993, Nhà nước hợp nhất Tổng
công ty xăng dầu và Công ty dầu lửa TW thành Tổng công ty xăng dầu Việt Nam ( Petrolimex Việt Nam), đông thời chuyển giao hàng loạt các công ty vật tư các tỉnh về Tổng công ty xăng dâu Việt Nam; chính vì vậy, đến nay Tổng công ty xăng dầu Việt Nam phát triển rộng khắp trên toàn quốc với 53 đơn vị thành viên
Qúa trình hình thành và phát triển của ngành xăng dẫu việt nam đặc biệt
giai đoạn chuyển từ nên kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp sang nên kinh
tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đã tạo ra sự thay đổi về chất đối với
các doanh nghiệp Từng doanh nghiệp đã phải quan tâm xây dựng chiến lược
kinh doanh riêng cho mình trên nên tảng của thị trường và nguồn lực vốn có Như chúng ta đã biết, khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, vấn để đầu tiên đối với các doanh nghiệp là tổ chức sắp xếp lại bộ máy, để ổn định và phát triển bển vững thì vấn để tăng cường-đổi mới công tác quản trị nguồn nhân lực đối với các
doanh nghiệp sẽ là tất yếu và cấp thiết
2.1.2 Sự hình thành và phát triển của Công ty Xăng dầu BR-VT
Công ty xăng dầu Bà rịa - Vũng tàu ( Petrolimex BR-VT ) được thành lập theo quyết định số 475/TM ngày 26/12/1992 của Bộ Thương mại, trên cơ sở tiếp nhận bàn giao từ Xí nghiệp Hiên doanh xăng dầu Sài gòn - Vũng tàu là đơn vị liên doanh giữa Tổng công ty xăng dầu Việt Nam với Công ty Vật tư tỉnh Bà rịa
- Vũng tàu và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 4/1993
Công ty xăng dâu Bà rịa - Vũng tàu là đơn vị thành viên của Petrolimex Việt Nam; Công ty là một doanh nghiệp Nhà nước thực hiện hạch toán kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, trụ sở chính đặt tại 190 Lê Lợi - TP Vũng tàu Tổ chức và hoạt động kinh doanh của Công ty tuân thủ theo quy định của pháp luật