1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tích hợp bài nghị luận về một tư tưởn, đạo lí

60 507 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan điểm dạy học tích hợp từ lâu đã được vẫn dụng trong dạy học Ngữ văn. Tuy vậy nó mới chỉ thực sự phổ biến ở mảng văn học mà chưa thực sự thành công ở mảng tập làm văn. Đây là khóa luận tôi đã dày công nghiên cứu để tìm ra con đường tích hợp hiệu quả khi dạy học phần tập làm văn của mình. Mời mọi người tham khảo

Trang 1

Xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới các thầy

giáo, cô giáo trong tổ…, đặc biệt là ….đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn,

chỉ bảo cho em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2015

Tác giả khóa luận

Trang 2

Tôi xin cam đoan khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả khác Nếu sai, tôi xin chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 28 tháng 4 năm 2015

Sinh viên thực hiện

Trang 3

CH Câu hỏiĐHQG Đại học Quốc giaGD&ĐT Giáo dục và Đào tạo

Trang 4

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC

DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ TRONG

1.1.1 Cơ sở lí luận về quan điểm tích hợp 7 1.1.2 Cơ sở lí luận về nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí 12

1.2.1 Thực trạng dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

trong SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp 15

1.2.2 Nhận xét chung về hoạt động dạy học bài Nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 19

Chương 2: DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

TRONG SGK NGỮ VĂN 12 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 21

2.1 Nội dung dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong

2.2 Những căn cứ để vận dụng quan điểm tích hợp khi dạy học bài

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí 22 2.2.1 Những kiến thức HS đã được học 22 2.2.2 Những kĩ năng có liên quan 22

2.6 Phối hợp giữa dạy học theo hướng tích hợp và tích cực trong dạy

học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 26

2.7 Vận dụng quan điểm tích hợp khi dạy học bài Nghị luận về một

tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 28 2.7.1 Tích hợp thông qua kiểm tra bài cũ 28 2.7.2 Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới 28 2.7.3 Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu bài 28

Trang 5

2.7.5 Tích hợp thông qua bài tập thực hành 30 2.7.6 Tích hợp thông qua phiếu học tập 31

2.8 Quy trình dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong

SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp 32 2.8.1 Sử dụng câu hỏi kiểm tra bài cũ 32

2.8.3 Hướng dẫn học HS tham gia bài học thông qua hệ thống câu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Từ xa xưa, giáo dục luôn được coi là “quốc sách hàng đầu” của mỗi quốc gia trên thế giới Ngày nay, khi khoa học công nghệ và thông tin bùng nổ, giáo dục lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Để bắt nhịp kịp với sự phát triển ấy của thời đại, một trong những nhiệm vụ cấp thiết mà ngành giáo dục đặt ra là phải xây dựng được những quan điểm giáo dục tiến

bộ Tích hợp chính là một trong những quan điểm mà nhiều quốc gia đã lựa chọn

Ở nước ta, quan điểm tích hợp đã được áp dụng trong việc xây dựng nội dung chương trình của một số môn học ở nhà trường phổ thông, trong đó

có Ngữ văn Khi xây dựng chương trình, Bộ GD&ĐT khẳng định: “Lấy quan

điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [3; tr.27] Bởi vậy, cần

áp dụng và triển khai một cách thích hợp quan điểm này vào trong dạy học Ngữ văn nói chung và trong từng bộ phận Văn, Tiếng Việt, Làm văn nói riêng

1.2 Chương trình Làm văn hiện nay ở THCS và THPT không còn là một môn độc lập như trước nữa mà được tích hợp với Tiếng Việt và Văn tạo thành bộ môn Ngữ văn Việc đổi mới chương trình Ngữ văn theo quan điểm tích hợp như vậy tất yếu phải đổi mới phương pháp dạy học Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, một số GV vẫn chưa hiểu kĩ, hiểu sâu về tích hợp nên nhiều khi vận dụng vào bài học cụ thể còn nhiều lúng túng và vướng mắc, hiệu quả học tập đến với học sinh chưa cao, chưa đáp ứng được những đòi hỏi đào tạo con người của xã hội Bởi thế, quan điểm này cần được vận dụng một cách hợp lí hơn nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội

1.3 Thực tế trong dạy học Làm văn nói chung và dạy học văn nghị luận xã hội nói riêng ở THPT vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế Những kiến thức

Trang 8

về nghị luận xã hội học sinh đã được học ở THCS, các em đã có những kĩ năng nhất định khi tạo lập một văn bản nghị luận xã hội Bởi thế, đây chính là điều kiện thuận lợi để quán triệt quan điểm tích hợp trong việc xây dựng nội dung chương trình SGK Ngữ văn và cũng là một trong những căn cứ để giáo viên có thể vận dụng quan điểm tích hợp khi dạy học nội dung này cho học sinh Tuy nhiên, trên thực tế điều này vẫn chưa được áp dụng thật hiệu quả

Một trong những hạn chế ấy được thể hiện trong việc dạy học bài Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí.

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài Dạy

học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 theo

quan điểm tích hợp.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Dù ở thời kì nào thì một phương pháp mới ra đời cũng luôn là trung tâm của sự chú ý Khi tích hợp xuất hiện, cùng với những khái niệm như xuyên môn, liên môn… nó cũng thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX, nhiều nhà nghiên cứu đã thử nghiệm, áp dụng quan điểm này vào các môn học Bởi vậy, bước đầu đã

có những công trình bàn về vấn đề trên

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong Tạp chí nghiên cứu Giáo dục -

1973, khi bàn về “Dạy văn là quá trình rèn luyện toàn diện”, đã đưa ra vấn đề

cần đổi mới phương pháp dạy học Tuy bài viết này được thực hiện từ khá lâu, nhưng tác giả đã hướng mọi người đến một phương pháp mới là tích hợp Bởi vậy, có thể coi bài viết là một trong những nền tảng tư tưởng chỉ đạo đầu tiên để quan điểm này được áp dụng trong ngành Giáo dục Việt Nam hiện nay

Trần Kiều trong Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 5 - 1995 với bài Một

vài suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường phổ thông ở

Trang 9

nước ta đã nêu ra cần phải thay đổi phương pháp dạy học trong nhà trường

phổ thông

Năm 2000, khi Bộ GD&ĐT tiến hành đổi mới nội dung chương trình

và cách biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp thì một yêu cầu cấp thiết đã được đặt ra, đó là phải tìm ra phương pháp giảng dạy theo quan điểm tích hợp Chính vì thế, nhiều tác giả đã đề cập đến vấn đề này qua một số bài báo, tạp chí và tài liệu tham khảo sau:

GS.TS Nguyễn Thanh Hùng trong bài Tích hợp trong dạy học Ngữ văn

(Tạp chí Giáo dục số 6 - 2002) đã chỉ ra tích hợp chính là một phương hướng phối kết hợp các quá trình của nhiều môn học đạt hiệu quả thông qua sự liên kết giữa ba phân môn Văn, Tiếng Việt và Làm văn Khi viết về nguyên tắc tích hợp trong cuốn “Phương pháp dạy học Ngữ văn THPT”, tác giả đã khẳng định đó là một nguyên tắc dạy học hiện đại và nêu ra các phương hướng khi vận dụng nguyên tắc này trong chương trình giảng dạy Ngữ văn

Trong Tạp chí Giáo dục số 22 - 2002, TS Nguyễn Trọng Hoàn với bài

Tích hợp và liên hội hướng tới kết nối trong dạy học Ngữ văn đã đề cập đến

tích hợp trong môn Ngữ văn theo quan điểm của mình Mặc dù trong bài viết này tác giả chưa đi sâu vào sự tích hợp kiến thức theo chiều dọc nhưng đã trình bày rất rõ ràng quan điểm dạy học Ngữ văn trên cơ sở một số văn bản có vai trò là kiến thức nguồn phục vụ cho các phân môn

Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân với bài Xây dựng hệ thống câu hỏi tích

hợp - một yêu cầu quan trọng trong dạy học Ngữ văn đã đưa ra yêu cầu là

phải xây dựng hệ thống câu hỏi thể hiện rõ quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn

Trong cuốn “Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn ở THPT” (Nxb Giáo dục - 2006), Đỗ Ngọc Thống đã đề cập đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích hợp, góp phần phát huy tích cực, chủ động của học sinh trong chương trình Ngữ văn 10 Theo tác giả, tích hợp chính là sự hợp

Trang 10

nhất hòa trộn các phân môn Tuy nhiên, tích hợp như thế nào trong từng phân môn của Ngữ văn thì ông chưa trình bày kĩ lưỡng.

GS Phan Trọng Luận và GS Trần Đình Sử trong cuốn “Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình SGK môn Ngữ văn 10” đã chỉ ra rằng

cần lấy quan điểm tích hợp làm tư tưởng chủ đạo trong việc xây dựng chương trình, nội dung SGK Ngoài ra, các tác giả còn đề cập đến các vấn đề đổi mới trong sách chuẩn và nâng cao Bên cạnh đó, các tác giả đã phân tích chương trình Ngữ văn theo quan điểm tích hợp Có thể nói, đây chính là những định hướng soi sáng cho việc triển khai đề tài của chúng tôi Tuy vậy, khi khảo sát SGK, SGV, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên, chúng tôi cũng nhận thấy các công trình nghiên cứu trên đây chỉ mang tính định hướng khái quát, chưa đề cập tới vận dụng nội dung này vào việc rèn luyện các kĩ năng cơ bản cho học sinh khi

viết bài văn nghị luận xã hội Như vậy, việc nghiên cứu đề tài Dạy học bài

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp sẽ góp một phần nhỏ vào việc áp dụng quan điểm tích hợp vào nội

dung này, từ đó nâng cao chất lượng dạy học Làm văn nói riêng và Ngữ văn nói chung

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài này nhằm hướng tới các mục tiêu sau:

- Tìm ra những cơ sở khoa học khi vận dụng một quan điểm giáo dục tiến bộ vào dạy học một nội dung kiến thức trong chương trình Ngữ văn THPT

- Góp một phần nhỏ bé vào việc tìm ra những cách tổ chức hoạt động

dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí đạt hiệu quả.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện các nhiệm vụ sau:

Trang 11

- Tổng hợp những tri thức cơ bản về nghị luận xã hội.

- Khảo sát cơ sở thực tiễn của đề tài

- Nêu ra sự vận dụng quan điểm tích hợp và thực nghiệm qua bài Nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí nhằm đánh giá tính khả thi của việc vận dụng này.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung, dạy học Làm văn nói riêng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Trong khuôn khổ của một khóa luận, chúng tôi tập trung vào bài Nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12

5 Phương pháp nghiên cứu

5.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

Phương pháp này sử dụng khi tiến hành so sánh các dạng bài nghị luận

xã hội nhằm làm nổi bật vấn đề nghiên cứu trong đề tài

5.4 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này được sử dụng khi tổ chức thực nghiệm để chứng minh tính khả thi của thiết kế, từ đó rút ra kết luận chung

6 Đóng góp của khóa luận.

Khóa luận đóng góp một phần nhỏ bé vào việc đổi mới phương pháp dạy học Làm văn hiện nay trong nhà trường phổ thông

Trang 12

7 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, khóa luận gồm ba chương chính:

- Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học bài Nghị

luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp.

- Chương 2: Dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK

Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 13

NỘI DUNGChương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC

BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ TRONG SÁCH GIÁO

KHOA NGỮ VĂN 12 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

Trong SGV Ngữ văn 6, GS Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) có nêu:

“Tích hợp là một phương hướng nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau” Còn tác giả Phan Trọng Luận trong cuốn SGK Ngữ văn 10 có

nói: “SGK Ngữ văn 10 tiếp tục thực hiện tinh thần tích hợp ở THCS, cụ thể là

học Ngữ văn trong nhà trường không thể tách rời ba bộ phận Văn, Tiếng Việt, Làm văn” Còn tác giả Nguyễn Hải Châu thì cho rằng: Tích hợp trong dạy học là sự hợp nhất, liên kết giữa các phân môn; giữa các bộ môn có liên quan; giữa các phân môn, bộ môn có quan hệ hỗ trợ nhau tạo thành một thể thống nhất nhằm tránh tình trạng dạy học tách biệt, riêng rẽ giữa các phân môn trong bộ môn; qua đó rèn kĩ năng liên môn, xuyên môn để người học phát huy khả năng tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp để vận dụng vào thực tiễn

ở những mức độ, bình diện khác nhau.

Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng quan niệm của TS Đỗ Ngọc

Thống và GS.TS Nguyễn Thanh Hùng về tích hợp: Tích hợp là tinh thần ba

Trang 14

phân môn hợp nhất hòa trộn trong nhau, học cái này thông qua học cái kia

và ngược lại Như vậy sẽ tránh được những vướng mắc dư thừa chồng chéo nội dung trong quá trình dạy Văn, tiếng Việt và Làm văn như trước đây.

Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi nhận thấy, quan điểm tích hợp

là một trong những quan điểm hiện đại, thể hiện sự xâu chuỗi của các kiến thức khoa học, có thể giúp học sinh biết kết hợp các kiến thức liên quan một cách hợp lí và nắm chắc nội dung bài học hơn, đảm bảo được mục đích giáo dục

1.1.1.2 Các hình thức tích hợp

* Tích hợp ngang

Tích hợp ngang (tích hợp theo từng thời điểm) là “sự tích hợp trong

một bài học, một tiết học” Đối với môn Ngữ văn, tích hợp ngang là “sự tích

hợp ở ba phần Văn, tiếng Việt, Làm văn trong một đơn vị bài học để tận dụng kiến thức, kĩ năng giải quyết nhiệm vụ học tập Nghĩa là từ một văn bản văn học có thể khai thác sử dụng những tri thức nào của tiếng Việt và Làm văn để phục vụ có hiệu quả cho quá trình đọc - hiểu văn bản đó Và ngược lại, khi dạy học Tiếng Việt và Làm văn, giáo viên có thể chọn những ngữ liệu nào trong văn bản văn học cho phù hợp với nội dung bài học, cho sự liên kết giữa các phân môn để chúng có sự phối hợp và hỗ trợ cho nhau” [5; tr.75] Tích

hợp ngang có thể được biểu diễn thông qua sơ đồ sau:

Với sơ đồ trên, có thể khẳng định, tích hợp ngang còn được hiểu là

Văn bản

Làm văn

Tiếng Việt

Trang 15

“tích hợp liên môn, liên phân môn và là hình thức tích hợp theo từng thời điểm Đây là hướng tiếp cận kiến thức từ việc khai thác giá trị của các tri thức công cụ thuộc từng phân môn trên cơ sở một hoặc một số văn bản có vai trò như là kiến thức nguồn Nói cụ thể hơn, đó là sự khai thác triệt để mối liên hệ kiến thức giữa các phần Văn, Tiếng Việt và Làm văn trong đơn vị bài học, cũng có khi là giữa các đơn vị bài học với nhau” [2; tr.8] So với Ngữ

văn ở THCS, tích hợp ngang ở SGK THPT được vận dụng ít hơn

* Tích hợp dọc

Tích hợp dọc (tích hợp theo vấn đề): “Là sự tích hợp ở một đơn vị kiến

thức và kĩ năng mới với những kiến thức và kĩ năng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng trục (hay còn gọi là vòng tròn đồng tâm) Tích hợp theo từng vấn đề còn tập trung khái thác sâu rộng về mối quan hệ giữa nội dung đang dạy với các nội dung đã dạy hoặc sẽ dạy ở hai phân môn còn lại hay ở chính phân môn đang dạy Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên trong việc đưa ra những vấn đề mang tính chất liên tưởng, tổng quát, đồng thời giúp học sinh biết liên hệ kiến thức, rèn luyện tư duy khái quát, tổng hợp

và có năng lực chiếm lĩnh tri thức một cách hệ thống từ cái cũ đến cái mới, từ cái đã biết đến cái sẽ biết” [5; tr.76] Ở Ngữ văn THPT, quan điểm tích hợp

dọc được vận dụng linh hoạt hơn tích hợp ngang

Như vậy, tích hợp dọc là tích hợp đồng tâm, tích hợp theo từng vấn đề trong phân môn Cụ thể đó là tích hợp theo mối liên hệ (trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa các vấn đề trong cùng một phân môn, giữa các bài học với nhau trong cùng một lớp, giữa lớp trước với lớp sau, thậm chí giữa các cấp học Đó

là mối liên hệ kiến thức theo chiều dọc, là mối liên hệ theo kiểu xâu chuỗi, móc xích một cách chặt chẽ [2; tr.10] Ta có thể hình dung tích hợp dọc thông

1S1S2

Sn

Trang 16

1.1.1.3 Tích hợp trong phần Làm văn ở THPT

Quan điểm tích hợp được thể hiện ngay ở tên môn học: Ngữ văn Đó là

sự sát nhập của ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn Đây là môn học theo

hướng “Tam vị nhất thể” với nguyên tắc “Không phủ định việc dạy các tri

thức, kĩ năng riêng của từng phân môn Vấn đề là làm thế nào phối hợp các tri thức, kĩ năng thuộc từng phân môn thật nhuần nhuyễn nhằm đạt tới mục tiêu chung của môn Ngữ văn” Do lấy hai hoạt động đọc văn và làm văn làm

trục chính nên kết cấu của chương trình Ngữ văn THPT cũng có sự thay đổi Điều đó được thể hiện khá rõ ở phần Làm văn Cụ thể:

Để phục vụ cho việc rèn luyện kĩ năng về các kiểu văn bản Làm văn, ta

sẽ lấy ngữ liệu từ các kiểu văn bản văn học Khi đó, bố cục và kết cấu của tác phẩm văn chương một lần nữa lại được soi sáng dưới góc độ của Làm văn Từ đây, học sinh có cơ hội ôn lại tác phẩm văn chương cũng như hiểu sâu hơn về đặc điểm thể loại của nó Văn bản sẽ cung cấp cho Làm văn những kiến thức

về đặc trưng thể loại như tự sự, miêu tả, biểu cảm Những kiến thức phần Văn

sẽ giúp học sinh tạo ra những văn bản đúng thể loại Đó chính là cơ sở để tích

Trang 17

hợp Làm văn với đọc - hiểu văn bản.

Ngoài ra, Làm văn còn được tích hợp với những kiến thức và kĩ năng của Tiếng Việt Việc viết đúng chính tả, phát âm đúng, dùng từ ngữ chuẩn xác, đặt câu đúng với hoàn cảnh giao tiếp và cấu trúc văn bản mạch lạc chính

là cơ sở để làm thành một bài văn hoàn chỉnh Hơn nữa, Làm văn còn giúp học sinh hoàn thiện việc sử dụng tiếng Việt theo đúng mục đích giao tiếp

Nếu chỉ xác định được cơ sở tích hợp thì chưa đủ mà giáo viên cần phải chủ động xây dựng nội dung tích hợp Chẳng hạn, GV có thể xác định cơ sở

tích hợp Làm văn với Văn Ví dụ: Khi học bài Tóm tắt văn bản tự sự (dựa theo nhân vật chính) thì học sinh phải đọc lại một số văn bản như: Tấm Cám,

An Dương Vương và Mị Châu - Trọng Thủy, nắm được đặc trưng thể loại của

những tác phẩm này thuộc tự sự hay miêu tả thì học sinh mới tóm tắt được tác phẩm Hay có thể xác định tích hợp Làm văn với Tiếng Việt, khi dạy các bài thuộc phong cách chức năng ngôn ngữ nhằm giúp học sinh sử dụng đúng ngôn ngữ này để viết một bài văn cho phù hợp với thể loại

Có thể nói, nguyên tắc tích hợp cần được quán triệt trong dạy học Ngữ văn Để học sinh có được những kiến thức tổng hợp, nhiều chiều thì cần phải

có sự phối hợp và liên kết của tất cả các phân môn, chỉ như vậy thì các em mới giải quyết tốt hai hoạt động đọc văn và làm văn cũng như củng cố và phát triển các tri thức đọc - hiểu văn bản sâu hơn và rèn luyện các kĩ năng khi học tiếng Việt

Việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn nói chung, dạy Làm văn nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn Ý nghĩa đó được thể hiện trước hết ở việc phát huy tính tích cực, tự học của học sinh Dạy học theo hướng tích cực thực chất chính là biện pháp để tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong mọi mặt và phát huy năng lực sáng tạo, làm chủ kiến thức của học sinh Kiến thức khoa học trong chương trình Ngữ văn là các kiến thức

Trang 18

gồm nhiều mảng khác nhau và khá phong phú Việc vận dụng quan điểm tích hợp để dạy học Ngữ văn sẽ giúp cho các kiến thức ấy đươc triển khai một cách hệ thống và tạo thành từng chuỗi, những kiến thức và kĩ năng ở bậc trên bao hàm và sâu hơn những kiến thức và kĩ năng của bậc dưới Các kiến thức

cơ bản về Làm văn của chương trình THCS sẽ được củng cố và nâng cao thông qua những bài thực hành ở THPT

Nếu như trước đây, học sinh học ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn phải cần đến ba quyển sách thì khi chương trình thực hiện theo quan điểm

tích hợp thì các em chỉ phải học ở một quyển sách Ngữ văn Điều này đã

mang đến những thuận lợi nhất định cho học sinh, đặc biệt là việc phát huy khả năng tư duy, sáng tạo của các em Tác phẩm văn học có thể xem là văn bản sáng tạo, tiếng Việt là văn bản khai thác, Làm văn là văn bản luyện tập kĩ năng Như vậy, việc dạy học theo phương pháp tích hợp sẽ giảm tải được lượng sách giáo khoa lớn mà học sinh phải học, đồng thời thể hiện tính khoa học trong việc sắp xếp nội dung chương trình

Có thể nói, tất cả các kĩ năng trong dạy học Làm văn đều hướng đến phục vụ cho kĩ năng cuối cùng là tạo lập văn bản Để học sinh có thể làm tốt được công việc này thì ngoài những kiến thức các em đã được trang bị trong sách vở, cần phải tích hợp với những hiểu biết bên ngoài cuộc sống Từ những kiến thức nền tảng đã được trang bị, học sinh sẽ được tích hợp với những kiến thức xã hội để góp phần hoàn thiện năng lực viết văn, bồi dưỡng

tư duy và biết vận dụng những hiểu biết ấy vào những tình huống cụ thể, từ

đó giúp các em trở thành những công dân có trách nhiệm, có ý thức tự lập và sáng tạo

1.1.2 Cơ sở lí luận về nghị luận xã hội về một tư tưởng, đạo lí

1.1.2.1 Nghị luận xã hội

Khi nghiên cứu về văn nghị luận, các nhà khoa học đều khẳng định: Văn nghị luận là loại văn trong đó người viết (người nói) sử dụng lí luận, bao gồm lí lẽ, dẫn chứng, trình bày những ý kiến của mình để làm rõ một vấn đề

Trang 19

nào đó, qua đó thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu, tin theo những ý kiến đó Văn nghị luận bao gồm nghị luận văn học và nghị luận xã hội.

Xét riêng về nghị luận xã hội, các nhà khoa học nhận định:

+ Là nghị luận về một vấn đề xã hội, bao gồm những vấn đề thuộc mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, giáo dục, đạo đức, môi trường, dân số,…[15; tr.6]

+ Là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc về các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của

nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội [18; tr.5]

+ Là những bài văn bàn về các vấn đề xã hội - nhân sinh như: một tư tưởng, đạo lí; một lối sống cao đẹp; một hiện tượng tích cực hoặc tiêu cực của đời sống; một vấn đề thiên nhiên, môi trường [12; tr.15]

1.1.2.2 Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực

tư tưởng, đạo lí, lối sống,… của con người Như vậy, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là một loại của văn nghị luận xã hội Với loại bài văn này, có thể nhận thấy phạm vi đề tài của nó vô cùng phong phú, bao gồm các nội dung về: vấn đề nhận thức (như lí tưởng, mục đích sống); về tâm hồn, tính cách (lòng nhân ái, lòng yêu nước); về các quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em, ), về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn, ), và về cách ứng xử, những hành động của mỗi người trong cuộc sống…

Chẳng hạn có các đề bài như: Suy nghĩ về câu tục ngữ “Uống nước

nhớ nguồn” Hay: Quan niệm về một tình bạn đẹp

Mục đích của kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nhằm giáo dục đạo đức nhân cách cho học sinh, giúp học sinh rèn luyện kĩ năng lập luận, biết vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận vào từng đề cụ thể Vì thế, kiểu bài

Trang 20

nghị luận về một tư tưởng, đạo lí về cơ bản vẫn mang những đặc trưng chung của một bài nghị luận xã hội Tuy nhiên, xét ở cấp độ cụ thể thì nó có những đặc trưng riêng mang những dấu ấn riêng đậm nét.

Về cấu trúc, cũng giống như kết cấu của một bài văn nghị luận thông thường, một bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí gồm ba phần: Đặt vấn đề, giải quyết vấn đề và kết thúc vấn đề Dẫn chứng được sử dụng trong văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường là những dẫn chứng lấy từ thực tế đời sống, đó phải là những “dẫn chứng mang tính chính xác tiêu biểu, chọn lọc” [12; tr.18] phù hợp với vấn đề đang được bàn đến Khi viết, vẫn có thể lấy những dẫn chứng trong văn nghị luận xã hội, bởi nó sẽ góp phần làm tăng sức biểu cảm cho bài viết Tuy nhiên, vẫn luôn cần ưu tiên cho những dẫn chứng trong đời sống bởi dù sao đi nữa nó vẫn luôn mang tính xác thực chứ không chứa đựng màu sắc hư ảo thông qua trí tưởng tượng của người cầm bút Sau khi giải thích, phân tích, bình luận về tư tưởng, đạo lí ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau, người viết cần nêu được ý nghĩa, rút ra bài học về tư tưởng, đạo lí và hành động, qua đó áp dụng vào thực tiễn đời sống Đây là một đặc trưng không thể thiếu của kiểu bài này

Văn nghị luận xã hội nói chung và văn nghị luận về tư tưởng, đạo lí nói riêng có một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong nhà trường cũng như trong xã hội Ở đó, mục tiêu của nó không chỉ là giúp học sinh vận dụng một cách tối đa, tổng hợp nhất những hiểu biết của mình về tự nhiên, xã hội, rèn luyện khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ, rèn luyện tư duy lôgic khoa học, giúp học sinh nhận thức, đánh giá đúng và có thái độ đúng trước các vấn đề của cuộc sống, qua đó giáo dục và phát triển nhân cách cho học sinh Đồng thời

nó còn là vũ khí tư duy lí luận sắc bén giúp con người có thể nhận thức đúng đắn các lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần làm sâu sắc hơn cho chức năng giáo dục của văn học đối với con người

1.2 Cơ sở thực tiễn

Trang 21

1.2.1 Thực trạng dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp

1.2.1.1 Điều tra, thăm dò, dự giờ giáo viên

Để hiểu về thực tế dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, chúng

tôi tiến hành thăm dò, điều tra đối với các GV giảng dạy Ngữ văn và trực tiếp

dự giờ của họ Cụ thể:

* Phát phiếu thăm dò ý kiến GV

Phiếu điều tra gồm 14 phiếu phát cho GV tổ Văn, Trường THPT Nguyễn Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc

Nội dung phiếu như sau: Xin đồng chí vui lòng cho biết một số ý kiến

xung quanh việc áp dụng quan điểm tích hợp khi dạy học bài Nghị luận về

một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12?

Câu 1: Theo đồng chí, quan điểm tích hợp trong dạy học nói chung và

dạy học Ngữ văn nói riêng cần được hiểu như thế nào?

Câu 2: Theo đồng chí, quan điểm tích hợp đã được sử dụng phổ biến

trong hoạt động dạy học Ngữ văn hay chưa?

Câu 3: Trong quá trình soạn giáo án giảng dạy bài Nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 theo quan điểm tích hợp, đồng chí thấy

những thuận lợi và khó khăn gì?

Câu 4: Theo đồng chí, ưu điểm của việc dạy học theo quan điểm tích

hợp là gì?

Nhận xét kết quả điều tra:

Qua thống kê, chúng tôi nhận thấy:

Câu 1: Chúng tôi đã nhận được rất nhiều câu trả lời nhưng tổng hợp lại

thì đa số GV đều nắm rõ quan điểm thích hợp Theo họ: Tích hợp là sự liên kết giữa các phân môn trong bộ môn, giữa các kiến thức cũ và kiến thức mới hoặc giữa các kiến thức có mối quan hệ với nhau, từ đó giúp người học phát

Trang 22

huy khả năng tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp khi vận dụng vào thực tiễn.

Câu 2: Nhìn chung, đa số GV đều trả lời: Dạy học theo quan điểm tích

hợp chưa thực sự phổ biến trong dạy học Ngữ văn Mặc dù đã hiểu về tích hợp nhưng việc vận dụng nó trong từng bài dạy cụ thể còn chưa linh hoạt, uyển chuyển, nhiều chỗ còn khô cứng, rập khuôn, đôi chỗ còn lan man Hơn nữa vì thời lượng tiết học ngắn nên việc dạy học theo quan điểm tích hợp nếu không bố trí linh hoạt sẽ dẫn đến tình trạng thiếu thời gian, thiếu kiến thức của bài học

Câu 3: Đa số GV đều tìm ra được những thuận lợi và khó khăn khi

soạn giáo án bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo quan điểm tích hợp

Nội dung tổng hợp lại như sau:

- Thuận lợi:

+ Bài giảng linh hoạt, sinh động, hấp dẫn, không khô khan, nhàm chán + GV đã thu hút được HS, có điều kiện để kiểm tra khả năng ghi nhớ

kiến thức cũ của HS và có điều kiện kiểm định phương pháp dạy học của bản thân

+ Việc soạn bài và giảng bài trở nên chủ động hơn.

+ HS là người chủ động làm việc với SGK, tính tích cực của HS được

phát huy cao độ

- Khó khăn:

+ Công việc soạn bài và giảng bài cần nhiều thời gian vì khi tiến hành

tích hợp phải đặt nhiều câu hỏi

+ GV phải hệ thống lại những kiến thức và kĩ năng mà HS học từ lớp

Trang 23

- Giúp HS hiểu và biết phối hợp các kiến thức và kĩ năng một cách hiệu quả và biết vận dụng vào thực tiễn.

- Góp phần rèn luyện khả năng tự học, ghi nhớ và tư duy sáng tạo, tư duy tổng hợp cho HS

Nhận xét

Qua việc khảo sát trên chúng tôi nhận thấy đa số GV đã có nhận thức đúng về bản chất của quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung và

bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK Ngữ văn 12 nói riêng Tuy

nhiên, việc áp dụng nó vào thực tiễn dạy học còn chưa phổ biến, các GV còn quá cứng nhắc trong việc áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Làm văn, bởi không phải bài nào cũng có thể áp dụng quan điểm tích hợp thuận lợi như

bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Không những thế, ở THPT, tích hợp lại

được thể hiện chủ yếu ở tích hợp dọc

* Dự giờ của GV

Bên cạnh việc phát phiếu thăm dò ý kiến GV, chúng tôi đã tiến hành dự

giờ bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí tại lớp 12D2 Trường THPT Nguyễn

Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy:

- Vì chương trình SGK mới được biên soạn theo quan điểm tích hợp giữa ba phần Đọc văn - Tiếng Việt - Làm văn, nên trong quá trình giảng dạy phải quán triệt tinh thần này Về điều này, một số GV đã làm được trong quá trình giảng dạy của mình

- Khi dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí, GV đã biết tận

dụng các ngữ liệu văn bản văn học, các kiến thức về Làm văn mà HS đã được học để phân tích và rút ra kết luận về cách làm bài văn nghị luận về một vấn

đề tư tưởng, đạo lí Mặc dù vậy, một số GV chưa hiểu rõ về tích hợp nên còn

áp dụng máy móc dẫn đến hiệu quả dạy học không cao

1.2.1.2 Điều tra, khảo sát đối tượng học sinh

Trang 24

Vì học sinh là chủ thể trung tâm của quá trình dạy học nên chúng tôi còn tiến hành điều tra, khảo sát đối tượng HS Đối tượng điều tra, khảo sát là

HS lớp 12, Trường THPT Nguyễn Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc Chúng tôi tiến hành điều tra về thái độ, không khí học tập, kết quả học tập

trước và trong quá trình GV dạy bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí để có

cơ sở so sánh

Phiếu điều tra gồm 50 phiếu phát cho HS Trường THPT Nguyễn Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc Nội dung phiếu như sau:

Câu 1: Em có thích Làm văn không? Vì sao?

Câu 2: Em có thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí không?

Tại sao em thích? Tại sao không thích?

Câu 3: Khi học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo hướng tích

hợp, em có suy nghĩ gì?

Nhận xét kết quả điều tra

Câu 1: Nhìn chung, chúng tôi nhận thấy đa số các em thích học Làm

văn Vì theo các em, môn Làm văn có nội dung kiến thức ngắn gọn, chủ yếu

là phân tích ngữ liệu sau đó áp dụng tiến hành làm bài tập, chính bởi vậy kiến thức không cồng kềnh, không gây áp lực và căng thẳng tinh thần như giờ Đọc văn hay Tiếng Việt

Câu 2: Đa số HS thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí Điều

này được thể hiện rõ bởi tinh thần tích cực, hăng hái tham gia xây dựng bài của các em

Đa số HS thích học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí bởi dạng bài

này có nội dung kiến thức gần gũi, các em cũng đã được học ở những lớp dưới Không những thế, đây còn là kiến thức gắn liền với nếp cảm, nếp nghĩ trong đời sống hàng ngày của các em

Câu 3: Đã có rất nhiều những ý kiến khác nhau nhưng đa phần các em

Trang 25

nhận thấy khi dạy bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí theo hướng tích hợp

giúp các em tiếp thu kiến thức, dễ dàng, thuận lợi khi tiến hành liên hệ với thực tiễn cuộc sống

Qua dự giờ, chúng tôi nhận thấy giờ học bài Nghị luận về một tư tưởng,

đạo lí nói riêng và các giờ Làm văn nói chung đều có không khí sôi nổi, hào

hứng Ở những giờ lí thuyết, HS hăng hái xây dựng bài Ở những giờ thực hành, HS làm việc theo nhóm rất tích cực Điều này đã cho thấy sự chuẩn bị chu đáo của các em đối với bài học Hơn nữa, chúng tôi còn nhận thấy ở các

em không còn hiện tượng học vẹt, học sáo nữa mà vận dụng khá linh hoạt giữa lí thuyết với thực hành Tuy vậy, cũng nhận thấy rằng HS còn quên kiến thức cũ, GV vẫn phải gợi mở nhiều, khả năng liên các kiến thức, các kĩ năng chưa thực sự thành thạo

Tóm lại, từ thực tiễn điều tra phía HS, chúng tôi nhận thấy quan điểm tích hợp đã được quán triệt trong việc học tập của HS Tuy rằng còn nhiều

hạn chế và bất cập khi áp dụng quan điểm tích hợp vào dạy học bài Nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí nói riêng và dạy học Làm văn nói chung, nhưng chúng

tôi tin chắc rằng với sự định hướng đổi mới phương pháp và sự tìm tòi của

GV cũng như HS thì bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí nói riêng và các

bài Làm văn nói chung sẽ trở nên lí thú và bổ ích đối với HS

1.2.2 Nhận xét chung về hoạt động dạy học bài “Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí” trong SGK Ngữ văn 12

Có thể nói, bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí được đưa vào dạy học

với những nội dung còn sơ lược lại ít tài liệu tham khảo cho nên việc dạy học của GV còn nhiều hạn chế Phần lớn, GV mới chỉ bám sát vào SGK và SGV

mà chưa có sự đầu tư, sáng tạo Hơn nữa, do thời gian dạy học quá ngắn, lượng kiến thức thì nhiều nên GV không có điều kiện đi sâu, đi kĩ vào ngữ liệu

Về phía HS, nhiều em còn thụ động trong quá trình học tập Dù rằng

Trang 26

GV đã lựa chọn phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm nhưng HS chưa thực sự tiếp thu bài một cách chủ động Vẫn còn đó những lối học theo kiểu

cũ như nghe, ghi chép, nhớ và tái hiện lại những gì GV cung cấp chứ chưa có

sự tích cực, chủ động trong việc khám phá kiến thức

Từ thực trạng dạy - học của GV và HS như trên ta nhận thấy: Việc HS

có thể vận dụng thành thạo những kĩ năng cơ bản cũng như nắm được cách làm, quy trình của một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí còn gặp khó khăn Để khắc phục tất cả những điều đó thì cần phải có sự tận tình, sáng tạo, thay đổi trong phương pháp dạy học của GV và sự chủ động, tích cực của HS, chỉ có như thế mới nâng cao hiệu quả bài học này nói riêng và trong dạy học Làm văn nói chung

Trang 27

Chương 2

DẠY HỌC BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TƯ TƯỞNG, ĐẠO LÍ

TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 12

THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP

2.1 Nội dung dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong SGK

Ngữ văn 12

2.1.1 Thời lượng bài học

Bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí được giảng dạy trong chương

trình Ngữ văn 12 với thời lượng là 1 tiết Vì vậy mà từ nội dung cơ bản trên, người viết cần tìm ra những nội dung tích hợp cho phù hợp, tránh tình trạng phần thì tích hợp quá nhiều, phần thì quá ít chưa đủ làm sáng tỏ vấn đề

2.1.2 Nội dung bài học

Khi triển khai nội dung bài học này, SGK Ngữ văn 12 đã bố trí các kiến thức như sau:

Phần 1: Tìm hiểu đề và lập dàn ý

Phần 2: Cách làm bài nghị luận về một tưởng, đạo lí

Phần 3: Luyện tập

Ở phần 1: Tìm hiểu đề và lập dàn ý: SGK đưa ra một đề bài cụ thể là

“Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:

Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”

Sau đó đưa ra các gợi ý để HS thảo luận (gợi ý để HS tìm hiểu đề và tìm ý) với các nội dung sau:

- Câu thơ trên của Tố Hữu nêu lên vấn đề gì?

- Với thanh niên, HS ngày nay, sống thế nào được coi là sống đẹp? Để sống đẹp, con người cần rèn luyện những phẩm chất nào?

- Với đề bài trên, cần vận dụng những thao tác lập luận nào?

- Bài viết cần sử dụng các tư liệu thuộc lĩnh vực nào trong cuộc sống

để làm dẫn chứng? Có thể nêu những dẫn chứng trong văn học được không?

Trang 28

Tiếp đó là các gợi ý lập dàn ý cho cả ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài.Đến phần thứ 2: Từ việc thảo luận một đề bài cụ thể, HS tự rút ra nhận định của mình về cách làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí.

Ở phần 3: HS được củng cố kiến thức thông qua phần “Ghi nhớ” và giải bài tập phần “Luyện tập”

2.2 Những căn cứ để vận dụng quan điểm tích hợp khi dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

2.2.1 Những kiến thức học sinh đã được học

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí không phải là một kiến thức mới ở THPT Đây là kiến thức đã được SGK Ngữ văn 9 trình bày khá chi tiết và cụ thể Tuy nhiên, đó mới chỉ là những vấn đề lí thuyết, nó cung cấp cho các em những vấn đề chung nhất về dạng bài này như khái niệm, mục đích, yêu cầu

và cách tạo lập văn bản SGK Ngữ văn 12 không trình bày lại những kiến thức ấy mà đi sâu vào việc củng cố những kĩ năng viết bài và cách làm một bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí cho học sinh Vì thế, để củng cố nhận thức về loại bài văn này, GV cần phải tích hợp với những lí thuyết mà học sinh đã được trang bị từ trước đó Đó là cơ sở để chúng ta có thể thực

hiện tích hợp dọc khi dạy học bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí trong

2.2.2 Những kĩ năng có liên quan

Đến lớp 12, HS đã được học rất nhiều các kiến thức có liên quan đến bài học này như lập dàn ý, tìm ý, các thao tác lập luận Đó chính là những

Trang 29

đơn vị kiến thức trực tiếp chi phối tới việc dạy học bài này mà HS đã được trang bị từ THCS đến hết lớp 11

Hơn nữa, nghị luận về một tư tưởng, đạo lí có liên quan mật thiết với kĩ năng đọc văn: nắm được cách làm một bài văn về tư tưởng, đạo lí sẽ giúp ta hiểu được nội dung, ý nghĩa mà bài văn nghị luận muốn truyền tải

Ngoài ra, ta còn cần đến kĩ năng sử dụng tiếng Việt Đó là các kiến thức về cách sử dụng từ ngữ, câu văn, biện pháp tu từ để tăng sức thuyết phục cho bài văn nghị luận

Từ sự phân tích trên chúng ta nhận ra rằng, bài Nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí có rất nhiều yếu tố để tích hợp, tuy nhiên vẫn chỉ là những định

hướng khái quát nhất về hướng đi của bài học Để bài học đạt hiệu quả thì GV cần phải tìm hiểu kĩ, nắm vững chương trình phân môn cũng như bài học để lựa chọn nội dung tích hợp, cách thức tích hợp giữa Đọc văn - Làm văn -

tiếng Việt trong bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí sao cho phù hợp nhất,

mang lại hiệu quả cao khi vận dụng quan điểm dạy học này

luận về một tư tưởng, đạo lí như sau:

+ Đem đến cho học sinh sự thành thạo về các kĩ năng viết bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và có sức thuyết phục Bởi Làm văn không phải

là một bộ phận riêng mà có mối quan hệ mật thiết với Đọc hiểu văn, tiếng Việt Một giờ học chỉ thực sự đạt hiệu quả khi học sinh có thể phối hợp một cách nhuần nhuyễn, linh hoạt các kiến thức của Đọc văn, tiếng Việt, Làm văn với kiến thức của bài học ấy

Trang 30

+ Dạy học theo quan điểm tích hợp cũng là một trong những quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm Chính vì vậy nó sẽ góp phần phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học và vận dụng phổ biến quan điểm này vào học tập và cả những lĩnh vực bên ngoài của đời sống.

2.4 Chọn nội dung tích hợp và xác định mức độ tích hợp

2.4.1 Chọn nội dung tích hợp

Đây là công việc quan trọng đối với một giờ dạy theo quan điểm tích

hợp Từ bản chất của quan niệm tích hợp, khi dạy học bài Nghị luận về một tư

tưởng, đạo lí, chúng ta có thể lựa chọn các nội dung tích hợp như sau:

- Tích hợp với Đọc văn: Lựa chọn các văn bản, các đoạn trích mà HS

đã học để làm ngữ liệu cho việc tiếp nhận các kiến thức về kiểu bài nghị luận

về một tư tưởng, đạo lí Ví dụ, các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn

THCS và THPT như: Tinh thần yêu nước của nhân dân ta (Hồ Chí Minh),

Đức tính giản dị của Bác Hồ (Phạm Văn Đồng), Về luân lí xã hội ở nước ta

(Phan Châu Trinh)… Đây là những văn bản quen thuộc, HS ít nhiều nắm được về tác giả, hoàn cảnh sáng tác nội dung tác phẩm giúp HS tích cực tham gia vào việc tiếp nhận những kiến thức mới của Làm văn

- Tích hợp với Làm văn: Vì đây là kiểu bài HS đã được làm quen ở lớp

dưới, nên khi dạy GV có thể tận dụng những kiến thức các em đã được giới thiệu Đó là các kiến thức về khái niệm, mục đích, yêu cầu, cách làm một bài văn về một tư tưởng, đạo lí, và các kĩ năng cơ bản Ở đây, không dạy lại các kiến thức đó mà cần giúp HS hiểu, biết cách lập dàn ý, vận dụng các kiến thức

đó vào tạo lập văn bản, biết cách chuyển ý, chuyển đoạn, quan trọng là các

em nắm được quy trình cần thực hiện khi tạo lập văn bản này

- Tích hợp với Tiếng Việt: Đây cũng là một công việc khá cần thiết trong một giờ dạy Làm văn Với bài Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí chúng

ta có thể tích hợp với tiếng Việt ở việc áp dụng một số kiểu câu như câu nghi

Ngày đăng: 23/08/2015, 08:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (chủ biên) (2006), Thực hành Làm văn lớp 12, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Làm văn lớp 12
Tác giả: Lê A (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
2. Lê A, Lê Minh Thu, Nguyễn Thị Thủy (2007), Dạy học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Ngữ văn 8 theo hướng tích hợp
Tác giả: Lê A, Lê Minh Thu, Nguyễn Thị Thủy
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2007
3. Bộ GD&ĐT (2002), Chương trình THPT môn Ngữ văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2002
4. Bộ GD&ĐT (2003), Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn THPT
Tác giả: Bộ GD&ĐT
Năm: 2003
5. Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn (2006), Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn
Tác giả: Nguyễn Hải Châu, Nguyễn Trọng Hoàn
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
6. Phạm Văn Đồng (1973), Dạy văn là quá trình rèn luyện toàn diện, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn là quá trình rèn luyện toàn diện
Tác giả: Phạm Văn Đồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1973
7. Nguyễn Thanh Hùng (2006), “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, Tạp chí Khoa học Giáo dục, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Ngữ văn”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2006
8. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Giáo trình Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS, Nxb ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp dạy học Ngữ văn ở THCS
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2007
10. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2006), Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Thiết kế bài học Ngữ văn 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa, Sách giáo viên, Thiết kế bài học Ngữ văn 12
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
11. Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử (2006), Tài liệu bồi dướng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 10 - THPT môn Ngữ văn, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dướng giáo viên thực hiện chương trình SGK lớp 10 - THPT môn Ngữ văn
Tác giả: Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
12. Nhiều tác giả (2009), Rèn kĩ năng Làm văn tốt nghiệp THPT và thi đại học môn Ngữ văn nghị luận xã hội, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng Làm văn tốt nghiệp THPT và thi đại học môn Ngữ văn nghị luận xã hội
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2009
13. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) (2000), Sách giáo viên Ngữ văn 6, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên Ngữ văn 6
Tác giả: Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
15. Bảo Quyến (2007), Rèn kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn kĩ năng làm văn nghị luận phổ thông
Tác giả: Bảo Quyến
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
16. Đỗ Ngọc Thống (2006), Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn THPT, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu chương trình và SGK Ngữ văn THPT
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
17. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) (2008), Làm văn, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm văn
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb ĐHSP
Năm: 2008
18. Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên) (2010), Dạy và học nghị luận xã hội, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học nghị luận xã hội
Tác giả: Đỗ Ngọc Thống (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2010
14. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên) (2008), Ngữ văn các khối lớp 7, 8, 9 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w