1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam

102 344 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là nền tảng cở sở có thể giúp cho các ngân hàng thương mại hoạch định những chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro về lãi suất nói riêng và rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung, để

Trang 1

-

TRẦN NGỌC CHÁNH

PHÒNG NGỪA VÀ QUẢN LÝ RỦI RO VỀ LÃI SUẤT TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG

NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

Chuyên ngành: Quản Trị Kinh Doanh

Mã số : 60.34.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIẾN SỸ NGUYỄN VĂN THUẬN

TP H Chí Minh – Năm 2007

Trang 2

Quá trình học tập và nghiên cứu theo chương trình đào tạo thạc sỹ tại trường Đại Học Mở TP.Hồ Chí Minh đã giúp cho tôi có được những kiến thức vô cùng thiết thực cho việc nâng cao trình độ nhận thức và xử lý tốt các tình huống trong công việc, nhất là trong lĩnh vực ngân hàng mà tôi đang công tác Đây là một lĩnh vực tài chính rất quan trọng của nền kinh tế Vì vậy, tôi đã chọn đề tài tốt nghiệp liên quan đến lĩnh vực ngân hàng để đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra các phương pháp quản lý hiệu quả các nguồn lực nhằm phục vụ cho việc quản trị các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trong đó, rủi ro về lãi suất là một vấn đề lớn mà các ngân hàng phải đối mặt trong bối cảnh sự cạnh tranh giữa các ngân hàng đang diễn ra gay gắt, nhất là khi Việt Nam chính thức hội nhập, là thành viên chính thức của Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) Do vậy, đề tài “ Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam” là đề tài tâm đắc mà tôi đã thực hiện để hoàn thành chương trình MBA trong thời gian qua

Tôi xin cam đoan, nội dung mà tôi trình bày trong luận văn này không sao chép bất kỳ luận văn nào trước đây, và nó được thực hiện tự sự nghiên cứu nghiêm túc trên cơ sở tham khảo những lý thuyết cơ bản liên quan đến đề tài và sự vận dụng

tư duy xuất phát từ kiến thức và kinh nghiệm thực tế của bản thân Tuy nhiên, bản thân tôi cũng sẽ không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu và trình bày đề tài này Và cuối cùng, tôi xin chịu mọi trách nhiệm nếu như phát sinh những vấn đề gì sai trái xảy ra

Trang 3

Xin được g i l i cám ơn và sự trân tr ng nh t đến v i các Thầy Cô của trường Đại Học Mở TP.Hồ Chí Minh đã tận tâm hướng dẫn và hỗ trợ cho tôi tiếp cận với những kiến thức mới về phương pháp học và xử lý các tình huống, nhằm đóng góp cho việc vận dụng những kiến thức này vào môi trường làm việc và nghiên cứu Và đặc biệt là xin cám ơn Tiến Sỹ Nguyễn Văn Thuận, người Thầy đã hướng dẫn cho tôi hoàn thành việc thực hiện đề tài tốt nghiệp này Xin cám ơn các Anh Chị lớp MBA04 đã tạo nên một không khí vô cùng sinh động trong việc cùng nhau chia xẻ những kiến thức và kinh nghiệm trong suốt quá trình học này

Tôi xin chân thành cảm ơn Khoa Sau Đại Học – Trường Đại Học Mở TP.Hồ Chí Minh đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập tốt và có điều kiện hoàn thành chương trình học trong thời gian qua

Trân trọng!

Trang 4

Trang phụ bìa.

Lời cảm tạ

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt 1

Danh mục các bảng 2

Danh mục các biểu đồ 3

Danh mục các sơ đồ 4

Lời mở đầu 5

Phần Giới Thiệu 6

Chương 1 Tổng Quan Về Rủi ro & Rủi Ro Trong Hoạt Động 12

Kinh Doanh Của Ngân Hàng Thương Mại 1.1 Tổng quan về sự rủi ro 12

1.1.1 Các định nghĩa về rủi ro 12

1.1.2 Phân loại rủi ro 12

1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng 13

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động ngân hàng 13

1.2.2 Các loại hình rủi ro 14

1.3 Quản trị rủi ro ngân hàng - Các công cụ phòng ngừa cơ bản 19

đối với các loại hình rủi ro của ngân hàng 1.3.1 Tổng quan về quản trị rủi ro ngân hàng 19

1.3.1.1 Khái niệm 19

1.3.1.2 Quản trị rủi ro 19

Trang 5

1.4.1 Hợp đồng giao ngay (Spot Contract) 22

1.4.2 Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) 22

1.4.3 Hợp đồng tương lai (Futures Contract) 23

1.4.4 Hợp đồng quyền chọn (Option Contract) 24

1.4.5 Hợp đồng hoán đổi (Swap) 26

1.5 Quản trị và lượng hóa rủi ro về lãi suất đối với các ngân hàng thương mại 27

1.5.1 Mô hình định giá lại (the Repricing model) 28

1.5.2 Mô hình thời lượng (the Duration model) 28

1.5.3 Mô hình kỳ hạn đến hạn (the Maturity model) 29

1.5.4 Phương pháp phân tích sự ảnh hưởng của sự thay đổi của lãi suất 33

đến thu nhập và chi phí Chương 2 Thực Trạng Phòng Ngừa và Quản Lý Rủi Ro Lãi Suất 37

Trong Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) 2.1 Giới thiệu sơ lược về Vietcombank 37

2.1.1 Lược sử hình thành và phát triển của Vietcombank 37

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của hệ thống Vietcombank 39

2.1.3 B máy quản lý c a Vietcombank 40

2.2 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Vietcombank 42

2.2.1 Ngành nghề kinh doanh chính của Vietcombank 42

2.2.2 Tình hình huy động vốn 42

Trang 6

2.3 Th c tr ng r i ro lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của Vietcombank 50

2.3.1 Rủi ro lãi suất cơ bản 50

2.3.2 Rủi ro đối với lãi suất huy động vốn của Vietcombank 56

2.3.3 Rủi ro đối với lãi suất cho vay của Vietcombank 64

Chương 3 Biện Pháp Phòng Ngừa Và Quản Lý Rủi Ro Lãi Suất 69

Đối Với Hoạt Động Kinh Doanh Của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam 3.1 Sử dụng các công cụ phái sinh trong phòng ngừa rủi ro lãi suất 69

3.1.1 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng lãi suất kỳ hạn 70

3.1.2 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng lãi suất tương lai 71

3.1.3 Phòng ngừa rủi ro lãi suất bằng hợp đồng hoán đổi 75

3.2 Các giải pháp khác về phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất 83

trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam 3.2.1 Chú trọng việc tăng cường nguồn vốn dài hạn có lãi suất cố định 83

3.2.2 Phát triển ổn định thị trường bán lẻ 85

3.2.3 Thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động 87

Kết luận 89

Tài liệu tham khảo

Phần phụ lục

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DNNN : doanh nghiệp nhà nước

FED : Cục Dự trữ Liên bang Mỹ

(Federal Reserve)

HĐQT : Hội đồng quản trị

LIBOR : Lãi suất của thị trường London (London InterBank Offered Rate)

NHNN : Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam NTNT : Ngân Hàng Ngoại Thương

NHTM : ngân hàng thương mại

OTC : Thị trường không chính thức

(Over The Counter)

SIBOR : Lãi suất của thị trường Singapore (Singapore InterBank Offered Rate)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

1 Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh Năm 2004-2005 .47

2 Bảng 2: Lãi suất cơ bản do Ngân Hàng Nhà Nước VN công bố .50

3 Bảng 3: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ của Vietcombank 56

4 Bảng 4: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm tiền đồng của Vietcombank 56

5 Bảng 5: Cơ cấu huy động vốn qua các năm của Vietcombank .58

6 Bảng 6 : Bảng lãi suất cho vay ngoại tệ .65

7 Bảng 7a: Lãi suất cho vay Việt Nam đồng 65

8 Bảng 7b: Lãi suất cho vay khác theo đồng Việt Nam 66

wxøyv

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ BIỂU DIỄN

1 Biểu đồ 1: Cơ cấu huy động vốn (tiền gửi và giấy tờ có giá) 60 của cá nhân và tổ chức theo kỳ hạn của Vietcombank năm 2004

2 Biểu đồ 2: Cơ cấu huy động vốn (tiền gửi và giấy tờ có giá) 60 của cá nhân và tổ chức theo kỳ hạn của Vietcombank năm 2005

wvxøyxw

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ BIỂU DIỄN

1 Sơ đồ 1: Huy Động Vốn có kỳ hạn 1 năm và Đầu Tư có kỳ hạn 2 năm 14

1 Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức hệ thốngVietcombank .39

1 Sơ đồ 3: Bộ máy quản lý Vietcombank .41

wxøyv

Trang 11

L i Mở Đầu

Xu hướng tự do hóa và toàn cầu hoá nền kinh tế là một hướng đi tất yếu sẽ xảy

ra đối với các quốc gia trên thế giới đang xây dựng nền kinh tế theo cơ chế nền kinh tế thị trường Bên cạnh việc nhận được những lợi ích nhất định khi thực hiện việc hội nhập theo xu thế tất yếu này, mỗi quốc gia không khỏi không nghĩ đến những khía cạnh khó khăn và những nguy cơ tiềm ẩn của việc thực hiện hội nhập Các quốc gia sẽ vào sân chơi chơi chung, ở đó, sẽ có rất nhiều rủi ro, và nó có thể đem lại những hậu quả nặng nề, gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế của một quốc gia Và như vậy, nó sẽ gây nên sự kiềm hãm mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia, nhiều lãnh vực về đời sống kinh tế và các ngành sẽ có thể đối mặt với chiều hướng sút giảm nghiêm trọng trong hoạt động, nếu như các nhà quản lý không quan tâm đúng mực đến những mặt mạnh mặt yếu trong sự hội nhập Trong những lĩnh vực đó, ngành ngân hàng, một ngành công nghiệp được xem là xương sống của nền kinh tế đối với một quốc gia, sẽ gặp phải những khó khăn nhất định, và sẽ phải đương đầu với những rủi ro rất có khả năng xảy ra trong toàn bộ hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng Do vậy, kể từ ngày 11/01/2007, khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế Giới (World Trade Organization-WTO), trong những điều kiện mới của sự hội nhập, ngân hàng sẽ phải đối đầu với những rủi ro trong hoạt động kinh doanh Nếu các nhà quản lý các ngân hàng thương mại không chủ động phòng ngừa và quản lý một cách hiệu quả, thì hậu quả do các rủi ro này mang lại sẽ gây ảnh hưởng vô cùng lớn đến sự phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng nói riêng và hệ thống các ngành khác nói chung của nền kinh tế quốc gia.Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rủi ro, đặc biệt

Trang 12

là rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng là nội dung được các ngân hàng thương mại quan tâm nhất hiện nay Đây là nền tảng cở sở có thể giúp cho các ngân hàng thương mại hoạch định những chiến lược nhằm giảm thiểu rủi ro về lãi suất nói riêng và rủi ro trong hoạt động kinh doanh nói chung, để cân đối các nguồn vốn thuộc tài sản có, thông qua các khoản cho vay tín dụng và các nguồn vốn thuộc tài sản nợ là các khoản huy động vốn, sao cho lợi nhuận mang lại cho các ngân hàng là tối ưu, khi mà ngân hàng phải đối mặt với sự thay đổi của lãi suất trên thị trường tài chính, gây bất lợi cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Cùng với những trăn trở đó, Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank), với tư cách là một Ngân Hàng thương mại Nhà nước hàng đầu, cũng đã dành rất nhiều thời gian và tài chính để thực hiện những nghiên cứu và hoạch định ra những chiến lược hiệu quả nhất để từ đó có thể tự bản thân hoặc nhờ sự trợ giúp của Ngân Hàng Nhà Nước và các ngân hàng thương mại khác hổ trợ, để có thể phòng chống và hạn chế các rủi

ro về lãi suất đang tồn tại Chính vì vậy, việc nghiên cứu và tìm hiểu đánh giá nhằm thực hiện và phòng chống có hiệu quả đối với rủi ro lãi suất là nội dung chính được

trình bày qua đề tài nghiên cứu “Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong

hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam”.

wvxøyxw

Trang 13

Phần Giới Thiệu

1 Mục tiêu nghiên cứu

1.1 Giới thiệu mục tiêu nghiên cứu

Ngân hàng là một trong những ngành công nghiệp rất quan trọng và thiết yếu của nền kinh tế của một quốc gia Một khi hoạt động của ngân hàng gặp phải những biến động lớn có ý nghĩa nguy hại đến hoạt động kinh doanh thì điều tất yếu sẽ đưa đến một sự suy yếu trầm trọng của hệ thống tài chính quốc gia, làm giảm nhanh các hoạt động kinh tế đang diễn ra ở các ngành nghề khác, và do đó, kinh tế của quốc gia sẽ bị ảnh hưởng vô cùng lớn, và sẽ đi đến bị suy thoái Như vậy, vì sao hoạt động của ngân hàng khi gặp phải sự bất lợi lại gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến như vậy đối với nền kinh tế quốc gia Và vì những vấn đề gì mà ngân hàng phải đối mặt trên thực tế của hoạt động kinh doanh của mình Câu trả lời cho vấn đề này đó là ngân hàng là huyết mạch của nền kinh tế, do vậy hoạt động của ngân hàng hiệu quả hay không sẽ đưa nền kinh tế của một quốc gia tăng trưởng hay suy thoái là điều tất yếu Trong đó, vấn đề mà ngân hàng luôn luôn và lúc nào cũng phải đối mặt đó là các rủi

ro trong hoạt động của ngân hàng, từng giờ, từng phút ở bên cạnh ngân hàng thông qua các yếu tố khách quan và chủ quan, nếu không có sự phòng ngừa tốt, và quản lý tốt các rủi ro, hoạt động của ngân hàng sẽ vì thế gặp phải những mất mát và thiệt hại nghiêm trọng, dẫn đến làm tê liệt các mạch máu khác của nền kinh tế chung của quốc gia Do đó, các nhà quản trị ngân hàng cần phải thực hiện việc tiếp cận đến các rủi ro, tìm ra phương pháp để phòng ngừa và thực hiện quản lý một cách hiệu quả nhất trong quá trình hoàn thiện hoạt động kinh doanh của mình, với mục

Trang 14

tiêu lớn nhất là tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa chi phí và đặc biệt là giảm thiểu những rủi ro đang tiềm ẩn và rủi ro vốn có của các điều kiện khách quan

1.2 Xác định vấn đề nghiên cứu

Theo như phần giới thiệu trên, việc thực hiện phòng ngừa và quản lý rủi ro là những vấn đề mang tính cơ bản trong việc điều hành và quản lý các hoạt động của ngân hàng Trong một giai đoạn nào đó trong quá trình kinh doanh, các nhà quản trị và điều hành quá hăng say trong giấc mơ tìm được những thành công vượt bậc trong những điều kiện mà trong đó tình hình kinh tế xã hội chính trị của một quốc gia đang

ở thế phát triển và có được sự bền vững trong sự tăng trưởng dẫn đến sự phát triển đó Do vậy, ở trong một chừng mực nào đó, ngân hàng có thể bị dẫn đến sự mất tập trung, lơ là trong quản lý, sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường trước bởi tính đa dạng của nhiều loại hình rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng của mình Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này sẽ đề cập đến việc giới thiệu và phân tích những rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của một ngân hàng và đề cập chính yếu đến việc phòng ngừa và quản lý rủi ro đối với chính sách lãi suất của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam trong điều kiện mới của sự cạnh tranh giữa các ngân hàng, nhất là khi Việt Nam bắt đầu bước vào một sân chơi bình đẳng trong hội nhập kinh tế quốc tế, và trong bối cảnh các ngân hàng nước ngoài được phép đầu tư 100 % vốn cho hoạt động kinh doanh, sẽ có hiệu lực thi hành trong thời gian sắp tới

1.3 Đánh giá nghiên cứu

Hiện nay, mặc dù, nền kinh tế Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể trong các năm qua, nhưng thực trạng, có nhiều vấn đề mang tính cấp bách mà Việt Nam cần phải nhanh chóng giải quyết và thực hiện cho phù hợp với sự thay đổi hoặc biến động của đời sống kinh tế xã hội trong nước và quốc tế Trong đó, những vấn

Trang 15

đề chính yếu liên quan đến sự thay đổi có thể nói đến các vấn đề về khủng hoảng năng lượng được cung cấp, vấn đề về thị trường bất động sản trong tình trạng bất lợi cho các nhà đầu tư do sự đóng băng trong một thời gian dài, và những khoản nợ nước ngoài, đã dẫn đến việc các ngân hàng buộc phải tâm đến và tập trung chú ý việc phòng ngừa và quản lý các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của mình trong tình hình bất ổn như đã nêu

Ở các nước phát triển, các ngân hàng nước ngoài có hàng trăm năm về kinh nghiệm về phòng ngừa và quản lý các rủi ro trong hoạt động của mình Trong khi đó, ở Việt Nam, các khái niệm và thực tiễn áp dụng các biện pháp phòng chống và quản lý rủi ro hoạt động của ngân hàng còn mang tính mơ hồ, chưa nhận rõ các vấn đề trọng tâm của việc phòng ngừa và quản lý rủi ro tại các ngân hàng thương mại trong cả nước Chính vì vậy, việc thực hiện làm nghiên cứu này sẽ nhằm mục tiêu tìm kiếm một bức tranh tổng thể về các rủi ro của hoạt động ngân hàng vốn khả dĩ và vai trò của các nhà quản lý trong việc phòng ngừa và quản lý các rủi ro của hoạt động ngân hàng

Khuynh hướng nghiên cứu sẽ được thực thi thông qua việc mô tả các điểm phân tích theo trình tự như sau:

- Nhận diện các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

- Xác định giá trị và đo lường mức độ ảnh hưởng của các rủi ro

- Đánh giá rủi ro liên quan đến lãi suất củaNgân Hàøng Ngoại Thương

- Liên hệ thực tế về việc phòng ngừa và quản lý rủi ro trong chính sách thực thi đối với lãi suất huy động vốn tại Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

Trang 16

2 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu.

Nghiên cứu này tập trung chủ yếu hướng đến các vấn đề quản lý các rủi ro đối với các hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam, nhằm mục đích tìm hiểu những rủi ro hiện hữu mà các ngân hàng thương mại đang phải đối mặt hàng ngày trong hoạt động kinh doanh của mình Vì vậy, trong nghiên cứu này, chúng ta sẽ tìm hiểu những rủi ro cơ bản đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thông qua các rủi ro sau đây: rủi ro trong hoạt động tín dụng; rủi ro về thị trường đối với hoạt động của ngân hàng; rủi ro về hoạt động kinh doanh của ngân hàng; rủi ro về tính thanh khoản; và các loại rủi ro khác

Phần chính của nghiên cứu là liên hệ thực tiễn trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam, liên quan đến vấn đề phòng ngừa và quản lý rủi ro trong việc thực thi các chính sách về lãi suất của ngân hàng trong điều kiện mới của sự cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và cơ chế thông thoáng của Nhà nước trong vấn đề cho phép các ngân hàng nước ngoài đầu tư 100% vốn vào Việt Nam để kinh doanh trong thời gian sắp tới

3 Phương pháp nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu cho việc thực hiện nghiên cứu này được thực hiện

thông quan sự kết hợp bởi các phương pháp sau:

+ Nghiên cứu và phân tích

+ Mô tả và so sánh

4 Nguồn thông tin thu thập

Trong việc nghiên cứu này, những dữ liệu và thông tin được thu nhặt từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau có liên quan mật thiết đến nội dung đề tài được trình bày và được sắp xếp theo một trình tự nhất định mang tính hợp lý Các tài liệu và thông

Trang 17

tin liên quan được thu nhặt từ những tài liệu sách vở, thông tin, báo chí ,… để phân tích hiện trạng của các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng và công cụ để quản lý và phòng ngừa nó Thêm vào đó, các dữ liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau đã tạo thuận lợi cho việc phân tích mọi khía cạnh của ngành ngân hàng trong việc quản lý các rủi ro

5 Tổ chức nghiên cứu

Việc thực hiện tổ chức nghiên cứu về đề tài này được xây dựng theo cấu trúc cụ thể như sau:

- Phần Giới Thiệu

- Chương 1: Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro trong hoạt động của ngân hàng

- Chương 2: Thực trạng phòng ngừa và quản trị rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

- Chương 3: Biện pháp phòng ngừa và quản lý rủi ro lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam

wvxøyxw

Trang 18

Chương 1 Tổng Quan Về Rủi Ro & Rủi Ro Trong Hoạt Động Kinh Doanh

Của Ngân Hàng Thương Mại

1.1 Tổng quan về sự rủi ro

1.1.1 Khái niệm về rủi ro

Trong cuộc sống và công việc hàng ngày, rủi ro có thể xuất hiện trên mọi lĩnh vực Rủi ro không loại trừ một ai, từ một quốc gia cho đến một dân tộc, một công ty

đa quốc gia cho đến một doanh nghiệp, lãnh vực này cho đến lãnh vực khác, người xấu lẫn kẻ tốt… đều có thể gặp rủi ro Rủi ro có thể xuất hiện mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc, từ việc chọn trường, chọn nghề, chọn nơi làm việc, chọn bạn, trong tình yêu và hạnh phúc gia đình, các thương vụ làm ăn của doanh nghiệp, mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc, tôn giáo, …

Như vậy, rủi ro có thể được hiểu, đó là “Sự bất trắc có thể đo lường được” Tuy

nhiên, trong lĩnh vực tài chính, khái niệm về rủi ro, được định nghĩa như sau:

“Rủi ro là một khái niệm đánh giá mức độ biến động hay bất ổn của một giao dịch hay danh mục đầu tư”

1.1.2 Phân loại rủi ro

Có rất nhiều loại rủi ro và ngày càng xuất hiện thêm nhiều loại rủi ro mới, phức tạp hơn trước Để phân loại, người ta sử dụng nhiều tiêu chí khác nhau: rủi ro

do môi trường thiên nhiên, rủi ro do môi trường văn hóa, rủi ro do môi trường xã hội,

r i ro do mơi tr ng chính tr , rủi ro do môi trường pháp luật, rủi ro về môi trường kinh tế - tài chính Ngoài ra còn có nhiều cách tiếp cận khác khi phân loại các loại rủi ro, đó là:

Trang 19

- Phân loại rủi ro theo môi trường tác động, bao gồm: rủi ro do môi trường bên trong; rủi ro do môi trường bên ngoài; rủi ro do môi trường vĩ mô: tự nhiên, văn hóa, luật pháp, kinh tế, xã hội,…; rủi ro do môi trường vi mô: nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh

- Phân loại rủi ro theo đối tượng rủi ro, bao gồm: rủi ro về tài sản, rủi ro về nhân lực, rủi ro về trách nhiệm pháp lý

- Phân loại theo các ngành, lĩnh vực hoạt động, bao gồm: rủi ro trong công nghiệp, rủi ro trong nông nghiệp, rủi ro trong kinh doanh thương mại, rủi ro trong hoạt động xuất nhập khẩu, rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng, rủi ro trong kinh doanh du lịch, rủi ro trong đầu tư, rủi ro trong ngành xây dựng

Trên đây là những nét phát họa tổng quan về các loại hình rủi ro có thể xảy ra đối với mọi hoạt động của đời sống, kinh tế và xã hội của con người Trong số những rủi ro đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng sẽ được giới thiệu trong phần kế tiếp dưới đây, trên cơ sở đi sâu vào nghiên cứu về rủi ro lãi suất đối với hoạt động của một ngân hàng thương mại

1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng

1.2.1 Khái niệm về rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Ngân hàng là một loại hình kinh doanh đặc biệt Do vậy, những rủi ro đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng vì thế mà mang tính đặc thù

Trước khi giới thiệu về các loại hình rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cần định nghĩa về rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng như sau:

“Rủi ro trong kinh doanh của ngân hàng là sự bất trắc có thể đo lường được, nó có thể tạo ra những tổn thất, mất mát, thiệt hại hoặc làm mất đi những cơ hội sinh lời,

Trang 20

nhưng cũng có thể đưa đến những lợi ích, những thuận lợi trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ”

1.2.2 Các loại hình rủi ro

Trong phần này, chúng ta sẽ khái quát những rủi ro mà một ngân hàng phải đối mặt, theo các loại hình như sau:

- Rủi ro về lãi suất

Trong hoạt động ngân hàng, quá trình chuyển hóa tài sản như là một chức năng đặc biệt cơ bản của ngân hàng Quá trình chuyển hóa tài sản bao gồm việc mua các chứng khoán sơ cấp, tức là sử dụng vốn; và phát hành các chứng khoán sơ cấp, tức là huy động vốn Kỳ hạn và độ thanh khoản của các chứng khoán sơ cấp trong danh mục đầu tư thuộc tài sản có thường không cân xứng với các chứng khoán thứ cấp thuộc tài sản nợ Sự không cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ làm cho ngân hàng phải chịu rủi ro về lãi suất

Bằng sơ đồ sau đây, có thể biểu diễn trường hợp một ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn một năm và đầu tư có kỳ hạn hai năm như sau :

Tài sản Nợ

Tài sản Có

Trang 21

Ví dụ: Giả sử lãi suất huy động vốn là 9%/năm, và lãi suất đầu tư là 10%/năm Sau năm thứ nhất, bằng cách cho vay ngắn hạn 1 năm và cho vay dài hạn là 2 năm, ngân hàng đó thu được về cho mình một khoản lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất là 10% - 9% = 1% Tuy nhiên, lợi nhuận của năm thứ 2 là bao nhiêu thì chưa xác định được Nếu như lãi suất thị trường không thay đổi từ năm thứ nhất sang năm thứ hai, thì ngân hàng có thể tái tài trợ tài sản nợ với mức lãi suất không thay đổi là 9%; và

do đó, mức lợi nhuận thu được trong năm thứ hai sẽ bằng năm thứ nhất là 1% Tuy nhiên, vì lãi suất luôn luôn thay đổi, cho nên việc ngân hàng gặp rủi ro là điều không thể tránh khỏi Giả sử, sang năm thứ hai, ngân hàng chỉ có thể huy động vốn theo lãi suất đã được điều chỉnh do ảnh hưởng của lãi suất trên thị trường ở mức là 11%/năm, khi đó, lợi nhuận của ngân hàng trong năm thứ hai sẽ là một con số âm (10% - 11%= - 1%) Như vậy, lợi nhuận của năm thứ nhất chỉ đủ bù đắp cho khoản lỗ của năm thứ hai Kết quả là, trong mọi trường hợp, nếu ngân hàng duy trì tài sản có có kỳ hạn dài hơn so với tài sản nợ, thì ngân hàng luôn đứng trước nguy cơ gặp rủi

ro về lãi suất trong việc tái tài trợ đối với tài sản nợ Và rủi ro sẽ trở thành hiện thực nếu như lãi suất huy động vốn bổ sung trong những năm tiếp theo tăng lên trên mức lãi suất đầu tư tín dụng dài hạn Trong trường hợp ngược lại, ngân hàng huy động vốn có kỳ hạn dài và đầu tư có kỳ hạn ngắn Ví dụ: ngân hàng huy động vốn với lãi suất là 9%/năm, kỳ hạn là 2 năm, và đầu tư vào tài sản có có mức lãi suất là 10%/năm, kỳ hạn là 1 năm

Tương tự như trường hợp trên, sau năm thứ nhất, ngân hàng thu được lợi nhuận là 1% Vì tài sản có chỉ có kỳ hạn là một năm, cho nên, sau năm thứ nhất, tài sản có đến hạn và ngân hàng lại tiếp tục tái đầu tư Giả sử, lãi suất đầu tư của thị trường trong năm thứ hai giảm xuống chỉ còn 8%/năm, điều này đã khiến cho ngân hàng

Trang 22

gặp phải rủi ro về lãi suất, phải chấp nhận chịu một khoản lỗ (8% - 9%= - 1%) Như vậy, lợi nhuận thu được của năm thứ nhất vừa đủ để bù đắp khoản lỗ của năm thứ hai Kết quả là, ngân hàng gặp phải rủi ro về lãi suất tái đầu tư trong trường hợp tài sản có có kỳ hạn ngắn hơn so với kỳ hạn của tài sản nợ Ví dụ điển hìngh về rủi ro lãi suất tái đầu tư trong những năm gần đây là hiện tượng các ngân hàng hoạt động trên thị trường tiền tệ Châu Âu thường huy động vốn với lãi suất cố định, nhưng lại đầu tư với với lãi suất thả nổi, tức là lãi suất của những tín dụng luôn được điều chỉnh thay đổi thường xuyên để phù hợp với lãi suất của thị trường

Ngoài rủi ro lãi suất tái tài trợ hoặc tái đầu tư tài sản có, thì khi lãi suất thị trường thay đổi, ngân hàng còn có thể gặp phải rủi ro do giảm giá trị tài sản Giá trị thị trường của tài sản có hay của tài sản nợ là dựa trên khái niệm giá trị hiện tại của tiền tệ Do đó, nếu lãi suất thị trường tăng lên thì mức chiết khấu giá trị tài sản cũng tăng lên, và do đó giá trị hiện tại của tài sản có và tài sản nợ giảm xuống Ngược lại, nếu lãi suất thị trường giảm thì giá trị tài sản có và tài sản nợ sẽ tăng lên Do đó, nếu kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ không cân xứng với nhau, ví dụ tài sản có, có kỳ hạn dài hơn tài sản nợ, thì lãi suất thị trường tăng, giá trị của tài sản có sẽ giảm nhanh hơn và nhiều hơn so với sự giảm giá trị của tài sản nợ Rủi ro giảm giá trị tài sản khi lãi suất thay đổi thuộc loại rủi ro về lãi suất, và có thể dẫn đến thiệt hại về tài sản của ngân hàng Như vậy, nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản có và tài sản nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau, thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản có và tài sản nợ; hoặc rủi ro về lãi suất do giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất trên thị trường biến động

Trang 23

- Rủi ro về tỷ giá hối đoái

Sự biến động về tỷ giá hối đoái giữa các đồng tiền không có mối tương quan chặt chẽ với nhau Ví dụ như đồng USD có thể lên giá so với đồng EUR, nhưng trong khi đó, nó lại giảm giá so với đồng Yên Nhật Một lợi ích tiềm năng của ngân hàng ngày càng tăng là khả năng mở rộng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài hoặc là mở rộng danh mục đầu tư gián tiếp bằng cách nắm giữ các chứng khoán ghi bằng ngoại tệ bên cạnh các chứng khoán ghi bằng nội tệ

Để thấy được rủi ro hối đoái phát sinh như thế nào, giả sử một ngân hàng của Việt Nam cấp tín dụng bằng USD (đô la Mỹ) cho một khách hàng của mình Khi đồng USD giảm giá so với VND (đồng Việt Nam), thì gốc và lãi của khoản cho vay bằng USD thu về sẽ bị giảm khi quy thành VND Ngay cả, trong trường hợp, nếu USD giảm giá đáng kể , thì gốc và lãi khi chuyển đổi sang VND có thể là thấp hơn số tiền gốc ban đầu, do đó, kết quả đầu tư sẽ là số âm Nghĩa là khi thực hiện việc chuyển đổi gốc và lãi sang từ USD sang VND, thì số tiền lãi thu được chưa đủ để bù đắp rủi ro hối đoái

- Rủi ro về tín dụng

Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn Nếu tất cả các khoản đầu tư của ngân hàng được thanh toán đầy đủ cả lãi và gốc đúng hạn thì ngân hàng không chịu bất cứ rủi ro tín dụng nào Trong trường hợp người vay tiền bị phá sản, thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp rủi ro về tín dụng Rủi ro về tín dụng là kết quả của việc ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng và ngân hàng nhận được các giấy nhận nợ do con nợ phát hành với sự cam kết là sẽ thanh toán cả gốc và lãi đầy đủ và

Trang 24

đúng hạn cho ngân hàng Do đó, tại thời điểm cấp tín dụng và chấp nhận giấy nhận nợ, nghĩa là ngân hàng đã thừa nhận khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn của khách hàng với một xác suất cao, còn xác suất mất khả năng thanh toán của khách hàng là thấp hơn nhiều

- Rủi ro về tính thanh khoản

Rủi ro thanh khoản phát sinh khi những người gửi tiền đồng thời có nhu cầu rút tiền gửi ở ngân hàng ngay lập tức Trong những trường hợp như vậy, thì ngân hàng phải đi vay bổ sung nguồn vốn thanh toán hoặc phải bán tài sản có của mình để đáp ứng nhu cầu rút tiền của người gửi tiền Trong cơ cấu tài sản có, thì tiền mặt có độ thanh khoản cao nhất, do đó, trước hết, ngân hàng sử dụng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng Bởi vì tiền mặt tại quỹ không mang lại thu nhập lãi suất, cho nên, trong những trường hợp bình thường, ngân hàng chỉ duy trì một lượng tiền mặt ở mức tối ưu, đủ để đáp ứng các nhu cầu rút tiền thường xuyên của người gửi tiền, mà không gây ảnh hưởng đến độ thanh khoản của ngân hàng Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ngân hàng có thể phải đối với rủi ro về tính thanh khoản Ví dụ như trong tình huống dân chúng mất lòng tin vào ngân hàng, hoặc nhu cầu rút tiền có tính chất thời vụ mà ngân hàng không dự tính trước được, đòi hỏi ngân hàng phải chi trả tức thời một khoản tiền lớn hơn mức bình thường Trong trường hợp rủi ro về việc nếu tất cả những người gửi tiền đồng loạt yêu cầu ngân hàng chi trả toàn bộ tiền gửi của họ, thì dẫn đến ngân hàng chỉ đang từ chỗ chỉ phải đối phó với rủi ro về tính thanh khoản, thì kế tiếp ngân hàng còn phải đối mặt với rủi

ro bị phá sản

Ngoài ra, ngân hàng còn phải đối mặt với các rủi ro như : rủi ro hoạt động ngoại bảng, rủi ro công nghệ và hoạt động, rủi ro chính trị, quốc gia,…

Trang 25

1.3 Quản trị rủi ro ngân hàng - Các công cụ phòng ngừa cơ bản đối với các loại hình rủi ro của ngân hàng

1.3.1 Tổng quan về quản trị rủi ro ngân hàng

1.3.1.1 Khái niệm

Có người cho rằng quản trị rủi ro đồng nghĩa với việc mua bảo hiểm Nhưng có người cho rằng, cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro một cách toàn diện, và như vậy, với quan điểm này, gần như được sự tán thành của mọi người Vì vậy, với quan điểm là quản trị rủi ro toàn diện, người ta có thể khái quát về khái niệm về quản trị rủi ro như sau:

“Quản trị rủi ro là quá trình tiếp cận rủi ro một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống, nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất

mát, và những ảnh hưởng bất lợi khác của rủi ro”

1.3.1.2 Quản trị rủi ro

Công việc trọng tâm của quản trị rủi ro là kiểm soát rủi ro Kiểm soát rủi ro là việc sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động,…, để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi Người ta nói kiểm soát rủi ro là một nghệ thuật, bởi lẻ nó luôn đòi hỏi phải sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo Mỗi tổ chức có thể gặp những loại rủi ro khác nhau và tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của mình, họ cũng có những cách khác nhau để phòng tránh rủi ro Các biện pháp kiểm soát được chia thành các nhóm sau đây:

- Các biện pháp né tránh rủi ro

Trang 26

Né tránh rủi ro là việc né tránh những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể có Có thể né tránh bằng cách chủ động né tránh từ trước, hoặc né tránh bằng cách loại bỏ những nguyên nhân gây ra rủi ro

- Các biện pháp ngăn ngừa tổn thất

Ngăn ngừa tổn thất là sử dụng các biện pháp để làm giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại, thông qua: các biện pháp tập trung tác động vào chính mối nguy để ngăn ngừa tổn thất, hoặc sử dụng các biện pháp tập trung tác động vào môi trường rủi ro, hoặc sử dụng các biện pháp tập trung vào sự tương tác giữa mối nguy cơ và môi trường rủi ru(

- Các biện pháp giảm thiểu tổn thất

Đây là các biện pháp nhằm để giảm thiểu những thiệt hại, mất mát do rủi ro gây ra, bao gồm: việc cứu vớt những tài sản còn sử dụng được, hoặc thực hiện việc chuyển nợ, hoặc thực hiện việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch phòng ngừa rủi

ro, hoặc là thực hiện dự phòng hay phân tán rủi ro

- Các biện pháp chuyển giao rủi ro

Chuyển giao rủi ro có thể được thực hiện bằng cách: chuyển tài sản hoặc hoạt động có rủi ro đến cho người khác hay tổ chức khác Hoặc là thực hiện chuyển rủi ro thông qua con đường ký hợp đồng với người hay tổ chức khác, trong đó, quy định chỉ chuyển giao rủi ro, không chuyển giao tài sản cho người nhận rủi ro (ví dụ: mua bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu)

- Các biện pháp đa dạng rủi ro

Trang 27

Gần giống với kỹ thuật phân tán rủi ro, đa dạng hóa rủi ro thường được sử dụng trong hoạt động của doanh nghiệp, như đa dạng hoá thị trường, đa dạng hóa mặt hàng, sản phẩm, đa dạng hóa khách hàng,…, để phòng chống rủi ro

Như đã trình bày ở phần đầu của chương này, rủi ro có rất nhiều loại, rủi ro có thể xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi, và rủi ro có thể đến với bất cứ ai hay tổ chức nào

Do đó, dù có thực hiện việc phòng bị kỹ đến đâu, dù kiểm soát chặt chẽ đến như thế nào, thì cũng không thể né tránh, ngăn chặn hết tất cả mọi tổn thất Người ta chỉ có thể giảm thiểu hay ngăn chặn bớt rủi ro, chứ không thể né tránh, tiêu diệt được hết những hậu quả xấu Vì vậy, một khi tổn thất xảy ra, thì trước hết, nhà quản trị cần phải theo dõi, giám định tổn thất, xác định được chính xác những tổn thất về tài sản, về nguồn nhân lực, về giá trị pháp lý Tiếp theo đó, nhà quản trị cần phải xây dựng những biện pháp tài trợ rủi ro thích hợp thông qua hai nhóm biện pháp như sau:

- Tự khắc phục rủi ro (còn gọi là lưu giữ rủi ro), là phương pháp mà người hay

tổ chức bị rủi ro tự mình thanh toán các tổn thất Nguồn bù đắp rủi ro là nguồn tự có của chính tổ chức đó, cộng với các nguồn mà tổ chức đó đi vay và có trách nhiệm hoàn trả Để có thể tự khắc phục rủi ro một cách có hiệu quả, thì nhà quản trị của tổ chức đó nên lập quỹ tự bảo hiểm và lập kế hoạch tài trợ tổn thất một cách khoa học

- Chuyển giao rủi ro, đối với những tài sản hay đối tượng đã mua bảo hiểm, thì khi tổn thất xảy ra, việc đầu tiên phải làm là khiếu nại đòi bồi thường

Trên đây là ba nội dung chính của quản trị rủi ro mà các nhà quản trị cần quan tâm để có thể thực hiện phòng ngừa và quản lý rủi ro một cách hiệu quả nhất

1.4 Giới thiệu tổng quát về các công cụ phòng chống cơ bản đối với rủi ro ngân hàng

Trang 28

Hoạt động ngân hàng luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro Tính đa dạng và ảnh hưởng sâu rộng của các rủi ro là một khó khăn để các nhà quản trị ngân hàng đối mặt, chấp nhận chung sống với nó, với mục đích cuối cùng là giảm thiểu những tổn thất cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng Vì vậy, ngân hàng phải sử dụng một cách hiệu quả nhất thông qua những công cụ phòng ngừa đó là các nghiệp vụ phái sinh được nhiều ngân hàng ứng dụng, và xem chúng như những vũ khí tốt nhất để phòng ngừa và quản lý hiệu quả nhất các rủi ro có thể hoặc đang xảy ra đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sau đây là phần giới thiệu tổng quan các nghiệp vụ

phái sinh cơ bản được vận dụng trong lĩnh vực ngân hàng hiện nay

1.4.1 Hợp đồng giao ngay (Spot Contract)

Hợp đồng giao ngay là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm t = 0, khi người bán đồng ý giao tài sản cho người mua và người mua đồng ý thanh toán cho người bán trong vòng hai ngày làm việc, kể từ khi hợp đồng được ký kết Đặc điểm của hợp đồng giao ngay là sự trao đổi đồng thời và ngay lập tức giữa hàng hoá và tiền tệ, do đó các giao dịch giao ngay còn được gọi là giao hàng để đổi lấy thanh toán (Delivery versus Payment-D/P) Tuy nhiên, trong thực tế, theo tập quán thì các hợp đồng giao ngay thường được tất toán sau hai ngày ký kết hợp đồng

1.4.2 Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract)

Hợp đồng kỳ hạn hay hợp đồng mua bán trước là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm t = 0, rằng: người mua sẽ thanh toán cho người bán theo giá kỳ hạn đã được thỏa thuận và người bán sẽ trao hàng cho người mua tại thời điểm hợp đồng đáo hạn Hay nói cách khác, hợp đồng kỳ hạn: là một công cụ tài chính phái sinh đơn giản Đó là một thoả thuận mua hoặc bán một tài sản ( hàng hoá

Trang 29

hoặc các tài sản tài chính) tại một thời điểm trong tương lai với một giá đã xác định trước Đặc điểm của hợp đồng này là:

- Thông thường hợp đồng này được thực hiện giữa các tổ chức tài chính (TCTC) với nhau, hoặc giữa TCTC với các khách hàng là doanh nghiệp phi tài chính (các hợp đồng này thường được ký kết song phương)

- Trong hợp đồng này người mua được gọi là người giữ thế trường vị (long position), người bán được gọi là người giữ thế đoản vị (short position)

- Hợp đồng này chỉ được thực hiện khi đáo hạn: Đến thời điểm đáo hạn người giữ vị thế đoản vị phải thực hiện bán tài sản cho người giữ vị thế trường vị và nhận một khoản tiền từ người mua với mức giá cả đã định trước trong hợp đồng, cho dù vào thời điểm đó giá thị trường của tài sản đó có cao hơn hoặc thấp hơn giá xác định trong hợp đồng Nếu giá thị trường cao hơn giá hợp đồng thì người giữ vị thế trường

vị sẽ có lãi (có giá trị dương), còn người giữ vị thế đoản vị bị giá trị âm; và ngược lại

1.4.3 Hợp đồng tương lai (Future Contract)

Hợp đồng tương lai là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán tại thời điểm

t = 0, rằng : việc thanh toán và giao nhận hàng hóa được tiến hành tại một thời điểm xác định trong tương lai

Để hạn chế rủi ro biến động lãi suất trong tương lai, nhìn chung đòi hỏi các ngân hàng phải giữ vị thế trên thị trường trong tương lai đối nghịch với vị thế hiện thời trên thị trường giao ngay Như vậy, hợp đồng tương lai là rất giống với hợp đồng kỳ hạn Sự khác nhau giữa chúng là:

Trang 30

- Hợp đồng tương lai được giao dịch một cách có tổ chức trên sở giao dịch, trong khi đó, hợp đồng kỳ hạn là sự thỏa thuận song phương, được giao dịch trên thị trường phi tổ chức (Over The Counter-OTC)

- Giá của hợp đồng kỳ hạn được ấn định cố định trong suốt thời hạn của hợp đồng

Trong khi đó, đối với hợp đồng tương lai, giá của hợp đồng được điều chỉnh hàng ngày theo điều kiện của thị trường (Market - To - Market) Điều này có nghĩa là giá của hợp đồng tương lai được điều chỉnh hàng ngày để phản ánh những thay đổi của các lực lượng cung cầu trên thị trường Do đó, hàng ngày, người mua và người bán phải quyết toán với nhau những thay đổi giá trị của hợp đồng để phù hợp với sự thay đổi của thị trường

- Các hợp đồng kỳ hạn là các hợp đồng tùy ý, phụ thuộc vào sự thỏa thuận giữa người mua và người bán (Tailor-Made Contracts); trong khi đó, các hợp đồng tương lai lại là những hợp đồng được tiêu chuẩn hóa (Standardised Contracts)

- Các hợp đồng kỳ hạn là những hợp đồng song phương, là đối tượng chịu rủi ro tín dụng của đối tác tham gia hợp đồng ; trong khi đó, rủi ro tín dụng đối với các hợp đồng tương lai được giảm một cách đáng kể, bởi sự bảo đảm của sở giao dịch tương lai

1.4.4 Hợp đồng quyền chọn (Option Contract)

Có hai loại hợp đồng quyền chọn: Hợp đồng quyền chọn mua (Call Option)và hợp đồng quyền chọn bán (Put Option) Hợp đồng quyền chọn mua là thoả thuận cho phép người cầm hợp đồng có quyền mua sản phẩm từ một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng Còn hợp đồng quyền bán là thỏa thuận

Trang 31

cho phép người cầm hợp đồng có quyền bán sản phẩm cho một nhà đầu tư khác với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn của hợp đồng

Đặc điểm của hợp đồng quyền chọn: khác với hợp đồng mua bán trước và hợp đồng mua bán tương lai, hợp đồng quyền chọn không bắt buộc các bên phải giao sản phẩm Hợp đồng chỉ quy định quyền giao hay nhận, mà không bắt buộc thực hiện nghĩa vụ của mình Người mua quyền có thể: thực hiện quyền, hay bán quyền cho một người mua khác; hay không thực hiện quyền Để có quyền này, khi ký hợp đồng, người cầm hợp đồng phải trả quyền phí; giá trong hợp đồng được gọi là giá thực hiện; ngày định trong hợp đồng gọi là ngày đáo hạn hay ngày thực hiện Có hai kiểu thực hiện hợp đồng quyền chọn, đó là thực hiện hợp đồng quyền chọn theo kiểu Mỹ và theo kiểu châu Âu Theo kiểu Mỹ là thực hiện quyền chọn vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày đáo hạn Theo kiểu Châu Âu là thực hiện quyền chọn chỉ trong ngày đáo hạn Hiện nay trên các thị trường chứng khoán hầu hết thực hiện theo kiểu Mỹ

Một điểm đáng chú ý là: trong khi người mua hợp đồng lựa chọn (Call Option) mong muốn giá của sản phẩm hợp sẽ tăng lên trong ngày đáo hạn thì người mua hợp đồng lựa chọn (Put Option) lại hy vọng giá xuống Nếu cao hơn giá định trước, họ sẽ từ chối quyền bán và chịu mất quyền phí Và do đó, việc từ chối hay không từ chối quyền khi giá ngày đáo hạn cao (hay thấp) hơn cũ sẽ được các nhà đầu tư tính toán trên cơ sở mức độ chênh lệch giữa giá định trước với giá ngày đáo hạn và quyền phí Các hợp đồng quyền chọn thường được giao dịch trên thị trường chứng khoán hoặc

thị trường phi chính thức

Trang 32

1.4.5 Hợp đồng hoán đổi (Swap)

Hợp đồng hoán đổi là một hợp đồng trong đó hai bên thoả thuận trao đổi nghĩa vụ thanh toán Thông thường giao dịch này bao gồm việc thanh toán lãi, và trong một số trường hợp là việc thanh toán nợ gốc Giao dịch hoán đổi lãi suất và hoán đổi ngoại tệ là sản phẩm của thị trường phi tập trung (OTC) được kết hợp trực tiếp giữa hai ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng với khách hàng Theo đó không có một mẫu chuẩn của hợp đồng giao dịch hoán đổi và các hợp đồng kiểu này sẽ khác nhau về một số nội dung

Đối với các hợp đồng hoán đổi lãi suất, trước khi các giao dịch hoán đổi xuất hiện, bên vay và bên cho vay thường bị giới hạn ở lãi suất cố định hoặc lãi suất thả nổi, cấp vốn hoặc cho vay trên cơ sở tiền mặt Nhà đầu tư hoặc ngân hàng sẽ gặp phải sự không tương xứng về lãi suất giữa tài sản có và tài sản nợ Ví dụ công ty vay lãi suất cố định , nhưng lại đầu tư vào thị trường lãi suất thả nổi, chắc chắn sẽ bị lỗ khi lãi suất giảm do không có khoản tăng thu nhập từ tài sản có lãi suất thả nổi Giao dịch hoán đổi được tạo ra để xử lý những sự không tương xứng này, tạo cho ngân hàng, doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn các dòng lưu chuyển tiền tệ của mình

Khi mới xuất hiện công cụ này vào đầu thập kỷ 1980, các ngân hàng dàn xếp các giao dịch hoán đổi cho các bên cụ thể có nhu cầu cần bổ sung cho nhau Các ngân hàng thu được phí do làm đại diện trong các giao dịch này Thị trường càng phát triển, ngân hàng tham gia với vai trò chủ chốt, thực hiện những bù trừ tất cả các trạng thái với các bên ngang nhau và đối nghịch

Trên đây là những công cụ phái sinh được sử dụng cho việc phòng ngừa các rủi

ro có thể xảy ra đối với các ngân hàng thương mại Trong số đó, rủi ro về lãi suất đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là một vấn đề được đề cập rất

Trang 33

nhiều trong giai đoạn hiện nay, khi mà cơ chế về lãi suất được vận dụng thả nổi theo thị trường, từ đó tạo ra những thay đổi lớn trong nhiều hoạt động của ngân hàng Và

do vậy, đối với các ngân hàng thương mại, việc vận dụng các công cụ phái sinh, được giới thiệu khái quát ở phần tiếp theo dưới đây, sẽ là những kiến thức rất hữu ích để giúp cho các ngân hàng thương mại thực hiện phòng ngừa rủi ro lãi suất, và trên cơ sở đó, nó sẽ giúp ngân hàng chủ quản lý được mọi tình huống thay đổi có thể xảy ra nhằm giúp cho hoạt động của ngân hàng luôn ổn định và phát triển bền vững

1.5 Quản trị và lượng hóa rủi ro về lãi suất đối với các ngân hàng thương mại

Trong số những rủi ro mà các ngân hàng thương mại sẽ có nguy cơ đối mặt, thì rủi ro về lãi suất là một vấn đề đang được các ngân hàng thương mại quan tâm nhiều nhất, bởi sự ảnh hưởng của nó có thể gây nên những hậu quả khó lường cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Do vậy, các ngân hàng không ngừng xây dựng cho mình các biện pháp phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất nhằm tránh những tổn thất do sự thay đổi của lãi suất trên thị trường Vì vậy, để có thể phòng ngừa một cách có hiệu quả, các ngân hàng thương mại cần phải thực hiện việc lượng hóa các rủi ro lãi suất để từ đó, xây dựng các chiến lược kinh doanh hợp lý để giữa vững thế cân đối giữa tài sản có và tài sản nợ, nhưng vẫn đạt hiệu quả trong chỉ tiêu lợi nhuận

Để phòng ngừa rủi ro lãi suất, đòi hỏi các ngân hàng phải tăng cường công tác quản lý, đặc biệt là áp dụng phương pháp hiện đại để lượng hóa rủi ro lãi suất có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh Hiện nay, trên thế giới có 3 mô hình lượng hóa rủi ro lãi suất đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là:

1.5.1 Mô hình định giá lại (the Repricing model)

Trang 34

Nội dung của mô hình định giá lại là việc phân tích các luồng tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ, nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định

Các ngân hàng tính số chênh lệch giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng kỳ hạn và đặt chúng trong mối quan hệ với độ nhạy cảm lãi suất thị trường Theo đó, độ nhạy cảm của lãi suất trong trường hợp này chính là khoảng thời gian mà tài sản có và tài sản nợ được đánh giá lại theo mức lãi suất mới của thị trường

Những hạn chế của mô hình định giá lại:

- Mô hình định giá lại chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không đề cập đến giá trị thị trường của chúng Do đó, mô hình này chỉ phản ánh một phần rủi ro lãi suất đối với ngân hàng mà thôi

- Vấn đề phân nhóm tài sản theo một khung kỳ hạn nhất định có thể phản ánh sai lệch thông tin về cơ cấu các tài sản có và tài sản nợ Ví dụ, giá trị tài sản có và tài sản nợ trong cùng một nhóm có cùng một kỳ hạn đến hạn, có thể chúng là bằng nhau, nhưng tài sản nợ có thể được định giá tại thời điểm cuối của kỳ định giá, và trong lúc đó, tài sản có lại được định giá lại tại thời điểm đầu của kỳ định giá lại

1.5.2 Mô hình thời lượng (the Duration model)

Đây là mô hình được ứng dụng nhiều ở một số quốc gia tiên tiến trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản có Tuy nhiên để ứng dụng mô hình này, các ngân hàng phải cơ cấu lại bảng cân đối tài sản bao gồm một danh mục tài sản lớn và phức tạp, có thể tốn kém về mặt thời gian và tiền bạc Vì vậy, mô hình này chưa thích ứng với những điều kiện còn non yếu về mặt kỹ thuật và về quy mô khả năng thực hiện

Trang 35

Trong 3 mô hình được giới thiệu trên, thì mô hình định giá lại và mô hình thời lượng được các nước trên thế giới cũng ứng dụng một số nội dung của trong việc lượng hóa những rủi ro lãi suất đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, đối với các mô hình này, việc ứng dụng nó vào việc lượng hóa các rủi ro lãi suất ở Việt Nam có một số hạn chế nhất định, do các ngân hàng trong nước chưa đủ điều kiện để có thể đưa nó vào ứng dụng Tuy nhiên, một mô hình tương đối đơn giản, mang tính trực quan để có thể lượng hóa rủi ro lãi suất trong hoạt động kinh doanh

ngân hàng đó là mô hình kỳ hạn đến hạn

1.5.3 Mô hình kỳ hạn đến hạn (the Maturity model)

Để ứng dụng mô hình này, các nhà quản lý ngân hàng thường sử dụng nó để lượng hóa rủi ro đối với một danh mục tài sản có và tài sản nợ Do vậy, trước hết, người ta phải tính được kỳ hạn bình quân của danh mục tài sản

Mô hình kỳ hạn đến hạn

Gọi M A là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản có;

và M L là kỳ hạn đến hạn bình quân của danh mục tài sản nợ, ta có:

- W Ai là tỷ trọng và M Ai là kỳ hạn đến hạn của tài sản có i

- W Lj là tỷ trọng và M Lj là kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ j

- n, m là số loại tài sản có và nợ phân theo kỳ hạn

Những qui tắc chung trong việc quản lý rủi ro lãi suất đối với một tài sản cũng có giá trị đối với một danh mục tài sản, đó là:

Trang 36

- Một sự tăng hay giảm lãi suất thị trường đều dẫn đến một sự giảm hay tăng giá trị danh mục tài sản

- Khi lãi suất thị trường tăng hay giảm , thì danh mục tài sản có kỳ hạn càng dài, sẽ giảm hay tăng giá càng lớn

Trên cơ sở kết luận này, chúng ta tiến hành lượng hóa rủi ro lãi suất đối với một ngân hàng qua ví dụ dưới đây:

Đối với các ngân hàng thương mại ngày nay, cơ cấu kỳ hạn của bảng cân đối

tài sản thường ở trạng thái M A > M L, nghĩa là kỳ hạn trung bình của tài sản có thường lớn hơn kỳ hạn trung bình của tài sản nợ Điều này xảy ra là vì, một mặt, các ngân hàng ngày càng có xu hướng đầu tư vào các tài sản có kỳ hạn dài, mặt khác, vốn huy động thường là ngắn hạn Giả sử, trạng thái ban đầu của bảng cân đối tài sản của ngân hàng như sau:

Tài sản có (đv:VND) Tài sản nợ (đv:VND)

Tài sản có (kỳ hạn dài) A=100 Vốn huy động(kỳ hạn ngắn) L= 900

Vốn tự có E= 100 Cộng 100 Cộng 100

Như phần trên đã phân tích, khi lãi suất thị trường tăng, thì thị giá của tài sản có và tài sản nợ đều giảm, nhưng do tài sản có có kỳ hạn dài hơn vốn huy động, nên thị giá tài sản có (A) sẽ giảm nhiều hơn so với vốn huy động (L) Mức thay đổi vốn tự có được xác định là chênh lệch giữa tài sản có và vốn huy động và được xác định như sau:

Trang 37

E = ∆ A − ∆ L

Giả sử tài sản có có thời hạn trung bình là 3 năm, mức sinh lời là 10%; vốn huy động có kỳ hạn trung bình là 1 năm, mức lãi suất huy động vốn là 10%/năm (trong thực tế ngân hàng cho vay với lãi suất cao hơn lãi suất huy động, ở đây để đơn giản và có sự so sánh trực quan, nên giả thiết rằng chúng bằng nhau) Nếu lãi suất thị trường tăng từ 10% lên 11%, thì thị giá của tài sản có giảm 2,44% Trong khi đó, vốn huy động chỉ giảm 0.90% Rủi ro lãi suất đối với ngân hàng như sau:

Hay: ∆ E = ∆ A − ∆ L = (-2,44) - (10.81) = -1.63

Như vậy, do không cân xứng về kỳ hạn, thì chỉ cần lãi suất tăng 1% cũng đủ để các cổ đông phải chịu thiệt hại 1,63 VND trên 10 VND vốn tự có, hay vốn tự có giảm 16.3% Do đó, có thể nhận xét, khi suất thay đổi, đến một mức độ nào thì đủ để ngân hàng rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán cuối cùng, tức là để cho vốn tự có giảm xuống thấp hơn hoặc bằng 0, hay E ≤ 0 Để trả lời cho câu hỏi này, trên cơ sở ví dụ vừa nêu trên, nhà quản lý cần giải bất phương trình sau đây:

E

∆ = {(

)1(

10

R

+ +

)1(

10

R

+ 2 +

)1(

110

R

+ 3 ) - 100 } - (

)1(

99

R

+ - 90) ≤ - 10

Giải bất phương trình, ta tìm được mức lãi suất thị trường phải tăng lên ở mức R

17% Tại mức lãi suất thị trường là 17%, vốn tự có sẽ làm giảm hơn 10 VND,

Tài sản có (đv:VND) Tài sản nợ (đv:VND)

Tài sản có (kỳ hạn dài) A=97.56 Vốn huy động (kỳ hạn ngắn) =89.19

Vốn tự có E=8.37

Trang 38

nghĩa là ngân hàng đã thực sự không còn khả năng thanh toán cuối cùng, được thể hiện như sau:

Mô hình kỳ hạn đến hạn có hạn chế là không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng tài sản có và tài sản nợ, cho nên mô hình này còn có những khiếm khuyết nhất định Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình này là đơn giản và trực quan, nên đã được các ngân hàng sử dụng khá phổ biến, và do đó nó cũng phù hợp với các ngân

hàng Việt Nam hiện nay

Tài sản có (đv:VND) Tài sản nợ (đv:VND)

Tài sản có (kỳ hạn dài) A=84.53 Vốn huy động (kỳ hạn ngắn) L=84.62

Vốn tự có E=-0.09

Trang 39

1.5.4 Phương pháp phân tích sự ảnh hưởng của sự thay đổi của lãi suất đến thu nhập và chi phí

Phương pháp này có thể giúp các ngân hàng lượng hóa được rủi ro lãi suất có điều kiện vận dụng, dựa trên sự phân tích những ảnh hưởng của sự thay đổi lãi suất đến thu nhập và chi phí

Phân tích sự ảnh hưởng của sự thay đổi của lãi suất đến thu nhập và chi phí:

Phân tích các thông số tài chính:

+ Vòng quay vốn tín dụng

Vòng quay vốn xác định tính lỏng của các tài sản có: cho vay và đầu tư kinh doanh khác Vòng quay vốn càng lớn thì các tài sản có này càng lỏng Khi có biến động về lãi suất trên thị trường thì mức rủi ro xảy ra sẽ ít hơn vì ngân hàng dễ chuyển đổi các tài sản lỏng đó ra dạng khác, tuy nhiên, những tài sản nào có tính lỏng cao thường kém khả năng sinh lời Tỷ trọng cho vay ngắn hạn (hoặc trung hạn - dài hạn) trên tổng dư nợ có liên quan trực tiếp với vòng quay của vốn tín dụng Nếu một ngân hàng có tỷ trọng cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ lớn thì vòng quay vốn tín dụng sẽ lớn Do vậy, trong một số trường hợp cụ thể, ta có thể xem xét tỷ trọng cho vay ngắn hạn trên tổng dư nợ thay cho việc tính vòng quay vốn tín dụng Vòng

quay vốn tín dụng được xác định như sau:

+ Vòng quay vốn huy động

Doanh số cho vay và đầu tư khácVòng quay vốn tín dụng = -

Dư nợ bình quân

Trang 40

Vòng quay vốn huy động xác định tính ổn định của nguồn vốn Nguồn vốn càng ổn định thì khả năng chủ động trong điều hành cơ cấu tài sản có càng cao Hiện nay,

ở các nước đang phát triển nói chung và VN nói riêng, do thu nhập thấp nên tích lũy chưa cao cộng với thị trường tài chính - tiền tệ thiếu ổn định; việc huy động vốn trung - dài hạn bị hạn chế ảnh hưởng đến cho vay trung, dài hạn - là cho vay đầu tư chiều sâu nhằm thực hiện chính sách tạo cầu tín dụng Vì khi doanh nghiệp thiếu vốn đầu tư chiều sâu, công nghệ lạc hậu, năng lực cạnh tranh kém, hiệu quả kinh doanh thấp làm cho nhu cầu có khả năng thanh toán về vốn của các doanh nghiệp không cao Trong điều kiện đó, đòi hỏi ngân hàng cần có biện pháp kích cầu bằng việc mở rộng cho vay trung, dài hạn Nhưng để mở rộng cho vay trung, dài hạn yêu cầu phải có tính ổn định tương đối của nguồn vốn.Vòng quay vốn huy động được tính theo công thức:

Từ 2 chỉ tiêu tài chính trên, ta tính được các chỉ tiêu sau:

Tổng doanh số huy đđộng Vòng quay vốn huy động = -

Số huy động bình quân

Vòng quay vốn tín dụng năm Khoảng thời gian tồn tại = - trung bình của các món vay 12 tháng

Vòng quay vốn huy động năm Khoảng thời gian tồn tại = -trung bình của vốn huy động 12 tháng

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Cơ cấu tổ chức hệ thốngVietcombank - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Sơ đồ 2 Cơ cấu tổ chức hệ thốngVietcombank (Trang 45)
Bảng 1: Kết quả hoạt động kinh doanh Năm 2004-2005 - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 1 Kết quả hoạt động kinh doanh Năm 2004-2005 (Trang 53)
Bảng 2:  Lãi suất cơ bản do Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 2 Lãi suất cơ bản do Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam công bố (Trang 58)
Bảng 3: Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ                                          (Hiệu lực từ ngày 19/06/2006) - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 3 Lãi suất tiền gửi tiết kiệm ngoại tệ (Hiệu lực từ ngày 19/06/2006) (Trang 63)
Bảng 5: Cơ cấu huy động vốn qua các năm - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 5 Cơ cấu huy động vốn qua các năm (Trang 64)
Bảng 6 Bảng lãi suất cho vay ngoại tệ - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 6 Bảng lãi suất cho vay ngoại tệ (Trang 70)
Bảng 7a: Lãi suất cho vay Việt Nam đồng - Phòng ngừa và quản lý rủi ro về lãi suất trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngoại thương việt nam
Bảng 7a Lãi suất cho vay Việt Nam đồng (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w