Đề tài : Vấn đề lý luận chung về công ty xuyên quốc gia
Trang 1I phần mở đầu
Trong thời đại ngày nay, thế giới đang hớng về một thời đại toàn cầuhoá Sau khi trải qua quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở thế kỷ 20,thế kỷ 21 với những bớc tiến liên tục trong công nghệ tin học và thông tin làmnòng cốt, chắc chắn sẽ định hình lại một cách cơ bản cuộc sống của tất cả mọingời trên thế giới
Trong giai đoạn này, sự phát triển liên tục và mạnh mẽ của sức sản xuấtxã hội, sự phân công lao động và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia cónền kinh tế với trình độ phát triển khác nhau những khác biệt về địa lý, nguồntài nguyên thiên nhiên, con ngời, công nghệ ngày càng cao và gia tăng Bởivậy xu hớng hội nhập lại là đặc trng của thời kỳ này, đồng thời sự phát triểnkinh tế của mỗi quốc gia, cho dù là nớc công nghiệp hay nớc đang phát triển,
đều chịu chi phối ở mức độ khác nhau bởi các công ty xuyên quốc gia Công
ty xuyên quốc gia là hiệu quả của sự vận động cao của quan hệ sản xuấtTBCN, là xu hớng vận động tất yếu khách quan, phù hợp với tiến trình pháttriển công nghiệp hiện đại và mở rộng nền kinh tế thị trờng trên phạm vi toàncầu Chính vì vậy các công ty xuyên quốc gia đã trở thành chủ đề thu hút sựquan tâm của không chỉ các học giả, mà cả các doanh nhân và chính kháchcủa hầu hết các quốc gia
Trong quá trình hoàn thành đề tài ,do thời gian, tài liệu tham khảo vàtrình độ có hạn nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.Vì vậy em rất mong
có sự đóng góp của các thầy cô và của các bạn.Em xin chân thành cảm ơn thầygiáo Mai Hữu Trực đã tận tình giúp đỡ em trong quá trình hoàn thành đề tàinày.
Trang 2II nội dung
A Những vấn đề lý luận chung về các công ty xuyên quốc gia.
1 Khái niệm các công ty xuyên quốc gia:
Có rất nhiều quan niệm khác nhau để nói về các tổ chức đôc quyền xuyênquốc gia , đồng thời cũng xuất hiện nhiều tên gọi khác nhau để nói về các tổchức hoạt động kinh doanh quốc tế nh các công ty xuyên quốc gia, các công ty
đa quốc gia, các công ty siêu quốc gia Nhng có thể hiểu các tổ chức độcquyền xuyên quôc gia nh sau:
Trang 3C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ rằng :Tự do cạnh tranh sinh ra tích tụ và tập trung sản xuất, tích tụ và tập trung sản xuất đến một mức độ nào đấy
sẽ dẫn đến độc quyền
Do sự phát triển của lực lợng sản xuất, của khoa học và công nghệ nên đã diễn ra quá trình hình thành những sự liên kết giữa các độc quyền theo hai chiều dọc và ngang cả ở trong nớc và ngoài nớc Do đó xuất hiện các công ty xuyên quốc gia.
Các công ty xuyên quốc gia, về xuất xứ , là những công ty t bản độc quyền của một quốc gia, thực hiện việc bành trớng quốc tế bằng hình thức thiết lập một hệ thống chi nhánh ở nớc ngoài – nhằm phân chia thị trờng thế giới và tìm kiếm lợi nhuận độc quyền.
2 Sự hình thành và phát triển của các công ty xuyên quốc gia:
ớc Một trong những nhân tố thúc đẩu quá trình tập trung t bản, đó là tín dụng
Trang 4Vai trò của tín dụng và Công ty cổ phần đối với việc mở rộng quy mô xínghiệp và sự hình thành thị trờng quốc tế đã đợc C.Mác nói đến trong bộ Tbản – C.Mác nhận xét:” Là cơ sở chủ yếu của việc chuyển hoá dần dầnnhững xí nghiệp t nhân TBCN, chế độ tín dụng đồng thời cũng là một phậm vitoàn quốc ít nhiều rộng lớn” Và “Nh vậy chế độ tín dụng đẩy nhanh tốc độphát triển vật chất của các lực lợng sản xuất và sự hình thành một thị trờng thếgiới” (1) Đồng thời C.Mác và Anghen cũng khẳng định rằng độc quyền sinh ta
từ tự do cạnh tranh nhng không phủ định nó Tuy nhiên ở thời kỳ lịch sử màhai ông đợc chứng kiến, độc quyền cha phải là hiệu tợng phổ biến, mà nó mớichỉ xuất hiện ở một vài nớc TBCN phát triển nhất nh Mỹ, Anh và Đức
Kế thừa và phát triển học thuyết của C.Mác và Anghen, và bằng việc nghiêncứu sự phát triển của CNTB ở cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX Lênin đã rút
ra kết luận hết sức quan trọng Đó là: “việc tập trung sản xuất đẻ ra các tổchức độc quyền thì nói chung lại là một quy luật phổ biến và cơ bản trong giai
đoạn hiện nay của CNTB” và Ngời cho rằng việc CNTB mởi – chủ nghĩa đếquốc trong đó độc quyền giữ địa vị thống trị – thay thế CNTB cũ, trong đóchế độ tự do cạnh tranh thống trị, là đặc trng (hay biểu hiện) cơ bản nhất củagiai đoạn phát triển hiện đại của CNTB Nó nói lên bản chất kinh tế của CNTBtrong giai đoạn phát triển mới, trong đó quan hệ sản xuất TBCN vận động dớihình thức mới, trong đó cái vỏ vật chất của nó là tổ chức độc quyền
Một đặc trng nổi bật trong giai đoạn độc quyền là sự cùng tồn tại đan xebn lẫnnhau giữa độc quyền quốc gia và quốc tế Về mặt lịch sử, các tổ chức độcquyền quốc tế đã tồn tại ngay trong thời kỳ t bản tự do cạnh tranh thống trị tức
là trớc chủ nghĩa đế quốc, có thể nói cách đây trên 200 năm và xuất phát từcác nớc Châu Âu, trong đó Anh, Hà Lan, Pháp là chủ yếu Các tổ chức độc
1 Kinh tế thế giới số 11/1997 tr.38
Trang 5quyền này ra đời là do sự phát triển của quan hệ buôn bán thế giới Các nớc tbản phát triển nha Anh, Pháp, Hà Lan đã có những Công ty hàng hải và buônbán quốc tế Nh Công ty Đông Âu từng có mặt ở một số nớc Châu á nhInđonêxia, ấn Độ, Malaixia vào những năm đầu của thế kỷ XIX Việc mở rộngquan hệ buon bán, chiếm lĩnh thị trờng quốc tế là yêu cầu tất yếu và kháchquan của chính phơng thức sản xuất TBCN C.Mác đã khẳng định: Sự pháttriển của phơng thức sản xuất là phải có thị trờng ngày càng rộng lớn hơn Đặcbiệt trong thời đại sản xuất bằng máy móc hiện đại chiếm qu thế thì xu thếquốc tế hoá đời sống kinh tế, trớc hết là quốc tế hoá việc trao đổi hàng hoá trởthành một xu thế “không thể cỡng nổi”
Cùng với sự phát triển quan hệ buôn bán quốc tế làm cho các Công ty t bảnliên minh với nhau sản xuất hàng hoá trên thị trờng thế giơí, hình thành nêncác Công ty độc quyền quốc tế thì vai trò của tín dụng và sự xuất hiện cácCông ty cổ phần cũng chính là nguyên nhân làm xuất hiện các Công ty độcquyền quốc tế mà Anghen đã từng nhận xét: ” Trong các nớc, những nhà đạicông nghiệp trong ngành nhất định nào đó đã họp nhau lại để lập những cáctennhằm mục đích điều tiết việc sản xuất ” Một uỷ ban đợc đặt ra để ấn định chomỗi xí nghiệp số lợng hàng đợc sản xuất, và để phân phối với quyền tối hậuquyết định những đơn đặt hàng đã nhận đợc Song sự khác nhau căn bản giữacác tổ chức độc quyền quốc tế trớc thời đại đế quốc chủ nghĩa và các tổ chức
độc quyền quốc tế trong thời đại đế quốc chủ nghĩa là ở việc đấu tranh để phânchia thế giới về mặt kinh tế Đặc trng của CNĐQ là ở chỗ khác nhau, mà từthế kỷ XX trở về trớc cha từng có, đó là: các tơrớt quốc tế phân chia các nớc đ-
ợc coi là khu vực tiêu thụ hàng hoá Vì vậy sự hình thành các tổ chức độcquyền nói chung và các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia nói riêng phải xuấtphát từ sự tích tụ và tập trung sản xuất Tích tụ va tập trung sản xuất đạt đếnmột độ nhất định làm cho các tổ chức độc quyền quốc gia vơn ra khỏi biên
Trang 6giới quốc gia hoạt động trên phạm vi quốc tế, thực hiện phân chia thế giới vềmặt kinh tế (thị trờng ).
Tích tụ và tập trung sản xuất dẫn đến hình thành các tổ chức độc quyền là mộtquy luật Mặc dù có sự khác nhau về điều kiện kinh tế , xã hội giữa các nớc tbản Nhng những sự khác nhau ấy chỉ quyết định tới mức độ không đáng kể vềhình thức các tổ chức độc quyền mà thôi, còn quy luật đó vẫn không hề thay
đổi Lịch sử hình thành các tổ chức độc quyền ở các nớc TBCN đã chứng minh
điều đó và đã đợc V.I Lênin phân tích một cách toàn diện trong tác phẩm
“Chủ nghĩa đế quốc – giai đoạn tột cùng của CNTB” Ngày nay quá trình tích
tụ và tập trung sản xuất có nhiều biểu hiện mới đã đợc phân tích dới nhiều góc
độ khác nhau trong sách báo quốc tế mà điểm nổi bật là từ sau chiến tranh thếgiới thứ II đến nay đã xuất hiện quá trình tích tụ và tập trung sản xuất cao độ,hình thành những Công ty cực lớn thống trị trong các ngành Đồng thời xuấthiện quá trình liên hợp hoá và sự hìh thành các công xoocxiom đa ngành.Cùng với quá trình đó là quá trình chuyên môn hoá với tích cách là kết quảcủa sự phát triển phân công lao động xã hội mà quá trình này đã diễn ra thôngqua toàn bộ lịch sử phát triển của CNTB Nhng chỉ đến giai đoạn độc quyềnthì sự chuyên môn hoá mới có vai trò mới, tạo ra những điều kiện cho sự pháttriển ucả những Công ty độc quyền chủ chốt, chung thân thâu tóm hàng nghìn,hàng vạn xí nghiệp trung bình và nhỏ bao quanh chung (về hình thức vẫn giữtính độc lập về mặt pháp lý của Công ty độc quyền) Các đơn vị nhỏ này trớchết phải chịu hậu quả của những biến đổi kinh tế và những rủi ro của việc phâncông chuyên môn hoá Sau nữa sự tồn tại của chúng cho phép giới độc quyềnNhà nớc huy động đợc toàn bộ lực lợng lao động và mọi tiềm năng của xã hộivào quá trình sản xuất, kỹ thuật trong nớc Cuối cùng sự khác biệt về chế độtiền lơng và bảo hiểm của chúng tạo điều kiện cho các Công ty chủ đạo kiếmthêm giá trị thặng d Cùng với quá trình tích tụ và hình thức mới trong xuất
Trang 7khẩu t bản, có thể kết luận: tập trung sản xuất có bớc phát triển mới thì xuấtkhẩu t bản cũng đợc đẩy mạnh và trở thành cơ sở kinh tế quan trọng của sựbành trớc đế quốc chủ nghĩa Trong những năm gần đây xuất khẩu t bản tănglên một cách mạnh mẽ Đầu t trực tiếp tăng cùng với các hình thức chuyểngiao công nghệ, cho vay vốn và các Công ty độc quyền quốc gia đã bành tr-ớng vào nền kinh tế của các nớc t bản phát triển cũng nh đang phát triển bằnghình thức mở chi nhánh Trên cơ sở đó hình thành hàng loạt các Công tyxuyên quốc gia Từ sự phân tích trên chúng ta có thể rút ra một số nhận xét vềbiểu hiện mới của tích tụ sản xuất trong giai đoạn hiện nay.
Một là, quá trình tích tụ sản xuất diễn ra song song với quá trình tích tụ quyềnlực kinh tế Tích tụ sản xuất tạo ra những liên hiệp các xí nghiệp và xí nghiệpliên hợp cực lớn, nhng lại bao gồm một hệ thống các xí nghiệp vừa và nhỏ nàythuộc về tài chính, kỹ thuật vào những xí nghiệp đầu đàn Nhìn chung ở cácnớc TBCN phát triển nh Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp, số xí nghiệp vừa và nhỏ,thậm chí kể cả gia đình nằm trong guồng máy sản xuất, thực hiện sự kiểm soáttài chính, kỹ thuât và nằm trong hệ thống phân công lao động theo kiểu côngtrờng thủ công, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi cho t bản sinh lời Đồngthời về mặt tổ chức sản xuất, đây cũng là hình thức tỏ rõ tính hiệu quả cao, vìgiảm đợc chi phí sản xuất, tận dụng đợc mọi khả năng, nguyên liệu, phát huytính năng động sáng tạo do đó làm tăng quy mô và tỷ suất lợi nhuận
Hai là, quá trình tích tụ sản xuất cũng dẫn đến sự hình thành các tổ chức độcquyền Song độc quyền hiện đại mang nhiều dấu ấn của thời đại cách mạngkhoa học kỹ thuật hiện đại Trớc hết sự liên hiệp hoá có nhiều biểu hiện sinh
động Sự liên kết ngang và dọc đợc đẩy mạnh hơn bao giờ hết, dẫn đến quátrình liên kết đa ngành, trong đó lĩnh vực dịch vụ, ngân hàng đợc các tổ chức
Trang 8độc quyền quan tâm và bành trớng quyền lực, nó đã đa đến sự hình thành củaconglomerate.
Ba là, quá trình tích tụ sản xuất trong nông nghiệp ngày càng đợc đẩy mạnh,
đa đến việc xuất hiện các hình thức liên hợp nông – công nghiệp, nông –thơng nghiệp, cùng với sự tác động của cách mạng khoa học kỹ thuật đã đa
đến hiện tợng cấu tạo hữu cơ tăng leen và làm giảm ý nghĩa của địa tô tuyệt
đối, tạo ra mối liên hệ ngày càng tăng giữa công – nông nghiệp, đẩy mạnh xuhớng giảm tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấu lao động cũng nh trong tổng sảnphẩm quốc dân Hiện nay chỉ còn khoảng 2 – 10%, thậm trí tỷ trọng đó cònthấp hơn ở các nớc TBCN
Qua những nhận xét trên ta thấy rõ rằng chỉ có quá trình tích tụ t bản và tậptrung sản xuất mới đa đến sự hình thành các Công ty xuyên quốc gia Bởi đóchính là quá trình tạo ra cơ sở vật chất cho sự bành trớng, giúp cho các tập
đoàn t bản có khả năng hiện thực vợt ra khỏi biên giới quốc gia, thoả mãn việctìm kiếm lợi nhuận cao – vốn là mục tiêu bất di bất dịch của nó Đúng nh V.ILênin đã nhận xét: “Tổ chức độc quyền một khi đã thao túng hàng tỷ, thì tuyệt
đối nhất thiết là nó phải thâm nhập các lĩnh vực đời sống xã hội, bất kể chế độchính trị ”
Trong thời đại t bản tài chính t bản độc quyền công nghiệp và ngân hàng có sựdung hợp cả về kết cấu, càng làm cho thế lực t bản độc quyền tăng lên, xu h-ớng “thừa” t bản trở thành phổ biến, tất yếu phải thực hiện đầu t ra nớc ngoài
để kiếm lợi nhuận bằng con đờng xuất khẩu t bản
Song tình hình thế giới từ nửa cuối thế kỷ XX, nhất là sai chiến tranh thế giớithứ II, đã có thay đổi cơ bản Sự thay đổi đó gây ra những khó khăn, hạn chế,
Trang 9nhng mặt khác lại tạo ra những yếu tố khách quan thúc đẩy CNTB độc quyền
mở rộng hình thức kinh doanh xuyên quốc gia để dễ bề thực hiện đầu t xâydựng các cơ sở sản xuất ở nớc ngoài
Vào những năm 60 của thế kỷ XX hàng loạt các nớc ở á- Phi – My la tinh vớiphong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, đa đến sự ra đời hàng loạtcủa các nớc có độc lập dân tộc, thoát khỏi ách thống trị của CNĐQ, CNTBkhông còn áp bức, bóc lột nh trớc Những nớc này sau khi giành đợc độc lập
đã có nền kinh tế tự chủ ở những mức độ khác nhau
Tình hình đó, đã làm cho thị trờng, nguồn khai thác tài nguyên và nguồn cungcấp nhân công rẻ mặt cho CNTB bị thu hẹp lại Cùng với các nớc độc lập, còn
có một số nớc tách ra khỏi quỹ đạo của CNTB, đi theo con đờng XHCN Điều
đó càng làm cho cuộc cạnh tranh, giành giật thị trờng giữa các tập đoàn t bảncủa các nớc t bản phát triển trở nên hết sức gay gắt và hàng loạt mâu thuẫn nộitại của CNTB phát sinh nó đe doạ đến lợi ích sống còn của nó
Trong một thế giới thay đổi nh vậy, CNTB không thể giành giật thị trờng theokiểu đánh chiếm, và nó càng không thể duy trì thị trờng đọc chiếm cho riêngmình nh dới thời chủ nghĩa thực dân kiểu cũ Các Công ty xuyên quốc giachính là một tổ chức phù hợp nhất để các tập đoàn t bản có thể xâm nhập vềkinh tế, xuất khẩu, đầu t t bản ra nớc ngoài , trớc hết là các nớc trong thế giớithứ ba Dới dạng liên minh, hợp tác, thành lập các Công ty hỗn hợp giữa t bảnnớc ngoài với t bản Nhà nớc hoặc t nhân các tập đoàn t bản từng bớc nắm lấycác ngành kinh tế chủ chốt, có lợi nhuận cao, thiết lập các chi nhánh ở nhữngnớc này
Trang 10Các nớc chậm phát triển phần lớn có tài nguyên hết sức dồi dào về dầu lửa,than đá, sắt thép nhng do trình độ kỹ thuật khai thác còn lạc hậu, vốn đầu t đểkhai thác còn hạn chế, cho nên muốn khai thác những tài nguyên đó phải liênkết, hợp tác với t bản nớc ngoài Đó chính là con đờng thuận lợi để các tập
đoàn xuyên quốc gia thết lập các Công ty chi nhánh, nắm lấy các nguồn tàinguyên phong phú Việc thiết lập các Công ty chi nhánh khai thác ngay tại chỗcòn tạo cho các Công ty xuyên quốc gia rất nhiều lợi nhuận và những điềukiện thuận lợi Từ khai thác đến chế biến, do các Công ty chi nhánh đảm nhận,các Công ty xuyên quốc gia đã giảm bớt đợc chi phí trong khâu vận chuyển, đ-
ợc hởng những u đãi về thuế quan, làm cho giá thành sản phẩm giảm, tạo ranhững u thế để cạnh tranh trên thị trờng quốc tế
Một yếu tố khác làm cho quá trình quyên quốc gia hoá của các tập đoàn t bảnngày càng phát triển mạnh mẽ đó là sự tác động của cách mạng khoa học –
kỹ thuật – công nghệ và nó biểu hiện ở một số điểm sau đây:
- Nó đã làm xuất hiện những ngành mới với tốc độ cao và ngày càngchiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế , đồng thời đặt ra yêu cầu và tạo điềukiện trẻ hoá ngành sản xuất lâu đời nh ngành công nghiệp vũ trụ Mỹ đã làmxuất hiện khoảng 3000 ngành mới
- Bản thân việc nghiên cứu khoa học đỏi hỏi phải có đầu t lớn nh
ch-ơng trình Apolo (Mỹ) đã chi hết 24 tỷ đô la, thu hút 40 vạn nhà khoa học vàcông nhân tham gia Đây chính là nhân tố làm cho nganh dịch vụ kỹ thuật pháttriển, các Công ty đầu đàn có thêm điều kiện bành trớng ra nớc ngoài Việcxuất khẩu t bản của CNTB độc quyền Nhà nớc có nhiều ý nghĩa đối với sựhoạt động quốc tế của các Công ty xuyên quốc gia , nó dọn đờng cho các
Trang 11Công ty xuyên quốc gia hoạt động, làm cho các Công ty này tiếp lớn mạnh và
có thêm sức bành trớng
Trong điều kiện quốc tế hoá sản xuất ngày càng phát triển, sự ra đời của cácCông ty xuyên quốc gia là một tất yếu khách quan và nó là một tất yếu kháchquan và nó là sản phẩm của quá trình quốc tế hoá sản xuất Chỉ có trong điềukiện quốc tế hoá sản xuất cao độ thì mới có những tiền đề vật chất khách quan
để các Công ty xuyên quốc gia ra đời Đồng thời cùng với những điều kiện cơbản trên, còn có những tác động khác đa đến sự ra đời của các Công ty xuyênquốc gia Đó là lợi ích trong việc giải quyết những nguyên liệu và tiêu thụ sảnphẩm, về thị trờng kinh doanh, về việc vợt rào thuế quan và phi thuế quankhông chỉ đối với các nớc trong thế giới thứ ba mà cả với các nớc t bản pháttriển
hệ thống tổ chức của các Công ty xuyên quốc gia Mạng lới các Công ty chinhánh đặt ở nớc ngoài đã tạo cho nó khả năng biến chức năng tiêu thụ riêng lẻ,
độc lập thành chức năng nội bộ của Công ty xuyên quốc gia, từ đó mọi khâu
Trang 12từ cung cấp các nguồn lực sản xuất , tiêu thụ ở mọi miền trên thế giới đềuphục vụ cho chiến lợc của Công ty xuyên quốc gia mẹ một cách hữu hiệu nhất.Cũng có nghĩa là phân công hợp tác quốc tế trở thành phân công hợp tác trongnội bộ Công ty xuyên quốc gia.
Nhờ những u thế trên, các Công ty xuyên quốc gia đã phát triển nhanh chóngkhông chỉ về mặt số lợng mà còn phát triển nhanh về chất lợng, biểu hiện ở sựxâm nhập ngày càng sâu của chúng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế thếgiới và khu vực cũng nh từng quốc gia, ở sự đa dạng hoá chức năng hoạt độngcủa chúng
Ngày nay các Công ty xuyên quốc gia không chỉ chú trọng vào các ngành tậptrung nhiều lao động, nhiều nguyên liệu mà ngày càng chú trọng hơn đến cácngành kỹ thuật cao, hớng tới nơi có giá thành sản xuất thấp để xây dựng nhà
mà sản xuất các sản phẩm có kỹ thuật cao, thậm trí hớng tới những ngành đòihỏi nhieuè chất xám hơn nh thiết kế sản phẩm, khai thác phần mềm Nh mộtCông ty xuyên quốc gia Mỹ đã xây dựng ở Malaixia nhà máy sản xuất tấm vimạch Điểm đáng chú ý ở đây là Công ty xuyên quốc gia Mỹ này đã không sửdụng kỹ s Mỹ mà đã sử dụng kỹ s và nhân viên kỹ thuật bản xứ Do thiết kếsản phẩm và nghiên cứu triển khai đều dựa và kỹ s và nhân viên bản xé nên chiphí nghiên cứu và triển khai của các Công ty xuyên quốc gia chi nhánh ở nớcngoài đã tăng rất nhanh Các Công ty xuyên quốc gia không chỉ tiến hànhnghiên cứu triển khai đơn lẻ mà chúng còn có nhiều điều kiện và khả năngphối hợp nghiên cứu triển khai liên quốc gia Nổi bật là Công ty xuyên quốcgia hàng đầu của Nhật Bản là Toshiba đã liên kết với Công ty thiết bị thơngmại quốc tế của Mỹ và Công ty Simen của Đức
Trang 13Số liệu sau đây cho chúng ta thấy hiện nay thế giới có bao nhiêu Công tyxuyên quốc gia – Công ty mẹ.
Bảng 1: Số lợng các Công ty xuyên quốc gia mẹ, theo nớc
ơng mại, sản xuất, chế biến, cho đến phục vụ trực tóp ngời tiêu dùng Có rấtnhiều Công ty hoạt động trên mọi lĩnh vực hoặc chỉ một lĩnh vực Nếu hoạt
động trong một ngành, chúng có thể bao gồm các công đoạn từ thiết kế, sản
Trang 14xuất, chào hàng, bán hàng, dịch vụ sau bán hàng Sự phát triển nhanh chóngcủa các Công ty xuyên quốc gia đã làm tăng nhanh quá trình quốc tế hoá sảnxuất của nền kinh tế thế giới.
Sự cải tổ, sáp nhập những Công ty xuyên quốc gia mẹ tại các nớc phát triểnchủ yếu là một tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển theo “cấp số nhân”của các Công ty xuyên quốc gia trên khắp thế giới trong thời gian qua cũng
nh thời gian tới Năm 1983 tổng số Công ty xuyên quốc gia là 11.000, số Công
ty xuyên quốc gia chi nhánh ở nớc ngoài đã lên đến 200.000, tăng 79% trongvòng 10 năm Năm 1995, tổng số Công ty xuyên quốc gia trên thế giới lại tăngthêm 8% so với 1983, nâng số lên 39.000 Công ty còn các Công ty xuyênquốc gia chi nhánh ở nớc ngoài tăng 35% so với năm 1993, nâng lên tổng số370.000 Công ty Tổng kim ngạch tiêu thụ của các Công ty xuyên quốc giatrong năm 1995 lên đến 6.100 tỷ USD, vợt xa con số 4.800 tỷ USD của năm
1993, tăng 25%
Đáng chú ý là những Công ty xuyên quốc gia lớn nahát trên thế giới hầu nh
đều thuộc gốc Mỹ Trong số 50 Công ty xuyên quốc gia lớn nhất của Mỹ thìBank American có số tài sản ở nớc ngoài nhiều nhất, năm 1993 đã lên tới117,1 tỷ USD, chiếm 51,3% tổng tài sản của nó Song thu nhập lớn nhất ở nớcngoài lại thuộc về một Công ty dầu mỏ của Mỹ, năm 1993 đã lên đến 75,6 tỷUSD chiếm 77,3% tổng thu nhập của Công ty này (1)
3.Bản chất và đặc trng của các tổ chức độc quyền xuyên quốc gia:
1 Bản chất
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở các nớc t bản phát triểncó thể quan sátthấynền sản xuất t bản chủ nghĩa có “sự phát triển rất lớn của công nghiệp và
1 Kinh tế thế giới số 11/1997- tr.38
Trang 15quá trình tập trung cực kỳ nhanh chóng của sản xuất vào tay các xí nghiệpngày càng to lớn” và “… một đằc điểm cực kỳ trọng yếu mà ngời ta gọi là chế
độ liên hiệp hóa, nghĩa là sự tập hợp vào tay một xí nghiệp duy nhất nhiềungành công nghiệp khác nhau” Từ đó ra đời các tổ chức độc quyền, các tổchức này sử dụng cơ chế độc quyền, tức là cơ chế vận động dựa trên giá cả độcquyền, thay cho cơ chế tự do cạnh tranh dựa trên giá cả thị trờng để thu lợinhuận độc quyền cao Do đó có thể coi các tổ chức độc quyền là cái vỏ vậtchất trong đó quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa vận động và tồn tại dới dạng sởhữu độc quyền Khi các tổ chức độc quyền hoạt động vận động vợt biên giớiquốc gia dới sự thúc đẩy của quá trình tích tụ sản xuất trên quy mô quốc tế, thìcác hình thức siêu độc quyền, tức là các công ty xuyên quốc gia xuất hiện
Đặc biệt, khi nền sản xuất tu bản chủ nghĩa chuyển từ xã hội công nghiệp lênxã hội thông tin dới sự thúc đẩy của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ vàquá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế đã làm cho số lợng công ty xuyên quốcgia phát triển nhanh chóng và bản chất của nó cũng biến đổi theo hớng thíchnghi với tính chất quốc tế hóa ngày càng cao của lực lợng sản xuất
Dới tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ, thông qua việc làmchủ sở hữu trong các hãng, công ty của các công ty xuyên quốc gia đã diễn ranhiều thay đổi lớn trong các quan hệ về sở hữu Đó là :
- Sở hữu độc quyền siêu quốc gia, là hình thức sở hữu hỗn hợp đã đợc quốc tếhóa Đây là hình thức sở hữu mang tính khách quan tạo nên bởi quá trình tích
tụ, tập trung hóa và xã hội hóa sản xuất trên quy mô quốc tế của chủ nghĩa tbản dới sự tác động mạnh mẽ và sâu sắc của cuộc cách mạng khoa học- côngnghệ và của các quy luật cạnh tranh, quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tbản Tồn tại dới hình thức các tổ chức đa ngành khác nhau nh consớt vàcongơlômêrết, hiện nay có tới trên 70% các xí nghiệp chi nhánh của chúng là
Trang 16các xí nghiệp liên doanh với số lợng các chủ sở hữu từ hai tới bốn nớc hoặcnhiều hơn nữa với những tỷ lệ góp vốn khác nhau Điều này phản ánh tính chất
đa dạng, phức tạp và tính chất hỗn hợp của loại hình sở hữu xuyên quốc gia
- Sở hữu hỗn hợp, đợc tạo ra do sự thay đổi căn bản về địa vị, vai trò của ngờicông nhân, trí thức- những ngời làm việc trực tiếp trong các ngành nghề khácnhau, nhất là những ngành có hàm lợng khoa học và công nghệ cao- là nhữngngời quyết định chất lợng của lao động và sản xuất Loại hình này diễn ra theohớng tăng đáng kể số ngời co cổ phần trong công ty nhng tỷ trọng sở hữu cổphần trong tổng số vốn kinh doanh không lớn
2 Đặc trng
Sự biến đổi của hình thức sở hữu trong các công ty xuyên quốc gia là thay đổirất căn bản trong đặc trng của quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa trong chủnghĩa t bản hiện đại Có thể tháy rằng, công ty không còn là sở hữu của mộtngời hay một nớc nữa, mà là sở hữu của hỗn hợp quốc tế, có “quốc tịch” củamột nớc nhất định
Về quản lý, việc tổ chức quản lý sản xuất và các hoạt động kinh tế đã dịchchuyển từ kiêu đại trà, đợc tiêu chuẩn hóa theo hàng loạt lớn sang kiểu sảnxuất loạt nhỏ và linh hoạt theo đơn đặt hàng, cũng nh sự dịch chuyển từ các tổchức có quy mô lớn đợc liên kết theo chiều dọc sang phi liên kết mạng lới theokiể chiều ngang giữa các đơn vị kinh tế trong nớc và ngoài nớc.Sự dịch chuyểnnày trong điều kiện đổi mới công nghệ nh vũ bão đã làm nổi bật vai trò năng
động của các doang nghiệp, xí nghiệp có quy mô nhỏ và vừa so với các tập
đoàn lớn mang nặng tính chất quan liêu hóa, buộc các công ty xuyên quốc giaphải tự tách mình ra thành các nhân tố của cạnh tranh nhằm tạo ra sự năng
động và linh hoạt trong sản xuất kinh doanh Điều đó dẫn đến sự xuất hiện liênkết các công ty xuyên quốc gia kiểu mới, kiểu các vệ tinh xoay quanh một
Trang 17công ty gốc tạo nên một mạng lới phủ lên thị trờng các nớc Đay là sự chuyểnhóa về mặt tổ chức quản lý của mọi hoạt động kinh tế để tăng tính linh hoạt vàkhả năng thích ứng với thị trờng đang đợc đa dạng hóa và biến đổi từng ngàytừng giờ.
4 Các loại hình tổ chức xuyên quốc gia:
4.1 Dựa trên cơ sở phân loại độc quyền quốc gia.
Theo cách phân loại này có các công ty xuyên quốc gia thuộc loại cácten, xanhdica, tơrớt, concẻn, và conglomerat Đó là những nấc thang của sự liên kết từ đơn giản đến phức tạp Trong đó loại hình tiêu biểu của các công ty xuyên quốc gia hiện nay là concern và conglomerate Giữa hai loại này có những đặc điểm chung, đó là kinh doanh đa ngành, do đó sản phẩm mang tính
đa dạng, song chúng có sự khác nhau, chủ yếu là mức độ đa ngành và đa dạng sản phẩm Với các concern, mặc dù kinh doanh đa ngành với nhiều sản phẩm khác nhau song vẫn tìm thấy ngành hạt nhân cơ bản và sản phẩm chủ yếu, rong khi với các conglomerate thì điều đó khó xác định bởi tính hỗn tạp của
nó, đồng thời xu hớng đi vào kinh doanh trên các thị trờng chứng khoán ngày càng biểu hiện rõ Tuy nhiên sự phân định này vẫn còn mang tính tơng đối
4.2 Dựa trên cơ sở quá trình vận động và phát triển của chúng.
Theo cách này, ngời ta phân chia các công ty xuyên quốc gia thành bốn loại:
• Loại hình công ty xuyên quốc gia khai thác nguyên liệu, Đây là những công ty xuyên quốc gia có ngay từ thời kì t bản tự do cạnh tranh Các công ty này thờng hoạt động trong những ngành nông nghiệp, khai khoáng vớimục đích khai thác nguyên liệu phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá t bản chủ nghĩa
Trang 18• Loại hình công ty xuyên quốc gia thơng mại, bao gồm những công ty
mà những chi nhánh nớc ngoài chủ yếu là nhng “ trạm trung gian” thực hiện việc xuất nhập khẩu hàng hoá, hoặc thch hiện lắp ráp để xuất khẩu tại chỗ
• Loại hình công ty xuyên quốc gia sản xuất
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây mới chính là các công ty xuyên quốc giathực thụ vì nó phản ánh một cách đầy đủ đặc điểm cơ bản của quá trình quốc
tế hóa Hỗu hết các công ty xuyên quốc gia cỡ lớn đều thực hiện phân côngchuyên môn hoá sản xuất bằng cách chia quy trình công nghệ thành nhiềucông đoạn và mỗi chi nhánh thờng chỉ thực hiện một vài công đoạn co hiệuquả nhất
• Loại hình công ty xuyên quốc gia kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ, tàichính, kĩ thuật
Đây là những công ty có tiềm lực khoa học-công nghệ mạnh và thờng tồn tại dới hình thức một tổ hợp công nghiệp-ngân hàng trong các độc quyền tài chính xuyên quốc gia
4.3 Dựa trên cở sở tính chất phức tạp của sản phẩm.
Theo cách phân loại này, có các công ty xuyên quốc gia thuộc loại A,B,C,D.tuỳ theo tính chất đơn hoặc đa sản phẩm
Ngoài các cách phân loại trên còn có nhiều tài liệu còn phân chia ra các công
ty xuyên quốc gia thuộc tổ hợp quân sự để phân chia với loại hình kinh doanhquân sự, hoặc phân chia các công ty xuyên quốc gia theo lĩnh vực ngành kinhdoanh, nh công ty xuyên quốc gia kinh doanh công nghiệp, ngân hàng, dịch