1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

phân tích tập thơ góc sân và khoảng trời của trần đăng khoa

14 31,8K 65

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 193,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bà và cháu Bàn chân thầy giáo Bãi Cháy Bên sông Kinh Thầy Bến đò Buổi sáng nhà em Cái sân Cánh đồng làng Điền Trì Câu cá Cây đa Cây đa làng Cây bàng Cây bàng mùa đông Cây dừa Cây xoan Cô

Trang 1

Góc sân và khoảng trời là tập thơ của Trần Đăng Khoa được xuất bản lần đầu tiên

năm 1968 khi tác giả mới 10 tuổi

Đôi lời của tác giả

Tôi tự coi đây là tập tuyển với những dấu ấn thực khó quên của tuổi thơ tôi, trong những năm tháng đánh giặc gian khổ và hào hùng Làng tôi là một trạm nghỉ chân trên đường đi

B của các trung đoàn đồng bằng Bắc bộ, trong suốt thời chống Mỹ sau khi huấn luyện ở núi rừng Yên Tử Hàng ngàn chú bộ đội đã lần lượt rải chiếu ngủ trên nền đất nhà tôi, đã mắc võng nằm trong vườn cây nhà tôi Các chú nghe thơ tôi, chép thơ tôi vào sổ tay và mang nó ra mặt trận Sự tiếp xúc có phần ngẫu nhiên đó đã dậy tôi một cách nghiêm túc phải viết như thế nào Đấy là điều lý giải vì sao thơ tôi đã có mặt từ những năm chiến tranh

Bài thơ nào cũng gợi cho tôi những kỷ niệm mà tôi đã đôi lần nói tới trong các dịp xuất bản trước Có bài khá quen thuộc với bạn đọc, nhưng tôi đã phải chia tay, bởi tôi nghĩ nó

đã hoàn thành nhiệm vụ ở thời điểm mà nó ra đời Tôi hy vọng phần chắt lọc lại lần này

sẽ là một chân dung trọn vẹn của tôi, những năm tôi còn là một chú học trò

Trong tập thơ, có bài tôi viết trong lúc sát hạch, nghĩa là các cô chú đến chơi, vây quanh

rồi ra đề cho tôi làm, như bài Bên sông Kinh Thầy, Sao không về Vàng ơi? Có bài tôi viết nhanh, theo những thông tin và yêu cầu của báo Văn nghệ, như bài Lời một bạn gái

12 tuổi Có bài tôi viết để thay một bức thư trả lời, như bài Thơ vui Bác Mạnh Sinh, 75

tuổi, ở số nhà 12 phố Đông Kinh, thị xã Lạng Sơn, không hiểu nghe tin đâu, tưởng tôi đã chết, bác bèn gửi về nhà tôi hai câu đối và 5 bài thơ khóc rất cảm động Khi đó tôi chưa biết cũng đã có một trường hợp tương tự xảy ra từ hàng chục năm trước

Con bướm vàng là bài thơ dầu tiên tôi viết vào tháng 2-1966, khi tôi 8 tuổi, đang học ở

học kỳ II lớp 1 trường làng Suốt 10 năm học phổ thông, tôi đã được đăng báo in sách khoảng trên 200 bài và 4 trường ca

Đã hơn 30 năm trôi qua, bây giờ đọc lại, tôi vẫn thấy như còn hiện ra trước mắt những cảnh vật, những con người mà tôi quen thuộc, yêu mến

Mọi cố gắng đều khó vượt qua sự hạn chế của chính bản thân mình Tuổi học trò và những năm gian khổ chiến tranh đều đã qua đi Nhưng tập thơ này nếu còn neo giữ lại được một chút gì, dù chỉ một chút thôi, trong lòng bạn đọc hôm nay, thì đối với tôi đã là niềm an ủi to lớn lắm rồi

Ao nhà mùa hạn

Đám ma bác giun

Đánh tam cúc

Đánh thức trầu

Đêm Côn Sơn

Đêm thu

Đất

Đất trời sáng lắm hôm nay

Đập cửa Diêm Vương Đồng chiều

Đồng quê

Đi tàu hoả Đường năm Đường sang nhà bạn Ảnh Bác

Ở ngoại ô thành phố

Trang 2

Ở nhà chú Xuân Diệu

Ò ó o

Bà và cháu

Bàn chân thầy giáo

Bãi Cháy

Bên sông Kinh Thầy

Bến đò

Buổi sáng nhà em

Cái sân

Cánh đồng làng Điền Trì

Câu cá

Cây đa

Cây đa làng

Cây bàng

Cây bàng mùa đông

Cây dừa

Cây xoan

Cô Thị Mầu

Côn Sơn

Cầu Cầm

Cháu đi

Cháu làm bà còng

Chọc ếch

Chớm thu

Con bướm vàng

Con cò trắng muốt

Con chim hay hót

Con gà liếp nhiếp

Con mắt

Con trâu đen lông mượt

Cơn giông

Dặn em

Em dâng cô một vòng hoa

Em gặp Bác Hồ

Em lớn lên rồi

Góc sân và khoảng trời

Gửi theo các chú bộ đội

Ghi ở bờ ao

Ghi chép về ngọn đèn dầu

Giông bão

Hà Nội

Hà Nội có Bác Hồ

Hạ Long

Hạt gạo làng ta

Họp báo "Chim hoạ mi"

Hỏi đường

Hoa bưởi Hoa duối Hoa lựu Hương đồng Hương nhãn Kính tặng chú Tố Hữu Kẹo hồng kẹo xanh

Kể cho bé nghe Khi mùa thu sang Khi mẹ vắng nhà Lời của than Lời một bạn gái mười hai tuổi Mang biển về quê

Mùa đông và cây sầu đông Mùa xuân - mùa hè

Mặt bão

Mẹ ốm Mưa Nói với con gà mái Nửa đêm tỉnh giấc Ngôi đền Bãi Cháy Ngắm hoa

Nghe thầy đọc thơ Nhận thư anh Nhớ bạn Nhớ và nghĩ Sao không về Vàng ơi? Sương muối

Tháng ba Thôn xóm vào mùa Thả diều

Thầy giáo đi bộ đội Thơ vui

Tiếng đàn bầu và đêm trăng Tiếng chim chích choè Tiếng nói

Tiếng võng kêu Trông trăng Trận địa bỏ không Trăng sáng sân nhà em Trăng ơi từ đâu đến Trong sương sớm

Về thăm cô Bưởi Vườn cải

Vườn em

Trang 3

Đặc sắc ngôn ngữ và nhạc điệu trong tập : “ Góc sân và khoảng trời .”

1 Cả ngàn năm trung cổ, văn học nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng ở trạng thái lớn nhỏ, già trẻ bất phân, trẻ em chưa có bộ phận văn học viết

riêng cho mình Từ khi xuất hiện loại Sách hồng của văn chương Tự lực văn đoàn cho đến nay, ta đã có một nền văn học thiếu nhi tương đối dày dặn với các

tên tuổi như Thạch Lam, Khái Hưng, Tô Hoài, Võ Quảng, Phạm Hổ, Xuân

Quỳnh… Trong số những tên tuổi lớn ấy, Trần Đăng Khoa với tập thơ thời nhỏ –

tập Góc sân và khoảng trời – đã chiếm một vị trí xứng đáng trong bộ phận văn học

cho thiếu nhi của dân tộc.

Thơ Khoa hay không phải ở nội dung phản ánh hiện thực Dù giới hạn một cách khiêm tốn trong góc sân và khoảng trời của riêng Khoa, nhưng tập thơ đã dàn trải ra đủ các loại đề tài, từ chuyện nhỏ đến chuyện lớn như đồ vật, loài vật, người thân, cho đến cuộc sống sản xuất và đấu tranh trong những năm chống Mỹ, cả tình cảm đối với Đảng

và Bác Hồ vĩ đại Không có gì chắc chắn để nói rằng đề tài rộng thơ mới có tầm vóc lớn Sức mạnh của thơ Khoa, nói như Xuân Diệu: “chính tâm hồn bên trong của con người qui tụ cảnh vật bên ngoài vào quanh một cái trục, biến vật vô tri thành ra xúc cảm, tình cảm”[1] Cần phải nói thêm rằng, cái hay của thơ Khoa nằm ở khả năng trực giác đến kỳ

lạ được biểu đạt qua một thế giới ngôn từ lung linh, sống động và nhạc điệu đa âm, đa sắc

2.1 Trần Đăng Khoa thuộc số hiếm những trẻ thơ làm thơ biết trọng chữ Trừ đôi lúc ứng khẩu theo cảm tính, Khoa ý thức rất đầy đủ khả năng biểu đạt của ngôn từ Khi

đăng bài Thôn xóm vào mùa, người biên tập sửa câu thơ:Thóc mặc áo vàng óng/ thở hí hóp trên sân thành: Thóc mặc áo vàng óng/ nhảy nhót mãi trên sân Khoa thắc mắc :

“Sao lại chữa của em? Hết ngày mùa thì làm sao thóc nhảy nhót được mãi Em nói thở hí

hóp kia mà!”[2] Đúng là “hí hóp” mới bộc lộ được cái thần hồn của hạt thóc vừa được

tuốt trên sân Sự sống còn đang động cựa trước khi vào cõi yên tĩnh trong nhà kho hợp

tác Người biên tập thời ấy còn ngớ ngẩn hơn khi sữa chữ trong bài Hạt gạo làng ta Câu thơ: Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi đắng cay đối lập ở cấu tứ: trong cái hạt gạo của bữa ăn hàng

ngày như có âm vang miên man của lời hát ru dân gian nửa vui, nửa buồn, nửa ngọt ngào,

nửa cay đắng mà người mẹ thân yêu vẫn hát cho Khoa nghe: Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần Thế mà lại bị sửa: Có lời mẹ hát/ Ngọt bùi hôm nay Ý thơ trở thành hời hợt nông cạn, đành là do sự chi phối của ý đồ chính trị hiện thời

nhưng không khéo thành sự vô ơn, thiếu hiểu biết về công việc đồng áng Khoa nói : “đó

là câu thơ của bác biên tập, không phải thơ tôi”[2] Với ý thức về ngôn từ thơ như thế, phần lớn trong tập thơ, câu chữ nào Khoa dùng cũng có một sức nặng ở tầm văn hoá thẩm mỹ cao

2.1.1 Ấn tượng nhất ở thơ Khoa là nghệ thuật sử dụng và sáng tạo từ láy Thơ cho thiếu nhi nói chung, từ láy xuất hiện nhiều làm cho thế giới thơ trở nên lung linh sống động Nhưng dùng từ láy đến đậm đặc, phong phú và đầy sáng tạo có lẽ Khoa được

xếp vào hàng số một Trong tập Góc sân và khoảng trời, có tới 306 từ /105 bài (so với cả

Trang 4

tậpNhững bài thơ em yêu của những nhà thơ lớn tuổi chỉ có 159 từ/100 bài [3]) Điều

đáng lưu ý là số lượng từ láy ấy không hề lặp lại

Từ láy trong thơ Khoa có khả năng tượng hình, tượng thanh sống động, ấn

tượng: Tiếng gà/ Khát khát/ Tiếng chó/ Khau khau/ Tiếng gọi nhau/ Ơi ới… Cả đất trời

buổi sáng như rung lên nhịp rung của sự sống mới bởi hàng loạt các từ láy tượng thanh

liên hoàn: À uôm… ếch nói ao chuôm/ Rì rào gió nói trong vườn rộng rênh/ Âu âu chó nói đêm thanh/ Tẻ te gà nói sáng banh ra rồi/ Vi vu gió nói mây trôi/ Thào thào trời nói

xa vời mặt trăng Giá như thiếu các từ láy “à uôm”, “rì rào”, “âu âu”, “tẻ te”, “vi vu”,

“thào thào”, thì dù có viết: ếch nói, gió nói, chó nói, gà nói, trời nói… không gian đất

trời vẫn cứ tĩnh tại, vô hồn Các từ láy ấy không chỉ diễn tả chính xác đặc điểm tự nhiên của từng loài vật, hiện tượng mà còn bộc lộ cái hồn của chúng Vạn vật đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ huyền bí mà Khoa nghe được bằng trực giác hồn nhiên của mình 2.1.2 Thơ Khoa đi tìm cái linh hồn ảo diệu của thiên nhiên, tạo vật qua sự sống của chính con người Cho nên, ngôn ngữ thơ bao giờ cũng có một độ mở liên tưởng với các hình thức tu từ: nhân hoá, so sánh, ẩn dụ, tượng trưng… rất bất ngờ

Nhiều bài nhân cách hoá toàn phần như Mưa, Đánh thức trầu, Buổi sáng nhà

em, Đám ma bác Giun,… Vạn vật được nhìn qua con mắt tinh tế của sinh hoạt làng quê, tâm lý đời thường: Mụ gà cục tát như điên Làm thằng gà trống huyên thuyên một hồi, của phong tục tập quán: Đám ma đi đến là dài Qua những vườn chuối vườn khoai vườn cà… Có những hình ảnh xuất thần, ngộ nghĩnh, dễ thương: Hàng bưởi/ Đu đưa/ bế lũ con/ Đầu tròn trọc lóc… Hếch cái mũi trâu cười/ Nhe cả hàm răng sún… Có những nhân hoá đạt đến mức trí tuệ, kết tinh thành những biểu trưng: Đứng canh trời đất bao la/ Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi, … Ông trời mặc áo giáp đen/ Ra trận…, Ao trường vẫn

nở hoa sen/ Bờ tre vẫn chú dế mèn vuốt râu… Giữa người và vật cứ như có một sợi dây

vô hình trong mối tương giao xúc cảm Cây dừa không còn là dừa nữa mà mang vóc dáng người lính canh giữ cho đất trời bình yên Mưa đâu chỉ là mưa mà là huyền thoại về cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc Chú dế mèn bên bờ tre vuốt râu biểu đạt đúng cái thần thái ung dung đĩnh đạc của con người Việt Nam trong chiến tranh

So sánh trong thơ Trần Đăng Khoa khá đặc sắc làm nhiều nhà thơ lớn phải thán

phục Xuân Diệu rất cảm khái với hình ảnh này: Trăng ơi từ đâu đến/ Hay biển xanh diệu kỳ/ Trăng tròn như mắt cá/ Không bao giờ chớp mi Nhà thơ từng viết về biển và trăng

rất hay này phải thừa nhận rằng Khoa đã chạm đến tận cùng cái huyền bí của tự nhiên

Câu thơ:Ngoài thềm rơi cái lá đa/ Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng được nhiều người ca tụng ở khả năng thẩm âm “siêu phàm” của Khoa Thực ra, chẳng có gì siêu phàm trong cái âm thanh gọi là “rất mỏng” ấy Cách so sánh này hay ở chỗ, dù là liên tưởng đồng loại (rơi mỏng… như rơi nghiêng…) nhưng vẫn có một độ lệch nhất định về mặt tu từ : chuyển hoáâm thanh sang hình dáng trong tưởng tượng, lấy hình dáng

“mỏng”, “nghiêng” của chiếc lá rơi để gợi tả âm thanh Nó là thứ âm thanh mơ hồ, âm thanh trong cõi vô thanh Không phải nghe bằng thính giác nữa mà “thấy” qua “con mắt của trái tim” Nhà thơ lắng nghe lòng mình qua một thứ âm thanh vọng lại từ trong ký ức

sâu thẳm Cách so sánh này lạ, ít thấy ở thi ca truyền thống

Trần Đăng Khoa có những ẩn dụ bất ngờ: Nét chữ chênh vênh nắng gió Chữ cũng động cựa như núi đồi trắc trở Hơn nữa, đó còn là cái “chênh vênh” trong nỗi nhớ

nhung khắc khoải của người anh trong nắng gió nơi đất khách quê người Xem chữ trong thư mà thấy cả một không gian của nỗi nhớ nhung, không gian viễn cách Những ẩn dụ

này đã chuyển sang nghĩa tượng trưng: Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận,… Nền trời

Trang 5

rừng rực ráng treo/ Tưởng như ngựa sắt sớm chiều vẫn bay Xuất hiện hình ảnh của

Thánh Gióng trong huyền thoại qua một bức tranh thiên nhiên hoành tráng Bức tranh bình minh trên biển cả được Khoa chấm phá vài nét có vẻ ngẫu nhiên nhưng lại tạo ra sự

liên tưởng kỳ thú: Không gian / Phơi bụng cá/ Phương Đông/ Xoè hồng… Biển như con

cá khổng lồ ưỡn bụng đón bình minh Không biết Khoa có nghĩ đến chàng Long Vương đón Nữ Thần Mặt Trời không? Một cảnh tượng hùng vỹ mang vẻ đẹp nguyên sơ của huyền thoại Trực giác trong thơ Khoa phải chăng có nguồn gốc từ trong những mẫu thần thoại xa xăm Sự xuất thần của trạng thái vô thức nhiều khi có khả năng sản sinh ngôn ngữ giàu có hơn là sự nỗ lực của ý thức

2.2 Nói đến thơ Khoa không thể không nói đến đặc sắc của nhạc điệu Nhà thơ

Phạm Hổ có nhận xét, thơ Trần Đăng Khoa với tập Góc sân và khoảng trời “có sự phong

phú trong nhạc điệu, mỗi bài thơ, có một nhạc điệu riêng, âm sắc riêng”[4] Nhạc điệu là cấp độ siêu ngôn ngữ, thế giới âm thanh của ký hiệu ngôn từ Nhạc điệu góp phần tạo hình, tạo nghĩa cho tác phẩm thơ

Nhạc điệu có cơ sở từ cấu trúc của thể thơ Ấn tượng nhất là thể thơ nhịp ngắn 2,

3 hoặc 4, 5 chữ So với toàn tập, Khoa dùng lối thơ này không nhiều (24/105 bài) nhưng bài nào cùng thuộc hàng xuất sắc Âm điệu réo rắt, rộn ràng của lối thơ ấy như ảnh hưởng

từ những khúc đồng dao trong trò chơi tuổi nhỏ của Khoa Nhiều nhất và thành công nhất

là thể lục bát (46/105 bài) Âm điệu thơ miên man, lắng sâu Những lời hát ru dân gian

có lẽ đã thấm vào máu thịt của Khoa từ thuở lọt lòng Các giai điệu truyền thống chính là

cái nôi tạo nên một thế giới âm thanh giàu tiết tấu của tập “Góc sân và khoảng trời”.

2.2.1 Nhạc điệu trong thơ Khoa không chỉ là giai điệu của tâm hồn mà còn có

khả năng tạo hình, tạo nghĩa tinh tế Bài Mưa là một kiệt tác về âm thanh Âm hưởng

chung của bài thơ vừa mang cái hồn nhiên, khoẻ khoắn của đồng dao, vừa có tiết tấu khác hẳn Nó phá vỡ mọi cấu trúc đơn điệu của đồng dao, mở ra một thế giới thanh âm phức hợp nhiều bè, khi trầm khi bổng, lúc nhặt lúc khoan, lúc mạnh lúc nhẹ, khi tắt khi vang

Bản nhạc của cơn mưa được phân làm hai đoản khúc: “Sắp mưa” và “Mưa” Đoản khúc

một, cơn giông kéo đến, giai điệu âm thanh vừa nhịp nhàng vừa hối hả Có cái nhịp nhàng khoan thai của nhịp hai mô tả những tín hiệu chuyển đổi đầu tiên của thời tiết:

“Mối trẻ/ Bay cao/ Mối già/ Bay thấp…” Có cái hối hả dồn dập của những nhịp ba, nhịp bốn đan xen với nhịp một, nhịp hai biểu đạt cơn giông ập đến vội vàng: Gà con/ Rối rít tìm nơi/ Ẩn nấp/ Ông trời/ Mặc áo giáp đen/ Ra trận/ Muôn nghìn cây mía/ Múa gươm/ Kiến/ Hành quân/ Đầy đường/ Lá khô/ Gió cuốn/ Bụi bay/ Cuồn cuộn/ Cỏ gà rung tai/ Nghe/ Bụi tre/ Tần ngần/ Gỡ tóc/ Hàng bưởi/ Đu đưa/ Bế lũ con/ Đầu tròn/ Trọc lóc/ Chớp/ Rạch ngang trời/ Khô khốc/ Sấm/ Ghé xuống sân/ Khanh khách/ Cười… Lưu ý các câu thơ nhịp một : “Kiến”/ “Nghe”/ “Chớp”/ “Sấm”/ “Cười”… làm giãn nhịp thơ, hơi

thơ như sững lại, một thoáng ngỡ ngàng trước những biến đổi bất ngờ của cơn giông Đoản khúc hai, cơn mưa ập đến, giai điệu âm thanh nhanh hơn, vang hơn Hai chữ

“Mưa”, “Mưa” rơi thành hai nhịp một Mưa nặng hạt Tiếp theo là câu thơ năm chữ: Ù ù như xay lúa, nhịp năm, mưa xoáy trong cơn gió, ào ạt trong không gian Không phải là cơn mưa mùa đông, mưa dầm, đều hạt như câu thơ của Tố Hữu: Nỗi niềm chi rứa Huế ơi/ mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên mà là cơn giông bất chợt cuối mùa hè Giai điệu rất bất thường: Lộp bộp/ Lộp bộp/ Rơi/ Rơi/ Đất trời/ Mù trắng nước/ Mưa chéo mặt sân/ Sủi bọt… Bài thơ phá vỡ toàn bộ luật bằng trắc, vần điệu của thơ cách luật (mà chủ

yếu dùng vần lưng rất linh hoạt của thơ ca dân gian), vừa có hài âm vừa có nghịch âm, rất

tự do phóng khoáng Độ cao: vừa trầm vừa bổng, Âm sắc: vừa tắt vừa vang, vừa trong

Trang 6

vừa đục Cường độ, trường độ: lúc nhanh lúc chậm, lúc mạnh lúc nhẹ, lúc nhặt lúc khoan Toàn bộ tiết tấu của bài thơ cứ như một bản giao hưởng nhiều bè, tạo hình một cách ấn tượng cơn giông đầu mùa Người đọc nghe cả tiếng nói phức điệu của đất trời qua âm thanh của gió, lốc, xoáy, tạt, rơi, sấm, chớp… trong cái huyền bí của vũ trụ Âm điệu của

cơn mưa còn là bản giao hưởng hùng tráng của những huyền thoại về chiến tranh: Muôn nghìn cây mía/ Múa gươm/ Kiến/ Hành quân/ Đầy đường… Ông trời/ Mặc aó giáp đen/

Ra trận và cả sức mạnh của con người Việt Nam: Bố em đi cày về/ Đội sấm/ Đội chớp/ Đội cả trời mưa…

Tiếng trống làng là khúc nhạc chào buổi sớm mai Mở đầu bằng nốt nhạc trầm hùng : Tùng, tùng, tùng của tiếng trống Nhưng nổi bật giữa những nốt đệm trầm hùng ấy

là những âm thanh bay bổng vút lên từ những thanh trắc và thanh không: Tiếng trống hát/ Âm vang… Tiếng gà/ Khát khát./ Tiếng chó/ Khau khau/ Tiếng gọi nhau/ Ơi ới/

… Hay nhất vẫn là đoạn mà bề mặt ngôn từ không có một âm thanh thực nào, chỉ có không gian: Không gian/ Phơi bụng cá/ Phương Đông/ Xoè hồng/ Nan quạt… Hàng loạt các âm “ông” làm cho người đọc cảm thấy không gian như được uốn cong lên, phình ra

để chứa đựng một sự sống viên mãn tràn trề Hai chữ “xoè hồng” với âm điệu rất hay gợi lên cái độ mở bất ngờ của chiếc quạt- ánh sáng mặt trời toả ra từ đường biên của biển cả 2.2.2 Viết theo âm điệu lục bát, Khoa có những bài thơ, câu thơ xuất thần Hoa cau là bài thơ hay về nhạc điệu:

Nửa đêm nghe ếch học bài

Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây

Nghe trời trở gió heo may

Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau

Hai cặp lục bát thật êm, thật nhẹ nhàng, như cái hơi thở của mùa thu Cặp lục bát mở đầu

là một hợp âm mà âm chủ là thanh bằng, chỉ có hai âm át trắc xen giữa: “ếch”, “hạt”

Hai thứ âm thanh nổi lên: tiếng ếch và hạt mưa Thanh bằng nhiều, giai điệu trầm như

tiếng ếch lào rào trong đêm Ba âm “ưa” (lưa, thưa, mưa) nửa khép nửa mở tiếp liền nhau tạo hình những sợi mưa đan trong màn đêm Mưa chỉ “lưa thưa”, không nặng hạt, nhưng kéo dài cả đêm Cặp lục bát thứ hai là một hợp âm với nhiều âm xát và rung (trời, trở, sáng, ra, rụng), nghe như hai thứ âm thanh cọ vào nhau: gió heo may thổi luồn qua

những sợi mưa, lùa vào buồng cau đang nở, hoa cau tuôn xuống vại nước Cả một thế giới của thanh, sắc, hương ùa vào tâm hồn rộng mở của bé Khoa trong một đêm thu yên tĩnh mơ màng

“Đêm Côn Sơn” xứng đáng là cái “kỳ thanh linh linh nhiên“ trong không gian ẩn dật của

đại thi hào Nguyễn Trãi Bài thơ mở đầu bằng một hợp âm mơ màng, thánh thót:

Tiếng chim vách núi nhỏ dần

Rì rầm tiếng suối khi gần khi xa

Có sự kết hợp nhịp nhàng giữa các thanh âm trầm và bổng, khép và mở, tắt và vang giữa hai câu lục bát Tiếng chim thánh thót đâu đó được dựng lên bằng hai âm trắc

“vách núi” giữa câu rồi lắng xuống bởi thanh huyền ở chữ “dần” cuối câu Cái âm vực thấp dần ấy bắc cầu sang tiếng suối trầm đục “rì rầm” ở câu bát, nhưng không tắt hẳn mà vang ra bởi âm tiết mở “xa” ở cuối câu Đêm rất yên tĩnh Từ đó, một thanh âm đột ngột

rơi xuống cõi thinh không:

Ngoài thềm rơi cái lá đa

Tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng

Trang 7

Cái vô hình trở thành hữu hình Vô thanh mà vẫn hữu thanh Một nốt lặng trong

cái tư thế “nghĩ gì” của “ông bụt ngồi nghiêm” Tiếng động của ngoại cảnh chuyển thành

thanh âm của nội tâm:

Ngang trời kêu một tiếng chuông

Rừng xưa nổi gió, suối tuôn ào ào.

Sự cân đối giữa hai thanh không và phụ âm vang: “ngang” và “chuông” ở hai đầu câu

lục làm cho các âm thanh của tiếng chuông như nối liền hai cực của không gian Không gian nới giãn ở cõi vô cùng Nhịp 4/4 đột ngột ở câu bát làm hơi thơ mạnh, khí thơ cuộn

lại, cùng với các âm “o” tròn tạo hình cơn lốc của thời gian từ quá khứ ùa về hiện tại

Hồn Nguyễn Trãi xưa như hiện về hoà nhập cùng với hào khí của thời đại hôm nay Riêng câu cuối là một hợp âm độc lập:

Ngoài kia nòng pháo ướt đầm sương khuya…

Hùng khí của thời đại cách mạng vang lên nhưng không phá vỡ không khí trầm tư suy tưởng của toàn bài Khoa tách câu thơ này thành một khổ thơ riêng sau một nốt lặng Nòng pháo kia không mang lại cái sôi động của cuộc chiến mà yên bình mộng mơ giữa đêm khuya yên tĩnh Bài thơ đẹp ở vẻ đẹp trầm ngâm đầy suy tư ấy

Câu lục bát sau hay ở cách ngắt nhịp:

Chị nhìn lá rụng, cành trơ

Đắng cay nhớ ổ chuối khô Gió lùa…

Ở bề mặt ngôn từ, đoạn thơ tái hiện quá khứ khổ đau của một người con gái ở đợ Có cái nghèo nàn của ổ chuối khô, cái xơ xác của mái lều nơi chị nằm Ý nghèo Chưa thành thơ Nếu không có nhạc điệu, đấy chẳng qua là văn xuôi có vần Phải đọc lên bằng âm vang của nhạc điệu theo đúng nhịp, phách của nó mới thấy hết những nỗi niềm chìm lắng

ở bên trong Câu lục ngắt nhịp 4/2: Chị nhìn lá rụng, / cành trơ Nhịp 4 đầu nhanh, lá

rụng ào xuống Nhịp hai sau chậm, kéo dài ra Cành trơ thật là trơ Chơ vơ một thân phận

cô đơn, bẽ bàng Câu bát thứ hai ngắt nhịp 3/3/2 : Đắng cay nhớ/ ổ chuối khô/ Gió lùa

Nếu đọc theo nhịp thông thường của thể lục bát, gió vẫn có đấy, nhưng chỉ thoảng qua

Đọc đúng nhịp như trên, giọng thơ nghẹn lại ở chữ “nhớ”, hơi thơ đứt quãng, nỗi đau cuộn lên Riêng “gió lùa” một nhịp, gió như kéo dài từng sợi luồn qua ổ chuối nơi chị

nằm, gió buốt qua da thịt, tái tê một nỗi niềm

Không thể quên câu lục bát hay nhất trong cuộc đời làm thơ của Trần Đăng Khoa : câu

thơ viết về mẹ khi “Mẹ ốm” :

Cả đời đi gió đi sương

Bây giờ mẹ lại vịn giường tập đi

Khoa mượn thành ngữ “đi gió về sương” của dân gian nhưng thay đổi bằng cách biến âm

“đi gió đi sương” Giữa “đi” và“về” trong trường hợp này chỉ là một, nhưng thay âm vực thấp “về” thành âm vực cao “đi”, câu lục mang âm hưởng nhẹ tênh Vốn thành ngữ

“đi gió về sương” chỉ sự lam lũ cực nhọc Khoa viết thành “đi gió đi sương” gợi cảm giác

như mẹ Khoa thời trẻ coi chuyện lam lũ gió sương thật nhẹ nhàng Mà ai thời trẻ chẳng thế Nếu thật sự nặng nề mẹ Khoa đã không tồn tại đến bây giờ Nhưng cũng chính vì thế

mà buổi xế chiều mẹ mới thấm thía bao nhiêu nặng nhọc: Nắng mưa từ những ngày xưa Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan Lưu ý sự phối âm tương phản rõ nét giữa hai câu lục

và câu bát: câu lục nhẹ thênh, câu bát trĩu nặng Một cái gì đó nhói lên từ bước chân đau của mẹ Thời trẻ như bay trong sương gió, đến già phải tập đi Cái nghịch lý của một đời người! Mẹ ốm mẹ thành trẻ con, còn Khoa cũng từ đó mà trưởng thành

Trang 8

Việt Nam là đất nước sản sinh không ít những đứa trẻ biết làm thơ Tương truyền, thời xưa đã từng có những thần đồng thi ca như Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hiền, Lê Quý Đôn… Gần đây là Nguyễn Hồng Kiên, Nguyễn Bá Dậu, Phan Thị Vàng Anh… Nhưng để thành một nhà thơ thực sự với những thành công xuất sắc ngay từ thời

thơ ấu, có lẽ chỉ có mỗi mình Trần Đăng Khoa Góc sân và khoảng trời là tập thơ nhỏ

nhắn nhưng trong đó chứa đựng bao nhiêu vẻ đẹp lớn lao của nghệ thuật Cả đời làm văn chương của mình, đến lúc, ông Trần Đăng Khoa hiện tại phải nghiêng mình kính phục

em bé Khoa ở góc sân và khoảng trời ngày trước

Trang 9

Hạt gạo làng ta

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy

Hạt gạo làng ta

Những năm bom Mỹ

Trút trên mái nhà

Những năm cây súng Theo người đi xa Những năm băng đạn Vàng như lúa đồng Bát cơm mùa gặt Thơm hào giao thông

Hạt gạo làng ta

Có công các bạn Sớm nào chống hạn Vục mẻ miệng gàu Trưa nào bắt sâu Lúa cao rát mặt Chiều nào gánh phân Quang trành quết đất

Hạt gạo làng ta Gửi ra tiền tuyến Gửi về phương xa

Em vui em hát Hạt vàng làng ta

Trang 10

Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học cấp 1 nhưng bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn và nhờ tài năng đặc biệt, bài thơ được viết ra một cách sâu sắc, rung động, giàu ý nghĩa nhưng lại rất trẻ con.

" Hạt gạo làng ta.

Có vị phù sa,

Của sông Kinh Thầy.

Có hương sen thơm,

Trong hồ nước đầy…"

Ở lứa tuổi ấy mà biết nghĩ như thế là sâu sắc lắm Từ một thực tế có tính khoa học là cây lúa hút chất dinh dưỡng dưới bùn, đất ra hoa trổ bông, kết hạt ( như ai cũng biết) thì nhà thơ bằng sự tinh tế của tâm hồn còn nghe được, cảm nhận được " vị phù sa" " hương sen thơm" trong hạt gạo Và hơn thế nữa có cả tình người, lòng người ấp ủ:

"Có lời mẹ hát,

Ngọt ngào hôm nay "

Làm ra hạt gạo gian khổ biết chừng nào Ca dao cổ có câu thấm thía:

" Ai ơi bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần."

Đó là cách phát biểu trực tiếp, có tính chất luân lí, hơi nghiêng về lí trí Còn trong bài thơ này , Trần Đăng khoa để thực tế nói lên:

" Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu"

Bão dập, nắng lửa, mưa dầm, thiên nhiên của đất nước Việt Nam đới khắc nghiệt này đã đổ vào đầu bà con nông dân bao nhiêu nhọc nhằn để làm ra hạt gạo , mà cụ thể nhất là bà mẹ của mình:

"Nước như ai nấu,

Chết cả cá cờ.

Cua ngoi lên bờ,

Ngày đăng: 23/08/2015, 00:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w