1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức

303 1,1K 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 303
Dung lượng 7,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là môn học với khá nhiều nội dung bao gồm cả lý thuyết và bài tập ứng dụng nên đòi hỏi khi kiểm tra đánh giá phải bao quát hết được toàn bộ chương trình, do đó hình thức trắc nghiệm

Trang 1

iv

TÓM TẮT

Bộ Giáo dục và đào tạo đưa ra yêu cầu trong việc đổi mới trong kiểm tra đánh giá là phải:” Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh” Cùng với yêu cầu trong việc kiểm tra đánh giá cho môn cơ sở dữ liệu là phải bao quát được toàn bộ nội dung của tất cả các chương Trong các hình thức kiểm tra đánh giá thì trắc nghiệm khách quan đáp ứng tốt các yêu cầu trên Vì vậy, người nghiên cứu thực hiện luận văn tốt nghiệp với đề tài: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức”

Đề tài gồm 3 phần: mở đầu, nội dung, kết luận và kiến nghị

Phần mở đầu: Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, khách thể, đối tượng nghiên cứu, giới hạn đề tài, giả thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung: gồm 3 chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Chương 2: Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ

sở dữ liệu

Chương 3: Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ Thủ Đức

Kết luận và kiến nghị:

Sau thời gian nghiên cứu, đề tài đã đạt được kết quả sau:

− Biên soạn được 310 câu trắc nghiệm cho môn cơ sở dữ liệu Sau khi thực hiện quá trình thử nghiệm và phân tích, kết quả đã xây dựng được ngân hàng câu hỏi gồm 290 câu thuộc 2 dạng câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết và 4 lựa chọn

− Người nghiên cứu đã sử dụng phần mềm SPSS để phân tích và đánh giá các câu hỏi trắc nghiệm

− Xác định những nội dung liên quan đến đề tài sẽ được tiếp tục thực hiện và phát triển

Trang 2

v

ABTRACT The deparment of education and training makes requirements for the testing and evaluating the learning outcome of students which bases on this standard “Students’ studying result is tested and evaluated fairly and objectively” Along with the requirements of the evaluation of database management subject is to cover the entire contents of all the chapters Among all testing forms, Objective test responds to these requirements So “Building test question bank in database mangement subject for Thu Duc College of Technology” was chosen

The topic consists of three parts: the opening, the content and the conclusion and recommendations

The Opening: the reasons for selecting the topic, the studying objective, the studying tasks, the object of research, the target of research, the boundary of the topic, the supposition of research and the methods of research

The content : including 3 chapters

Chapter 1: Theorical basis for building test question bank

Chapter 2: Practical basis for building up the test question bank in database mangement subject for Thu Duc college of technology

Chapter 3: Building test question bank in database mangement subject for Thu Duc college of technology

The conclusion and recommendations: After the study period, subjects achieved the following results:

− Composing 310 test questions After testing and analysing, 290 questions in

2 form are stored in question bank

− Using SPSS software to analyze and evaluate the multiple-choice questions

− Identify the content related to the subject will be further developed and implemented

Trang 3

vi

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

1.1 Lý do khách quan 1

1.2 Lý do chủ quan 2

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

2.1 Đối tượng nghiên cứu 3

2.2 Khách thể nghiên cứu 3

3 Mục tiêu – Nhiệm vụ nghiên cứu 3

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 3

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Giả thuyết nghiên cứu 4

5 Phạm vi nghiên cứu 4

6 Phương pháp nghiên cứu 4

6.1 Nghiên cứu lý luận 4

6.2 Nghiên cứu thực tiễn 4

PHẦN NỘI DUNG 5

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 5

1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Tại Việt Nam 6

1.1.3 Những nghiên cứu về trắc nghiệm có liên quan đến đề tài 7

1.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 8

1.2.1 Khái niệm chung về trắc nghiệm (TEST) 8

1.2.2 Trắc nghiệm khách quan 9

Trang 4

vii

1.2.3 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm 9

1.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 10

1.3.1 Sử dụng trong giảng dạy 10

1.3.2 Sử dụng trong học tập 11

1.3.3 Sử dụng để kiểm tra đánh giá 11

1.4 Các hình thức và nguyên tắc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan 12

1.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng – sai 12

1.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn 16

1.4.3 Loại câu ghép hợp 19

1.4.4 Loại câu điền khuyết 20

1.5 Phân tích câu trắc nghiệm 22

1.5.1 Độ khó của câu trắc nghiệm 23

1.5.2 Độ phân biệt (phân cách) của câu trắc nghiệm 25

1.6 Độ tin cậy và độ giá trị của bài trắc nghiệm 27

1.6.1 Độ tin cậy 27

1.6.2 Độ giá trị 27

1.7 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm 29

1.7.1 Mục tiêu dạy học 30

1.7.2 Phân tích nội dung môn học 33

1.7.3 Lập dàn bài trắc nghiệm 34

1.7.4 Soạn các câu trắc nghiệm 36

1.7.5 Lấy ý kiến tham khảo về các câu trắc nghiệm 36

1.7.6 Tổ chức thử nghiệm, phân tích câu trắc nghiệm 36

1.7.7 Chỉnh sửa, bổ sung và lưu trữ 37

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38

Chương 2: CƠ SỞ THỰC TIỂN CỦA VIỆC XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM MÔN CƠ SỞ DỮ LIỆU 39

Trang 5

viii

2.1 Giới thiệu trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức 39

2.2 Giới thiệu môn cơ sở dữ liệu 46

2.2.1 Vai trò, vị trí của môn cơ sở dữ liệu 46

2.2.2 Mục tiêu của môn cơ sở dữ liệu 47

2.2.3 Đề cương chi tiết môn học 47

2.3 Thực trạng tổ chức kiểm tra, đánh giá môn cơ sở dữ liệu ở trường cao đẳng công nghệ Thủ Đức 49

2.3.1 Mục tiêu khảo sát 49

2.3.2 Phương pháp khảo sát 49

2.3.3 Đối tượng khảo sát 49

2.3.4 Quy trình khảo sát 50

2.3.5 Kết quả khảo sát 50

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

Chương 3: XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIÊM MÔN CƠ SỞ DỮ LIỆU CHO TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ THỦ ĐỨC 59

3.1 Một số định hướng cơ bản cho việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu 59

3.1.1 Tính khoa học 59

3.1.2 Tính phát triển toàn diện người học 59

3.1.3 Kết hợp giữa lý thuyết và thực hành 59

3.1.4 Đảm bảo yêu cầu phân hóa và đạt hiệu quả cao 60

3.2 Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm 60

3.2.1 Phân tích nội dung môn học 60

3.2.2 Mục tiêu kiểm tra đánh giá 63

3.2.3 Lập dàn bài trắc nghiệm 69

3.2.4 Biên soạn các câu trắc nghiệm 73

3.2.5 Lấy ý kiến về các câu trắc nghiệm 74

Trang 6

ix

3.3 Tổ chức thử nghiệm, phân tích câu trắc nghiệm 78

3.3.1 Mục đích thử nghiệm 78

3.3.2 Cách thức tiến hành 78

3.3.3 Chọn mẫu 83

3.4 Phân tích kết quả thử nghiệm 84

3.4.1 Phân tích câu trắc nghiệm 84

3.4.1.1 Độ khó của các câu trắc nghiệm 84

3.4.1.2 Độ phân cách của các câu trắc nghiệm 92

3.4.1.3 Điều chỉnh câu hỏi chưa phù hợp 98

3.4.2 Kiểm chứng kết quả thử nghiệm 100

3.5 Lập ngân hàng câu hỏi cho môn học 104

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 106

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 7

x

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Cách tính độ phân cách (phân biệt) của câu hỏi trắc nghiệm 26

Bảng 1.2: Dàn bài trắc nghiệm Môn:……… 35

Bảng 2.1: Mức độ áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá 50

Bảng 2.2: Mức độ áp dụng các hình thức câu trắc nghiệm trong đề thi TNKQ 52

Bảng 2.3: Mức độ quan trọng của việc áp dụng TNKQ vào môn CSDL 53

Bảng 2.4: Mức độ sẵn sàng áp dụng ngân hàng câu hỏi TNKQ vào KTDG môn CSDL 56

Bảng 3.1: Nội dung và mục tiêu chi tiết từng chương 61

Bảng 3.2: Bảng xác định mục tiêu KTDG theo thang mức độ nhận thức của Bloom 64

Bảng 3.3: Bảng quy định hai chiều về nội dung cần kiểm tra đánh giá 72

Bảng 3.4: Bảng tổng hợp số lượng câu hỏi đưa vào ngân hàng 73

Bảng 3.5: Tổng hợp ý kiến của giáo viên về các câu hỏi trắc nghiệm 75

Bảng 3.6: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết chương 1 (đề 1) 79

Bảng 3.7: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết chương 2 (đề 1) 79

Bảng 3.8: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết chương 3 (đề 1) 80

Bảng 3.9: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết chương 4, chương 5 (đề 1) 81

Bảng 3.10: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết chương 6 (đề 1) 82

Bảng 3.11 : Bảng trọng số đề thử nghiệm tổng hợp 82

Bảng 3.12 : Bảng phân bố đề thử nghiệm theo chương 83

Bảng 3.13: Bảng thống kê số sinh viên tham gia và số sinh viên làm đúng đề A 85

Bảng 3.14: Độ khó của các câu trắc nghiệm đề A 87

Bảng 3.15 : Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó 88

Bảng 3.16 : Phân loại các câu trắc nghiệm theo độ khó 89

Bảng 3.17 : Độ phân cách của các câu trắc nghiệm đề A 93

Trang 8

xi

Bảng 3.18 : Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách 94

Bảng 3.19 : Phân loại các câu trắc nghiệm theo độ phân cách 95

Bảng 3.20: Phân tích các câu trắc nghiệm có độ phân cách kém và nội dung cần chỉnh sửa 98

Bảng 3.21: Kết quả thi của 2 nhóm 101

Bảng 3.22: Phân phối xác suất 101

Bảng 3.23: Phân phối tần suất hội tụ 101

Bảng 3.22: Tổng trung bình nhóm 1 102

Bảng 3.23: Tổng trung bình nhóm 2 103

Trang 9

xii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức 39

Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức 43

Hình 2.3 Mức độ áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá 51

Hình 2.4: Mức độ áp dụng các hình thức câu trắc nghiệm trong đề thi TNKQ 52

Hình 2.5: Mức độ quan trọng của việc áp dụng TNKQ vào môn CSDL 54

Hình 2.6: Mức độ lựa chọn ưu tiên số một 55

Hình 2.7: Mức độ sẵn sàng áp dụng ngân hàng câu hỏi TNKQ vào KTDG môn CSDL 56

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm 91

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm 97

Trang 11

Hiện nay, hệ thống giáo dục nước ta đã và đang được cải cách, đổi mới, từng bước hiện đại hóa nhằm đào tạo đội ngũ nhân lực có đủ chuyên môn và phẩm chất đạo đức đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước Việc đào tạo dựa trên chuẩn đầu ra đã có tác động đến việc đổi mới chương trình, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá Do đó, để thực hiện kết luận số 51-KL/TW của Hội nghị lần thứ 6, ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế", chỉ thị số 895/CT-BGDĐT ban hành ngày 12/3/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu: “Các cơ sở đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học rà soát và đánh giá tác động của chuẩn đầu ra đối với việc đổi mới chương trình đào tạo, phương pháp dạy học, thi kiểm tra đánh giá và cải thiện các điều kiện đảm bảo chất lượng trong nhà trường”

Trang 12

và đào tạo cũng đưa ra các yêu cầu khi đổi mới đánh giá kết quả học là phải “Hướng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh “ Trong các hình thức kiểm tra đánh giá thì hình thức trắc nghiệm đáp ứng được yêu cầu đổi mới của Bộ GD-ĐT Đề trắc nghiệm không những đảm bảo các yếu tố công bằng

và khách quan mà còn phủ kín được toàn bộ nội dung của môn học Hiện nay, TNKQ

đã được áp dụng cho nhiều môn học trong các kỳ thi trung học và đại học nhẳm đánh giá khách quan kết quả học tập của học sinh

1.2 Lý do chủ quan

Hệ thống ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm ngành CNTT tại trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức đang trong giai đoạn hoàn thiện Tại khoa CNTT của trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức, hình thức trắc nghiệm đang được triển khai và áp dụng cho một số môn như: mạng căn bản, vẽ trang trí, tin học căn bản, hệ điều hành Linux Điều này cho thấy hiện nay nhu cầu về việc kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm đang

là yêu cầu cấp thiết

Môn cơ sở dữ liệu là một trong những môn học chung cho sinh viên năm nhất ngành CNTT, cung cấp kiến thức cơ bản về việc thiết kế và sử dụng một cơ sở dữ liệu

Trang 13

3

làm nền tảng để các em có thể học tốt các môn chuyên ngành Đây là môn học với khá nhiều nội dung bao gồm cả lý thuyết và bài tập ứng dụng nên đòi hỏi khi kiểm tra đánh giá phải bao quát hết được toàn bộ chương trình, do đó hình thức trắc nghiệm khách quan là hình thức kiểm tra đánh giá tốt nhất cho môn học này

Nhận thức được tầm quan trọng của hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá và yêu cầu phải xây dựng một ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan theo đúng quy trình, được thử nghiệm và đánh giá một cách cẩn thận Đó cũng là lý do để người nghiên cứu thực hiện đề tài “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn cơ sở dữ liệu tại trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức“

2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu

2.2 Khách thể nghiên cứu

− Nội dung dạy học môn cơ sở dữ liệu

− Mục tiêu dạy học của môn cơ sở dữ liệu

− Giáo viên đang tham gia giảng dạy môn cơ sở dữ liệu và sinh viên ngành công nghệ thông tin trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức

3 Mục tiêu – Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn “Cơ sở dữ liệu” tại trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

− Nghiên cứu cơ sở lý luận về trắc nghiệm; Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Trang 14

4 Giả thuyết nghiên cứu

Nếu sừ dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của môn cơ sở dữ liệu do người nghiên cứu xây dựng vào việc đánh giá sinh viên khoa CNTT tại trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức thì sẽ nâng cao tính chính xác và hiệu quả khi đánh giá kết quả học tập của sinh viên từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học ở trường cao đẳng công nghệ Thủ Đức

5 Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên người nghiên cứu xin giới hạn đề tài là “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn Cơ sở dữ liệu tại trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức” Đồng thời người nghiên cứu xin giới hạn biên soạn khoảng 300 câu hỏi trắc nghiệm lựa chọn và điền khuyết đưa vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn Cơ sở dữ liệu của sinh viên ngành Công nghệ thông tin trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nghiên cứu lý luận

+ Nghiên cứu các văn bản pháp lý

+ Các tài liệu là cơ sở lý luận về xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Cơ sở dữ liệu

+ Các tài liệu liên quan

6.2 Nghiên cứu thực tiễn

+ Khảo sát

+ Khảo sát kết quả

+ Phân tích kiểm nghiệm các câu trắc nghiệm

Trang 15

1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923 Với việc chấm bài trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập NCME vào thập niên 1950 và ra đời ETS (dịch vụ trắc nghiệm giáo dục) năm 1947 ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ

Từ đó đến nay khoa học về đo lường tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình, đóng góp đối với khoa học này xuất hiện thường xuyên làm cho

nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn Ngoài ra, trên những thành tựu của IRT và ngôn ngữ học máy tính công nghệ E-RATE chấm tự động các bài luận tiếng anh nhờ máy tính của ETS đã được triển khai nhờ mạng Internet trong năm vùa qua Trong các kỳ thi tuyển sinh đại học mà dựa vào kết quả của các kỳ thi do các công ty ngoài Nhà nước tổ chức để xét tuyển Có hai dịch vụ hỗ trợ TTĐH ở Hoa Kỳ là SAT (Scholastic Achievement Test) do công ty ETS (Educational Testing Services) tổ chức, và ACT (American College Test) do chương trình ACT (American College Testing Program) triển khai

Trang 16

6

Cả SAT và ACT thường tổ chức thi mỗi năm 4 lần, cho các học sinh ở những năm cuối bậc phổ thông trung học Hiện nay hàng năm có khoảng 1,8 triệu thí sinh thi SAT và 1,6 triệu thí sinh thi ACT

1.1.2 Tại Việt Nam

Trước năm 1975, ở Miền Nam nước ta đã có một vài người được đào tạo về khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục từ các nước phương Tây Vào năm

1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ Những năm sau 1975, ở miền Bắc có một số cán bộ nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý Đến năm 1993, Bộ GD-ĐT đã mời một số chuyên gia nước ngoài phổ biến về khoa học này, đồng thời cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập Từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi Kỳ thi tuyển đại học thí điểm được tổ chức tại trường đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ Kỳ thi này có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề TNKQ và tự luận được sử dụng để thí sinh tự chọn Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề TNKQ, bài thi được chấm bằng máy Opscan-7

Từ năm 1997 các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục lắng xuống Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002, Bộ GD-ĐT

đã tổ chức kỳ thi tuyển đại học theo hình “3 chung” Năm 2002, Bộ GD-ĐT đã quan tâm tới việc thành lập “Phòng kiểm định chất lượng chất lượng đào tạo” nằm trong Vụ Đại học Ngày 18/7/2003, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP Quyết định thành lập Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam

Trang 17

7

Năm 2005, Bộ GD-ĐT quyết định sẽ dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi một số môn trong kỳ tuyển sinh đại học Đồng thời dần đưa phương pháp TNKQ vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các cấp học, ngành học Đến nay đã sử dụng đề thi TNKQ trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học cho các môn thi Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học, Sinh học Riêng đối với môn Toán, Bộ GD-ĐT dự định triển khai dùng đề thi TNKQ trong hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học năm 2008, nhưng còn nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, câu hỏi TNKQ không đo lường hết mức độ nhận thức của học sinh, hơn nữa vì chưa thật sự chuẩn bị tốt nên việc sử dụng đề thi TNKQ môn Toán trong hai kỳ thi này bị dừng lại

1.1.3 Những nghiên cứu về trắc nghiệm có liên quan đến đề tài

Những năm đầu của thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học

GD và khoa học QLGD ở Việt Nam, vấn đề KTDG bằng trắc nghiệm khách quan cũng được đề cập nhiều trong một số sách, các bài báo về GD, QLGD cụ thể như:

“Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” của Bộ giáo dục và đào tạo – Vụ đại học; “Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục” của tác giả Huỳnh Huynh; Tác giả Dương Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”; Tác giả Phan Trọng Ngọ ở tác phẩm “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường bàn về khái niệm đánh giá, mối quan hệ của đánh giá và mục tiêu học tập, các phương pháp đánh giá”; Tác phẩm “Đánh giá trong giáo dục” của Trần Thị Tuyết Oanh đề cập đến những vấn đề cơ bản về KT-ĐG bằng trắc nghiệm khách quan một cách hệ thống” GS.TSKH Lâm Quang Thiệp cũng viết khá nhiều sách, tạp chí như bài “Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập ở các trường đại học nước ta” và quyển “Trắc nghiệm và ứng dụng” cuốn sách phổ cập cho những người làm giáo dục, phổ biến rộng rãi về khoa học đo lường trong giáo dục bằng trắc nghiệm khách quan

Trang 18

8

Hiện nay cũng có rất nhiều luận văn thạc sĩ thực hiện về đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như: luận văn “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ lớp 10” của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Toán đại số tuyến tính cho sinh viên khối không chuyên của Cổ Tồn Minh Đăng; Hoàng Thị Hằng với “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức và ngân hàng đề thi kỹ năng cho nghề dệt may thổ cẩm theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề”; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Vật lý lớp 11” của Lê Thị Linh; …

Những đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi thuộc lĩnh vực CNTT như: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm cho môn học Vi xử lý - Vi điều khiển” của Nguyễn Tuấn Anh – ĐH Thái Nguyên; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn kỹ thuật vi xử lý trường trung học kỹ thuật thực hành” của Trần Thị Quỳnh Như…

1.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan

1.2.1 Khái niệm chung về trắc nghiệm (TEST)

Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh là “thử” “phép thử”, “sát hạch” Theo nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực” [18, Tr 13]

Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học Theo GS Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (Behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay

so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập dự kiến” [18, Tr 364]

Trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund như sau: Trắc nghiệm là một

Trang 19

9

công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể [15, Tr 61]

Theo GS Trần Bá Hoành: Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp

đo để tham dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu ) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức,

kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh [5, Tr 36]

Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,…

1.2.2 Trắc nghiệm khách quan

Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi Người trả lời được chọn câu trả lời đúng hoặc tốt nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm

Ngày nay, việc nâng cao tính khách quan cho quá trình kiểm tra, đánh giá; mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi cử đang ngày càng được nhiều người quan tâm, ủng hộ 1.2.3 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Theo Millman (1984): Ngân hàng câu hỏi thi là một tập hợp các câu hỏi thi nào đó để dễ sử dụng để tổ hợp thành đề thi

Theo Choppin (1981): Ngân hàng câu hỏi thi là tập hợp các câu hỏi được tổ chức và phân loại theo nội dung và được xác định các đặc tính độ khó, độ tin cậy, tính giá trị…

Trang 20

1.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Theo tác giả Lê Đức Ngọc, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh giá [12, Tr 123]

1.3.1 Sử dụng trong giảng dạy

Đổi mới phương pháp dạy học: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên việc xác định các mục tiêu và phân tích nội dung học tập một cách chuẩn mực Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng mục tiêu và nội dung học tập đã xác định Vậy nên, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có tác dụng định hướng quá trình dạy học, tránh dạy tủ và học tủ Chuẩn hóa kiến thức môn học: Việc kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng và

là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Việc dạy định hướng, theo ngân hàng câu hỏi sẽ cho kết quả tiếp thu môn học như nhau, tránh dạy tùy tiện, bớt chương trình hay sai sót trong quá trình truyền thụ Bên cạnh đó, thông qua kết quả trắc nghiệm, giáo viên sẽ biết nội dung học tập nào được giảng dạy chưa đạt yêu cầu để nghiên cứu thay đổi hoặc điều chỉnh các phương pháp dạy học hiệu quả hơn

Dạy nhận thức và tư duy bậc cao: Quá trình phân tích, đánh giá, thảo luận

và tư duy cho các câu hỏi trắc nghiệm tại lớp đã góp phần dạy nhận thức và tư

Trang 21

Khuyến khích học sinh tự học: Thông quan ngân hàng câu hỏi, học sinh có thể chủ động tìm kiếm các tài liệu hoặc tham khảo ý kiến với người khác để thu thập kiến thức, tự kiểm tra kiến thức của mình

Học sinh có thể lập kế hoạch học tập cho riêng mình: Tổ chức học nhóm, học phụ đạo trao đổi lẫn nhau để nhằm giải quyết các vấn đề từ các câu hỏi trong ngân hàng câu hỏi

Như vậy, thông quan ngân hàng câu hỏi, học sinh sẽ định hướng được chương trình, nội dung cần học Qua đó, học sinh cũng tự kiểm tra đánh giá kiến thức, mức độ tiếp thu của bản thân từ đó tự điều chỉnh kế hoạch học tập

1.3.3 Sử dụng để kiểm tra đánh giá

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là công cụ đo lường được mức độ nhận thức trong môn học của học sinh

Kết quả trắc nghiệm giúp nhà trường đánh giá trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ và chất lượng giảng dạy của giáo viên và công khai kết quả học tập của học sinh

Trang 22

nó giúp giáo viên cũng như học sinh định hướng được mục tiêu trong từng quá trình giảng dạy

1.4 Các hình thức và nguyên tắc soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm khách quan Hiện nay, có nhiều tài liệu viết về trắc nghiệm đã đề cập một cách rất kỹ lưỡng

về hình thức, cấu trúc, ưu, nhược điểm và nguyên tắc soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách quan Nhưng thường được sử dụng nhiều nhất trong kiểm tra, đánh giá,

đó là: 1) loại câu trắc nghiệm đúng - sai, 2) loại câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn, 3) loại câu ghép hợp (xứng hợp) và 4) loại câu điền khuyết

1.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng – sai

Loại câu trắc nghiệm đúng – sai được trình bày dưới dạng câu khẳng định gồm một hoặc nhiều mệnh đề và học sinh phải trả lời bằng cách lựa chọn Đúng (Đ) hay Sai (S) Câu trắc nghiệm đúng – sai thường có hai dạng:

- Dạng có thân chung: Câu hỏi gồm một phần thân chung và các ý trả lời Người học phải xem xét các ý trả lời, so sánh với nội dung của phần thân chung để xác định câu nào đúng, câu nào sai

Phần thân chung: có thể là một cụm từ hoặc một vấn đề mang tính lý thuyết

Trang 23

13

Câu trả lời: thường có 5 câu cho phần thân chung, hoặc cũng có khi nhiều hơn Những câu trả lời có thể đúng, cũng có thể là sai; câu trả lời thường là những ý có liên quan trực tiếp và giúp làm rõ phần thân chung

Trắc nghiệm đúng/ sai dạng có thân chung thường có cấu trúc như sau:

Hãy đánh dấu (X) vào cột Đ (đúng) hoặc cột S (sai) phù hợp trong các ý sau: Phần thân chung (là một cụm từ hoặc một

Hãy khoan tròn vào chữ Đ (đúng) hoặc chữ S (sai) vào các câu thích hợp sau:

Trang 24

14

1) Khi lựa chọn phương pháp dạy học, giáo viên phải căn cứ

vào mục tiêu và nội dung học tập

2) Để nhanh chóng chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân nên dùng

những loại thuốc mới nhất tuy có đắt tiền

Ở cả hai dạng trên của câu trắc nghiệm đúng/ sai, đối với câu đúng phải là câu có toàn bộ nội dung phù hợp với tri thức khoa học, trong câu trắc nghiệm chỉ cần có một chi tiết không phù hợp với tri thức khoa học thì toàn bộ câu trắc nghiệm được đánh giá là sai

Ưu nhược điểm:

Ưu điểm:

− Đây là dạng câu hỏi trả lời nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình, thích hợp để trắc nghiệm kiến thức về các sự kiện

− Dễ soạn thảo đối với giáo viên và không mất thời gian để tìm cách

“đánh lạc” người học vì vậy có thể viết với số lượng lớn câu hỏi bao phủ chương trình

− Học viên không phải viết câu trả lời nên kết quả hoàn toàn đúng so với đáp án, khi chấm điểm nhanh và rất dễ thống nhất

Nhược điểm:

Nhược điểm lớn nhất của dạng câu hỏi đúng sai là học viên có thể “đoán mò” mà vẫn có khả năng đúng 50%, khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém thấp Chính nhược điểm này đã hạn chế tính giá trị của phương pháp

Trang 25

15

Quy tắc biên soạn

− Không chép nguyên văn những câu hỏi từ sách giáo khoa hoặc giáo trình, vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòng một cách máy móc

− Nội dung các câu phát biểu phải được dựa trên cơ sở khoa học, tính đúng hay sai phải chắc chắn, không tùy thuộc vào quan niệm riêng của từng

cá nhân

− Mỗi câu trắc nghiệm chỉ nên diễn tả một ý tưởng độc nhất, tránh những câu phức tạp, bao gồm quá nhiều chi tiết

− Tránh dùng những từ tiết lộ kết quả Chẳng hạn những từ: “tất cả”,

“không bao giờ”, “không một ai”, “không thể nào”, những từ này thường có

ở những câu sai, những từ: “thường thường”, “đôi khi”, “một số”, “có khi”, bộc lộ một sự dè dặt nào đó, nên thường hay được sử dụng với các câu đúng Học sinh có nhiều kinh nghiệm có thể khám phá ra điều này một cách dễ dàng

− Tránh dùng các câu ở thể phủ định, nhất là thể phủ định kép

− Trong bài thi, số câu đúng và số câu sai nên gần bằng nhau

− Tránh làm cho một câu trở nên sai vì một chi tiết vụn vặt hoặc một ý tưởng nhằm đánh lạc học sinh

Cách cho điểm

Có hai phương pháp chấm điểm thường được áp dụng:

− Phương pháp thứ nhất là chấm mỗi câu trả lời đúng 1 điểm và không kể đến câu làm sai hoặc không làm:

Điểm số = Số câu đúng

Trang 26

1.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn (Multiple choice) gồm có hai phần: Phần “gốc” (còn gọi là phần thân chung) và phần “lựa chọn” (còn gọi là phần trả lời)

− Phần gốc là một câu hỏi hay một câu bỏ lửng (chưa hoàn tất) Phần gốc cũng có thể là hình vẽ, đồ thị Phần gốc phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp [21, Tr 71]

− Phần lựa chọn gồm một số (thường là 4 hay 5) câu trả lời, trong đó có một câu trả lời đúng hoặc đúng nhất Các câu trả lời còn lại đều là những

“mồi nhử” hoặc câu “nhiễu” có vẻ như hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc, lựa chọn

Ưu nhược điểm:

Ưu điểm:

− Để trả lời câu hỏi có nhiều lựa chọn, học sinh phải suy nghĩ để lựa chọn được câu trả lời đúng, tránh được những câu “nhiễu” chứ không chỉ sử dụng trí nhớ đơn thuần Như vậy câu hỏi có nhiều lựa chọn có thể kiểm tra được kiến thức ở mức cao hơn

Trang 27

17

− Có thể hỏi trên phương diện rộng của chương trình, do đó có thể làm tăng độ giá trị

− Chấm điểm rất nhanh, chính xác nên tiết kiệm được thời gian chấm bài

− Câu hỏi có nhiều lựa chọn thường có độ tin cậy cao nếu các câu trả lời

“mồi nhử” không quá sơ hở để học sinh nhận biết một cách dễ dàng

Nhược điểm:

− Vì chỉ có một câu trả lời đúng trong số các câu trả lời nên nếu học sinh biết trước, học sinh sẽ không cần đọc các câu trả lời khác Trong trường hợp này, những câu “mồi nhử” hay việc lựa chọn sẽ không có ý nghĩa

− Việc soạn thảo câu hỏi có nhiều lựa chọn mất rất nhiều thời gian Nhiều khi rất khó tìm được câu “ mồi nhử” cho có vẻ hợp lý

− Vì khó biên soạn nên có khi các câu hỏi dễ tập trung vào những kiến thức không quan trọng và do đó sẽ làm giảm đi tính giá trị của câu hỏi

− Học sinh có óc sáng kiến có thể tìm ra những câu trả lời hay hơn phương án đúng đã cho, nên họ có thể sẽ không thỏa mãn hay cảm thấy khó chịu

− Câu hỏi có nhiều lựa chọn không đo được khả năng phán đoán tinh vi

và khả năng giải quyết vấn đề khéo léo

− Học sinh cần nhiều thời giờ để đọc câu hỏi và các câu trả lời

Quy tắc biên soạn

− Phần gốc của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng vấn đề để người trả lời hiểu được chính xác nội dung câu hỏi đề cập

− Phần gốc của câu hỏi nên mang chọn ý nghĩa và câu trả lời nên ngắn gọn

Trang 28

Trong tài liệu “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập”, các tác giả Nguyễn Phụng Hoàng và Võ Thị Ngọc Lan đã đưa ra công thức chấm điểm bài trắc nghiệm loại có nhiều lựa chọn như sau:

Điểm số = R -

1

 K W

Trong đó: R là số câu trả lời đúng; W là số câu trả lời sai; k là số câu trả lời cho sẵn để chọn trong mỗi câu hỏi Đây là công thức có hiệu chính cho yếu tố đoán mò may rủi

Hai cách thức cho điểm trên có sự khác nhau Cách cho điểm thứ nhất vẫn thường được các giáo viên sử dụng nhiều hơn trong quá trình giảng dạy Có thể vì điểm số của bài kiểm tra chỉ mang ý nghĩa thăm dò năng lực học sinh để từ đó giáo viên có thể đưa ra những điều chỉnh kịp thời giúp cho quá trình giảng dạy và

Trang 29

19

học tập có hiệu quả hơn Cách cho điểm thứ hai đòi hỏi sự khắt khe hơn đối với học sinh khi làm bài thi Học sinh cần cân nhắc kỹ lưỡng trước khi chọn câu trả lời chứ không thể chọn một cách tùy tiện Tuy nhiên, khi áp dụng cách cho điểm này giáo viên cần thông báo cho học sinh biết trước hoặc có lời chú thích trong bài thi về cách thức cho điểm Đó là sự định hướng cần thiết đối với học sinh trước khi làm bài thi

1.4.3 Loại câu ghép hợp

Loại trắc nghiệm ghép hợp là một dạng đặc biệt của loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn Câu trắc nghiệm ghép hợp thường có hai bộ phận, đó là hai danh mục thông tin gồm những chữ, nhóm chữ hay câu Danh mục thứ nhất được gọi là tiền đề (thường là danh mục bên trái); danh mục thứ hai được gọi là danh mục trả lời (danh mục bên phải)

Người dự thi có nhiệm vụ làm phù hợp mỗi câu tiền đề bằng một ý trả lời đúng tương ứng Ưu nhược điểm

Quy tắc biên soạn

Trang 30

20

− Sử dụng một số lượng hợp lý các tiền đề và các ý trả lời: Đa số các chuyên gia tán thành với con số tối thiểu là 5 cho mỗi danh mục Ít câu quá làm cho học sinh dễ đoán ra, nhiều câu quá đòi hỏi học sinh phải đọc bản danh mục quá nhiều lần mới có thể trả lời được

− Các tiền đề và các ý trả lời trong một danh mục phải đồng nhất Ví dụ: Nếu một danh mục là công cụ thì tất cả các câu trong danh mục là công cụ, chứ không được là danh mục bao gồm cả vật liệu và công cụ

− Số ý lựa chọn trong danh mục trả lời nhiều hơn số tiền đề Một cách khác có hiệu quả là cho phép một ý trả lời được sử dụng nhiều hơn một lần (áp dụng với câu trắc nghiệm thi trên giấy)

− Các tiền đề có thể dài nhưng câu trả lời phải ngắn gọn Thông thường người dự thi đọc tiền đề trước sau đó mới xem đến danh mục các câu trả lời Nếu câu trả lời quá dài thì người dự thi có thể bị lẫn lộn

Cách cho điểm

Trắc nghiệm ghép hợp là một dạng đặc biệt của loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn nên có thể sử dụng cách cho điểm của loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn

1.4.4 Loại câu điền khuyết

Câu hỏi điền khuyết hay câu hỏi trả lời ngắn (short answer) là loại câu hỏi cung cấp không đầy đủ thông tin, yêu cầu học sinh phải bổ sung, điền thông tin vào chỗ còn thiếu Câu hỏi điền khuyết có thể được viết theo một trong 6 dạng sau:

− Một câu có để trống một hoặc vài từ, người trả lời có nhiệm vụ đọc kỹ câu đó rồi tìm và điền các từ thích hợp vào ô trống

− Một câu có để trống một hoặc vài chỗ, cho trước 2 hoặc 3 từ hoặc cụm

từ (viết trong ngoặc) để người trả lời chọn và điền vào chỗ trống

Trang 31

21

− Một hình vẽ không có chú thích hoặc chú thích thiếu, người dự thi phải điền chú thích vào vị trí cần thiết

− Hình vẽ bỏ sót vài nét, yêu cầu người dự thi vẽ thêm cho hoàn chỉnh

− Sơ đồ bỏ trống vài khâu hoặc mũi tên, yêu cầu người dự thi vẽ hoặc vẽ thêm cho đủ

− Một câu hỏi xác định cụ thể số ý phải trả lời, yêu cầu người dự thi phải viết các ý đó

Ưu nhược điểm

Ưu điểm:

− Là dạng câu hỏi có câu trả lời ngắn và nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình do đó làm tăng tính giá trị cho bài trắc nghiệm

− Chấm điểm nhanh và đáng tin cậy hơn so với loại luận đề

− Câu hỏi có nhiều dạng nên kiểm tra được nhiều khía cạnh

− Thí sinh mất cơ hội đoán mò

− Giúp học sinh luyện trí nhớ khi học

Nhược điểm:

− Giáo viên có thể hiểu sai, đánh giá thấp giá trị các câu trả lời sáng tạo, khác với đáp án nhưng vẫn hợp lý Điều này làm cho việc chấm bài mất nhiều thời giờ và điểm của bài thi dù sao cũng kém tin cậy so với bài thi sử dụng một số loại trắc nghiệm khách quan khác (như loại câu hỏi có nhiều lựa chọn)

− Phạm vi khảo sát thường chỉ giới hạn vào chi tiết, các sự kiện vụn vặt, không khảo sát được khả năng tổng hợp của học sinh

Quy tắc biên soạn

Trang 32

22

− Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, và chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng Tránh viết các câu mơ hồ dễ làm học sinh có thể trả lời theo nhiều cách

− Sử dụng ngôn từ của riêng mình, tránh trích nguyên văn các câu từ sách

để không khuyến khích học sinh học thuộc lòng

− Chỉ nên chừa trống các chữ quan trọng và chỉ kiểm tra những phần kiến thức quan trọng, tránh những câu không có giá trị

− Không đưa ra quá nhiều chỗ trống Một hoặc hai khoảng trống trong một câu là đủ Nhiều chỗ trống hơn có thể làm cho câu hỏi không thể làm được

− Tránh viết các từ loại “cái”, “chiếc”, “con” trước chỗ trống

− Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau cho thí sinh không đoán được chữ phải trả lời

1.5 Phân tích câu trắc nghiệm

Việc phân tích các câu trả lời của thí sinh trong một bài trắc nghiệm là việc làm rất cần thiết và hữu ích cho người soạn thảo trắc nghiệm Nó giúp cho người soạn thảo: [21, Tr 153]

− Biết được những câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ

− Lựa ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi với học sinh kém

− Biết được lý do vì sao câu trắc nghiệm không đạt được hiệu quả mong muốn và cần sửa đổi như thế nào cho tốt hơn

Trang 33

23

Một bài trắc nghiệm, sau khi đã được sửa đổi trên căn bản của sự phân tích các câu trắc nghiệm, có khả năng đạt được tính tin cậy cao hơn là một bài trắc nghiệm có cùng số câu hỏi nhưng chưa được thử nghiệm và phân tích

Việc phân tích câu trắc nghiệm là phân tích độ khó, độ phân cách (hay độ phân biệt) của câu trắc nghiệm

1.5.1 Độ khó của câu trắc nghiệm

Độ khó P của câu trắc nghiệm bằng tỷ số phần trăm thí sinh làm đúng câu hỏi trên tổng số thí sinh tham gia làm câu hỏi đó: [19, Tr 59]

ĐK = x 100 %

n

Trong đó:

− ĐK: Độ khó của câu hỏi thứ i

− Sd: Số người trả lời đúng câu hỏi thứ i

− n: Tổng số người làm bài trắc nghiệm

Giá trị độ khó thay đổi từ 0% đến 100% hoặc từ 0 đến 1 Người ta xác định

độ khó dựa vào việc thử nghiệm câu hỏi trắc nghiệm trên các đối tượng thí sinh phù hợp

− Mức độ khó của một câu trắc nghiệm được xác định theo 3 mức:

đk = 0 ÷ 24%: Câu hỏi quá khó;

− ĐK = 25% ÷ 75%: Câu hỏi có độ khó chấp nhận được;

− ĐK = 76% ÷ 100%: Câu hỏi quá dễ

Trong tài liệu Quy trình, phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi, đề thi

và tổ chức đánh giá kiến thức nghề, các tác giả Nguyễn Đức Trí và Hoàng Anh đưa ra 4 mức độ khó của câu trắc nghiệm:

− ĐK = 0 ÷ 24%: Câu hỏi quá khó;

Trang 34

24

− ĐK = 25% ÷ 50%: Câu hỏi có độ khó trung bình;

− ĐK = 51% ÷ 70%: Câu hỏi dễ

− ĐK = 76% ÷ 100%: Câu hỏi quá dễ

Hai cách phân loại trên cơ bản giống nhau Cách phân loại thứ hai chỉ chi tiết hơn mà thôi

Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm

Theo các chuyên gia đo lường, một bài trắc nghiệm được gọi là tốt sẽ bao gồm các câu hỏi có mức độ khó trung bình hay mức độ khó vừa phải Muốn xác định được khái niệm này cần phải lưu ý đến xác suất làm đúng câu hỏi bằng cách chọn hú họa hay là tỷ lệ may rủi Tỷ lệ may rủi thay đổi theo từng loại câu trắc nghiệm:

Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm đúng - sai

Câu trắc nghiệm đúng – sai có độ khó vừa phải là câu có 50% số thí sinh làm đúng câu ấy và 50% số thí sinh làm sai Câu hỏi thuộc loại này có hai lựa chọn do đó sự may rủi làm đúng câu hỏi là 50% Đó là tỷ lệ may rủi kỳ vọng Như vậy, độ khó vừa phải của câu hỏi loại này là trung bình cộng giữa tỷ lệ may rủi kỳ vọng và 100% nghĩa là: (100 + 50)/2 = 75%

Nói cách khác, câu trắc nghiệm đúng – sai có độ khó vừa phải nếu 75% thí sinh trả lời đúng câu hỏi ấy [21, Tr 165]

Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm có 4 lựa chọn

Với câu trắc nghiệm có 4 lựa chọn thì tỷ lệ may rủi kỳ vọng là 100/4 tức là 25% Vậy độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại này là: (100 + 25)/2 % = 62.5%

Trang 35

vì ai cũng làm đúng

1.5.2 Độ phân biệt (phân cách) của câu trắc nghiệm

Độ phân biệt của câu trắc nghiệm là: “khả năng của câu trắc nghiệm thực hiện được sự phân biệt năng lực khác nhau của học sinh: giỏi, trung bình, kém”

Độ phân biệt của câu trắc nghiệm hoặc một đề trắc nghiệm liên quan đến độ khó Một đề trắc nghiệm có độ phân biệt tốt thì nó phải bao gồm nhiều câu hỏi có

độ khó ở mức trung bình Khi ấy điểm số thu được của nhóm thí sinh sẽ có phổ trải rộng

Một phương pháp đơn giản để tính độ phân biệt của câu trắc nghiệm đã được các chuyên gia đo lường giới thiệu:

− Dựa vào tổng điểm thô của từng thí sinh người ta tách từ đối tượng thí sinh ra một nhóm giỏi bao gồm 27% thí sinh đạt điểm cao từ trên xuống, và nhóm kém bao gồm 27% thí sinh đạt điểm kém từ dưới lên

− Gọi C là số thí sinh làm đúng câu hỏi thuộc nhóm giỏi (nhóm cao), T là

số thí sinh làm đúng câu hỏi thuộc nhóm kém (nhóm thấp), n là số lượng thí sinh của một trong hai nhóm nói trên (27% tổng số) Ta có biểu thức tính độ phân biệt D của câu hỏi như sau:

Trang 36

Ý nghĩa độ phân biệt D

Căn cứ vào kinh nghiệm với rất nhiều loại trắc nghiệm ở lớp học, các chuyên gia đã đưa ra một thang đánh giá chỉ số phân biệt: [21, Tr 159]

Độ phân biệt D Đánh giá câu trắc nghiệm

Từ 0.40 trở lên Rất tốt

Từ 0.3 ÷ 0.39 Khá tốt, nhưng có thể làm cho tốt hơn

Từ 0.2 ÷ 0.29 Tạm được, có thể cần phải hoàn chỉnh

Dưới 0.19 Kém, cần loại bỏ hay sửa chữa lại cho tốt hơn

Như vậy, khi lựa chọn hoặc đánh giá các câu trắc nghiệm người ta căn cứ vào độ phân biệt của các câu trắc nghiệm ấy Độ phân biệt càng cao thì càng tốt

Trang 37

27

Với hai bài trắc nghiệm tương tự nhau, bài trắc nghiệm nào có độ phân biệt trung bình cao nhất thì bài trắc nghiệm ấy sẽ là bài tốt nhất, đáng tin cậy nhất

1.6 Độ tin cậy và độ giá trị của bài trắc nghiệm

Một trắc nghiệm kết quả học tập cần phải có cả độ giá trị và độ tin cậy, đây là hai tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của bài trắc nghiệm

1.6.1 Độ tin cậy

“Độ tin cậy của bài trắc nghiệm là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm” [19, Tr 62] Một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả có tính cách vững chãi Điều này có nghĩa là, nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần, mỗi học sinh vẫn sẽ giữ được thứ hạng tương đối của mình trong nhóm

Tính tin cậy của bài trắc nghiệm tùy thuộc vào các yếu tố như: Chọn mẫu các câu hỏi, may rủi do việc phỏng đoán, độ khó của bài trắc nghiệm Do vậy, muốn đảm bảo độ tin cậy tối đa của một bài trắc nghiệm, cần phải: 1) giảm thiểu các yếu tố may rủi đến mức tối thiểu bằng cách hạn chế việc sử dụng các loại câu hai lựa chọn; 2) viết những lời chỉ dẫn sao cho thật rõ ràng để học sinh khỏi bị nhầm lẫn; 3) chuẩn bị trước bảng chấm điểm, ghi rõ các câu đúng

Tóm lại, độ tin cậy của bài trắc nghiệm cho thấy tính khách quan của điểm

số, sự thống nhất trong các câu trả lời phân biệt được trình độ của học sinh Độ tin cậy của một bài trắc nghiệm là một trong những cơ sở tạo nên chất lượng của bài trắc nghiệm ấy

1.6.2 Độ giá trị

Theo các chuyên gia về trắc nghiệm, yêu cầu quan trọng nhất của một bài trắc nghiệm với tư cách là một phép đo lường trong giáo dục là phép đo ấy đo được cái cần đo Nói cách khác, phép đo ấy cần phải đạt được mục tiêu đề ra cho

nó Phép đo bởi một bài trắc nghiệm đạt được mục tiêu đó là phép đo có giá trị

Trang 38

28

Độ giá trị của một bài trắc nghiệm: “là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm” [19, Tr 64] Để bài trắc nghiệm đạt được độ giá trị cao, cần phải xác định tỷ mỉ mục tiêu cần đo qua bài trắc nghiệm ấy và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cũng như khi tổ chức các kỳ thi

Có thể xét độ giá trị của bài trắc nghiệm dưới nhiều góc độ khác nhau Vấn

đề cơ bản luôn luôn phải đặt ra là dụng cụ ấy có đo lường được đúng cái mà ta muốn đo lường hay không và đúng ở mức độ nào Thông thường tính giá trị của bài trắc nghiệm thành quả học tập được phân loại như sau [21, Tr 47]:

− Giá trị đồng thời nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với một tiêu chí khác đồng thời, đã có sẵn và được nhiều người chấp nhận, về khả năng mà bài trắc nghiệm ấy muốn đo lường

− Giá trị tiên đoán nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với một tiêu chí khác căn cứ vào khả năng (hay thành quả học tập) ở thời điểm tương lai

− Giá trị nội dung là mức độ “bao trùm” được nội dung môn học, bài học

− Giá trị khái niệm tạo lập là giá trị liên quan đến các loại học tập được quy định trong các mục tiêu dạy và học

− Giá trị thực nghiệm (hay giá trị thống kê) nói lên sự tương quan giữa các điểm số trắc nghiệm với một tiêu chí, tức là một loại đo lường nào

đó, độc lập và trực tiếp, về khả năng (hay đặc điểm) mà bài trắc nghiệm

ấy muốn đo lường

− Giá trị yếu tố là sự tương quan giữa bài trắc nghiệm ấy với yếu tố chung cho cả một nhóm gồm nhiều bài trắc nghiệm Loại giá trị này căn cứ vào sự phân tích bằng những phương pháp thống kê, gọi là phân tích yếu tố

Trang 39

29

Tóm lại:

Tính giá trị của bài trắc nghiệm có thể được dưới nhiều góc độ khác nhau Dựa vào định nghĩa về độ giá trị và căn cứ vào mục tiêu đề ra cho bài trắc nghiệm là muốn đo lường cái gì, khi soạn thảo hoặc xem xét một bài trắc nghiệm, người soạn thảo có thể dựa vào từng loại giá trị thích hợp để làm cơ

sở cho việc soạn thảo hoặc xem xét bài trắc nghiệm ấy

Độ giá trị của bài trắc nghiệm liên quan đến mục tiêu của sự đo lường, còn độ tin cậy liên quan đến sự vững chãi của điểm số Tính giá trị phản ánh mức độ mà một bài trắc nghiệm đo được cái mà nó định đo, còn tính tin cậy phản ánh sự chính xác của phép đo Theo các chuyên gia về đo lường, tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm có liên quan với nhau Một bài trắc nghiệm muốn có giá trị thì phải có độ tin cậy Nhưng ngược lại, một bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao chưa hẳn đã có giá trị cao, vì nó không đo được cái

mà nó định đo Chính vì thế, để đảm bảo cho một bài trắc nghiệm thành quả học tập có chất lượng, cần phải xem xét cả tính giá trị và tính tin cậy

1.7 Quy trình xây dựng câu hỏi trắc nghiệm

Một bộ câu hỏi trắc nghiệm hay ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là một tập hợp nhiều câu trắc nghiệm được chuẩn hóa, đã qua kiểm định và đánh giá Vì thế, để có một bộ câu hỏi trắc nghiệm chuẩn hóa nhất thiết phải xây dựng theo một quy trình khoa học Nhằm phát huy tối đa các ưu điểm của trắc nghiệm các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quy trình xây dựng, trong đó quy trình 7 bước được sử dụng khá phổ biến và hiệu quả:

Bước 1 Xác định mục tiêu dạy học

Bước 2 Phân tích nội dung môn học

Trang 40

30

Bước 3 Lập dàn bài trắc nghiệm

Bước 4 Soạn thảo các câu trắc nghiệm

Bước 5 Lấy ý kiến chuyên gia

Bước 6 Thử nghiệm và phân tích kết quả

Bước 7 Chỉnh sửa và lưu trữ

1.7.1 Mục tiêu dạy học

Đây là căn cứ quan trọng nhất khi soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm Cần phải xác định các mục tiêu một cách cụ thể theo lối phân loại mục tiêu của Bloom và tùy theo từng mức độ quan trọng của mục tiêu tương ứng với từng phần, chương, bài để xác định số lượng câu hỏi trắc nghiệm

Các loại mục tiêu

Benjamin S.Bloom đã chủ trì xây dựng một hệ thống phân loại các mục tiêu của quá trình giáo dục tại Hội nghị của Hội tâm lý học Mỹ năm 1948 Ba lĩnh vực của các hoạt động giáo dục đã được xác định, đó là lĩnh vực về nhận thức (Cognitive domain), lĩnh vực về cảm xúc, thái độ (Affective domain), lĩnh vực về tâm lý vận động (kỹ năng) (Psychomator domain)

Các lĩnh vực nêu trên không hoàn toàn tách biệt loại trừ lẫn nhau Phần lớn việc phát triển tâm linh và tâm lý đều bao hàm cả 3 lĩnh vực nói trên Bloom và những người cộng tác với ông ta cũng xây dựng nên các cấp độ của các mục tiêu giáo dục, thường gọi là cách phân loại Bloom, trong đó lĩnh vực nhận thức được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau: [18,

Tr 19]

(1) Biết (Knowledge)

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 2.1 Trường Cao đẳng công nghệ Thủ Đức (Trang 49)
Hình 2.2: Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức. - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức Trường Cao đẳng Công nghệ Thủ Đức (Trang 53)
Hình 2.3. Mức độ áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 2.3. Mức độ áp dụng hình thức kiểm tra đánh giá (Trang 61)
Hình 2.4: Mức độ áp dụng các hình thức câu trắc nghiệm trong đề thi TNKQ - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 2.4 Mức độ áp dụng các hình thức câu trắc nghiệm trong đề thi TNKQ (Trang 62)
Hình 2.6: Mức độ lựa chọn ưu tiên số một - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 2.6 Mức độ lựa chọn ưu tiên số một (Trang 65)
Sơ đồ thực thể kết hợp    9 - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Sơ đồ th ực thể kết hợp 9 (Trang 90)
Bảng 3.9: Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Bảng 3.9 Bảng số lượng câu hỏi và điểm số cho đề kiểm tra hết (Trang 91)
Bảng 3.12 : Bảng phân bố đề thử nghiệm theo chương - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Bảng 3.12 Bảng phân bố đề thử nghiệm theo chương (Trang 93)
Bảng 3.15 : Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Bảng 3.15 Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó (Trang 98)
Hình 3.1. Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 3.1. Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm (Trang 101)
Bảng 3.18 : Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Bảng 3.18 Phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách (Trang 104)
Hình 3.2. Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình 3.2. Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm (Trang 107)
Hình thức - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Hình th ức (Trang 126)
Sơ đồ thực thể kết hợp    9 - Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn cơ sở dữ liệu cho trường cao đẳng công nghệ thủ đức
Sơ đồ th ực thể kết hợp 9 (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w