Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc nghiệm viết thường được gọi tắt là trắc nghiệm, kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của con n
Trang 1iv
TÓM TẮT
Ngày nay, để hòa nhập theo phương pháp giảng dạy theo chuẩn quốc tế và quốc gia việc tổ chức thi trắc nghiệm tại các kỳ thi và sử dụng cho các cấp học, các ngành học đã được hầu hết giáo viên trong cả nước quan tâm một cách tích cực Trắc nghiệm khách quan phải được xây dựng khoa học, phải đảm bảo các tiêu chuẩn định tính, định lượng cho từng câu hỏi Bài trắc nghiệm phải đủ độ tin cậy và bao quát nội dung chương trình cần kiểm tra đánh giá
Với cách tiếp cận như vậy, người nghiên cứu đã thực hiện luận văn tốt
nghiệp với tên đề tài là: “ Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
lý thuyết nghề may thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung”
Vì điều kiện hạn chế về thời gian, mục tiêu nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi: xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan lý thuyết nghề may thời trang Nội dung chính của đề tài gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở thực tiễn để xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
lý thuyết nghề may thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung
Chương 3: Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan lý thuyết nghề
may thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung
1 Xây dựng ngân hàng câu hỏi
2 Thử nghiệm các câu hỏi đã biên soạn
3 Phân tích kết quả thử nghiệm
Kết quả nghiên cứu của đề tài: Biên soạn được ngân hàng câu hỏi gồm 360 câu hỏi trắc nghiệm được sắp xếp thành 4 hình thức câu trắc nghiệm Thông qua phương pháp nghiên cứu lấy ý kiến chuyên gia, phân tích và thử nghiệm, các câu hỏi trong
bộ câu hỏi trắc nghiệm đã đảm bảo các tiêu chuẩn về nội dung cũng như hình thức của câu trắc nghiệm Xác định những nội dung có liên quan đến đề tài sẽ tiếp tục được thực hiện và phát triển sau này
Trang 2v
ABSTRACT
Nowadays, to integrate teaching method of Vietnam into the standard of international and national teaching method, the organization of the tests in the examinations are used for all education levels, have been cared by most teachers of whole country positively The objective multiple choice test should be established scientifically in each question, in other words, each question needs to satisfy the required qualitative and qualitative standards The multiple choice test needs to be reliable and cover adequately the content of the program to be assessed
With the above approach, the author has chosen the thesis with the title:
“Buiding the test question bank for vocational fashion garment theory at Quang Trung Technical College”
Because of time limitations so the objectives of thesis are limited in scope:
Buiding the test question bank for vocational fashion garment theory The main content of the thesis consists of three chapters:
Chapter 1: Theoretical basis of studied issue
Chapter 2: Practical basis of building the test question bank vocational theory
fashion garment Quang Trung technical college
Quang Trung technical college
Chapter 3: Buiding the test question bank for vocational fashion garment theory at
Quang Trung Technical College
1 Building test question bank
2 Testing composed question
3 Analyzing the testing results
Results of project: Compiled 360 questions are arranged into four type of test question After consulting experts and testing, objective test questions meet the standards in both content and form Define the content related topic will be more to
be done and developed later
Trang 3vi
MỤC LỤC
TÓM TẮT iv
ABSTRACT v
MỤC LỤC vi
DANN MỤC CNỮ VIẾT TẮT x
DANN MỤC BẢNG BIỂU xi
DANN MỤC BIỂU ĐỒ - NÌNN ẢNN – SƠ ĐỒ xiii
PHẦN A: MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN B: NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 5
1.1 Vài nét về lịch sử ứng dụng trắc nghiệm khách quan 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2 Tổng quan về ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 7
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản 7
1.2.1.1 Kiểm tra đánh giá 7
1.2.1.2 Trắc nghiệm 7
1.2.1.3 Trắc nghiệm khách quan 8
1.2.1.4 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm 9
1.2.2 So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan và tự luận 9
1.2.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 11
1.2.3.1 Sử dụng trong giảng dạy 11
1.2.3.2 Sử dụng trong học tập 12
Trang 4vii
1.2.3.3 Sử dụng để kiểm tra, đánh giá 12
1.2.4 Phương pháp biên soạn câu trắc nghiệm khách quan 13
1.2.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng - sai 13
1.2.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn 15
1.2.4.3 Loại câu trắc nghiệm ghép hợp (ghép đôi) 18
1.2.4.4 Loại câu trắc nghiệm điền khuyết 19
1.2.5 Phân tích câu trắc nghiệm 20
1.2.5.1 Đánh giá độ khó của câu trắc nghiệm 21
1.2.5.2 Đánh giá độ phân biệt (phân cách) của câu trắc nghiệm 23
1.2.5.3 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm 24
1.2.6 Tính tin cậy và giá trị của bài trắc nghiệm 25
1.2.6.1 Tính tin cậy 25
1.2.6.2 Tính giá trị 26
1.2.6.3 Mối quan hệ giữa tính giá trị và tính tin cậy 27
1.3 Quy trình xây dựng ngân hàng CNTN khách quan 28
1.3.1 Phân tích nội dung cần kiểm tra 28
1.3.2 Xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá 29
1.3.3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm 32
1.3.4 Biên soạn các câu hỏi trắc nghiệm 33
1.3.5 Lấy ý kiến tham khảo về các câu hỏi 34
1.3.6 Thử nghiệm và phân tích các câu hỏi trắc nghiệm 34
1.3.7 Lập ngân hàng các câu hỏi trắc nghiệm 35
KẾT LUẬN CNƯƠNG 1 36
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CHTN KHÁCH QUAN LTN MAY THỜI TRANG TẠI TRƯỜNG TCN QUANG TRUNG 37
2.1 Sơ lược về trường TCN Quang Trung 37
2.1.1 Nình thành và phát triển 37
2.1.2 Chức năng – nhiệm vụ 38
Trang 5viii
2.1.3 Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý 38
2.1.4 Năng lực đào tạo 39
2.1.5 Các hệ đào tạo của trường 39
2.2 Giới thiệu chương trình đào tạo TCN May thời trang 39
2.2.1 Khung chương trình đào tạo TCN May thời trang 39
2.2.2 Điều kiện được thi tốt nghiệp lý thuyết nghề 40
2.2.3 Mục tiêu ôn thi tốt nghiệp lý thuyết nghề May thời trang 40
2.2.4 Đề cương ôn thi lý thuyết nghề May thời trang 41
2.3 Thực trạng về kiểm tra đánh giá tại trường TCN Quang Trung 41
2.3.1 Quy mô và đối tượng khảo sát 41
2.3.2 Thiết kế phiếu khảo sát 42
2.3.3 Thống kê ý kiến khảo sát: 42
2.3.4 Kết quả khảo sát 46
2.3.4.1 Thực trạng về hình thức thi tốt nghiệp LTN tại trường TCN Quang Trung 46
2.3.4.2 Nhận thức về tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác KQNT môn thi tốt nghiệp LTN 48
2.3.4.3 Đề xuất của CBQL-GV về đổi mới phương pháp KTĐG 49
2.3.4.4 Nhu cầu sử dụng phương pháp kiểm tra TNKQ thi tốt nghiệp LTN tại trường TCN Quang Trung hiện nay 50
KẾT LUẬN CNƯƠNG 2 52
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CHTN KHÁCH QUAN LTN NGHỀ MAY THỜI TRANG 53
3.1 Phân tích nội dung cần kiểm tra 53
3.2 Xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá 55
3.3 Thiết lập dàn bài trắc nghiệm 57
3.4 Biên soạn các câu hỏi trắc nghiệm 63
3.5 Lấy ý kiến tham khảo về các câu hỏi 64
3.6 Thử nghiệm và phân tích các câu hỏi trắc nghiệm 66
Trang 6ix
3.6.1 Thử nghiệm 66
3.6.2 Phân tích các câu hỏi trắc nghiệm 69
3.6.3 Đánh giá kết quả thử nghiệm và đối chứng 77
3.7 Lập ngân hàng các câu hỏi trắc nghiệm 79
KẾT LUẬN CNƯƠNG 3 80
PHẦN C: KẾT LUẬN 81
1 Kết luận 81
2 Nướng phát triển của đề tài 82
3 Khuyến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7x
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 8xi
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh ưu thế của trắc nghiệm khách quan và tự luận 10
Bảng 1.2: Bảng tóm tắt các cấp độ nhận thức theo quan niệm của Bloom 30
Bảng 1.3: Mẫu dàn bài trắc nghiệm khách quan 33
Bảng 2.1: Quy mô và đối tượng khảo sát 42
Bảng 2.2: Tổng hợp đối tượng khảo sát 43
Bảng 2.3: Tổng hợp ý kiến khảo sát CBQL/ giáo viên 43
Bảng 2.4: Tổng hợp ý kiến khảo sát học sinh 45
Bảng 2.5: Tỉ lệ CBQL - GV tham gia khảo sát về hình thức thi tốt nghiệp LTN 47
Bảng 2.6: Thực trạng hình thức thi tốt nghiệp LTN trường TCN Quang Trung 47
Bảng 2.7: Tổng hợp ý kiến về tầm quan trọng của việc đánh giá chính xác KQNT môn thi tốt nghiệp LTN 48
Bảng 2.8: Tổng hợp ý kiến đề xuất của CBQL-GV về đổi mới phương pháp KTĐG 49
Bảng 2.9: Ý kiến đề xuất của CBQL-GV và NS về hình thức thi tốt nghiệp LTN-50 Bảng 3.1: Bảng phân tích nội dung cần kiểm tra đánh giá 53
Bảng 3.2: Thống kê số lượng nội dung cần kiểm tra ứng với mức độ nhận thức 55
Bảng 3.3: Mục tiêu kiểm tra đánh giá lý thuyết nghề May thời trang 56
Bảng 3.4: Dàn bài trắc nghiệm lý thuyết nghề May thời trang 57
Bảng 3.5:Số lượng CN theo hình thức TN và nội dung chi tiết (chương 1) 60
Bảng 3.6: Số lượng CN theo hình thức TN và nội dung chi tiết (chương 2) 60
Bảng 3.7: Số lượng CN theo hình thức TN và nội dung chi tiết (chương 3) 61
Bảng 3.8: Số lượng CN theo hình thức TN và nội dung chi tiết (chương 4) 61
Bảng 3.9: Số lượng CN theo hình thức TN và nội dung chi tiết (chương 5) 62
Bảng 3.10: Thống kê số lượng CN theo hình thức TN tương ứng với nội dung chi tiết của từng chương 63
Bảng 3.11: Tổng hợp ý kiến về bộ CNTN lý thuyết nghề May thời trang 64
Trang 9xii
Bảng 3.12: Thống kê số lượng và hình thức CNTN cho từng đề thi thử nghiệm 67
Bảng 3.13: Bảng phân bố số lượng CNTN trong đề thi thử nghiệm theo nội dung chi tiết LTN May thời trang 67
Bảng 3.14: Thống kê tần số câu trắc nghiệm theo độ khó 70
Bảng 3.15: Tổng hợp tần số câu theo độ khó 70
Bảng 3.16: Thống kê tần số câu trắc nghiệm theo độ phân biệt 71
Bảng 3.17: Tổng hợp tần số câu theo độ phân biệt 72
Bảng 3.18: Bảng thống kê các CN có độ phân biệt kém 73
Bảng 3.19: Bảng thống kê số lượng và hình thức ngân hàng CNTN khách quan LTN May thời trang 79
Trang 10xiii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH ẢNH – SƠ ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ CBQL-GV tham gia khảo sát 47
Biểu đồ 2.2: Tổng hợp các phương pháp KTĐG thi tốt nghiệp LYN 48
Biểu đồ 2.3: Tổng hợp ý kiến khảo sát của CBQL-GV về phương pháp KTĐG thi tốt nghiệp LTN 48
Biểu đồ 2.4:Ý kiến của CBQL - GV và NS về mức độ quan trọng của việc đánh giá chính xác KQNT thi tốt nghiệp LTN 49
Biểu đồ 2.5: Mức độ đề xuất của CBQL-GV về đổi mới phương pháp KTĐG 50
Biểu đồ 2.6: Mức độ đề xuất hình thức thi tốt nghiệp LTN của CBQL-GV và NS 51
Biểu đồ 3.1: Tỉ lệ nội dung cần kiểm tra so với mức độ nhận thức 55
Biểu đồ 3.2: Phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm 71
Biểu đồ 3.3: Phân bố độ phân biệt của các câu trắc nghiệm 72
Biểu đồ 3.4: Phân bố điểm của lớp thử nghiệm và lớp đối chứng 78
Biểu đồ 3.5: Tỉ lệ các hình thức CNTN khách quan LTN May thời trang 79
Nình 3.1: Lớp MTT10-3.5 + 11-2 (lớp tham gia thử nghiệm) 69
Sơ đồ 2.1: Vị trí trường TCN Quang Trung 37
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu bộ máy tổ chức trường TCN Quang Trung 38
Trang 11định rõ ràng về vấn đề mà giáo dục, phải chăm lo: "Đổi mới phương pháp dạy học ở tất cả các cấp bậc học, áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề ", nhiệm
vụ của sự nghiệp giáo dục đào tạo là phải góp phần quyết định vào việc bồi dưỡng cho thế hệ trẻ tiềm năng trí tuệ, năng lực tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, năng lực giải quyết vấn đề để thích ứng được với thực tiễn công việc và cuộc sống hiện tại
Muốn đổi mới phương pháp dạy học, trước hết cần phải cải tiến và đổi mới
hệ thống cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh đã, đang và luôn
là vấn đề mang tính cấp thiết Kiểm tra đánh giá là một hoạt động thường xuyên, giữ một vai trò quan trọng trong việc quyết định chất lượng đào tạo Trong dạy học, kiểm tra đánh giá tốt sẽ phản ánh đầy đủ việc dạy của thầy và việc học của trò, người dạy hoàn thiện quá trình dạy, người học tự đánh giá lại bản thân, các nhà quản lý có cái nhìn khách quan hơn về chương trình cách tổ chức đào tạo Cụ thể là đối với thầy, kết quả của việc kiểm tra đánh giá sẽ giúp họ biết trò của mình học như thế nào để từ đó hoàn thiện phương pháp dạy học của mình Đối với trò, việc kiểm tra sẽ giúp họ tự đánh giá, tạo động lực thúc đẩy họ chăm lo học tập tốt hơn Đối với các nhà quản lý giáo dục, kiểm tra đánh giá đúng sẽ giúp họ có cái nhìn khách quan hơn để từ đó có sự điều chỉnh về nội dung chương trình cũng như về cách thức tổ chức đào tạo tại trường Câu hỏi được đặt ra hiện nay là làm thế nào để kiểm tra đánh giá được tốt, đây là một trong những vấn đề mang tính thời sự, thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực giáo dục
Trang 122
Trong mấy năm gần đây, khi nhà nước chủ trương sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan vào một số kỳ thi quốc gia quan trọng và sử dụng một phần ở các bậc học, ngày càng có nhiều người, đặc biệt là các nhà giáo quan tâm đến phương pháp này Phương pháp trắc nghiệm khách quan là một trong những dạng trắc nghiệm viết thường được gọi tắt là trắc nghiệm, kỹ thuật trắc nghiệm này được dùng phổ biến để đo lường năng lực của con người trong nhận thức, hoạt động và cảm xúc, được ứng dụng rộng rãi trong lĩnh vực như y học, tâm lý học, giáo dục học,.… ở nhiều nước trên thế giới Phương pháp này cho phép xử lí kết quả theo nhiều chiều với từng học sinh cũng như tổng thể cả lớp học hoặc một trường học
Từ thực tế giảng dạy tại đơn vị và nhận thức được tầm quan trọng của hình thức kiểm tra đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan cho các môn lý thuyết chuyên ngành May thời trang, tác giả đã quyết định chọn nghiên cứu đề tài “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan lý thuyết nghề May thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung”, với mong muốn góp phần tăng thêm hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, định hướng quá trình giảng dạy của giáo viên
từ đó góp phần nâng cao chất lượng kiểm tra đánh giá tại trường trung cấp nghề Quang Trung
2 MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan thi tốt nghiệp lý thuyết nghề May thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
- Nhiệm vụ 2: Nghiên cứu cơ sở thực tiễn để xây dựng ngân hàng CHTN khách quan LTN May thời trang
- Nhiệm vụ 3: Tiến hành xây dựng ngân hàng CHTN khách quan LTN May thời trang
- Nhiệm vụ 4: Thử nghiệm, phân tích và điều chỉnh các câu hỏi trong ngân hàng CHTN khách quan LTN May thời trang
Trang 133
3 ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
- ✁✂✄ hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan LTN May thời trang tại trường
trung cấp nghề Quang Trung
3.2 Khách thể nghiên cứu:
- Chương trình đào tạo TCN May thời trang, đề cương chi tiết ôn thi tốt
nghiệp LTN May thời trang trường TCN Quang Trung
- Học sinh đang học nghề May thời trang trường TCN Quang Trung và giáo viên tham gia giảng dạy các môn học/ mô đun trong chương trình đào tạo nghề May thời trang
4 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU:
Nếu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm một cách khoa học và áp dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan lý thuyết nghề May thời trang vào thi tốt nghiệp tại trường trung cấp nghề Quang Trung thì sẽ góp phần tăng thêm hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh, định hướng quá trình giảng dạy của giáo viên
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:
Nghiên cứu các văn bản, tài liệu về trắc nghiệm, xây dựng ngân hàng câu hỏi
về trắc nghiệm để từ đó phân tích, tổng hợp làm cơ sở lý luận cho đề tài
5.2 Phương pháp khảo sát, điều tra:
Thu thập thông tin, đánh giá về thực trạng việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trường TCN Quang Trung và nhu cầu cần thiết để xây dựng ngân
hàng câu hỏi trắc nghiệm lý thuyết nghề
5.3 Phương pháp chuyên gia:
Lấy ý kiến, thông tin phản hồi của các giáo viên có kinh nghiệm giảng dạy
nghề May thời trang và các chuyên gia trong lĩnh vực trắc nghiệm
5.4 Phương pháp thử nghiệm:
Trang 144
Biên soạn một số đề thi có nội dung được lấy từ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm, đưa ra thử nghiệm ở một số lớp, từ đó tiến hành phân tích đánh giá tính khả
thi của ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm
5.6 Phương pháp thống kê toán học:
Xử lý số liệu thu thập được từ kết quả thử nghiệm để phân tích và có những
điều chỉnh hợp lý trong ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm
6 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Vì thời gian cho phép thực hiện đề tài có hạn, người nghiên cứu chưa có kinh nghiệm trong việc soạn thảo ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm và do đặc thù của môn thi tốt nghiệp lý thuyết nghề nên người nghiên cứu chỉ tập trung xây dựng và biên soạn ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm (dạng thô) dựa vào phân tích nội dung của đề cương ôn thi tốt nghiệp lý thuyết nghề May thời trang tại trường trung cấp nghề Quang Trung
Trang 155
PHẦN B: NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Vài nét về lịch sử ứng dụng trắc nghiệm khách quan:
1.1.1 Trên thế giới:
Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được tiến hành vào thế kỷ XVII - XVIII tại Châu Âu Sang thế kỉ XIX đầu thể kỉ XX, các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được chú ý Năm 1904, nhà tâm lí học người Pháp - Alfred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh Năm 1916, Lewis Terman đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng Anh từ đó trắc nghiệm trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford - Binet
Vào đầu thế kỷ XX, E Thorm Dike là người đầu tiên đã dùng trắc nghiệm khách quan như là phương pháp "khách quan và nhanh chóng" để đo trình độ học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là một số môn khác
Những mốc quan trọng trong quá trình phát triển khoa học đo lường đánh giá, nhất là trắc nghiệm khách quan, như Trắc nghiệm trí tuệ Simon - Binet được xây dựng bởi hai nhà tâm lý học người Pháp Alfred Binet và Theodore Simon vào khoảng năm 1905, tiếp đến được cải tiến tại Đại học Standford tại Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó được cải tiến liên tục và được sử dụng ngày nay với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Intelligence Quotient) Bộ trắc nghiệm thành quả học tập đầu tiên Standford Achievement Test ra đời vào năm 1923 ở Mỹ
Hiện nay trên thế giới, trong các kì kiểm tra, thi tuyển một số môn đã sử dụng trắc nghiệm khá phổ biến Có thể kể ra một số tổ chức và kỳ thi trắc nghiệm phổ biến như: “Dịch vụ trắc nghiệm giáo dục” (Educational Testing Services – ETS) là một tập đoàn tư nhân sản xuất các đề thi và tổ chức các kỳ thi trắc nghiệm tiêu chuẩn hóa lớn nhất Hoa Kỳ Trong số các kỳ thi trắc nghiệm nổi tiếng của công
ty này có thể kể đến: Trắc nghiệm Đánh giá Học vấn (Scholastic Assesment Test –
Trang 166
SAT) để phục vụ kỳ thi tuyển sinh đại học; các kỳ thi Ghi nhận sau đại học (Graduate Record Examination – GRE) bao gồm đề thi đại cương và các đề thi theo một số môn học xác định; Trắc nghiệm tuyển sinh Sau đại học ngành Quản lý (Graduate Management Admission Test – GMAT) hỗ trợ tuyển sinh sau đại học vào các ngành quản trị kinh doanh; Trắc nghiệm Ngoại ngữ tiếng Anh (Test of English
as a Foreign Language – TOEFL)
1.1.2 Ở Việt Nam:
Trắc nghiệm đã được đề cập đến vào thập niên 50 của thế kỷ XX, kiến thức
về trắc nghiệm được thu thập qua các tài liệu giáo dục học và tâm lý học chủ yếu của Liên Xô
Năm 1964, tại miền Nam Việt Nam, đã thành lập một cơ quan đặc trách về trắc nghiệm có tên là “Trung tâm trắc nghiệm và hướng dẫn”, là cơ quan phổ biến tài liệu hướng dẫn về trắc nghiệm Năm học 1965 – 1966, kỳ thi trung học đệ nhất cấp, các môn Sử, Địa, Công dân được thi dưới hình thức trắc nghiệm Năm học
1973 - 1974, tất cả các môn học trong kỳ thi tú tài đều thi trắc nghiệm Tuy vậy, tài liệu hướng dẫn giáo viên biên soạn trắc nghiệm vẫn còn ít phổ biến
Năm 1971, ở miền Bắc, tạp chí nghiên cứu giáo dục mới có bài giới thiệu về trắc nghiệm khách quan Từ năm 1975 đến năm 1993, hình thức trắc nghiệm được
áp dụng trong kiểm tra thành tích học tập của học sinh nhưng không phổ biến rộng rãi, thường chỉ áp dụng cho các môn học ngoại ngữ
Từ đầu năm 1994, khi Bộ Giáo dục – Đào tạo có những hoạt động cụ thể như tập huấn về trắc nghiệm, khuyến khích sử dụng phương pháp trắc nghiệm thì tại nhiều trường đại học đã sử dụng trắc nghiệm thành tích học tập cho các môn thi, kiểm tra đánh giá
Sau khi triển khai kỳ thi tuyển sinh đại học bằng giải pháp “3 chung”, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã chủ trương từng bước đưa phương pháp trắc nghiệm khách quan vào kỳ thi tuyển sinh đại học và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông Bắt đầu
từ năm học 2006 - 2007, Bộ Giáo dục – Đào tạo đã sử dụng đề thi theo hình thức trắc nghiệm cho một số môn trong các kỳ thi tuyển sinh đại học và kỳ thi tốt nghiệp
Trang 177
trung học phổ thông Ngoài ra, các trường đại học đã đưa vào hình thức kiểm tra
trắc nghiệm kết thúc học phần cũng như kỳ thi đầu ra cho một số môn học
1.2 Tổng quan về ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
1.2.1 Một số khái niệm cơ bản:
1.2.1.1 Kiểm tra đánh giá:
Theo từ điển Giáo dục học (2001): “Kiểm tra là bộ phận hợp thành của quá trình hoạt động dạy – học nhằm nắm được thông tin về trạng thái và kết quả học tập của học sinh, về những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó để tìm ra những biện pháp khắc phục những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy – học” [10]
“ Đánh giá là xác định mức độ nắm được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra”
Theo từ điển Tiếng Việt (1998): “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [17]
Theo GS Trần Bá Hoành: “Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công việc dựa vào việc phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc” [8]
Tóm lại: Kiểm tra - đánh giá có mối quan hệ biện chứng khăng khít với
nhau Kiểm tra là phương tiện của đánh giá, đánh giá là mục đích của kiểm tra Mục đích đánh giá sẽ quyết định nội dung và hình thức kiểm tra, không thể đánh giá mà không dựa vào kiểm tra Kiểm tra phải gắn liền với đánh giá vì kiểm tra mà không đánh giá thì việc kiểm tra đó không có tác dụng và hiệu quả Ngược lại, đánh giá mà không dựa vào kiểm tra thì mang tính ngẫu nhiên, tính chủ quan Điều này sẽ gây nên những hậu quả xấu, tiêu cực trong tâm lý học sinh cũng như làm giảm chất lượng, hiệu quả dạy - học của thầy và trò
1.2.1.2 Trắc nghiệm:
Trang 188
Trắc nghiệm dịch ra từ tiếng Anh nghĩa là “thử”, “phép thử”, “sát hạch” Theo nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực” Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học, như:
- Theo GS Dương Thiệu Tống: “Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi: thành tích của các cá nhân như thế nào khi so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ dự kiến” [20, trang 364]
- Theo GS Lâm Quang Thiệp: “Trắc nghiệm là một phép đo, dùng thước đo
là đề trắc nghiệm để đo một năng lực nào đó của thí sinh Phép đo nào cũng có mục tiêu của nó, đo cái gì? Muốn một đề trắc nghiệm đo được cái cần đo, tức là đo được mức độ đạt được các mục tiêu cụ thể của môn học, cần chế tác các câu hỏi
trắc nghiệm và thiết kế các đề trắc nghiệm bám sát mục tiêu của môn học” [19,
trang 42]
- Theo PGS Trần Khánh Đức: “Trắc nghiệm là một phép thử (kiểm tra) để nhận dạng, xác định, thu nhận những thông tin phản hồi về những khả năng, thuộc tính, đặc tính, tính chất của một sự vật hay hiện tượng nào đó Trắc nghiệm trong giảng dạy cũng là một phép thử (một phương pháp kiểm tra – đánh giá) nhằm đánh giá trình độ, năng lực cũng như kết quả học tập của người học trước, trong quá
trình và khi kết thúc một giai đoạn học tập nhất định” [8, trang 296]
Tóm lại: Từ các định nghĩa trên, cho thấy “trắc nghiệm” là một công cụ
được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân ở một lĩnh vực học tập
cụ thể Trong lĩnh vực giáo dục thì trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một môn học hay một khóa học
1.2.1.3 Trắc nghiệm khách quan:
Trắc nghiệm khách quan là phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh bằng hệ thống câu hỏi trắc nghiệm khách quan, bao gồm các câu hỏi hoặc bài tập với những phương án trả lời khác nhau, yêu cầu học sinh suy nghĩ lựa chọn một trong những phương án đó rồi dùng ký hiệu đơn giản đã qui ước để trả
Trang 191.2.1.4 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm:
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan không những là công cụ đo lường nhằm đánh giá khách quan thành quả học tập của học sinh, mà còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập
Theo GS Lâm Quang Thiệp: “Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm là tập hợp một
số lượng tương đối lớn các câu hỏi trắc nghiệm Trong đó, mỗi câu hỏi đã được định cỡ, tức là được gắn với các phần nội dung xác định và tham số xác định (độ
khó, độ phân biệt)” [19, trang 44]
Tóm lại: Ngân hàng CHTN khách quan là một hệ thống các câu hỏi trắc
nghiệm và đáp án được soạn thảo cẩn thận, đúng kỹ thuật Các CHTN này đã được
mã hóa theo chương, mục cũng như mức độ nhận thức cần kiểm tra đánh giá Góp phần đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS và quản lý chất lượng đào tạo hiện nay
1.2.2 So sánh phương pháp trắc nghiệm khách quan và trắc nghiệm tự luận:
Trong lĩnh vực giáo dục, trắc nghiệm được tiến hành ở các kỳ thi, kiểm tra để đánh giá kết quả học tập, giảng dạy đối với một phần của môn học, toàn bộ môn học, đối với cả một cấp học Tùy theo nhu cầu, mục tiêu khảo sát, kiểm tra đánh giá
mà sử dụng phương pháp TN khách quan hay TN tự luận, cả hai này đều là những phương pháp hữu hiệu để đánh giá kết quả học tập Theo ý kiến của các chuyên gia
về trắc nghiệm cho rằng: [19, trang 36]
- Đối với phương pháp TN khách quan nên dùng trong trường hợp:
+ Khi số thí sinh rất đông
+ Khi muốn chấm bài nhanh
+ Khi muốn có điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào người chấm bài + Khi phải coi trọng yếu tố công bằng, vô tư, chính xác và muốn ngăn chặn
Trang 2010
sự gian lận trong thi cử
+ Khi muốn kiểm tra một phạm vi hiểu biết rộng, muốn ngăn ngừa nạn học
tủ, học vẹt và giảm thiểu sự may rủi
- Đối với phương pháp TN tự luận nên dùng trong trường hợp:
+ Khi thí sinh không quá đông
+ Khi muốn khuyến khích và đánh giá cách diễn đạt
+ Khi muốn tìm hiểu ý tưởng của thí sinh hơn là đánh giá thành tích học tập + Khi có thể tin tưởng khả năng chấm bài tự luận của giáo viên là chính xác + Khi không có nhiều thời gian để soạn đủ đề nhưng có đủ thời gian để chấm bài
Mỗi phương pháp đều có những đặc thù riêng, chúng ta có thể xem sự khác biệt giữa TN khách quan và tự luận ở bảng 1.1 (tham khảo của GS Lâm Quang
Thiệp, Trắc nghiệm và ứng dụng, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật Hà Nội, 2008)
Bảng 1.1: So sánh ưu thế của trắc nghiệm khách quan và tự luận
Đánh giá được khả năng diễn đạt, đặc biệt là diễn
Thuận tiện cho việc đo lường các tư duy sáng tạo
Khách quan trong chấm thi, hạn chế tiêu cực trong
Giữ bí mật đề thi, hạn chế quay cóp khi thi
Có tính định lượng cao, áp dụng được công nghệ
đo lường trong việc phân tích, xử lý để nâng cao
chất lượng các câu hỏi và đề thi
Trang 2111
Cung cấp số liệu chính xác và ổn định để sử dụng
cho các đánh giá so sánh trong giáo dục
Tóm lại: Từ bảng 1.1, ta đã thấy được ưu điểm nổi bật của TN khách quan
so với TN tự luận Đối với TN tự luận, kết quả chấm thi phụ thuộc rất nhiều vào ý kiến chủ quan của người chấm, nên rất khó công bằng chính xác Với loại TN khách quan, khi đã có sẵn đáp án, việc chấm bài là hoàn toàn khách quan, chính xác, không phụ thuộc người chấm, nhất là hiện nay chấm bài thi TNKQ đã được thực hiện thông qua máy vi tính, đây là một ưu điểm lớn của phương pháp TN khách quan
1.2.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm:
Ngân hàng CHTN khách quan không những là công cụ đo lường nhằm đánh giá thành quả học tập của học sinh, mà còn đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình giảng dạy và học tập
1.2.3.1 Sử dụng trong giảng dạy: [15, trang 123]
Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của một môn học hay của một chương trình học bao hàm toàn bộ lĩnh vực kiến thức mà học sinh cần phải biết (thuộc môn học hay thuộc một chương trình học nào đó) Do vậy, cùng với nội dung chương trình
và các tài liệu, giáo trình, GV sử dụng bộ ngân hàng CHTN để xác định các mục tiêu và nội dung học tập một cách hiệu quả Trên cơ sở đó, GV sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng mục tiêu và nội dung học tập đã xác định
Vậy nên, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có tác dụng định hướng quá trình dạy học
Trong quá trình dạy học, GV thường phải kiểm tra, đánh giá học sinh để biết học sinh đạt đến trình độ nào, tiến bộ như thế nào Sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra, đánh giá giúp cho công việc chấm bài của GV trở nên đơn giản,
nhanh chóng, chính xác và đặc biệt là tính thống nhất rất cao
Cũng thông qua kết quả trắc nghiệm, các GV sẽ biết nội dung học tập nào được giảng dạy chưa đạt yêu cầu để nghiên cứu thay đổi hoặc điều chỉnh các
phương pháp dạy học hiệu quả
Trang 2212
Thực hiện đổi mới các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, bộ ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đã được GV sử dụng như là tài liệu học tập nhằm định hướng quá trình học tập và giúp cho HS tự thu thập kiến thức khi tìm lời
giải cho các câu hỏi
1.2.3.2 Sử dụng trong học tập: [15, trang 123]
Bộ ngân hàng CHTN của một môn học hay của một chương trình học bao hàm toàn bộ lĩnh vực kiến thức mà HS cần phải biết (thuộc môn học hay thuộc một chương trình học nào đó) Vì thế nó mang tính định hướng quá trình học tập của HS
đến những mục tiêu mong đợi
Ngân hàng CHTN khuyến khích HS trong quá trình tự học, HS có thể chủ động tìm kiếm các tài liệu hoặc tham khảo ý kiến với người khác để thu thập kiến
thức, tự kiểm tra kiến thức của mình
Hiện nay, sử dụng ngân hàng CHTN để làm tài liệu học tập cho HS đã được
áp dụng ở nhiều cấp học Căn cứ vào ngân hàng CHTN, học sinh có thể lập kế hoạch học tập cho riêng mình nhằm đạt được các mục tiêu mong đợi
1.2.3.3 Sử dụng để kiểm tra, đánh giá: [15, trang 123]
Việc sử dụng ngân hàng CHTN khách quan để đánh giá kết quả học tập của
HS đã và đang được áp dụng rộng rãi trong các kỳ thi tốt nghiệp, kết thúc môn học, kết thúc học kỳ và trong các kỳ thi tuyển sinh Ngân hàng CHTN được sử dụng nhằm mục đích:
- Ra đề thi/ đề kiểm tra để đánh giá một cách khách quan, chính xác mức độ tiếp thu kiến thức trong môn học/ mô đun theo năng lực nhận định của HS
- Kết quả trắc nghiệm giúp nhà trường đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp
vụ và chất lượng giảng dạy của GV
- Kết quả trắc nghiệm giúp nhà trường và GV có cơ sở để chứng tỏ với các trường khác, các cơ quan và các nhà sử dụng lao động về trình độ và khả năng của
HS đã được đào tạo
- Giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi cử nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cho hoạt động KTĐG kết quả học tập của HS
Trang 2313
Tóm lại: việc sử dụng ngân hàng CHTN khách quan trong quá trình giáo dục
đào tạo đã mang lại những lợi ích to lớn cho việc nâng cao chất lượng và hiệu quả cho hoạt động KTĐG kết quả học tập của HS, định hướng quá trình giảng dạy của
GV và quá trình học tập của HS để từ đó nâng cao chất lượng đào tạo trong nhà trường
1.2.4 Phương pháp biên soạn câu trắc nghiệm khách quan:
Hiện nay, phương pháp trắc nghiệm khách quan được sử dụng rất rộng rãi,
có rất nhiều tài liệu viết đề cập một cách kỹ lưỡng về hình thức, cấu trúc, nguyên tắc soạn thảo, ưu và nhược điểm các câu hỏi TNKQ Các câu hỏi trắc nghiệm có thể được đặt nhiều hình thức khác nhau, quan trọng đối với người soạn thảo là biết công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại câu trắc nghiệm thích hợp nhất cho việc khảo sát khả năng hay kiến thức mà dự định đo lường đánh giá Sau đây, người nghiên cứu chỉ đề cập ở góc độ tổng hợp những đặc điểm cơ bản và giới thiệu bốn loại câu hỏi trắc nghiệm thường được sử dụng nhiều nhất trong kiểm tra đánh giá: (1) loại câu hỏi trắc nghiệm đúng/ sai; (2) loại câu hỏi trắc nghiệm có nhiều lựa chọn; (3) loại câu hỏi trắc nghiệm ghép hợp; (4) loại câu hỏi trắc nghiệm điền khuyết
1.2.4.1 Loại câu trắc nghiệm đúng - sai: [22, trang 30]
• Cấu trúc: được trình bày dưới dạng một câu phát biểu và học sinh trả lời
bằng cách lựa chọn đúng hoặc sai, gồm có 2 dạng:
- Dạng có thân chung: Câu hỏi gồm một phần thân chung và các ý trả lời Học sinh phải xem xét các ý trả lời, so sánh với nội dung của phần thân chung để xác định câu nào là đúng, câu nào là sai
Phần thân chung: có thể là một cụm từ hoặc một vấn đề mang tính lý thuyết.Câu trả lời: thường có 5 câu hoặc nhiều hơn, những câu trả lời này có thể đúng, cũng có thể sai Câu trả lời thường là những ý có liên quan trực tiếp giúp làm
rõ phần thân chung
- Dạng không có thân chung: được viết dưới dạng một câu hoàn chỉnh, thường là câu có tính khẳng định Người trả lời lựa chọn đáp án phù hợp với câu hỏi được nêu ra
Trang 2414
Những yêu cầu khi biên soạn:
- Trong một câu chỉ có một vấn đề trọng tâm hoặc một ý trọng tâm, không thể xuất hiện hai ý (phán đoán) hoặc nửa câu đúng, nửa câu sai
- Không chép nguyên văn những câu hỏi từ sách giáo khoa hoặc giáo trình,
vì làm như vậy chỉ khuyến khích học thuộc lòng một cách máy móc
- Lựa chọn những câu phát biểu sao cho một người có khả năng trung bình không thể nhận ra ngay là đúng hay sai mà không cần phải suy nghĩ
- Nội dụng câu đúng hoặc sai phải chắc chắn dựa trên cơ sở khoa học, không phụ thuộc vào quan điểm riêng của mỗi người Tránh dùng những câu phủ định, nhất là phủ định kép
- Tránh sử dụng các từ ngữ có tính giới hạn đặc thù mang tính ám thị Khi ý của đề là chính xác thì nên tránh dùng những từ “nói chung”, “thường thường”,
“thông thường”, “rất ít khi”, “có khi”, “một vài”, “có thể” để tránh cho đối tượng tham gia dựa vào những từ này đưa ra đáp án “đúng” từ đó đoán đúng câu trắc nghiệm
- Trong bài trắc nghiệm, số lượng câu đúng tương đương với số lượng câu sai để giữ kết quả đồng đều khi học sinh đoán mò Thứ tự câu đúng và câu sai được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, không theo một quy luật nào
• Cách cho điểm: mỗi câu đúng với đáp án, học sinh được 1 điểm Tuy nhiên,
đây là dạng câu hỏi chỉ có 2 lựa chọn, nên áp dụng hệ số phạt (điểm trừ cho câu hỏi sai) để tránh trường hợp học sinh đoán mò khi trả lời
• Ưu điểm:
- Trắc nghiệm đúng/ sai được dùng nhiều vì hình thức đơn giản có thể soạn được nhiều câu trắc nghiệm cho từng bài học, khảo sát bất kỳ nội dung nào HS không thể học tủ được
- Biên soạn câu hỏi dễ dàng vì người soạn không cần tìm ra nhiều câu phát biểu khác nữa để học sinh so sánh và lựa chọn
- Học sinh không phải viết câu trả lời nên kết quả hoàn toàn đúng so với đáp
án, giáo viên cho điểm rất dễ và rất thống nhất
Trang 2515
• Nhược điểm:
- Nhược điểm lớn nhất của loại câu hỏi trắc nghiệm đúng/ sai là người trả lời
có thể “đoán mò” mà vẫn có khả năng đúng 50% cho mỗi câu trắc nghiệm Chính nhược điểm này, làm cho khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém rất thấp
Ví dụ minh họa:
- Ví dụ về dạng có thân chung: Hãy đánh dấu (x) vào cột Đ (đúng) hoặc cột
S (sai) phù hợp trong các ý sau đây:
Phân loại theo nguồn gốc xơ thiên nhiên gồm có: Đ S
- Ví dụ về dạng không có thân chung : Hãy khoanh tròn vào chữ Đ (đúng) hoặc chữ S (sai) vào các câu thích hợp sau đây:
1
Vải là sản phẩm thu được trên máy dệt hoặc bằng các phương pháp liên kết xơ, sợi tạo thành
1.2.4.2 Loại câu trắc nghiệm có nhiều lựa chọn: [20, trang 71]
Đây là loại câu TNKQ được sử dụng nhiều nhất, dùng để đánh giá mức độ
Trang 2616
nhận thức khác nhau, thông thường loại câu này thường được dùng đánh giá kiến thức ở hai dạng: kiến thức nhớ lại hoặc nhận biết và kiến thức áp dụng
• Cấu trúc: câu trắc nghiệm gồm có hai phần: phần gốc và phần lựa chọn
- Phần gốc : là một câu hỏi (kết thúc là dấu hỏi) hay câu bỏ lửng (chưa hoàn tất), tạo ra cơ sở cho phần lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ ràng giúp cho người trả lời hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp
- Phần lựa chọn : có thể là 4 hoặc 5 sự lựa chọn khác nhau Trong tất cả các lựa chọn chỉ có một lựa chọn được xác định là đúng nhất, gọi là “đáp án” cho phần gốc Những lựa chọn còn lại đều phải là sai (dù nội dung đọc lên có vẻ là đúng), thường gọi là các “mồi nhử” hay “câu nhiễu” Điều quan trọng là làm sao cho các mồi nhử ấy đều hấp dẫn ngang nhau đối với những học sinh chưa đọc kỹ hay chưa hiểu kỹ bài học
Những yêu cầu khi biên soạn:
- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề hay nên mang trọn ý nghĩa Nên tránh dùng những câu có vẻ như câu hỏi loại “đúng sai” không liên hệ nhau được sắp chung một chỗ
- Các câu trả lời trong các phương án cho sẵn để chọn lựa phải đồng nhất với nhau Tính đồng nhất có thể dựa trên căn bản ý nghĩa, âm thanh, độ dài, hoặc cùng
là động từ, tính từ hay danh từ
- Các câu trả lời đúng nhất phải được đặt ở các vị trí khác nhau một số lần tương đương ở mỗi vị trí A, B, C, D, E Vị trí các câu trả lời để chọn lựa nên được sắp xếp theo một thứ tự ngẫu nhiên
- Các câu nhiễu phải có tác động gây nhiễu với các học sinh có năng lực tốt
và tác động thu hút các học sinh kém hơn Cố gắng viết sao cho câu nhiễu tương đối giống câu đúng cả về nội dung và hình thức để học sinh phải suy nghĩ và lựa chọn
- Nên có 4 hoặc 5 phương án để chọn cho mỗi câu hỏi Nếu số phương án trả lời ít hơn thì yếu tố may rủi tăng lên Ngược lại, nếu có quá nhiều phương án để
Trang 27• Cách cho điểm: mỗi câu hỏi làm đúng với đáp án được 1 điểm, nếu chọn sai
thì cho 0 điểm (không áp dụng điểm trừ đối với câu trả lời sai)
- Nếu soạn đúng quy cách, câu hỏi nhiều lựa chọn thường có độ tin cậy và độ giá trị cao, khả năng phân biệt được học sinh giỏi và học sinh kém rõ ràng
Ví dụ minh họa: Hãy đánh dấu (x) để chọn đáp án đúng nhất:
Vật liệu đóng gói sản phẩm may mặc bao gồm:
A Nhãn dùng để giới thiệu nơi sản xuất, cỡ vóc
B Bao nylon, bìa lưng, khoang cổ, kẹp nhựa
Trang 2818
C Khoen móc, dây kéo, băng dính, nút nhựa
D Mex giấy, mex vải, dựng, bao nylon
1.2.4.3 Loại câu trắc nghiệm ghép hợp (ghép đôi): [20, trang 75]
• Những yêu cầu khi biên soạn:
- Phần hướng dẫn cách ghép cần chỉ cho người làm trắc nghiệm biết cách ghép các tiền đề và danh mục trả lời cho hợp lý, phải nói rõ mỗi câu trả lời chỉ sử dụng một lần hay nhiều lần
- Các tiền đề hoặc các ý trả lời trong một danh mục phải đồng nhất, nếu một
danh mục là công cụ thì tất cả các câu trong danh mục là công cụ, chứ không được
là danh mục bao gồm cả vật liệu và cả công cụ
- Mỗi câu ghép trung bình có 3 tiêu đề tương ứng với 6 -10 danh mục trả lời, một phần tử ở danh mục bên trái chỉ ghép với một phần tử của danh mục bên phải, nhưng không nên đặt các phần tử bằng nhau sẽ làm cho học sinh dự đoán được sau khi ghép một số trường hợp
• Cách cho điểm: mỗi câu ghép đúng với đáp án được 1 điểm, nếu ghép sai thì
cho 0 điểm
• Ưu điểm:
- Học sinh phải chuẩn bị tốt trước khi làm bài trắc nghiệm Vì yếu tố đoán
mò giảm đi nhiều nhất là khi phải ghép những cột có nhiều phần tử với nhau, nhất
là khi số thông tin cần lựa chọn nhiều hơn số thông tin câu hỏi Loại câu hỏi này thường dùng để đo mức độ nhận thức khác nhau
- Nếu soạn thảo tốt, loại trắc nghiệm này được dùng như loại câu có nhiều
câu trả lời sẵn để trắc nghiệm các kiến thức cao hơn
Trang 2919
• Nhược điểm:
- Để đo được mức độ nhận thức cao, đòi hỏi giáo viên phải có sự đầu tư rất
công phu, thông thường loại câu này chỉ dùng để trắc nghiệm các loại kiến thức đơn
A = dài váy + lai váy + đường may
B = 2(dài váy + lai váy + đường may)
C = 3(dài váy + lai váy + đường may)
D = (dài váy + lai váy + đường may) + 10 cm
E = 2(dài váy + lai váy + đường may) + 10 cm
F = 3(dài váy + lai váy + đường may) + 10 cm
1.2.4.4 Loại câu trắc nghiệm điền khuyết: [22, trang 27]
• Những yêu cầu khi biên soạn:
- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng, tránh lấy nguyên văn các câu từ sách để khỏi
khuyến khích học sinh học thuộc lòng Chỉ kiểm tra các phần kiến thức quan trọng
mà học sinh phải biết từ trí nhớ, tránh những câu không có giá trị
- Các khoảng trống nên có chiều dài bằng nhau để học sinh không đoán mò, nên để trống những chữ quan trọng nhưng đừng quá nhiều Không đưa ra quá nhiều chỗ trống, một hoặc hai khoảng trống trong một câu là đủ
Trang 3020
• Cách cho điểm: câu hỏi được chấm bằng những từ, cụm từ hoặc các ý trả lời
đúng với đáp án, nếu đúng thì nhận được số điểm đã quy định theo thang điểm, nếu
sai sẽ được điểm 0
• Ưu điểm:
- Tạo điều kiện cho học sinh nhớ ra, nghĩ ra câu trả lời, nên phát huy được tính sáng tạo, đồng thời giảm đáng kể sự đoán mò trong khi trả lời câu hỏi loại điền khuyết
- Là dạng câu hỏi có câu trả lời ngắn và nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình do đó làm tăng tính giá trị của bài trắc nghiệm, thích hợp cho những vấn đề tính toán, nhận biết hay đánh giá mức độ hiểu biết các nguyên lý, giải thích các dữ kiện, diễn đạt các ý kiến và thái độ
- Chấm điểm nhanh và chính xác, giúp học sinh luyện trí nhớ khi học
• Nhược điểm:
- Do giới hạn của câu trả lời đúng rộng rãi, nên mất nhiều thời gian khi chấm điểm so với các loại trắc nghiệm khác
- Khi có nhiều chỗ trống trong một câu hỏi làm cho người làm bài bị rối trí
- Nếu không cẩn thận GV có thể hiểu sai hoặc đánh giá thấp giá trị các câu hỏi sáng tạo của người làm bài
• Ví dụ minh họa: Hãy điền vào chỗ trống những từ thích hợp để hoàn chỉnh câu sau đây:
Phương pháp tính vải quần âu nam, khổ vải 1,6 m là: 1.2.5 Phân tích câu trắc nghiệm:
Sau khi chấm điểm bài kiểm tra TN, cần phải phân tích các câu trả lời của
HS cho mỗi câu hỏi TNKQ để đánh giá được hiệu quả và chất lượng của từng câu hỏi trắc nghiệm Việc phân tích này giúp cho người soạn thảo: [20, trang 153]
- Biết được những câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ
- Lựa ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi với học sinh kém
Trang 311.2.5.1 Đánh giá độ khó của câu trắc nghiệm:
Khi soạn thảo xong một câu hoặc một bài trắc nghiệm người soạn thảo chỉ có thể ước lượng độ khó hoặc độ phân biệt của nó bằng cảm tính (độ khó chủ quan)
Độ lớn của các đại lượng đó chỉ có thể tính được cụ thể bằng phương pháp thống kê sau lần trắc nghiệm thử, dựa vào kết quả thu được từ các câu và bài làm trắc nghiệm của thí sinh
Đầu tiên có thể lưu ý đến độ khó của từng câu hỏi trắc nghiệm Khi nói đến
độ khó, hiển nhiên phải xem câu hỏi trắc nghiệm là khó đến đối tượng nào Nhờ thử nghiệm trên các thí sinh phù hợp, người ta có thể đo độ khó bằng tỉ số phần trăm của thí sinh làm đúng câu trắc nghiệm đó trên tổng số thí sinh dự thi theo công thức: [22, trang 42]
Trong đó: - P : là độ khó của câu trắc nghiệm
- Sd : là số người trả lời đúng
- n : là tổng số người làm bài Theo tài liệu tập huấn về “Quy trình, phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi, đề thi và tổ chức đánh giá kiến thức nghề” của tác giả Nguyễn Đức Trí và Hoàng Anh, độ khó của câu hỏi được xác định theo các mức:
- P = 0 – 24% : là câu hỏi khó
- P = 25% - 50% : là câu hỏi trung bình
- P = 51% - 75% : là câu hỏi dễ
- P = 76% - 100% : là câu hỏi rất dễ Việc sử dụng trị số P để đo độ khó là rất ý nghĩa, các câu hỏi của một bài trắc nghiệm thường phải có độ khó khác nhau Theo công thức tính độ khó như trên, rõ ràng giá trị P càng bé (ít người trả lời được) câu hỏi càng khó và ngược lại
%100
n Sd P
Trang 3222
Theo GS Dương Thiệu Tống: “ Một bài trắc nghiệm được gọi là tốt không phải là bài trắc nghiệm gồm toàn những câu khó hay toàn những câu dễ cả, mà là bài trắc nghiệm gồm những câu có mức độ khó trung bình hay là mức độ khó vừa phải” [20, trang 164]
phải là câu có 50% HS trả lời đúng và 50% HS trả lời sai, tuy nhiên, để đánh giá chính xác và công bằng thì phải xác định rõ độ khó vừa phải cho từng dạng câu trắc nghiệm thông qua tỉ lệ may rủi của câu trắc nghiệm đó Độ khó vừa phải của câu
trắc nghiệm được tính theo công thức: [6, trang 75]
- Áp dụng công thức tính trên, ta có độ khó vừa phải của từng dạng trắc nghiệm như sau:
• Câu TN đúng/sai: tỉ lệ may rủi làm đúng câu hỏi là (100%/2) = 50%,
suy ra: Độ khó vừa phải là: (100% + 50%)/2 = 75%
• Câu TN có 4 lựa chọn: tỉ lệ may rủi làm đúng câu hỏi là (100%/4) =
25%, suy ra: Độ khó vừa phải là: (100% + 25%)/2 = 62.5 %
• Câu TN ghép hợp: với dạng ghép hợp 2 câu hỏi và 4 câu trả lời thì tỉ
lệ may rủi làm đúng câu hỏi là:
12
1 3
1 4
1 %, suy ra:
2
% 12
1
% 100
Tóm lại: một bài trắc nghiệm được gọi là có giá trị và đáng tin cậy không
phải là bài trắc nghiệm gồm toàn những câu trắc nghiệm quá khó hay quá dễ, mà là bài trắc nghiệm gồm những câu có độ khó trung bình hay là mức độ khó vừa phải
Độ khó vừa phải của câu hỏi i = (100% + % may rủi)
2
Trang 331.2.5.2 Đánh giá độ phân biệt (phân cách) của câu trắc nghiệm:
Độ phân biệt của một câu hoặc một bài TN liên quan đến độ khó của câu TN Nếu một bài TN dễ đến mức mọi thí sinh đều làm tốt, các điểm số đạt được chụm ở phần điểm cao, thì độ phân biệt của nó rất kém, vì tất cả HS đều có phản ứng như nhau đối với bài trắc nghiệm đó Cũng vậy, nếu một bài trắc nghiệm khó đến mức tất cả HS đều làm không được, các điểm số đạt được chụm ở phần điểm thấp, thì độ phân cách của nó cũng rất kém Từ các trường hợp giới hạn nói trên có thể suy ra bằng muốn có độ phân biệt tốt thì bài trắc nghiệm phải có độ khó ở mức trung bình, khi ấy điểm số thu được của nhóm thí sinh sẽ có phổ trải rộng
• Cách tính độ phân biệt của câu trắc nghiệm:
Sau đã chấm điểm và cộng tổng điểm của từng bài TN, ta có thể thực hiện tính độ phân biệt của từng câu TN theo các bước sau:
- Bước 1: Xếp đặt các bài làm của HS theo thứ tự tổng điểm từ cao đến thấp
- Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài kiểm tra, chia thành 3 nhóm có số bài làm
bằng nhau (tỉ lệ 1/3): nhóm cao là nhóm có điểm cao nhất khi làm bài, nhóm thấp
là nhóm có điểm thấp nhất khi làm bài, nhóm trung bình là nhóm còn lại
- Bước 3: Tính độ phân biệt theo công thức: [22, trang 43]
% 100
n
Nk Ng I
Trong đó: - D.I : là chỉ số độ phân biệt của câu TN
- Ng : là số HS thuộc nhóm cao (nhóm giỏi)
Trang 3424
- Nk : là số HS thuộc nhóm thấp (nhóm kém)
- n : là số HS thuộc nhóm cao hay nhóm thấp Theo công thức trên, chỉ số D.I > 32% cho ta câu TN có độ phân biệt dùng được
1.2.5.3 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm:
Ngoài việc phân tích độ khó và độ phân biệt của mỗi câu TN, ta có thể làm cho câu TN trở nên tốt hơn bằng cách xem xét tần số của đáp ứng sai cho mỗi câu hỏi, còn gọi là mồi nhử [20, trang 167]
Để phân tích các mồi nhử của câu TN, ta có thể thực hiện theo các bước sau đây:
- Bước 1: Sau khi đã chấm điểm và cộng tổng điểm của từng bài trắc nghiệm, ta xếp đặt các bài làm của HS theo thứ tự tổng điểm từ cao xuống thấp
- Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài trắc nghiệm, lấy 27% của tổng số bài làm
có điểm từ bài cao nhất trở xuống xếp vào nhóm CAO và 27% tổng số bài làm có điểm từ bài thấp nhất trở lên xếp vào nhóm THẤP
- Bước 3: Ghi tần số đáp ứng của HS trong mỗi nhóm cho mỗi lựa chọn (a,b,c,d…) trong mỗi câu trắc nghiệm, đồng thời ghi độ khó và độ phân biệt cho mỗi câu trắc nghiệm
- Bước 4: Căn cứ vào các chỉ số về độ khó và độ phân cách của các câu trắc nghiệm, lựa ra những câu trắc nghiệm có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời
có độ phân biệt âm hoặc quá thấp, đây là những câu kém cần phải xét lại để loại đi hay sửa chữa cho tốt hơn
- Bước 5: Xem xét lại toàn bộ câu trắc nghiệm kém, nhất là những câu trắc nghiệm dạng có nhiều lựa chọn, trong đó có câu trả lời đúng và các câu còn lại là những mồi nhử theo nguyên tắc cơ bản sau đây:
+ Với mỗi câu đúng thì số HS trả lời câu đúng của nhóm cao nhiều hơn nhóm thấp
+ Với câu sai thì số HS nhóm cao chọn phải ít hơn số HS nhóm thấp
Tóm lại: một mồi nhử được gọi là tốt khi HS thuộc nhóm CAO ít chọn nó,
Trang 3525
còn HS thuộc nhóm THẤP chọn nó nhiều hơn, nghĩa là sự chênh lệch số người chọn (hoặc tỉ lệ) của hai nhóm là lớn
1.2.6 Tính tin cậy và giá trị của bài trắc nghiệm:
Nếu như việc phân tích câu trắc nghiệm để giúp chúng ta sửa chữa các câu nhiễu nhằm làm thay đổi độ khó và độ phân cách của câu trắc nghiệm, thì đánh giá bài trắc nghiệm sẽ giúp chúng ta thay đổi tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm thông qua việc thay đổi, bổ sung câu hỏi Đây là hai tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng của bài trắc nghiệm
1.2.6.1 Tính tin cậy:
Theo TS Nguyễn Văn Tuấn: “tính tin cậy của trắc nghiệm biểu hiện qua sự
ổn định của kết quả đo lường Chấm nhiều lần bảng trả lời trắc nghiệm của HS, hoặc do nhiều người chấm, kết quả điểm số không thay đổi Điểm trắc nghiệm không phụ thuộc vào người chấm” [24, trang 100]
Theo GS.TS Lâm Quang Thiệp: “tính tin cậy của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ chính xác của phép đo nhờ bài trắc nghiệm” [19, trang 62]
Theo TS Dương Thiệu Tống: “một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả có tính vững trải Điều này có nghĩa là, nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần, mỗi HS vẫn sẽ giữ được thứ hạng tương đối của mình trong nhóm” [20, trang 43]
Tính tin cậy của một bài trắc nghiệm tùy thuộc vào các yếu tố như: chọn mẫu các câu hỏi, may rủi do việc phỏng đoán, độ khó và chiều dài của bài TN Do vậy, muốn bảo đảm tính tin cậy tối đa của một bài TN, ta cần phải:
- Giảm thiểu các yếu tố may rủi đến mức tối thiểu Một trong các cách giảm thiểu yếu tố may rủi là cố gắng hạn chế việc sử dụng các loại câu 2 lựa chọn
- Viết những lời chỉ dẫn sao cho thật rõ ràng để HS khỏi nhằm lẫn
- Chuẩn bị trước bảng chấm điểm, ghi rõ các câu đúng và cũng nên tham khảo với đồng nghiệp về những câu được cho là đúng [20, trang 45]
Tóm lại: Một bài trắc nghiệm có độ tin cậy cao có thể phân biệt được HS
Trang 3626
giỏi và HS kém và điểm số trắc nghiệm không phụ thuộc vào người chấm hay số lần làm bài trắc nghiệm của cùng đối tượng HS Do vậy, tính tin cậy của bài TN cho thấy tính khách quan của điểm số và là một trong những cơ sở tạo nên chất lượng của bài trắc nghiệm
1.2.6.2 Tính giá trị:
Theo TS Nguyễn Văn Tuấn: “một bài trắc nghiệm có giá trị khi nó đáp ứng được mục đích đề ra Nếu mục đích nhằm đo lường trình độ tiếp thu khối lượng kiến thức của HS về một môn học thì những điểm số từ bài trắc nghiệm của HS phải phản ánh đúng khả năng lĩnh hội của HS về môn học ấy” [24, trang 100]
Theo GS.TS Lâm Quang Thiệp: “tính giá trị của bài trắc nghiệm chính là đại lượng biểu thị mức độ đạt được mục tiêu đề ra cho phép đo nhờ bài trắc nghiệm Để bài trắc nghiệm đạt được tính giá trị cao, cần phải xác định tỉ mỉ mục tiêu cần đo qua bài trắc nghiệm ấy và bám sát mục tiêu đó trong quá trình xây dựng ngân hàng CHTN cũng như khi tổ chức các kỳ thi” [19, trang 62]
Theo GS.TS Dương Thiệu Tống thì tính giá trị liên quan đến mức độ đo lường của bài trắc nghiệm theo mục đích mà ta muốn khảo sát trên một nhóm người Khái niệm giá trị chỉ có ý nghĩa khi ta xác định rõ: “ta muốn đo lường cái gì
và với nhóm người nào” [20, trang 46]
Có thể xét tính giá trị của bài TN dưới nhiều góc độ khác nhau Vấn đề cơ bản luôn luôn phải đặt ra là dụng cụ ấy có đo lường được đúng cái mà ta muốn đo lường hay không và đúng ở mức độ nào Thông thường tính giá trị của các TN thành quả học tập được phân loại như sau:
- Giá trị đồng thời: nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài TN với một tiêu chí khác đồng thời, đã có sẵn và được nhiều người chấp nhận, về khả năng mà bài
TN ấy muốn đo lường
- Giá trị tiên đoán: nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài TN với một tiêu chí khác căn cứ vào khả năng (hay thành quả học tập) ở thời điểm tương lai
- Giá trị nội dung: là mức độ bao trùm được nội dung môn học, bài học
- Giá trị khái niệm tạo lập: là giá trị liên quan đến các loại học tập được quy
Trang 3727
định trong các mục tiêu dạy và học Một bài TN gồm những câu hỏi chỉ liên quan đến khả năng nhớ, thuộc lòng các sự kiện thì không có giá trị đo lường kiến thức, thông hiểu, phân tích, tổng hợp, ứng dụng, tức là những mục tiêu dạy và học tổng quát
- Giá trị thực nghiệm (hay giá trị thống kê) nói lên sự tương quan giữa các điểm số TN với một tiêu chí, tức là một loại đo lường nào đó, độc lập và trực tiếp,
về khả năng (hay đặc điểm) mà bài TN ấy muốn đo lường
- Giá trị yếu tố là sự tương quan giữa bài TN ấy với yếu tố chung cho cả một nhóm gồm nhiều bài TN Loại giá trị này căn cứ vào sự phân tích bằng một phương pháp thống kê, gọi là phân tích yếu tố
Tóm lại: một bài TN có giá trị khi nó đáp ứng được mục đích đề ra, nó phải
đo lường đúng loại thành quả học tập mà ta muốn khảo sát Chính vì vậy, khi soạn thảo bài TN, người soạn thảo cần sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để có thể đảm bảo rằng bài TN sẽ phục vụ đúng mục đích của nó Một trong các phương pháp thông thường nhưng cũng rất quan trọng là phương pháp xác định giá trị nội dung của bài TN Để bảo đảm cho giá trị nội dung của một bài TN, người soạn thảo phải phác họa trước một dàn bài TN, trong đó qui định một cách khá chi tiết nội dung của giáo trình tương ứng với các mục tiêu Sau đó, người soạn thảo phải
cố gắng chứng minh rằng nội dung và các loại câu trả lời của bài TN có thể xem như là một mẫu đại diện cho toàn thể các mục tiêu đòi hỏi của giáo trình
1.2.6.3 Mối quan hệ giữa tính giá trị và tính tin cậy:
Tính giá trị của bài TN liên quan đến mục đích của sự đo lường, còn tính tin cậy liên quan đến sự vững trải của điểm số Tính giá trị phản ánh mức độ mà một bài TN đo được cái mà nó cần đo, còn tính tin cậy phản ánh sự chính xác của phép
đo Qua định nghĩa về tính tin cậy và tính giá trị, chúng ta có thể thấy rõ mối tương quan giữa chúng, một bài TN tin cậy không nhất thiết là phải có giá trị, nhưng ngược lại, một bài trắc nghiệm không tin cậy thì không thể có giá trị đo lường được Chính vì thế, để đảm bảo cho một bài TN thành quả học tập, cần phải xem xét cả tính giá trị và tính tin cậy
Trang 3828
1.3 Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan:
Phương pháp trắc nghiệm khách quan chỉ có thể phát huy hết ưu điểm và giảm thiểu yếu điểm khi nó được triển khai đúng quy định công nghệ cần thiết để xây dựng và phát triển các ngân hàng CHTN Quy trình xây dựng ngân hàng CHTN khách quan là khá phức tạp Để đơn giản, chúng ta sẽ xem xét việc xây dựng ngân hàng CHTN cho một môn học cụ thể Có thể mô tả tóm tắt các bước của quy trình như sau:
- Bước 1: Phân tích nội dung cần kiểm tra
- Bước 2: Xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá
- Bước 3: Thiết lập dàn bài trắc nghiệm
- Bước 4: Biên soạn các câu hỏi trắc nghiệm
- Bước 5: Lấy ý kiến tham khảo về các câu hỏi
- Bước 6: Thử nghiệm và phân tích các câu hỏi
- Bước 7: Lập ngân hàng các câu hỏi trắc nghiệm
1.3.1 Phân tích nội dung cần kiểm tra:
Bất cứ một nhiệm vụ học tập nào cũng đều bao gồm hai thành tố: nội dung học tập thiết yếu và kỹ năng nhận thức liên quan trong quá trình học Vì vậy, khi đo lường thành tích học tập, giáo viên phải tính đến nội dung của kiến thức và những điều mà học sinh làm được với lượng kiến thức đó
Theo quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi đánh giá kiến thức trong dự án giáo dục kỹ thuật và dạy nghề, việc phân tích kiến thức của nghề bao gồm: [21, trang 22]
- Nội dung: Kiến thức nghề được đánh giá gồm 2 phần: kiến thức cơ sở và kiến thức chuyên môn Kiến thức đánh giá cần căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ năng nghề
và tham khảo chương trình đào tạo nghề
- Tỷ lệ kiến thức: được xác định dựa vào tần xuất của phần kiến thức đó trong các công việc của tiêu chuẩn kỹ năng nghề và tham khảo phần kiến thức của chương trình trình độ tương ứng
Trang 3929
Phân tích nội dung chi tiết bao gồm chủ yếu công việc xem xét và phân biệt bốn loại nội dung học tập:
(1) Những thông tin mang tính chất sự kiện mà học sinh phải nhận ra
(2) Những khái niệm và ý tưởng mà chúng ta phải giải thích hay minh họa (3) Những khái niệm và ý tưởng phức tạp cần được giải thích hay giả nghĩa (4) Những thông tin, ý tưởng và kỹ năng cần được ứng dụng hay chuyển dịch vào một tình huống hay hoàn cảnh mới
1.3.2 Xác định mục tiêu kiểm tra đánh giá:
Xác định mục tiêu cụ thể cho từng môn học là rất quan trọng và cần thiết, điều này có nghĩa là phải xác định được những tiêu chí, kỹ năng, kiến thức HS cần đạt khi kết thúc môn học và sau đó xây dựng qui trình và công cụ nhằm đo lường xem HS có đạt được những tiêu chí đó Mục tiêu cần đạt càng rõ thì việc xây dựng môn học và đánh giá thành quả học tập của toàn bộ chương trình càng dễ thực hiện hơn, nó cũng tạo sự dễ dàng cho việc kiểm tra và chấm điểm công bằng Nếu mục tiêu cần đạt chưa được xác định rõ ràng thì không thể đánh giá chính xác Nói khác
đi, đánh giá thành quả học tập của học sinh trên cơ sở đối chiếu với các mục tiêu giảng dạy đã đề ra Chính vì vậy, các mục tiêu dạy - học là cơ sở cho việc soạn thảo một bài trắc nghiệm
Theo Benjamin S Bloom (1956), mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức được chia thành 6 mức độ nhận thức từ đơn giản đến phức tạp như sau:
- Biết (Knowledge): là sự nhớ lại các dữ liệu đã học được trước đây Điều
đó có nghĩa là một người có thể nhắc lại một loạt dữ liệu, từ các sự kiện đơn giản đến các lý thuyết phức tạp, tái hiện trong trí nhớ những thông tin cần thiết Đây là cấp độ thấp nhất của kết quả học tập trong lĩnh vực nhận thức
- Hiểu (Comprehension): là khả năng nắm được ý nghĩa của tài liệu Điều đó
có thể hiện bằng việc chuyển tài liệu từ dạng này sang dạng khác (từ các từ sang số liệu), bằng cách giải thích tài liệu (giải thích hoặc tóm tắt) và bằng cách ước lượng
xu hướng tương lai (dự báo các hệ quả hoặc ảnh hưởng) Kết quả học tập ở cấp độ này cao hơn so với nhớ, và là mức thấp nhất của việc thấu hiểu sự vật
Trang 4030
- Vận dụng (Application): là khả năng sử dụng các tài liệu đã học vào một
hoàn cảnh cụ thể mới Điều đó có thể bao gồm việc áp dụng các quy tắc, phương pháp, khái niệm, nguyên lý, định luật và lý thuyết Kết quả học tập trong lĩnh vực này đòi hỏi cấp độ thấu hiểu cao hơn so với cấp độ hiểu trên đây
- Phân tích (Analysis): là khả năng phân chia một tài liệu ra thành các phần
của nó sao cho có thể hiểu được các cấu trúc tổ chức của nó Điều đó có thể bao gồm việc chỉ ra đúng các bộ phận, phân tích mối quan hệ giữa các bộ phận và nhận biết được các nguyên lý tổ chức được bao hàm Kết quả học tập ở đây thể hiện một mức độ trí tuệ cao hơn so với mức hiểu và áp dụng vì nó đòi hỏi một sự thấu hiểu cả nội dung và hình thái cấu trúc của tài liệu
- Tổng hợp (Synthesis): là khả năng sắp xếp các bộ phận lại với nhau để hình
thành một tổng thể mới Điều đó có thể bao gồm việc tạo ra một cuộc giao tiếp đơn nhất (chủ đề hoặc bài phát biểu), một kế hoạch hành động (dự án nghiên cứu), hoặc một mạng lưới các quan hệ trừu tượng (sơ đồ để phân lớp thông tin) Kết quả học tập trong lĩnh vực này nhấn mạnh các hành vi sáng tạo, đặc biệt tập trung chủ yếu vào việc hình thành các mô hình hoặc cấu trúc mới
- Đánh giá (Evaluation): là khả năng xác định giá trị của tài liệu Việc đánh
giá dựa trên các tiêu chí nhất định Đó có thể là các tiêu chí bên trong (cách tổ chức) hoặc các tiêu chí bên ngoài (phù hợp với mục đích), và người đánh giá phải tự xác định hoặc được cung cấp các tiêu chí
Bảng 1.2: Bảng tóm tắt các cấp độ nhận thức theo quan niệm của Bloom [1]
Cấp độ 1
Quan sát và nhớ lại thông tin, nhận
biết được thời gian, địa điểm và sự
kiện, nhận biết được các ý chính,
nắm được chủ đề nội dung
Liệt kê, định nghĩa, thuật lại, mô
tả, nhận dạng, chỉ ra, đặt tên, sưu tầm, tìm hiểu, lập bảng kê, trích dẫn, kể tên, ai, khi nào, ở đâu v.v
ý nghĩa, chuyển tải kiến thức từ
Tóm tắt, mô tả, diễn giải, so sánh tương phản, dự đoán, liên hệ,