1. Trang chủ
  2. » Tất cả

XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH

175 777 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 175
Dung lượng 2,72 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giả thuyết nghiên cứu Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức cho môn học “Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén” theo quy trình khoa học sẽ góp phần tạo điều kiện t

Trang 1

Mục lục

PHẦN MỞ ĐẦU i

1 Lý do chọn đề tài i

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ii

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu iii

4 Giả thuyết nghiên cứu iii

5 Giới hạn nghiên cứu iii

6 Phương pháp nghiên cứu iii

7 Kế hoạch dự kiến iv

PHẦN NỘI DUNG 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC VÀ TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 1

I KIỂM TRA VÀ ĐÁNH GIÁ 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Chức năng của kiểm tra- đánh giá 1

1.3 Mục đích của kiểm tra - đánh giá 2

1.3.1 Đối với học sinh 2

1.3.2 Đối với giáo viên 2

1.3.3 Đối với nhà trường, phụ huynh và các cơ quan giáo dục 3

1.4 Các tính chất của đánh giá 3

1.4.1 Khách quan 3

1.4.2 Dựa vào mục tiêu giáo dục 3

1.4.3 Toàn diện 4

1.4.4 Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch 4

1.4.5 Đánh giá nhằm cải tiến phương pháp dạy, hoàn chỉnh chương trình học 4

II NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 4

2.1 Khái niệm 4

Trang 2

2.1.1 Trắc nghiệm 4

2.1.2 Trắc nghiệm khách quan và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 6

2.2 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan 6

2.2.1 Sử dụng trong giảng dạy 7

2.2.2 Sử dụng trong học tập 7

2.2.3 Sử dụng để kiểm tra - đánh giá 8

2.3 Các hình thức trắc nghiệm 9

2.3.1 Câu trắc nghiệm đúng - sai 9

2.3.2 Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn 11

2.3.3 Câu Trắc nghiệm ghép hợp 15

2.3.4 Câu trắc nghiệm điền khuyết 16

2.3.5 Câu hỏi tình huống 18

2.4 Phân tích câu trắc nghiệm 19

2.4.1 Độ khó của câu trắc nghiệm 20

2.4.2 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm 20

2.4.3 Độ phân cách của câu trắc nghiệm 22

2.4.4 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm 24

2.5 Yêu cầu về tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm 25

2.5.1 Tính tin cậy 26

2.5.2 Tính giá trị 27

2.6 Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học 29

2.6.1 Phân tích nội dung môn học 29

2.6.2 Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá 31

2.6.3 Lập dàn bài trắc nghiệm 35

2.6.4 Biên soạn các câu trắc nghiệm 38

2.6.5 Thi thử và sửa chữa định tính 39

2.6.6 Xử lý định lượng 40

2.6.7 Lập ngân hàng câu hỏi cho môn học 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG I 42

Trang 3

CHƯƠNG II: CƠ SỞ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC MÔN CHĂM SÓC BÀ MẸ TRONG

KỲ THAI NGHÉN 43

I GIỚI THIỆU MÔN HỌC VÀ CƠ SỞ ĐÀO TẠO 43

1.1.Cơ sở đào tạo 43

1.1.1 Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh 43

1.1.2 Khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học 44

1.2. Môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén 45

1.2.1.Vị trí môn học 45

1.2.2 Đề cương môn học 47

1.2.3 Nội dung chi tiết của môn học 48

1.2.4 Mục tiêu cụ thể của môn học 49

II.THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM TRA - ĐÁNH GIÁ CÁC MÔN HỌC LÝ THUYẾT CHUYÊN NGÀNH TẠI KHOA ĐIỀU DƯỠNG - KỸ THUẬT Y HỌC, ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 54

2.1.Khảo sát ý kiến giáo viên về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kiến thức các môn học chuyên ngành 54

2.2.Khảo sát ý kiến sinh viên về hình thức đánh giá các môn học lý thuyết chuyên ngành 57

CHƯƠNG III: XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC MÔN CHĂM SÓC BÀ MẸ TRONG KỲ THAI NGHÉN 61

I XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC MÔN CHĂM SÓC BÀ MẸ TRONG KỲ THAI NGHÉN 61

1.1 Phân tích nội dung môn học 61

1.2 Xác định mục tiêu, nội dung kiểm tra đánh giá của môn học 61

1.3 Lập dàn bài trắc nghiệm cho môn học 62

1.4.Biên soạn các câu trắc nghiệm cho môn học 65

1.5.Lấy ý kiến tham khảo về các câu trắc nghiệm 65

II.THỬ NGHIỆM VÀ PHÂN TÍCH CÂU HỎI 68

Trang 4

2.1.Thử nghiệm 68

2.2 Kết quả phân tích các câu hỏi trắc nghiệm 68

2.2.1 Độ khó của câu trắc nghiệm 68

2.2.2 Độ phân cách của các câu trắc nghiệm 70

2.2.3 Điều chỉnh các câu trắc nghiệm chưa phù hợp 73

KẾT LUẬN CHƯƠNG III 79

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

I KẾT LUẬN 80

II TỰ ĐÁNH GIÁ NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI 81

2.1 Về mặt lý luận 81

2.2 Về mặt thực tiễn 81

III HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 81

IV KIẾN NGHỊ 82

4.1 Đối với lãnh đạo nhà trường 82

4.2 Đối với giáo viên 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

PHẦN C: PHỤ LỤC 85

Phụ lục 1: Bảng phân tích nội dung - xác lập mục tiêu cần kiểm tra - đánh giá môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén 85

Phụ lục 2 : Bảng phỏng vấn giáo viên 99

Phụ lục 3: Bảng phỏng vấn sinh viên 102

Phụ lục 4 : Bộ câu hỏi trắc nghiệm môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén 104

Phụ lục 5: Kết quả phân tích độ khó của câu trắc nghiệm 146

Phụ lục 6: Kết quả phân tích độ phân cách của câu trắc nghiệm 153

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Các mức độ mục tiêu về nhận thức theo S Bloom 322

Bảng 1.2: Bảng liệt kê các động từ được sử dụng trong xác định mục tiêu 344

Bảng 1.3: Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm môn học 366

Bảng 1.4: Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm cho từng bài học 377

Bảng 2.1: Chương trình đào tạo cử nhân Hộ sinh năm III 46

Bảng 2.2: Nội dung chi tiết của môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén 48

Bảng 2.3: Mục tiêu cụ thể của môn học 50

Bảng 2.4: Tóm tắt ý kiến giáo viên về việc sử dụng trắc nghiệm khách quan trong đánh giá kiến thức các môn học chuyên ngành 55

Bảng 2.5: Tóm tắt ý kiến sinh viên về hình thức đánh giá các môn học chuyên ngành57 Bảng 3.1: Bảng quy định 2 chiều về nội dung cần kiểm tra theo từng bài 62

Bảng 3.2: Bảng thống kê số lượng mục tiêu ứng với mức độ nhận biết 64

Bảng 3.3: Bảng thống kê các ý kiến tham khảo về bộ câu hỏi trắc nghiệm 66

Bảng 3.4: Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó 69

Bảng 3.5: Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ phân cách 71

Bảng 3.6: Bảng phân loại các câu trắc nghiệm theo độ phân cách 72

Bảng 3.7: Bảng phân tích các câu hỏi có độ phân cách kém 74

Bảng 3.8: Bảng phân bố số lượng và chất lượng câu hỏi 78

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1 Biểu đồ tỉ lệ các hình thức đánh giá đang áp dụng 57

Hình 2.2 Biểu đồ tỉ lệ sinh viên hứng thú với các hình thức thi 59

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố tỉ lệ mục tiêu ứng với mức độ nhận biết 64

Hình 3.2 Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm 70

Hình 3.3 Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm 72

Trang 7

lý giáo dục; Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa ” Để đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, phát triển đất nước, phát triển nền giáo dục nước nhà, giáo dục và đào tạo cũng cần phải được đổi mới để nâng cao chất lượng đào tạo Quá trình giáo dục và đào tạo bao gồm các thành tố cơ bản: mục tiêu, nội dung, phương pháp, tổ chức quá trình và kiểm tra - đánh giá Các thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau và cùng tạo nên chất lượng đào tạo Ngoài việc đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, việc nghiên cứu đổi mới và phát triển các phương pháp kiểm tra - đánh giá kết quả học tập đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất, tính chính xác và tính công bằng cũng rất quan trọng Một trong những phương pháp kiểm tra - đánh giá đảm bảo các tiêu chuẩn này là trắc nghiệm khách quan

Trong nhiều năm qua phương pháp kiểm tra - đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan đã từng bước được đưa vào thực hiện trong các trường học và trong các kỳ thi tuyển quốc gia thay cho kiểu thi tự luận truyền thống

Tuy nhiên trên thực tế việc kiểm tra - đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan vẫn chưa được áp dụng rộng rãi và đồng bộ do có những khó khăn nhất định khi thực

Trang 8

ii

hiện, trong đó quan trọng nhất là khâu xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm Để

có một ngân hàng câu hỏi có chất lượng việc xây dựng tốn khá nhiều thời gian, công sức và phải tuân thủ quy trình xây dựng

Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trường thuộc nhóm ngành sức khỏe, cung cấp nguồn nhân lực cho ngành y tế trong xã hội Đây là nhóm ngành với những nghề cụ thể, có hệ thống kiến thức/lý thuyết phức tạp, có kỹ năng tay nghề rõ ràng và những yêu cầu thái độ y đức cao cả Học viên phải được đào tạo nghề một cách cẩn thận vì sau này họ sẽ hành nghề trên tâm hồn và thể chất của con người Xuất phát từ những yêu cầu của xã hội, của nền giáo dục nói chung và của sự phát triển giáo dục trong ngành Y tế nói riêng, người nghiên cứu chọn đề tài “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức môn Chăm sóc bà mẹ trong

kỳ thai nghén tại khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức môn “Chăm sóc bà

mẹ trong kỳ thai nghén” cho đối tượng cử nhân Hộ sinh tại khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài thực hiện những nhiệm vụ cơ bản như sau:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về trắc nghiệm, quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức và cơ sở thực tiễn về kiểm tra - đánh giá các môn học lý thuyết chuyên ngành

- Nghiên cứu phân tích mục tiêu đào tạo chung, mục tiêu và nội dung môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén trong chương trình đào tạo cử nhân Hộ sinh

- Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức môn học Chăm sóc

bà mẹ trong kỳ thai nghén

Trang 9

iii

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức cho môn học “Chăm sóc bà

mẹ trong kỳ thai nghén”

3.2 Khách thể nghiên cứu

- Chương trình đào tạo cử nhân Hộ sinh

- Chương trình chi tiết môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén trong chương trình đào tạo cử nhân Hộ sinh, khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

- Sinh viên cử nhân Hộ sinh và các giáo viên tham gia giảng dạy môn Chăm sóc bà

mẹ trong kỳ thai nghén

4 Giả thuyết nghiên cứu

Việc xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức cho môn học

“Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén” theo quy trình khoa học sẽ góp phần tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập của sinh viên, định hướng quá trình giảng dạy của giáo viên và quá trình học tập của sinh viên, từ đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

5 Giới hạn nghiên cứu

Vì nội dung chương trình đào tạo cử nhân Hộ sinh gồm rất nhiều môn học Mặt khác quá trình biên soạn, thử nghiệm, phân tích các câu hỏi rất công phu và cần có nhiều thời gian Vì thời gian thực hiện đề tài có hạn nên người nghiên cứu chỉ chọn một môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén để xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đánh giá kiến thức

Việc thử nghiệm các câu hỏi chỉ thực hiện tại khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật y học, Đại học Y dược thành phố Hồ Chí Minh

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Các văn bản pháp quy của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, các tài liệu là cơ sở lý luận

về xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức

Trang 10

iv

6.2 Phương pháp thử nghiệm

Thử nghiệm các câu hỏi đánh giá kiến thức trong điều kiện thực tế để xác định tính khả thi của các câu hỏi khi áp dụng vào thực tiễn đánh giá; Phân tích các câu trắc nghiệm, trên cơ sở đó tiến hành điều chỉnh sao cho phù hợp với các yêu cầu khi xây dựng câu trắc nghiệm

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Thống kê, tổng hợp và xử lý các số liệu của quá trình thử nghiệm bằng phần mềm Excel Trên cơ sở đó phân tích các câu trắc nghiệm, đồng thời đưa ra các kết luận hoặc điều chỉnh nội dung nghiên cứu

7 Kế hoạch dự kiến

Để hoàn thành đề tài người nghiên cứu tiến hành thực hiện các giai đoạn sau:

Giai đoạn 1: Thu thập tài liệu, nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài, hoàn thành đề cương nghiên cứu

Giai đoạn 2: Viết cơ sở lý luận của đề tài

Giai đoạn 3: Phân tích chương trình đào tạo Cử nhân Hộ sinh

Giai đoạn 4: - Biên soạn ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

- Kiểm nghiệm và phân tích câu hỏi

- Viết hoàn chỉnh luận văn

Trang 11

là xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu dạy học Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng (đo lường) hay định tính (quan sát).1

Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá là mối quan hệ khắng khít thể hiện ở chổ:

- Kiểm tra là phương tiện của đánh giá Đánh giá là mục đích của kiểm tra Mục đích đánh giá quyết định nội dung và hình thức của kiểm tra

- Không thể đánh giá mà không dựa vào kiểm tra Thi là một hình thức kiểm tra có tầm quan trọng đặc biệt và cho điểm là một dạng đánh giá phổ biến nhằm xác định trình độ của học sinh

1.2 Chức năng của kiểm tra- đánh giá

Kiểm tra - đánh giá có 3 chức năng cơ bản là so sánh, phản hồi và dự đoán

1 Dương Thiệu Tống (2005),Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập, nhà xuất bản KHXH, tr.362

Trang 12

2

- Chức năng so sánh: so sánh giữa mục đích yêu cầu đã đặt ra với kết quả đạt được Nếu không có kiểm tra đánh giá thì không có dữ kiện, số liệu xác thực để so sánh kết quả đạt được với mục đích yêu cầu đã đề ra ban đầu

- Chức năng phản hồi: từ thông tin kiểm tra và đánh giá, học sinh nhận ra các khuyết điểm, các lỗ hổng kiến thức của mình để từ đó tự giác sửa chữa các khuyết điểm, phát huy ưu điểm, lấp các lỗ hổng kiến thức trong quá trình học tập Cũng từ những thông tin của kiểm tra - đánh giá giáo viên sẽ cải tiến phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với học sinh hơn, dần dần điều chỉnh quá trình dạy - học ngày một tốt hơn

- Chức năng dự đoán: qua kết quả của kiểm tra - đánh giá giúp giáo viên tiên đoán được khả năng, kết quả học tập của học sinh trong tương lai gần

Mục đích chính là cung cấp phản hồi cho quá trình dạy học Kiểm tra - đánh giá nhằm xác định số lượng và chất lượng của việc giáo dục và học tập từ đó khuyến khích trò học tốt, thầy dạy tốt Về phía học sinh, kiểm tra - đánh giá giúp nâng cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính tích cực chủ động trong học tập

1.3 Mục đích của kiểm tra - đánh giá

1.3.1 Đối với học sinh

- Thông tin kiểm tra sẽ giúp học sinh đào sâu kiến thức, hệ thống hóa, khái quát hóa những kiến thức cũ, những tri thức đã được tiếp thu, giúp học sinh phát triển tư duy trí nhớ

- Giúp học sinh biết mức độ mình đã đạt được và phát hiện ra những lỗ hổng trong tri thức để kịp thời bổ sung

- Giúp học sinh nâng cao tính độc lập, tích cực, chủ động trong học tập, rèn luyện thói quen tìm hiểu sâu tài liệu học tập, tham gia tích cực vào việc học tập, thảo luận, phân tích có phê phán, rèn luyện khả năng giải quyết vấn đề trong những tình huống thực tế

1.3.2 Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra đánh giá giúp

- Hiểu rõ kết quả của công tác giảng dạy từ đó dẫn đến cải tiến, hoàn thiện việc dạy và có kế hoạch nâng cao chất lượng dạy học

Trang 13

1.3.3 Đối với nhà trường, phụ huynh và các cơ quan giáo dục

- Giúp nhà trường theo dõi tình hình học tập của học sinh và cũng qua đó đánh giá được công việc giảng dạy của giáo viên

- Giúp cho phụ huynh biết rõ việc học tập của con em mình, từ đó giúp tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình chặt chẽ hơn

- Giúp cơ quan giáo dục nắm chính xác tình hình học tập của học sinh, để từ đó có

kế hoạch sửa đổi lại chương trình và có những biện pháp bổ sung thích hợp

Đặc biệt trong các trường đào tạo về y khoa, mục đích của đánh giá còn thể hiện ở chổ cung cấp phản hồi làm căn cứ cho việc chứng nhận nhằm bảo vệ xã hội bởi vì người cán bộ y tế hành nghề trên con người, công việc của người cán bộ y tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng con người nên việc giám định chất lượng và trình độ của họ là rất quan trọng

1.4 Các tính chất của đánh giá

Việc đánh gía được coi là tốt nếu bảo đảm được các tính chất sau:

1.4.1 Khách quan

- Việc đánh giá không có tình cảm và tác nhân ngoại lai xen vào kết quả điểm số

- Phù hợp với trình độ thực tế kết quả học tập của học sinh

Để đạt được nguyên tắc khách quan trong đánh giá thì ta phải xác định đúng mục đích của đánh giá Bài kiểm tra nhằm mục đích khảo sát kiến thức, kỹ năng của học sinh thì việc đánh giá phải theo sát mục đích đó

1.4.2 Dựa vào mục tiêu giáo dục

- Mục tiêu giáo dục là khởi điểm của chương trình giảng dạy và học tập

- Đánh giá là xem xét các mục tiêu giáo dục đã đạt được đến mức độ nào Do đó đánh giá phải lấy mục tiêu giáo dục làm chuẩn Người giáo viên không tùy tiện đặt

ra những mục tiêu giáo dục này

Trang 14

1.4.4 Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch

- Kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cũng như mọi hoạt động thường xuyên của con người đều vận động và phát triển không ngừng Do đó kết quả đánh giá chỉ có giá trị thực

sự ngay trong thời điểm đánh giá Vì vậy để việc đánh giá cho kết quả chính xác cần phải được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình học tập với nhiều dạng khác nhau

- Việc đánh giá phải có kế hoạch, phải nghiên cứu thời gian và hình thức thích hợp

1.4.5 Đánh giá nhằm cải tiến phương pháp dạy, hoàn chỉnh chương trình học

Lấy kết quả kiểm tra, thi làm cơ sở, giáo viên và các cơ quan giáo dục tìm hiểu những tác nhân đưa đến kết quả để phát huy những ưu điểm, sửa chữa nhược điểm, từ đó có kế hoạch cải tiến phương pháp giảng dạy và sửa đổi chương trình học sao cho thích hợp với mục tiêu đào tạo

Trong thực tế kiểm tra được phân loại theo các dạng sau:

- Theo hình thức: kiểm tra miệng, kiểm tra viết, kiểm tra thực hành

- Theo nội dung: kiểm tra kiến thức, kiểm tra kỹ năng, kiểm tra thái độ

- Theo tính tin cậy: kiểm tra chủ quan, kiểm tra khách quan

II NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN

2.1 Khái niệm

2.1.1.Trắc nghiệm

Trắc nghiệm theo tiếng Anh là “thử”, “phép thử”, còn theo nghĩa chữ Hán,

“trắc” có nghĩa là đo lường, “nghiệm” là suy xét, chứng thực.2

2 Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, Tr.13

Trang 15

5

Trắc nghiệm là một dụng cụ hay một phương thức hệ thống nhằm đo lường

một mẫu các động thái để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào,

so sánh với những người khác hay so với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập được

dự kiến?”3

Theo Giáo sư Trần Bá Hoành4, trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để thăm dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu…) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh

Theo Giáo sư Lâm Quang Thiệp, trắc nghiệm là phương pháp dùng để lượng giá trong giáo dục Trắc nghiệm có các dạng thức sau đây: trắc nghiệm thành quả để

đo lường mức độ học được sau một thời kỳ giảng dạy nào đó; trắc nghiệm năng khiếu để dự báo việc thực hiện của một người trong tương lai, bao gồm việc giải quyết các vấn đề nằm bên ngoài sự trải nghiệm trực tiếp của người học Phương pháp trắc nghiệm có thể là khách quan, có thể là chủ quan

Theo Giáo sư Dương Thiệu Tống5

thì trong nghĩa chữ Hán khi đề cập đến từ trắc nghiệm có nghĩa là đo lường, chứng thực hay suy xét về vấn đề nào đó Theo nghĩa này

thì trắc nghiệm bao gồm cả hình thức kiểm tra loại luận đề (còn gọi là trắc nghiệm loại luận đề) và trắc nghiệm khách quan Để dễ dàng phân biệt giữa hai hình thức kiểm tra này cũng theo tác giả Dương Thiệu Tống, thì sử dụng từ “luận đề” (tức là loại trắc nghiệm luận đề) và “trắc nghiệm” (tức là loại trắc nghiệm khách quan)

Cho đến nay, người ta thường hiểu bài trắc nghiệm là một phương pháp kiểm tra khách quan gồm những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có kèm theo những câu trả lời cho sẵn, yêu cầu học sinh sau khi suy nghĩ, dùng một ký hiệu đơn giản đã quy ước

để trả lời

3

Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, Tr.364

4 Trần Bá Hoành (1995): Đánh giá trong giáo dục Tài liệu dùng cho các trường đại học Sư Phạm và Cao đẳng Sư phạm Nxb Hà Nội, tr 36

5

Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, Tr.13

Trang 16

6

2.1.2 Trắc nghiệm khách quan và ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

- Trắc nghiệm khách quan (objective test) là một khái niệm mang tính quy ước

vì phương cách chấm điểm có tính khách quan hơn loại trắc nghiệm luận đề, là loại trắc nghiệm được biểu đạt bằng một câu hỏi hay một vấn đề mà người trả lời được

tự do tương đối trong tư duy, hành văn trong quá trình làm bài, còn người chấm sẽ theo một bảng hướng dẫn chấm, tuy nhiên tính chủ quan thể hiện khá rõ tùy thuộc vào trình độ, phương tiện và thái độ của người chấm

- Trắc nghiệm khách quan được thể hiện bằng hệ thống các câu hỏi và các câu trả lời Người trả lời chọn câu trả lời đúng hoặc tốt nhất trong số các câu trả lời

đã được đưa ra Việc chấm điểm là khách quan và thống nhất, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm

Ngày nay những yêu cầu về việc công bằng, khách quan, hiệu quả, giảm thiểu những tiêu cực trong đo lường và đánh giá kết quả học tập là cần thiết đáp ứng nhu cầu phát triển ngành giáo dục

- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan là tập hợp một số lượng lớn câu

hỏi trắc nghiệm được dự trữ một cách có hệ thống và được sử dụng trong việc kiểm tra - đánh giá kiến thức, trong giảng dạy và trong học tập của một môn học, một ngành học

2.2 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Khi nói đến trắc nghiệm người ta thường nghĩ đến việc sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập của học sinh, ít người nghĩ đến những mục đích khác của trắc nghiệm Theo tác giả Lê Đức Ngọc6 ngoài mục đích kiểm tra - đánh giá kết quả học tập, câu hỏi trắc nghiệm khách quan còn có những vai trò khác trong giảng dạy và trong học tập

6

Lê Đức Ngọc: Giáo dục đại học phương pháp dạy và học NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tr 123 – 126

Trang 17

7

2.2.1 Sử dụng trong giảng dạy

Trong giảng dạy ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng như là một phương tiện dạy học, có tác dụng định hướng và điều chỉnh quá trình dạy học của

giáo viên

- Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của một môn học hay của một chương trình học bao hàm toàn bộ lĩnh vực kiến thức của môn học hay chương trình học mà học sinh cần phải biết Do vậy, cùng với nội dung chương trình, các tài liệu, giáo trình, giáo viên sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để xác định mục tiêu và nội dung học tập một cách thích hợp và hiệu quả

Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng mục tiêu và nội dung học tập đã xác định Như vậy ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

có tác dụng định hướng quá trình dạy học

- Chuẩn hóa kiến thức môn học: các giảng viên mới, các giảng viên khác nhau dạy theo ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm sẽ cho kết quả tiếp thu môn học như nhau, tránh việc dạy tùy tiện, sai sót trong khi truyền đạt kiến thức

- Trong quá trình dạy học giáoviên phải thường xuyên kiểm tra - đánh giá học sinh

để biết học sinh đã đạt đến trình độ nào, tiến bộ như thế nào Khi sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để kiểm tra - đánh giá sẽ giúp cho việc chấm bài của giáo viên trở nên đơn giản, nhanh chóng, cho kết quả chính xác và có tính thống nhất cao

- Thông qua trắc nghiệm giáo viên sẽ biết nội dung học tập nào được giảng dạy chưa đạt yêu cầu để từ đó nghiên cứu thay đổi hoặc điều chỉnh các phương pháp dạy học hiệu quả hơn

- Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học, sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho sinh viên chuẩn bị bài ở nhà, thảo luận và tranh luận trên lớp, phụ đạo và hướng dẫn cách học, làm tăng hứng thú học tập cho người học

2.2.2 Sử dụng trong học tập

Đồng thời với việc sử dụng trong giảng dạy, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm còn được sử dụng trong học tập Hiện nay việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm

Trang 18

- Trong khi soạn câu trắc nghiệm dùng để học tập, người biên soạn không chỉ dừng lại ở những kiến thức trong giáo trình mà còn có thể mở rộng, đào sâu vấn đề nên người học phải đi tìm tòi những tài liệu để giải quyết nó Do đó ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khuyến khích người học tự học

- Giúp người học có thể tự tổ chức học nhóm, học tổ, phụ đạo lẫn nhau, trao đổi thảo luận các quan điểm, nhận thức, cách giải quyết vấn đề với nhau trên cơ sở các câu hỏi đặt ra có trong ngân hàng câu hỏi môn học, học phần

Như vậy đối với người học: căn cứ vào ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm của

môn học, học phần để lập kế hoạch tự học và tổ chức học, để nắm vững nội dung chuẩn xác và đạt được mục tiêu môn học đề ra

2.2.3 Sử dụng để kiểm tra - đánh giá

Việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm để đánh giá kết quả học tập của học sinh đã và đang được áp dụng khá rộng rãi trong các kỳ thi kết thúc môn học, kết thúc học kỳ, một số môn trong các kỳ thi tốt nghiệp phổ thông trung học và cả

kỳ thi tuyển sinh đại học Việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trong kiểm tra - đánh giá nhằm mục đích:

- Ra đề thi, đề kiểm tra để đánh giá một cách khách quan, chính xác mức độ tiếp thu kiến thức của học sinh trong một môn học, học phần theo năng lực nhận thức và tư duy mức cao

- Đánh giá chất lượng giảng dạy của giảng viên cả về khối lượng lẫn chất lượng giảng dạy môn học, học phần

- Hạn chế những tiêu cực trong thi cử nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả cho hoạt động kểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh

Trang 19

9

- Kết quả kiểm tra - đánh giá một cách khách quan chính xác sẽ giúp nhà trường có cơ sở để khẳng định với các trường khác, các cơ quan và các nhà sử dụng lao động về trình độ và khả năng của học sinh đã được đào tạo

Như vậy, việc sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã mang lại những lợi ích to lớn trong quá trình giáo dục - đào tạo Có thể sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan với ba mục đích nói trên trong đó mục đích thứ ba

là sử dụng để kiểm tra - đánh giá hiện nay đang được các nhà giáo dục và người học biết đến nhiều nhất và cũng được các nhà nghiên cứu về trắc nghiệm quan tâm trong suốt một thời gian dài Bên cạnh đó việc sử dụng trắc nghiệm với mục đích dùng để giảng dạy và dùng để học tập thì chưa có được sự quan tâm nhiều, mới chỉ trong giai đoạn khởi sự Ngày nay, do nhu cầu tự học ngày càng cao cho nên việc nghiên cứu và đưa vào sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm dùng trong việc tự học ngày càng mang tính cấp bách

2.3 Các hình thức trắc nghiệm

Trong một bài trắc nghiệm có thể có nhiều hình thức câu trắc nghiệm, nhưng thông dụng nhất là loại trắc nghiệm có nhiều lựa chọn, trắc nghiệm đúng - sai, trắc nghiệm đối chiếu cặp đôi và trắc nghiệm điền khuyết Hiện nay quy cách biên soạn cũng như ưu, nhược điểm, những lưu ý về soạn thảo các hình thức trắc nghiệm này

đã được phổ biến rộng rãi trong các tài liệu viết về trắc nghiệm Do đó, người nghiên cứu không liệt kê lại chi tiết những nội dung này mà chỉ xin giới thiệu một vài đặc điểm cơ bản trong từng hình thức câu

2.3.1.Câu trắc nghiệm đúng - sai

2.3.1.1 Đại cương

Hình thức trắc nghiệm đúng - sai là một câu khẳng định gồm một hoặc nhiều mệnh đề, học sinh đánh giá nội dung của câu ấy đúng hay sai và trả lời bằng cách đánh dấu chéo “X’’ vào phiếu trả lời ở câu thích hợp với chữ Đ (đúng) hoặc S (sai) Đối với câu đúng, mọi chi tiết của nội dung trong câu trắc nghiệm phải phù hợp với tri thức khoa học Còn đối với câu sai chỉ cần một chi tiết không phù hợp với tri thức khoa học thì toàn bộ câu trắc nghiệm đó được đánh giá là sai

Trang 20

10

Câu trắc nghiệm đúng - sai thường có 2 dạng:

- Dạng có thân chung: câu hỏi gồm một phần thân chung và các ý trả lời Người học phải xem xét các ý trả lời, so sánh với nội dung phần thân chung để xác định câu nào đúng câu nào sai

Phần thân chung có thể là một cụm từ hoặc một vấn đề mang tính lý thuyết

Câu trả lời: thường có 5 câu cho phần thân chung, hoặc nhiều hơn Những câu trả lời có thể đúng, có thể sai; câu trả lời thường là những ý có liên quan trực tiếp và giúp làm rõ phần thân chung

- Dạng không có thân chung: ở dạng này câu hỏi đúng/sai được viết dưới dạng một câu hoàn chỉnh, thường là câu có tính khẳng định Người trả lời lựa chọn đáp án phù hợp với câu hỏi được nêu ra

2.3.1.2.Ưu nhược điểm

- Hình thức trắc nghiệm gọn gàng, ít tốn giấy, thời gian trả lời của học sinh khá nhanh - một phút có thể trả lời 3 - 4 câu trắc nghiệm

Nhược điểm

- Nhược điểm lớn nhất là học sinh có thể đoán mò, xác suất may rủi cao

- Dễ tiết lộ kết quả trong câu trắc nghiệm, dễ có các câu không có giá trị

- Khả năng phân biệt học sinh giỏi và học sinh kém thấp

2.3.1.3 Quy tắc biên soạn

- Tránh trích nguyên văn câu hỏi từ sách giáo khoa hoặc giáo trình vì làm như vậy

sẽ khuyến khích học sinh học thuộc lòng một cách máy móc

- Nội dung câu trắc nghiệm sai chỉ cần một yếu tố sai Không nên có nhiều yếu tố sai vì sẽ tạo cho học sinh có cơ hội dễ dàng phát hiện ra câu sai

Trang 21

11

- Nội dung câu đúng hoặc câu sai phải chắc chắn dựa vào cơ sở khoa học, không phụ thuộc vào quan điểm riêng của cá nhân

- Tránh dùng các từ mơ hồ, từ tiết lộ kết quả: các từ “thường thường’’, “đôi khi’’,

“có thể’’, “một vài’’ thường là câu đúng Còn các từ : “tất cả’’, “ không bao giờ’’, “luôn luôn’’ thường là câu sai

- Tránh câu có cấu trúc quá dài gồm nhiều chi tiết phức tạp hay những câu phủ định, nhất là phủ định kép

- Trong bài trắc nghiệm, câu đúng và câu sai được sắp xếp một cách ngẫu nhiên, tỉ

lệ giữa câu đúng và sai tương đương nhau để giữ kết quả đồng đều khi học sinh đoán mò

- Tránh làm cho một câu trở nên sai vì một chi tiết vụn vặt hoặc một ý tưởng nhằm đánh lạc hướng học sinh

2.3.1.4 Cách chấm điểm

Có 2 phương pháp chấm điểm thường được áp dụng

- Phương pháp thứ nhất là chấm mỗi câu trả lời đúng một điểm và không tính đến những câu trả lời sai hoặc không làm Điểm số là số câu đúng

- Cách chấm điểm thứ 2 là đếm câu trả lời đúng và trừ đi số câu trả lời sai

Điểm số = số câu đúng – số câu sai

Phương pháp thứ hai thường được dùng nhiều hơn để tránh trường hợp học sinh đoán mò, từ đó làm tăng tính giá trị của bài trắc nghiệm

2.3.2 Câu trắc nghiệm nhiều lựa chọn

2.3.2.1 Đại cương

Câu trắc nghiệm gồm hai phần: phần tiên đề còn gọi là phần gốc hay câu dẫn là câu hỏi hay câu bỏ lửng Phần gốc cũng có thể là hình vẽ hoặc đồ thị Phần gốc phải tạo căn bản cho sự lựa chọn bằng cách đặt ra một vấn đề hay đưa ra một ý tưởng rõ

Trang 22

12

ràng giúp cho người làm bài có thể hiểu rõ câu trắc nghiệm muốn hỏi điều gì để lựa chọn câu trả lời thích hợp.7

Phần giải đáp hay phần lựa chọn gồm một số kết qủa trả lời (thường là 4 hoặc 5),

trong đó có một câu trả lời đúng Các câu trả lời còn lại đều là những “mồi nhử” hoặc “câu nhiễu” có vẻ như hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc lựa chọn

Các câu hỏi loại này có thể dùng thẩm định trí nhớ, mức hiểu biết, khả năng

áp dụng, phân tích, tổng hợp hoặc khả năng phán đoán cao hơn

2.3.2.2.Ưu nhược điểm

Ưu điểm

- Để trả lời câu hỏi có nhiều lựa chọn học sinh phải suy nghĩ để lựa chọn được câu trả lời đúng, tránh những câu nhiễu chứ không chỉ sử dụng trí nhớ đơn thuần Như vậy câu hỏi nhiều lựa chọn có thể kiểm tra trí nhớ ở mức cao

- Có thể hỏi trên diện rộng của chương trình, do đó làm tăng tính giá trị của bài kiểm tra

- Xác suất may rủi thấp hơn so với trắc nghiệm đúng - sai Nếu câu trắc nghiệm là

4 lựa chọn thì tỉ lệ may rủi là 25%, nếu có 5 lựa chọn thì tỷ lệ may rủi là 20%; phân biệt được một cách khá chính xác học sinh giỏi và học sinh kém

- Chấm điểm nhanh, chính xác nên tiết kiệm được thời gian chấm bài

Do việc biên soạn là khó nên đôi khi câu hỏi tập trung vào những kiến thức không quan trọng và do đó sẽ làm giảm đi tính giá trị của câu hỏi

7

Dương Thiệu Tống (2005), Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học xã hội, tr 71

Trang 23

- Tốn giấy, học sinh sẽ cần nhiều thời gian hơn để đọc câu hỏi và các câu trả lời

2.3.2.3 Quy tắc biên soạn

- Các trắc nghiệm gồm phần gốc và phần lựa chọn có cấu trúc câu văn gọn gàng, tránh câu quá dài gồm nhiều chi tiết phức tạp làm rối trí học sinh

- Nếu phần gốc là câu lửng, thì phần gốc và phần lựa chọn phải ăn khớp với nhau theo đúng cú pháp

- Phần gốc của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng vấn đề để người trả lời hiểu được chính xác nội dung câu hỏi đề cập Tránh dùng những từ phủ định như

“không”, “chẳng”

- Các câu trả lời cho mỗi câu hỏi có dạng giống nhau về loại gồm một từ, một cụm

từ, hay một câu hoàn chỉnh Học sinh phải chọn câu trả lời đúng nhất hay hợp lý nhất

- Các câu trắc nghiệm phải hoàn toàn độc lập với nhau

- Phần trả lời thường là 4 hoặc 5 lựa chọn, thống nhất các câu trong một bài thi

- Phần lựa chọn chỉ có một kết quả đúng mà thôi Trường hợp xét các kết quả đều có phần đúng ít nhiều, thì trong phần dẫn phải ghi rõ "hơn cả", "nhất"

- Các câu trả lời để lựa chọn phải có vẻ hợp lý để buộc học sinh phải cân nhắc khi lựa chọn

- Độ dài của các câu trả lời phải gần như nhau Không nên viết câu trả lời đúng có khuynh hướng ngắn hoặc dài hơn các câu trả lời khác

- Trong phần gốc, tránh những từ để lộ kết quả Trong phần lựa chọn, yếu tố lựa chọn đúng được đặt ở vị trí ngẫu nhiên

Khi soạn mồi nhử, một trong những phương pháp để tìm các mồi nhử hấp dẫn được thực hiện qua các bước như sau:

Trang 24

14

- Bước 1: Ra các câu hỏi mở (thường là những câu hỏi thuộc loại điền khuyết hay câu hỏi ngắn) về lĩnh vực nội dung dự định trắc nghiệm rồi yêu cầu học sinh tự viết các câu trả lời

- Bước 2: Thu các bản trả lời của học sinh, loại bỏ những câu trả lời đúng, chỉ giữ lại những câu trả lời sai

- Bước 3: Thống kê phân loại các câu trả lời sai và ghi tần số xuất hiện từng loại câu sai

- Bước 4: Ưu tiên chọn những câu sai có tần số cao (những lỗi mà học sinh thường phạm phải) làm mồi nhử

Như vậy, muốn có được các “mồi nhử hay” thì ta nên chọn những câu sai thường gặp của chính học sinh, chứ không nên là những câu nhiễu do người soạn trắc nghiệm tự nghĩ ra Mồi nhử càng có tính thực tế thì càng dễ nhử vì cái sai đó chính

là cái sai có thực trong thực tế nhận thức của học sinh

2.3.2.4 Cách chấm điểm

Trong tài liệu “Phương pháp trắc nghiệm trong kiểm tra đánh giá thành quả học tập”, các tác giả Nguyễn Phụng Hoàng và Võ Thị Ngọc Lan đã đưa ra công thức chấm điểm bài trắc nghiệm nhiều lựa chọn như sau:

Trong đó R là số câu trả lời đúng; W là số câu trả lời sai; k là số câu trả lời cho sẵn để chọn trong mỗi câu hỏi Đây là công thức có hiệu chỉnh cho yếu tố đoán

mò may rủi.8

Một cách chấm điểm khác là nếu chọn đúng đáp án thì được điểm số quy định (thông thường là một điểm cho mỗi câu chọn đúng), nếu chọn sai thì không được điềm9

Trang 25

15

2.3.3 Câu Trắc nghiệm ghép hợp

2.3.3.1 Đại cương

Trắc nghiệm ghép hợp là một dạng đặc biệt của trắc nghiệm nhiều lựa chọn

Loại trắc nghiệm này gồm các phần chính như sau

- Phần hướng dẫn là một câu cho biết yêu cầu ghép từng phần tử của một tập hợp các dữ liệu thứ nhất (ở cột bên trái) phù hợp với một phần tử của tập hợp các dữ kiện thứ hai (ở cột bên phải)

- Hai tập hợp các dữ kiện xếp thành hai cột có số lượng các phần tử không bằng nhau Các phần tử ở cột bên trái là những yếu tố để hỏi, còn các phần tử ở cột bên phải là những yếu tố lựa chọn để trả lời Số lượng các phần tử ở cột bên phải bao giờ cũng nhiều hơn số phần tử ở cột bên trái, thông thường nhiều gấp đôi

2.3.3.2 Ưu nhược điểm

2.3.3.3 Quy tắc biên soạn

- Mỗi câu trắc nghiệm phải có phần chỉ dẫn rõ mối quan hệ của các cột Mỗi tập hợp các phần tử, tức là mỗi cột đều phải có tiêu đề

- Các phần tử trong cùng một cột phải cùng loại, hoặc cùng tính chất Các phần tử trong mỗi cột được xếp theo thứ tự 1, 2, 3 cột phải đánh ký hiệu A, B, C, D

- Sử dụng hợp lý số lượng các tiền đề và các ý trả lời Đa số các chuyên gia tán thành với con số tối thiểu là 5 trong mỗi cột Nếu ít câu quá làm học sinh dễ đoán

Trang 26

- Một phần tử ở cột bên trái chỉ ghép với một phần tử ở cột bên phải Nếu không được thì điều này phải ghi chú

2.3.3.4.Cách chấm điểm

Trắc nghiệm ghép đôi là một dạng đặc biệt của trắc nghiệm nhiều lựa chọn,

do đó có thể chấm điểm giống như cách chấm điểm của trắc nghiệm nhiều lựa chọn

2.3.4 Câu trắc nghiệm điền khuyết

2.3.4.1 Đại cương

Trắc nghiệm điền khuyết là một câu phát biểu cung cấp thông tin không đầy

đủ và yêu cầu học sinh phải bổ sung thông tin vào chổ còn thiếu cho đầy đủ Câu hỏi điền khuyết có thể có các dạng như sau

- Một câu để trống một hoặc vài từ Học sinh có nhiệm vụ tìm và điền các từ thích hợp vào chổ trống

- Một câu có để trống một hoặc vài chổ, cho trước một số từ hoặc cụm từ để học sinh chọn và điền vào chổ trống

- Một hình vẽ không có chú thích hoặc chú thích còn thiếu, học sinh phải điền chú thích vào vị trí cần thiết

- Hình vẽ còn bỏ sót vài nét và yêu cầu học sinh vẽ thêm cho hoàn chỉnh

- Sơ đồ bỏ trống vài khâu, mũi tên, yêu cầu học sinh vẽ thêm cho hoàn chỉnh

- Một câu hỏi xác định cụ thể số ý trả lời, yêu cầu học sinh phải viết các ý đó

2.3.4.2.Ưu nhược điểm

Ưu điểm

Trang 27

17

- Là dạng câu hỏi có câu trả lời ngắn và nhanh nên có thể hỏi trên diện rộng của chương trình do đó làm tăng tính giá trị cho bài trắc nghiệm

- Cách chấm điểm nhanh và đáng tin cậy hơn loại luận đề

- Câu hỏi có thể được xây dựng thành nhiều dạng nên có thể hỏi trên nhiều khía cạnh khác nhau

- Dễ soạn, đòi hỏi mức độ tái hiện cao, học sinh không thể đoán mò

- Giúp học sinh luyện trí nhớ khi học Tỷ lệ may rủi không đặt ra

2.3.4.3.Quy tắc biên soạn

- Lời chỉ dẫn phải rõ ràng và chắc chắn chỉ có một câu trả lời đúng Tránh viết các câu mơ hồ dễ làm học sinh trả lời theo nhiều cách

- Không nên soạn câu trắc nghiệm điền khuyết có nhiều chỗ chừa trống làm cho câu văn tối nghĩa

- Chỗ điền khuyết thường đặt ở giữa câu hoặc ở cuối câu

- Nộidung điền khuyết phải là kiến thức cơ bản, tránh hỏi những chi tiết vụn vặt

- Các khoảng chừa trống điền khuyết nên có chiều dài đồng đều

- Câu trắc nghiệm không quá dài, lời văn phải sáng sủa, từ ngữ phải rõ ràng, có cấu trúc đúng ngữ pháp và hợp với điền khuyết để câu văn có ý nghĩa Cũng không nên trích nguyên văn các câu từ sách để không khuyến khích học sinh học thuộc lòng

- Tránh viết các từ loại “cái”, “chiếc”, “con” trước chổ trống

2.3.4.4 Cách chấm điểm

Trong một câu trắc nghiệm, mỗi chổ điền vào đúng thì mới cho một điểm (01 điểm) Điểm cho một câu hỏi sẽ bằng số khoãng trống được điền đúng nhân với 01 điểm Trong trường hợp câu trả lời của học sinh khác với đáp án nhưng hợp lý thì vẫn được điểm

Trang 28

đề, kỹ năng ra quết định và khả năng giải quyết vấn đề

Ngay trong quá trình đào tạo, học sinh - sinh viên ngành y rất cần được học tập và rèn luyện để có được những kỹ năng này Để kiểm tra - đánh giá những năng lực này của học sinh có nhiều phương pháp có thể áp dụng Một trong những phương pháp đó là sử dụng câu hỏi tình huống Câu hỏi tình huống là một dạng câu hỏi tổng hợp mô tả một tình huống cụ thể, có thể do giáo viên giả định hoặc là một tình huống thật Từ tình huống này giáo viên đặt ra các câu hỏi yêu cầu học sinh trình bày những nhận định về tình trạng bệnh nhân, về phương cách chăm sóc, những tiên lượng…

Với các môn học lý thuyết chuyên ngành, câu hỏi tình huống có thể sử dụng các dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để làm câu hỏi Như vậy câu hỏi tình huống cũng có thể được xem như là một phần của trắc nghiệm khách quan và trong giáo dục ngành y nên có dạng câu hỏi này để đánh giá cũng như để học sinh tự rèn luyện khả năng tư duy phát hiện vấn đề, kỹ năng ra quết định và khả năng giải quyết vấn đề

2.3.5.2 Ưu nhược điểm

Trang 29

19

Nhược điểm

- Mất nhiều thời gian và công sức để soạn thảo

- Dễ có những sai lệch khi viết tình huống

2.3.5.3 Quy tắc biên soạn

Thân câu hỏi là một tình huống cụ thể trong y khoa Đây có thể là một tình huống gỉa định do giáo viên biên soạn hoặc một tình huống thực tế trên lâm sàng Tình huống này cần phải được viết một cách cẩn thận với đầy đủ những yếu tố cần thiết nhưng vẫn đảm bảo độ khó và tính phân biệt, nghĩa là học sinh phải có suy nghĩ, nghiên cứu thì mới trả lời được Dưới thân câu hỏi có thể có hơn một câu hỏi,

có thể dùng các loại câu hỏi đúng/sai, câu hỏi nhiều lựa chọn hoặc câu hỏi điền khuyết để yêu cầu học sinh làm bài Thân câu hỏi không đánh số, các câu hỏi đánh

số theo số thứ tự trong bộ câu hỏi

2.3.5.4 Cách chấm điểm

Khi biên soạn loại câu hỏi này có thể dùng nhiều hình thức đặt câu hỏi khác nhau, nên tùy theo hình thức đặt câu hỏi như câu hỏi đúng/sai, câu hỏi nhiều lựa chọn hoặc câu hỏi điền khuyết mà chúng ta chấm điểm theo hình thức đã chọn

2.4 Phân tích câu trắc nghiệm

Phân tích các câu trả lời của thí sinh trong một bài trắc nghiệm là việc làm rất cần thiết và rất hữu ích cho người soạn thảo trắc nghiệm Nó giúp cho người soạn thảo

có được những thông tin cần thiết về các câu trắc nghiệm.10

- Biết được câu nào là quá khó, câu nào là quá dễ, hoặc có độ khó vừa phải để đưa vào phần mềm trắc nghiệm theo những độ khó này cho học sinh lựa chọn tùy theo trình độ kiến thức của mình

- Lựa chọn ra các câu có độ phân cách cao, nghĩa là phân biệt được học sinh giỏi

Trang 30

20

Một bài trắc nghiệm, sau khi đã được sửa đổi trên căn bản của sự phân tích các câu trắc nghiệm, có khả năng đạt được tính tin cậy cao hơn là một bài trắc nghiệm có cùng số câu hỏi nhưng chưa được thử nghiệm và phân tích

Việc phân tích câu trắc nghiệm là phân tích về ba phương diện của câu trắc nghiệm11 bao gồm độ khó, độ phân cách và các mồi nhử của câu trắc nghiệm đó

2.4.1 Độ khó của câu trắc nghiệm

Độ khó P của câu trắc nghiệm là tỷ lệ phần trăm số học sinh trả lời đúng câu trắc nghiệm ấy trên tổng số học sinh tham gia trả lời câu hỏi đó

Công thức tính độ khó của câu trắc nghiệm như sau:

nghiem trac

bai lam nguoi sô Tong

i cau dung loi tra nguoi So i

câu p kho

Sau khi tính được độ khó của câu trắc nghiệm, ta phải xem xét câu trắc nghiệm này khó hay dễ đối với học sinh và với tiêu chuẩn nào thì câu thứ i vừa sức với học sinh

Trong tài liệu Quy trình, phương pháp xây dựng ngân hàng câu hỏi, đề thi và

tổ chức đánh giá kiến thức nghề, các tác giả Nguyễn Đức Trí và Hoàng Anh đưa ra

4 mức độ khó của câu trắc nghiệm như sau:

Độ khó p= 0 – 24% thì kết luận: câu trắc nghiệm quá khó

Độ khó p= 25 – 50% thì kết luận: câu trắc nghiệm trung bình

Độ khó p= 51 – 70% thì kết luận: câu trắc nghiệm dễ

Độ khó p= 71 – 100% thì kết luận: câu trắc nghiệm quá dễ

2.4.2 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm

Để có thể kết luận một câu trắc nghiệm là dễ, khó hay vừa sức học sinh, trước hết ta phải tính độ khó của câu trắc nghiệm ấy rồi so sánh với độ khó vừa phải của loại câu trắc nghiệm này

11 Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, tr.154-173

Trang 31

21

Muốn xác định khái niệm độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm cần lưu ý đến xác suất làm đúng câu hỏi bằng cách chọn hú họa hay tỷ lệ may rủi Tỷ lệ may rủi thay đổi theo từng loại câu trắc nghiệm

2.4.2.1 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại đúng sai

Câu hỏi thuộc lọai này có hai lựa chọn, do đó sự may rủi làm đúng câu hỏi là 50% Đó là tỷ lệ may rủi kỳ vọng Như vậy độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại đúng sai là trung điểm giữa tỉ lệ may rủi kỳ vọng và 100%

2

50 100

x

Vậy nếu 75% học sinh trả lời đúngcâu đó thì câu đó có độ khó vừa phải

2.4.2.2 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại 4 lựa chọn

Với loại câu có 4 lựa chọn thì tỉ lệ may rủi kỳ vọng là 25%

Công thức tính độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm như sau:

Độ khó vừa phải là: % 62 5 %

2

25 100

x 2.4.2.3 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại ghép hợp

Với loại ghép hợp 3 câu hỏi 6 câu trả lời thì thì tỉ lệ may rủi kỳ vọng của mỗi câu

120

1 4

1 100

x 2.4.2.4 Độ khó vừa phải của câu trắc nghiệm loại điền khuyết

Loại điền khuyết có tỉ lệ may rủi = 0 Độ khó vừa phải của câu hỏi loại này

là 50%

Tóm lại: một bài trắc nghiệm được gọi là tốt không phải là bài trắc nghiệm

gồm toàn những toàn những câu trắc nghiệm khó hay dễ mà là bài trắc nghiệm gồm những câu có độ khó trung bình hay là mức độ khó vừa phải Do vậy khi phân tích các câu hỏi người ta thường phải loại những câu quá khó vì không ai làm đúng hoặc những câu quá dễ vì ai cũng làm đúng

Trang 32

22

Một bài trắc nghiệm có giá trị và đáng tin cậy thường là bài gồm những câu trắc nghiệm có độ khó xấp xỉ hay bằng độ khó vừa phải

2.4.3 Độ phân cách của câu trắc nghiệm 12

Độ phân cách của câu trắc nghiệm là khả năng phân biệt được học sinh giỏi với học sinh kém khi trả lời câu trắc nghiệm, nghĩa là phải làm sao cho một câu trắc nghiệm có khả năng phân cách cao

Như vậy, độ phân cách của câu trắc nghiệm là một chỉ số giúp ta phân biệt được học sinh giỏi và học sinh kém Vì thế, một bài trắc nghiệm gồm toàn những câu trắc nghiệm có độ phân cách tốt sẽ là một công cụ đo lường có tính tin cậy cao

Độ phân cách của câu trắc nghiệm hoặc một đề trắc nghiệm liên quan đến độ khó Một đề trắc nghiệm có độ phân cách tốt phải bao gồm nhiều câu hỏi có độ khó ở mức trung bình Khi ấy điểm số thu được của nhóm thí sinh sẽ có phổ trãi rộng

2.4.3.1 Quy trình tính độ phân cách của một câu trắc nghiệm áp dụng ở lớp học

Một phương pháp đơn giản để tính độ phân cách của câu trắc nghiệm đã được

các chuyên gia về đo lường và đánh giá giới thiệu như sau:

Sau khi đã chấm điểm và cộng tổng điểm của từng bài trắc nghiệm, ta thực hiện tính độ phân cách của từng câu trắc nghiệm theo các bước sau đây:

Bước 1: Xếp đặt các bài làm của học sinh (đã được chấm và cộng điểm) theo

thứ tự tổng điểm từ cao đến thấp

Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài trắc nghiệm, lấy 27% của tổng số bài làm có

điểm từ bài cao nhất trở xuống xếp vào nhóm CAO và 27% tổng số bài làm có điểm

từ bài thấp nhất trở lên xếp vào nhóm THẤP

Bước 3: Đếm số người làm đúng câu trắc nghiệm trong mỗi nhóm, gọi là

Trang 33

23

Bước 4: Thay các trị số Đúng (CAO) và Đúng (THẤP), tức là số người làm

đúng câu trắc nghiệm ở nhóm CAO và số người làm đúng câu trắc nghiệm ở nhóm THẤP vào công thức sau:

Độ phân cách D của câu trắc nghiệm thứ i

n

D

D caothap

Với: Dcao : Số học sinh nhóm giỏi trả lời đúng câu trắc nghiệm thứ i

Dthap : Số học sinh nhóm kém trả lời đúng câu trắc nghiệm thứ i

n : tổng số học sinh làm bài trắc nghiệm trong một nhóm (= 27% tổng số bài làm của học sinh)

Theo cách tính này, giá trị của độ phân cách thay đổi từ -1,00 đến +1,00

Đây là một phương pháp tính độ phân cách rất đơn giản mà mỗi thầy giáo đều

có thể tính bằng tay với từng câu trắc nghiệm, tuy nhiên nó có hạn chế là chỉ chọn

ra 54% học sinh trong hai nhóm CAO và THẤP, còn lại 46% học sinh có điểm ở mức trung bình thì không được xét đến

2.4.3.2 Ý nghĩa của độ phân cách

Một trong những công dụng trực tiếp của độ phân cách là giúp chúng ta lựa chọn những câu trắc nghiệm tốt dùng trong lớp học Để có thể đưa ra kết luận sau khi tính được độ phân cách của một câu trắc nghiệm, ta căn cứ vào thang đánh giá

độ phân cách D sau đây:

- D  0.40 kết luận: câu trắc nghiệm có độ phân cách rất tốt

- 0.30  D  0.39 kết luận: câu trắc nghiệm có độ phân cách khá tốt, nhưng

có thể làm cho tốt hơn

- 0.20  D  0.29 kết luận: câu trắc nghiệm có độ phân cách tạm được, cần

phải điều chỉnh

- D  0.19 kết luận: câu trắc nghiệm có độ phân cách kém, cần phải loại bỏ

Trang 34

24

2.4.4 Phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm 13

Ngoài việc phân tích độ khó và độ phân cách của mỗi câu trắc nghiệm, ta có thể làm cho câu trắc nghiệm trở nên tốt hơn bằng cách xem xét tần số của các đáp ứng sai cho mỗi câu hỏi

Để phân tích các mồi nhử của câu trắc nghiệm, ta có thể thực hiện theo quy trình sau đây:

Bước 1: Sau khi đã chấm điểm và cộng tổng điểm của từng bài trắc nghiệm, ta

xếp đặt các bài làm của học sinh theo thứ tự tổng điểm từ cao đến thấp

Bước 2: Căn cứ trên tổng số bài trắc nghiệm, lấy 27% của tổng số bài làm có

điểm từ bài cao nhất trở xuống xếp vào nhóm CAO và 27% tổng số bài làm có điểm

từ bài thấp nhất trở lên xếp vào nhóm THẤP `

Bước 3: Ghi tần số đáp ứng của học sinh trong mỗi nhóm cho mỗi lựa chọn (a,

b, c, d…) trong mỗi câu trắc nghiệm, đồng thời ghi độ khó và độ phân cách cho mỗi câu trắc nghiệm

Bước 4: Căn cứ vào các chỉ số về độ khó và độ phân cách của các câu trắc

nghiệm, lựa ra những câu trắc nghiệm có độ khó quá thấp hay quá cao, đồng thời có

độ phân cách âm hoặc quá thấp, đây là những câu kém cần phải xem xét lại để loại

đi hay để sửa chữa cho tốt hơn

Bước 5: Xem xét lại toàn bộ câu trắc nghiệm kém, nhất là những câu trắc

nghiệm loại có nhiều lựa chọn, trong đó có câu trả lời đúng và số còn lại là những mồi nhử theo nguyên tắc cơ bản sau đây:

Mỗi câu trả lời đúng phải tương quan thuận với tiêu chí đã định Với câu đúng thì số học sinh trả lời câu đúng trong nhóm cao nhiều hơn số học sinh trả lời đúng trong nhóm thấp

13

Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, tr 167-173

Trang 35

25

Mỗi câu trả lời sai phải tương quan nghịch với tiêu chí Hay nói cách khác với câu trả lời sai (mồi nhử) thì số học sinh trong nhóm cao chọn phải ít hơn số học sinh trong nhóm thấp lựa chọn câu này

Ví dụ phân tích một câu trắc nghiệm

Độ khó của câu là 0.25, độ phân cách là 0.08, đây là câu trắc nghiệm khó và

độ phân cách thấp, do đó ta phải điều chỉnh lại câu trắc nghiệm này

Về lựa chọn đúng D, số học sinh trong nhóm cao trả lời đúng nhiều hơn nhóm thấp, như thế có tương quan thuận như mong đợi (nghĩa là số học sinh ở nhóm cao làm đúng nhiều hơn số học sinh ở nhóm thấp), nhưng khác biệt (9 - 7) là quá nhỏ Mồi nhử B tương quan nghịch với tiêu chí, như mong đợi (nghĩa là số học sinh ở nhóm cao làm sai ít hơn số học sinh ở nhóm thấp)

Mồi nhử A và C tương quan thuận với tiêu chí (số học sinh trong nhóm cao chọn nhiều hơn trong nhóm thấp), trái với tiêu chí mong đợi Số học sinh chọn mồi nhử A và C khá cao Điều này cho ta nghi ngờ rằng mồi nhử A và C cũng có phần đúng, nếu giải thích ở phương diện nào đó

Kết luận: Ta cần diễn đạt lại đáp án D cho rõ hơn, xem xét sửa lại mồi nhử A và mồi nhử C

2.5 Yêu cầu về tính tin cậy và tính giá trị của bài trắc nghiệm

Trắc nghiệm thành quả học tập với tính cách là một công cụ để khảo sát trình

độ người học thì cần phải có tính tin cậy và tính giá trị Đây là 2 tiêu chuẩn cơ bản

để đánh giá chất lượng của bài trắc nghiệm

Trang 36

Theo tác giả Dương Thiệu Tống15

thì một bài trắc nghiệm được xem là đáng tin cậy khi nó cho ra những kết quả có tính vững chãi Có nghĩa là nếu làm bài trắc nghiệm ấy nhiều lần, mỗi học sinh sẽ vẫn giữ thứ hạng tương đối của mình trong nhóm Tính tin cậy của bài trắc nghiệm đòi hỏi sự rõ ràng, trong sáng của câu hỏi trắc nghiệm, bao gồm các yếu tố: từ ngữ sử dụng chính xác, không mơ hồ, không gây nhầm lẫn, không thể hiểu nhiều nghĩa Tính tin cậy của bài trắc nghiệm còn tùy thuộc vào các yếu tố như chọn mẫu các câu hỏi, may rủi do việc phỏng đoán, độ khó của bài trắc nghiệm Do vậy muốn cho một bài trắc nghiệm đạt được độ tin cậy cao cần phải: giảm thiểu các yếu tố may rủi đến mức tối thiểu, những lời chỉ dẫn phải được viết thật rõ ràng tránh gây nhầm lẫn, bảng chấm điểm phải được chuẩn bị trước và ghi rõ các câu đúng

Tóm lại, tính tin cậy của bài trắc nghiệm cho thấy tính khách quan của điểm

số, sự nhất trí trong các câu trả lời phân biệt được trình độ học sinh Đặc trưng tin cậy của bài trắc nghiệm làm cơ sở cho đặc trưng giá trị của bài trắc nghiệm ấy

Trang 37

Tác giả Dương Thiệu Tống16 nhấn mạnh rằng tính giá trị thể hiện ở chỗ dụng

cụ đo lường phải đo đúng cái mà ta muốn đo lường và đo đúng ở mức độ cần đo Thông thường tính giá trị của một bài trắc nghiệm thành quả học tập được phân loại như sau:

- Giá trị đồng thời nói lên mối liên hệ giữa điểm số của bài trắc nghiệm với

một tiêu chí khác đồng thời, đã có sẵn và được nhiều người chấp nhận, về khả năng

mà bài trắc nghiệm ấy muốn đo lường

- Giá trị tiên đoán nói lên mối liên hệ giữa điểm số bài trắc nghiệm với một

tiêu chí khác căn cứ vào khả năng (hay thành quả học tập) ở thời điểm tương lai

- Giá trị nội dung là mức độ “bao trùm” được nội dung môn học, bài học

- Giá trị khái niệm tạo lập là giá trị liên quan đến các loại học tập được quy

định trong các mục tiêu dạy và học Một bài trắc nghiệm gồm những câu hỏi chỉ liên quan đến khả năng nhớ thuộc lòng các sự kiện thì không có giá trị đo lường kiến thức, thông hiểu, phân tích, tổng hợp, ứng dụng, tức là những mục tiêu dạy và học tổng quát

- Giá trị thực nghiệm, hay cũng gọi là giá trị thống kê Loại giá trị này nói lên

sự tương quan giữa các điểm số trắc nghiệm với một tiêu chí, tức là một loại đo lường nào đó, độc lập và trực tiếp, về khả năng (hay đặc điểm) mà bài trắc nghiệm

ấy muốn đo lường

16 Dương Thiệu Tống (2005): Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập Nxb Khoa học Xã hội, tr.46 -47

Trang 38

28

- Giá trị yếu tố của một bài trắc nghiệm là sự tương quan giữa bài trắc nghiệm

ấy với yếu tố chung cho cả một nhóm gồm nhiều bài trắc nghiệm Loại giá trị này căn cứ vào sự phân tích bằng một phương pháp thống kê, gọi là phân tích yếu tố Tính giá trị của kiểm tra - đánh giá không thể đi vay mượn mà phải phù hợp với nội dung và phải có phương pháp thích hợp, nghĩa là không thể có phương pháp đúng cho mọi trường hợp mà chỉ đúng tùy người sử dụng nó Một bài kiểm tra có thể là chứng cứ về giá trị cho kết quả dạy học của trường đại học này mà không thể

là chứng cứ cho một trường đại học khác

Tính giá trị của một bài trắc nghiệm thể hiện ở nhiều góc độ khác nhau Dựa trên định nghĩa về độ giá trị và căn cứ vào mục tiêu đề ra cho bài trắc nghiệm là muốn đo lường cái gì, người soạn thảo có thể dựa vào từng loại giá trị thích hợp để làm cơ sở cho việc soạn thảo hoặc xem xét bài trắc nghiệm

Thông thường khi nói đến tính giá trị của trắc nghiệm thành quả học tập thường lưu ý đến 3 chỉ tiêu cơ bản: nội dung, mục tiêu và trình độ học sinh Muốn vậy thì khi soạn trắc nghiệm cho môn học, người soạn thảo phải xác định trình độ học sinh, mục tiêu học tập của môn học, phác họa trước một dàn bài trắc nghiệm, trong đó quy định một cách chi tiết nội dung của giáo trình tương ứng với các mục tiêu Sau đó người soạn thảo phải cố gắng chứng minh rằng nội dung và các loại câu trả lời của bài trắc nghiệm có thể xem như là một mẫu đại diện cho toàn thể các mục tiêu đòi hỏi của giáo trình

Trong quá trình lựa chọn các phương pháp cũng như các công cụ kiểm tra, bên cạnh sự quan tâm đến mục tiêu của chương trình, kiểm tra, đánh giá còn phải chú ý đến sự công bằng và bình đẳng giữa các sinh viên, thể hiện ở tính tin cậy và tính giá trị Theo truyền thống, tính tin cậy phải được xem xét trước hết bởi vì giá trị của kiểm tra - đánh giá bị giới hạn bởi sự chính xác của nó Mặt khác tính giá trị bị hạn chế bởi tính tin cậy của bài kiểm tra Một bài kiểm tra muốn có giá trị thì trước hết phải có tính tin cậy

Tóm lại, tính tin cậy của bài trắc nghiệm biểu hiện sự ổn định của điểm số đo lường, trong khi tính giá trị của bài trắc nghiệm nói lên được mức độ phù hợp của

Trang 39

29

việc đo lường đối với đối tượng khảo sát Tính tin cậy là tiền đề cho tính giá trị của bài trắc nghiệm

Với mục đích chính là soạn thảo bài trắc nghiệm phục vụ cho việc tự học, tự

ôn tập của học sinh, thì bài trắc nghiệm cũng phải dựa vào 2 tính chất này Trong đó tính tin cậy của bài trắc nghiệm không phải là yếu tố được quan tâm hàng đầu, vì trong quá trình tự học sự ổn định của điểm số và sự phân biệt được trình độ của học sinh không phản ánh chính xác được quá trình tự học của người học Điểm số mà người học đạt được nhằm mục đích chính là cho người học biết được phần trăm kiến thức mà người học đã đạt được Trong khi đó tính giá trị của bài trắc nghiệm lại rất quan trọng trong việc tự học của học sinh, vì nó đo đúng những gì mà học sinh học được theo mục tiêu đề ra

2.6 Quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học

Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cần phải được biên soạn theo một quy trình cụ thể và khoa học thì mới đảm bảo được tính chất khách quan và mang lại hiệu quả

như mong muốn Quy trình gồm các bước như sau:

Bước1: Phân tích nội dung môn học Bước 2: Xác định mục tiêu kiểm tra, đánh giá Bước 3: Lập dàn bài trắc nghiệm

Bước 4: Biên soạn các câu trắc nghiệm Bước 5: Lấy ý kiến tham khảo về các câu trắc nghiệm Bước 6: Thử nghiệm và phân tích các câu hỏi

Bước 7: Lập ngân hàng câu hỏi cho môn học Sau đây là chi tiết của quy trình xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm cho môn học

2.6.1 Phân tích nội dung môn học

2.6.1.1 Xác định nội dung tối thiểu của môn học

Việc đầu tiên cần phải làm trước khi xây dựng ngân hàng câu hỏi là chúng ta phải xác định nội dung tối thiểu của môn học Cần phải soạn thảo hoặc lựa chọn giáo trình thống nhất với nội dung chuẩn, từ đó có sự thống nhất nội dung tối thiểu cho môn học Để thực hiện được điều này chúng ta cần phải lựa chọn những người

Trang 40

30

đầu ngành là người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu, giảng dạy, có nhiều công trình sách về môn học, có uy tín và khả năng quy tụ, khả năng kết hợp tốt với các nhà khoa học khác Sau đó tổ chức các buổi hội thảo bộ môn để đạt đến sự thống nhất chuẩn tối thiểu cho môn học

Đối với những môn học đã có giáo trình chuẩn thì bộ môn có thể sử dụng ngay những tài liệu này làm tài liệu chính thức giảng dạy Với những môn học mới chưa

có nhiều sách, giáo trình thì cần phải thống nhất với giáo viên về nội dung chuẩn tối thiểu và sau đó biên soạn giáo trình cho môn học

Sau khi đã xác định nội dung tối thiểu của môn học thì giáo viên của môn học

ấy phải chấp hành chuẩn này Đây là ràng buộc rất quan trọng bởi vì từ nội dung tối thiểu này có thể soạn ra bộ câu hỏi trắc nghiệm trải đều trên toàn bộ nội dung môn học, cho dù học sinh học ở thầy nào cũng có đủ thông tin để làm bài

2.6.1.2 Phân tích nội dung môn học

Phân tích nội dung môn học bao gồm chủ yếu công việc xem xét và phân biệt

bốn loại học tập sau:

- Những thông tin mang tính chất sự kiện mà học sinh phải nhớ hay nhận ra

- Những khái niệm và ý tưởng mà học sinh phải giải thích hay minh họa

- Những ý tưởng phức tạp cần được giải thích hay giải nghĩa

- Những thông tin, ý tưởng và kỹ năng cần được ứng dụng hay chuyển dịch sang một tình huống hay hoàn cảnh mới

Như vậy, việc phân tích nội dung môn học gồm 4 bước như sau:

- Bước thứ nhất là tìm những ý tưởng chính yếu của nội dung môn học ấy

- Bước thứ 2 là lựa chọn những từ, những nhóm từ và cả những ký hiệu mà học sinh sẽ phải giải nghĩa được

- Bước thứ 3 là phân biệt được 2 dạng thông tin được trình bày trong môn học gồm những thông tin nhằm mục đích giải nghĩa hay minh họa và những khái luận quan trọng của môn học

Người soạn trắc nghiệm cần phải biết phân biệt hai loại thông tin ấy để lựa chọn những điều gì quan trọng mà học sinh cần phải nhớ

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2: Bảng liệt kê các động từ được sử dụng trong xác định mục tiêu - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 1.2 Bảng liệt kê các động từ được sử dụng trong xác định mục tiêu (Trang 44)
Bảng 1.3: Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm môn học - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 1.3 Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm môn học (Trang 46)
Bảng 1.4: Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm cho từng bài học - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 1.4 Bảng ví dụ về lập dàn bài trắc nghiệm cho từng bài học (Trang 47)
Bảng 2.2 : Nội dung chi tiết của môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 2.2 Nội dung chi tiết của môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén (Trang 58)
Hình 2.1. Biểu đồ tỉ lệ các hình thức đánh giá đang áp dụng  Khác - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Hình 2.1. Biểu đồ tỉ lệ các hình thức đánh giá đang áp dụng Khác (Trang 67)
Hình thức khác  0/65  0% - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Hình th ức khác 0/65 0% (Trang 68)
Hình 2.2 Tỉ lệ sinh viên hứng thú với các hình thức thi - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Hình 2.2 Tỉ lệ sinh viên hứng thú với các hình thức thi (Trang 69)
Bảng 3.2 : Bảng thống kê số lƣợng mục tiêu ứng với mức độ nhận biết - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 3.2 Bảng thống kê số lƣợng mục tiêu ứng với mức độ nhận biết (Trang 74)
Bảng 3.4 : Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 3.4 Bảng phân bố tần số các câu trắc nghiệm theo độ khó (Trang 79)
Hình 3.2 :Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Hình 3.2 Biểu đồ phân bố độ khó của các câu trắc nghiệm (Trang 80)
Hình 3.3 : Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Hình 3.3 Biểu đồ phân bố độ phân cách của các câu trắc nghiệm (Trang 82)
Bảng 3.6 : Bảng phân loại các câu trắc nghiệm theo độ phân cách - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
Bảng 3.6 Bảng phân loại các câu trắc nghiệm theo độ phân cách (Trang 82)
Phụ lục 1: Bảng phân tích nội dung - xác lập mục tiêu cần kiểm tra - đánh giá môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
h ụ lục 1: Bảng phân tích nội dung - xác lập mục tiêu cần kiểm tra - đánh giá môn học Chăm sóc bà mẹ trong kỳ thai nghén (Trang 95)
- Trình  bày  5  hình  thái  lâm  sàng của sẩy thai. - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
r ình bày 5 hình thái lâm sàng của sẩy thai (Trang 99)
BẢNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘ PHÂN CÁCH CỦA CÂU TRẮC NGHIỆM - XÂY DỰNG NGÂN HÀNG câu hỏi TRẮC NGHIỆM ĐÁNH GIÁ KIẾN THỨC môn CHĂM sóc bà mẹ TRONG kỳ THAI NGHÉN tại KHOA điều DƯỠNG kỹ THUẬT y học, đại học y dược THÀNH PHỐ hồ CHÍ MINH
BẢNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH ĐỘ PHÂN CÁCH CỦA CÂU TRẮC NGHIỆM (Trang 163)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm