1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP

70 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp đến ở Chương II, nêu lên sự cần thiết phải thành lập Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh như: vai trò của trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ

Trang 1

Nhân loại đang bước vào thế kỷ 21, xu thế hội nhập và toàn cầu hoá là điều kiện tiên quyết cho bất kỳ mỗi một quốc gia Nền kinh tế tri thức đã đem lại những thời cơ và thách thức nhất định cho từng cá nhân cũng như toàn xã hội Tuổi thọ của công trình khoa học, phát minh rất ngắn đòi hỏi con người phải năng động và thích nghi với môi trường mà mình đang sống Muốn phát triển mang tính bền vững trong giai đoạn này không cách nào hơn đó là cần phải đầu tư cho giáo dục:” Giáo dục là của cải nội sinh”

Nguồn nhân lực để đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay là vấn đề cấp thiết của dân tộc Việt Nam đòi hỏi chúng ta phải phát triển đội ngũ lao động có tay nghề Việc đào tạo lao động có tay nghề cho những ngành nghề mới, tiếp cận được với các trang thiết bị hiện đại như hiện nay đó cũng là một vấn đề, một trọng trách cho ngành giáo dục và đào tạo Đặc biệt là ngành Sư phạm Kỹ thuật, nơi đào tạo những “chiếc máy cái” Những người Thầy giáo để tham gia trực tiếp đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho đất nước Đội ngũ giáo viên kỹ thuật hiện nay đang thiếu và yếu một cách trầm trọng

Từ thực tế cho thấy việc “Xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật

ở bậc đại học cho các trường đại học kỹ thuật là vấn đề tất yếu” Mô hình khoa

Sư phạm Kỹ thuật tại trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã được nghiên cứu và xây dựng trên bốn chương chính như sau:

Trước tiên ở Chương I, người nghiên cứu trình bày một số vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu như: sơ lược về ngành Sư phạm Kỹ thuật, hệ thống

Sư phạm Kỹ thuật ở Việt Nam và trên thế giới, những khái niệm và quan điểm hiện có cũng như những xu hướng mới của giáo dục trên thế giới có liên quan đến đề tài

Tiếp đến ở Chương II, nêu lên sự cần thiết phải thành lập Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh như: vai trò của trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng tình hình giáo viên trung học chuyên nghiệp và dạy nghề ở các trường thuộc Khối Bộ Công nghiệp cũng như các trường ở khu vực phía Nam, sự cần thiết của Khoa Sư phạm Kỹ thuật của trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, những thuận lợi và những khó khăn ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu

Chương III là xây dựng mô hình tổ chức Khoa Sư phạm Kỹ thuật của trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh: tên Khoa, cấp quản lý, chức năng, nhiệm vụ, đào tạo, cơ cấu tổ chức, những điều kiện cấn thiết cho thành công để xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

Chương IV nêu lên dự kiến hiệu quả kinh tế-xã hội được cụ thể như : lợi ích kinh tế- xã hội của mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công

Trang 2

thành phố Hồ Chí Minh

Sau cùng là Kết luận và kiến nghị Trong luận văn người nghiên cứu nêu lên được một số kết luận và kiến nghị cụ thể đối với việc xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phù hợp của phương pháp mà người nghiên cứu sử dụng cũng như chất lượng trong nội dung các biểu mẫu điều tra làm công cụ đắc lực cho người nghiên cứu hoàn thành luận văn Từ nghiên cứu đã cho thấy việc xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhu cầu của xã hội và mang tính khoa học nhất định trong giai đoạn hiện nay

is endogenous wealth”

The human resources that satisfy the country’s development demand in present period are an urgent problem of Vietnamese nation So we have to develop staff of professional skill labour The professional skill labour training for new areas (fields), that can approach modern equipment is also a problem, a heavy (great) responsibility of education and training area, particular is a technology teaching where train “mother machines”, the teachers will direct train and develop human resource for a country The staff of technology teachers is being lacking and weak seriously

The fact shows that “Construction the model of technology teacher training at university level for technology universities is an indispensable problem” The technology teaching faculty model of Ho Chi Minh city industry university has been researched and constructed on 4 main chapter as below:

In chapter I, the researcher present some matter relate to the research theme such as: introduce about technology teaching field, the system of technology teaching in Viet Nam and in the world, existing concepts and points

Trang 3

theme

In chapter II, the researcher put forward the necessaries of the technology teaching faculty in Ho Chi Minh city industry university establishing such as: the role of HCM city industry university, real situation of teachers of technical secondary schools belong to Ministry of Industry as well as South area’s schools, advantages and difficulties that affect researching process

Chapter III is constructing organize model of Technology teaching faculty, Ho Chi Minh city industry university: the name of the faculty, management rank, function, task, training, organize structure, necessary conditions for constructing successfully the model of Technology teaching faculty, Ho Chi Minh city industry university

Chapter IV: expected economy-society effectives as: economy-society benefit of model of Technology teaching faculty, Ho Chi Minh city industry university, benefit for Ho Chi Minh city industry university

The last chapter is conclusion and recommendation In the thesis, researcher has put forward some specific conclusions and suggestions for construction of model of Technology teaching faculty, Ho Chi Minh city industry university The result of research shows that the suitability of used method and quality of investigated forms have been an efficient tool that helped researcher to complete the thesis; and the construction of model of Technology teaching faculty, Ho Chi Minh city industry university is suitable with society demand and has fixed scientific element in present period

Trang 4

Trang

Lời cảm ơn i

Tóm tắt ii

Mục lục vi

Danh mục bảng biểu ix

Danh mục hình vẽ xi

Chữ viết tắt xii

Phần mở đầu 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Khách thể, đối tượng và mục đích nghiên cứu 2

3 Các vấn đề nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Sơ lược về hệ thống Sư phạm Kỹ thuật trên thế giới 5

1.2 Sơ lược về hệ thống Sư phạm Kỹ thuật ở Việt Nam 7

1.3 Một số đề tài nghiên cứu có liên quan 7

1.4 Những khái niệm và quan điểm hiện có liên quan đến đề tài 11

Tóm tắt chương 19

CHƯƠNG II: SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÀNH LẬP KHOA SPKT TRƯỜNG ĐH CÔNG NGHIỆP TP-HỒ CHÍ MINH 2.1 Vai trò của trường ĐH CN TP-HCM 20

2.2.Thực trạng tình hình giáo viên dạy nghề, CNKT, THCN, CĐ KT ở các trường thuộc khối Bộ Công nghiệp và các tỉnh khu vực phía Nam 21

2.3.Sự cần thiết Khoa SPKT của trường ĐHCN TP-HCM 21

2.4 Những thuận lợi 28

Trang 5

Tóm tắt chương 29

CHƯƠNG III: MÔ HÌNH TỔ CHỨC KHOA SPKT TRƯỜNG ĐHCN TP-HCM 3.1 Tên Khoa 30

3.2 Cấp quản lý 31y1 3.3 Chức năng, nhiệm vụ của Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 37

3.3.1 Chức năng 38

3.3.2 Nhiệm vụ 38

3.4 Đào tạo 54

3.4.1 Nhu cầu đào tạo 54

3.4.2 Các loại hình đào tạo 56

3.4.3 Dự kiến ngành đào tạo 56

3.4.4 Quy mô đào tạo 56

3.5 Cơ sở vật chất cho Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 54

3.6 Cơ cấu tổ chức của Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 54

3.6.1 Mô hình 54

3.6.2 Thư viện 54

3.6.3 Các phòng thí nghiệm 54

3.7 Những điều kiện cần thiết cho thành công xây dựng mô hình Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 54

3.7.1 Đáp ứng được nhu cầu môn học 54

3.7.2 Phương thức tuyển sinh 54

3.7.3 Tổ chức hoạt động 54

3.7.4 Chương trình đào tạo và ngành đào tạo 54

3.7.5 Đội ngũ giáo viên 54

3.7.6 Quan hệ với các Khoa, các trường bạn trong và ngoài nước 54

Tóm tắt chương 67

Trang 6

4.1 Lợi ích kinh tế- xã hội của mô hình Khoa SPKT trường ĐHCN 30

4.2 Lợi ích đối với trường ĐHCN TPHCM 21

Phần kết luận 68

Tài liệu tham khảo 72

Phụ lục

Phụ lục 1: Quyết định thành lập Học viện CNBCVT

Phụ lục 2: Nội dung chương trình đào tạo ngành ĐT-VT

Phụ lục 3: Phiếu điều tra dành cho cựu sinh viên tốt nghiệp ngành

ĐT-VT

Phụ lục 4: Phiếu điều tra dành cho sinh viên tốt nghiệp ngành ĐT-VT

Phụ lục 5: Phiếu điều tra dành cho các cơ quan sử dụng lao động

Phụ lục 6: Phiếu điều tra dành cho giáo viên giảng dạy chuyên ngành

ĐT-VT

Phụ lục 7: Danh sách các cựu sinh viên tham gia điều tra

Phụ lục 8: Danh sách các cơ quan sử dụng lao động tham gia điều tra

Phụ lục 9: Danh sách các giáo viên tham gia điều tra

Trang 7

Trang

Bảng 1.1 Các thành phần của đào tạo nghề trong hệ thống song

hành ở CHLB Đức 5

Bảng 1.2 Sơ đồ cấu trúc quá trình đào tạo GV và GVKT ở trình độ đại học cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở CHLB Đức 7

Bảng 1.3 Pha6n bố nội dung và thời gian học môn GDH nghề nghiệp và GDH kinh tế trong đào tạo GVKT ở trường ĐH Hannover 8

Bảng 2.1 Thực trạng GVDN/HS 33

Bảng 2.2 Thực trạng GVTHCN/HS 33

Bảng 2.3 Thực trạng GVCĐ & ĐH/HS 33

Bảng 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 44

Bảng 3.2 Sơ đồ tuyển sinh Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM 46

Bảng 3.3 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT tại Việt Nam 48

Bảng 3.4 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT trên thế giới 49

Bảng 3.5 Bảng khối lượng NV SPKT của Khoa SPKT trường ĐHCN TP-HCM 50

Bảng 3.6 Chương trình bồi dưỡng NVSP Bậc I 55 Bảng 3.7 Chương trình bồi dưỡng NVSP Bậc II 55-56 Bảng 3.8 Bảng danh sách giáo viên Khoa SPKT trường ĐHCN

TP-HCM 56-57

Trang 8

Trang

Hình 2.1 Biểu đồ thống kê về số lượng GVKT-DN qua điều tra 33 Hình 2.2 Biểu đồ thống kê về chuyên môn và NVSP của GVKT-DN

qua điều tra 34

Hình 3.1 Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của

GVKT-DN qua điều tra các giáo viên 48 Hình 3.2 Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của

GVKT-DN qua điều tra các nhà cán bộ quản lý giáo dục 49

Trang 9

CĐ & ĐH: Cao đẳng và Đại học

CHLB: Cộng hoà liên Bang

CNKT: Công nhân kỹ thuật

CNTPSH & MT: Công nghệ thực phẩm sinh học và môi trường

CN & TM: Công nghiệp và thương mại

GDH: Giáo dục học

GDH KT: Giáo dục học Kỹ thuật

GDH NN: Giáo dục học Nghề nghiệp

GV: Giáo viên

GVKT-DN: Giáo viên Kỹ thuật-Dạy nghề

GVDN: Giáo viên dạy nghề

GTCC: Giao thông công chánh

HS: Học sinh

KT: Kỹ thuật

KTCM: Kỹ thuật chuyên môn

PP: Phương pháp

PPGD: Phương pháp giảng dạy

QLGD: Quản lý giáo dục

QTĐT: Quá trình đào tạo

NCKH: Nghiên cứu khoa học

NN: Nghề nghiệp

SPKT: Sư phạm Kỹ thuật

THCN: Trung học chuyên nghiệp

THKTCNTP: Trung học kỹ thuật Công nghiệp thành phố TLH: Tâm lý học

THNV: Trung học Nghiệp vụ

TN PTTH: Tốt nghiệp Phổ thông Trung học

TTSP: Thực tập Sư phạm

XHH: Xã hội học

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Trên cơ sở nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc trong thời gian từ nay đến năm 2010 đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp

, Đại hội lần thứ IX của Đảng đã khẳng định: “Cùng với khoa học- công nghệ,

giáo dục và đào tạo phải thực sự là quốc sách hàng đầu Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ hàng đầu và là khâu đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế

- xã hội và chiến lược phát triển giáo dục đào tạo ở nước ta trong thời kỳ CNH

& HĐH.”

Trong chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ của toàn

ngành trong năm học 2004-2005 số 25/2004/CT-BGD&ĐT đã nêu:” … Các

trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp cần chủ động xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên, nhanh chóng khắc phục sự hẫng hụt đội ngũ…”

Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về đội ngũ giáo viên của các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học, trong tài liệu bổ sung về tình hình giáo dục (đã gửi cho các vị đại biểu quốc hội tháng 10 năm 2004), Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã đề ra những nhiệm vụ trọng tâm, giải

pháp phát triển giáo dục nghề nghiệp và đại học từ nay đến năm 2010:” Chú

trọng đầu tư xây dựng các trường đào tạo giáo viên dạy nghề ở bậc đại học, các trường dạy nghề trọng điểm ở các vùng kinh tế trọng điểm”

Cùng với xu thế chung của đất nước Bộ Công nghiệp cũng đã xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2010 với các mục tiêu, định hướng đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp Để đạt được mục tiêu chiến lược đó, chúng ta cần phải tiến hành giải quyết nhiều vấn đề, trong đó nhiệm vụ chuẩn bị nhân lực mà đặc biệt là vấn đề đào tạo nhân lực phục vụ phát triển công nghiệp là rất quan trọng và cấp bách Các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Công nghiệp cũng phải góp phần cung cấp đội ngũ công nhân kỹ thuật, kỹ thuật viên và kỹ sư chất lượng với mức chi phí hợp lý và cạnh tranh

Trường đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh là một trường trọng điểm của Bộ Công nghiệp ở khu vực phía Nam, định hướng của trường là

Trang 11

sẽ phấn đấu trở thành trường Đại học Công nghiệp mang tầm của khu vực Mục tiêu đào tạo của nhà trường là đa ngành, đa nghề và đa bậc học như vậy đòi hỏi phải có đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng sư phạm cũng như phương pháp giảng dạy mới Để đáp ứng nhu cầu trên, nhà trường đang hướng đến việc mở khoa Sư phạm Kỹ thuật nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên dạy nghề, dạy kỹ thuật, cán bộ quản lý giáo dục đồng thời bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên đang giảng dạy cho trường và các trường thuộc khối Bộ Công nghiệp

Với những lý do vừa phân tích trên, người nghiên cứu đã lựa chọn đề

tài:”Xây dựng mô hình khoa Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh” để tiến hành nghiên cứu

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:

2.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Mô hình khoa Sư phạm kỹ thuật

trong trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

2.2 Khách thể nghiên cứu của đề tài: Trường Đại học Công nghiệp thành

phố Hồ Chí Minh và một số trường đại học và cao đẳng có Khoa, Tổ Bộ môn Sư phạm Kỹ thuật và một số trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, công nhân kỹ thuật tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

3 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

Xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

4 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

4.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận về việc xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

4.2 Sự cần thiết của việc thành lập Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

4.3 Xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

4.4 Dự kiến hiệu quả kinh tế- xã hội khi thành lập Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

5 GIỚI HẠN PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

Do thời gian nghiên cứu có hạn nên người nghiên cứu chỉ nghiên cứu ở mức độ thiết kế mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

6 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

6.1 Nghiên cứu tài liệu nhằm mục đích xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

6.2 Thu thập thông tin và quan sát ở các khoa và tổ bộ môn Sư phạm Kỹ thuật

của một số trường Đại học khu vực phía Nam như:

- Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp-HCM

- Khoa Sư phạm kỹ thuật công nghiệp - Đại học Sư phạm Đồng Tháp

- Tổ bộ môn Sư Phạm kỹ thuật trường Đại học Nông Lâm Tp-HCM

- Tổ bộ môn Sư Phạm kỹ thuật trường Đại học Bách khoa Tp-HCM

- Tổ bộ môn Kỹ thuật trường Đại học Sư phạm Tp- HCM

- Một số trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng & đại học thuộc và không thuộc Bộ Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam

6.3 Phỏng vấn trực tiếp:

- Trưởng khoa Sư phạm Kỹ thuật, các Tổ trưởng các tổ Bộ môn

- Các chuyên gia trong ngành giáo dục

- Ban giám hiệu, trưởng các phòng ban một số trường thuộc Bộ Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

6.4 Điều tra bằng phiếu hỏi và thống kê số lượng và chất lượng giáo viên:

- Các giáo viên đang giảng dạy ở các trường Dạy nghề, Công nhân Kỹ thuật, Trung học Chuyên nghiệp và Cao đẳng kỹ thuật thuộc và không trực thuộc khối Bộ Công nghiệp

- Các chuyên gia trong ngành giáo dục, Ban giám hiệu, trưởng các phòng ban trong các trường Đại học, dạy nghề

7 CƠ SỞ NGHIÊN CỨU:

1 Khoa Sư phạm kỹ thuật trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Tp-HCM

2 Khoa SPKT Công nghiệp trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp

3 Tổ bộ môn Sư Phạm kỹ thuật trường Đại học Bách Khoa Tp-HCM

4 Tổ bộ môn Sư Phạm kỹ thuật trường Đại học Nông Lâm Tp-HCM

5 Tổ bộ môn Kỹ thuật trường Đại học Sư phạm Tp-HCM

6 Ban giám hiệu, trưởng các phòng ban một số trường Dạy nghề, Công nhân Kỹ thuật, Trung học Chuyên nghiệp, Cao đẳng kỹ thuật thuộc và không thuộc Khối Bộ Công nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và khu vực phía Nam

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG SPKT TRÊN THẾ GIỚI:

1.1.1.Cộng hoà Liên Bang Đức:

CHLB Đức đào tạo nghề theo hệ thống kép (Dual system) Hệ thống đào tạo nghề song hành của Đức theo Bảng 1.1 sau:

STT của đào tạo nghề Các thành phần Hệ thống song hành

1 Cơ sở đào tạo ( nơi học) Xí nghiệp đào tạo Trường dạy nghề

Người cần được đào tạo của

xí nghiệp Học sinh học nghề

4

Văn bản quy định

về đào tạo Chương trình đào tạo khung Kế hoạch dạy học khung

5

Nguyên tắc lý

luận dạy học chủ

Các CQ của Phòng CN &

TM( Liên bang và các Bang) Chính phủ các Bang

7 Lập kế hoạch Các ngành kinh tế Chính phủ các Bang

8

Cấp kinh phí đào

Lấy từ ngân sách Nhà

nước

Bảng 1.1 Các thành phần của Đào tạo nghề trong hệ thống song hành của CHLB Đức

CHLB Đức là một trong những quốc gia có truyền thống, nhiều kinh nghiệm cũng như uy tín trong việc đào tạo ban đầu/ tiền nhiệm đội ngũ giáo

Trang 14

viên nói chung và đặc biệt là giáo viên kỹ thuật nói riêng rất bài bản và đạt chất lượng rất cao trên thế giới Với quy mô trên 46 trường đại học có Khoa/ Viện SPKT đào tạo các loại giáo viên cho các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề Chủ yếu họ đào tạo những chuyên ngành như: Kỹ thuật xây dựng, Kỹ thuật chế biến gỗ, Chăm sóc cơ thể, Hóa, Lý, Sinh, Kỹ thuật điện, Dinh dưỡng và Kinh tế gia đình, Kỹ thuật màu và Trang trí, Y tế, Kỹ thuật in, Nông nghiệp,

Cơ khí, Giáo dục xã hội, Kỹ thuật Dệt và May mặc, Kinh tế và Quản trị Họ có mô hình đào tạo giáo vên kỹ thuật dạy nghề thống nhất trên toàn quốc Tất cả giáo viên dạy lý thuyết kể cả ở các trường dạy nghề đều được đào tạo ở trình độ đại học theo quy chế đào tạo và thi lấy bằng giáo viên dạy nghề cấp quốc gia Những sinh viên muốn vào học Sư phạm Kỹ thuật ở các trường đại học về nguyên tắc phải đảm bảo có hai điều kiện cơ bản:

- Có bằng tốt nghiệp THPT hoặc bằng tốt nghiệp của một loại hình đào tạo được công nhận là đủ khả năng vào đại học

- Đã qua đào tạo nghề hoặc có giấy xác nhận đã qua tối thiểu 13 tuần thực tập nghề ở xí nghiệp và cam kết tiếp tục đi thực tập nghề ở xí nghiệp trong suốt thời gian học ở đại học cho đủ 52 tuần mới đủ tư cách dự thi quốc gia lần 1 Thời gian đào tạo ở trường đại học là 4,5 năm hoặc là 9 học kỳ Nhưng sau kỳ thi quốc gia lần I, giáo sinh phải đi tập sự tại các trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề 2 năm Khi kết thúc 2 năm tập sự, giáo sinh phải thi quốc gia lần thứ II rồi mới được công nhận danh hiệu giáo viên dạy nghề ở trình độ đại học Mô hình đào tạo của họ là: đã qua đào tạo nghề nghiệp hoặc đã qua thực tập nghề ở xí nghiệp (có bằng tốt nghiệp phổ thông trung học) cộng với 4,5 năm học đại học, cộng 2 năm tập sự ở trường trung học chuyên nghiệp, dạy nghề rồi mới trở thành giáo viên kỹ thuật, dạy nghề Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề thống nhất đó được khái quát ở Bảng 1.2 sau:

Trang 15

Bảng 1.2 : Sơ đồ cấu trúc quá trình đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật ở

trình độ đại học cho các cơ sở giáo dục nghề nghiệp ở CHLB Đức

1 Thực tập Sư phạm lần 1 (3 tuần) do Khoa SPKT phụ trách

2 Thực tập Sư phạm lần 2 (3+2 tuần) do các Khoa chuyên ngành và Bộ môn phụ trách

3 Môn Giáo dục học nghề nghiệp và Giáo dục học Kinh tế 30 đvht được phân bổ 16 đvht ở giai đoạn đào tạo cơ bản và 14 đvht ở giai đoạn đào tạo chính

Mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật và dạy nghề ở đại học Hannover thì riêng môn giáo dục học nghề nghiệp và giáo dục học kinh tế thì được tổ chức thực hiện ở Bảng 1.3 :

Đã qua đào tạo nghề nghiệp( TN PTTH) hoặc đã qua thực tập nghề tại xí nghịêp ( tối thiểu phải có 13 tuần)

Điều kiện vào trường đại học

Sư phạm Kỹ thuật

Giai đoạn đào tạo

cơ bản 2 năm

Các môn chung:

Khoa học cơ bản, Kỹ thuật cơ sở

Giáo dục học nghề nghiệp và giáo dục học KT

16 đvht

Thực tập SP lần 1 (3 tuần)

Giai đoạn đào tạo chính 2,5 năm Chuyên ngành (80 đvht)

Thực tập SP lần 2 ( 3 tuần)

Giáo dục học nghề nghiệp và Giáo dục học KT

14 đvht

Môn dạy ( 52 đvht) Thực tập SP lần 2 ( 2 tuần)

Thi giữa khoá học

Phải đủ 52 tuần thực tập nghề mới được dự thi quốc gia lần 1

THI QUỐC GIA LẦN I

Tập sự 2 năm tại một cơ sở giáo dục nghề nghiệp

THI QUỐC GIA LẦN II Giảng dạy ở cơ sở GD nghề

nghiệp

Trang 16

Giai đoạn đào tạo chính 14 đvht

Bảng 1.3: Phân bố nội dung và thời gian học môn giáo dục học nghề nghiệp và giáo dục học kinh tế trong đào tạo GVKT ở trường Đại học Hannover, CHLB Đức

1.1.2 Mỹ:

Đội ngũ giáo viên kỹ thuật, dạy nghề trong các trường cộng đồng ở Mỹ

được chuẩn bị và tuyển dụng rất nghiêm túc so với một số nước khác trên thế giới Đầu thế kỷ 20, họ đã có những đạo luật liên quan đến chương trình giáo dục nghề nghiệp như luật Smith Hughes năm 1917 hay đặc biệt là đạo luật Perkins II, III ra đời nhằm chấn chỉnh công tác giáo dục đào tạo nghề nghiệp Nhưng vào thập niên 90 do sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật,

Chuẩn bị cho thi quốc gia lần 1( trong phần GDH NN và GDH KT, trong chuyên ngành hay môn dạy)

Học kỳ 9 4 tháng

Học kỳ 8

Học kỳ 5

Học kỳ 6

Học kỳ 7

Các buổi học đặc biệt, các buổi học không phụ thuộc

ngành nghề (tự chọn)

Các chức năng và cấu trúc của đào tạo nghề nghiệp

( tự chọn bắt buộc)

Lý luận dạy học nghề nghiệp

Cơ sở TLH và XHH của tư duy và hành động trong GDH nghề nghiệp và GDH kinh tế ( tự chọn bắt buộc) Lý luận và PP nghiên cứu định tính và định lượng

2 đvht

2 đvht

2 đvht

2 đvht

2 đvht

Các chức năng và cấu trúc của đào tạo nghề nghiệp

( tự chọn bắt buộc) Lý luận và PP nghiên cứu định tính và định lượng

Trang 17

vấn đề nảy sinh là một số trường Sư phạm Kỹ thuật có chương trình đào tạo theo lối truyền thống, đào tạo chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó đã gặp phải không ít khó khăn trong vấn đề tuyển sinh Chính vì thế mà hơn 10% chương trình đào tạo phải ngưng hoạt động và số lượng sinh viên vào học các trường đại học Sư phạm Kỹ thuật bị giảm đi Vì sự đơn điệu của ngành học không phù hợp với nhu cầu thực tiễn, trong những năm cuối thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21 nhu cầu của xã hội Mỹ nói riêng và thế giới nói chung đòi hỏi người lao động mà nhất là giáo viên kỹ thuật, dạy nghề phải đào tạo cho học sinh, sinh viên của mình hiểu biết rộng về một số lĩnh vực có những kỹ năng về kỹ thuật cũng như kỹ năng quan hệ người với người để đáp ứng được những nhu cầu thực tế Từ đó, các chuyên gia cải cách giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp Mỹ đã đưa ra những phương án đổi mới đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp như thay đổi trong việc tuyển dụng, đào tạo và cấp chứng chỉ cho giáo viên; công tác tuyển sinh cho các khóa đào tạo giáo viên trong giai đoạn này cũng có những yêu cầu rất cao và chất lượng đào tạo được nâng lên rõ rệt Theo nghiên cứu của Lynch(1991) thì ở Mỹ có 428 trường chuyên nghiệp và đại học tham gia đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp Chiếm gần 1/3 trong tổng số các trường chuyên nghiệp và đại học ở Mỹ Riêng về đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề

nghiệp cho ngành công nghệ có đến 176 chương trình

Trước lúc cải cách, giáo dục nghề nghiệp được nhìn nhận như là một hệ thống tách biệt với giáo dục nhằm thoả mãn nhu cầu lao động của quốc gia bằng cách đào tạo học sinh ở trình độ công nhân với những nghề chuyên sâu Nhưng đến 1988 Tozer và Nelson đưa ra quan điểm đòi hỏi các cơ sở đào tạo giáo viên nghề nghiệp tạo cho học sinh, sinh viên có những kỹ năng cao nhằm đáp ứng được thay đổi to lớn tại nơi làm việc nhờ ứng dụng công nghệ mới Trong hai thập kỷ qua, ở Mỹ người ta đã quan tâm nhiều và đã tiến hành cải cách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc chuẩn bị đội ngũ giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp Nhiều vấn đề được nhấn mạnh, đặc biệt là vấn đề đào tạo giáo viên đáp ứng nhu cầu học nghề ngày càng cao của các nhóm dân cư thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn, vấn đề về chương trình đào tạo mới, phương pháp dạy học mới, phương pháp đánh giá kết quả học tập mới Đến 1997, Lynch đã đưa ra các nguyên tắc làm những cơ sở cho các khoá đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề

nghiệp như:

o Giáo viên phải là người tạo cơ hội cho học sinh và sự phát triển nghề

Trang 18

nghiệp của họ như là những người học suốt đời

o Giáo viên sử dụng chương trình đào tạo và các kỹ thuật dạy học để tích hợp lý thuyết và thực hành, giáo dục hàn lâm và đào tạo nhân lực, giáo dục chuyên nghiệp và những vấn đề chuyên môn, lý thuyết học tập và chuẩn bị nguồn nhân lực

o Giáo viên hiểu biết về triết lý và việc thực hiện có hiệu quả việc chuẩn

bị và phát triển nguồn nhân lực

o Giáo viên vận dụng sư phạm năng động dựa trên lý luận và thực tiễn học tập

o Giáo viên là đối tác trong cộng đồng học tập thông qua đó mà tạo nên sự hợp tác các quá trình dân chủ cho sinh viên

o Chương trình phải thay đổi và định hướng vào sự thay đổi

o Chương trình được xây dựng bao gồm các thành tố như giáo dục hàn lâm, các vấn đề có liên quan đến chỗ làm việc, công nghệ, giáo dục chuyên nghiệp và thực hành

o Các trường cao đẳng và đại học cung cấp các nguồn lực phù hợp để đảm bảo bền vững các chương trình với chất lượng cao

o Các giáo viên lý thuyết cũng như thực hành cần xem việc đào tạo và chuẩn bị đội ngũ giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp là ưu tiên số một

Mô hình chương trình đào tạo giáo viên (Lynch 1997) dựa vào công việc gồm các thành phần sau:

- Đánh giá kết quả học tập

- Chương trình khung (giáo dục phổ thông, giáo dục phần cứng chung và phần giáo dục nghề chuyên sâu và các quá trình chuẩn bị nhân lực Kiến thức về người học, giáo dục học, công nghệ dạy học, giáo dục chuyên nghiệp, kinh nghiệm nghề nghiệp và các kinh nghiệm ứng xử giáo dục)

- Các tiêu chuẩn về kiến thức và kinh nghiệm

- Các nguyên tắc của việc đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp

- Những cơ sở triết lý (quan điểm thực dụng, quan điểm về sự tiến bộ, quan điểm cấu trúc-thiết kế)

Nhu cầu phát triển nghề nghiệp suốt đời cho giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp là một vấn đề khác cần được quan tâm trong việc cải cách đào tạo giáo viên Nhiều người đặc biệt chú trọng đến việc phát triển hệ thống phương tiện

Trang 19

không truyền thống để đào tạo từ xa nhằm giải quyết vấn đề cập nhật kiến thức cũng như nghiệp vụ chuyên môn và sư phạm cho giáo viên

Ngoài ra ở Mỹ người ta cũng đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp theo dạng môđun, họ xây dựng bộ môđun đào tạo giáo viên dựa trên sự thực hiện (Performance Based Teachers’ Education Modules- PBTE Modules) do hiệp hội về các tài liệu dạy học nghề nghiệp của My (American Association for Vocational Instructional Materials) và trung tâm nghiên cứu về giáo dục nghề nghiệp quốc gia (The National Center for Research in Vocational Education) tại trường đại học Ohio cùng thực hiện

1.1.3 Úc:

Vấn đề đào tạo giáo viên kỹ thuật của Australia rất quy củ, được thực

hiện một cách rộng rãi, đa dạng Có nhiều dạng đào tạo như:

o Đào tạo giáo viên kỹ thuật các ngành Sư phạm Kỹ thuật (Technology Education), Sư phạm người lớn và nghề (Adult and Vocational Education) của Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Monash

o Đào tạo giáo viên kỹ thuật cấp hai bằng (Combined/ Double Degree) của Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Newcastle Sinh viên tốt nghiệp khoa này được cấp hai bằng cử nhân dạy học/ cử nhân thiết kế và công nghệ (Bachelor of Teaching/Bachelor of Design and Technology) Đặc biệt là thời gian đào tạo chỉ có 4 năm và đối tượng tuyển sinh lại là học sinh tốt nghiệp Trung học Phổ thông vì có cấu trúc song song và tích hợp nội dung

o Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại trường đại học Melbourne có các mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật chủ yếu cho các trường nghề Khoá đào tạo 2 năm, học sinh tốt nghiệp có bằng Diploma giáo dục và đào tạo (Diploma of Education and Training) và khoá đào tạo 3 năm lấy bằng cử nhân giáo dục và đào tạo (Bachelor of Education and training) Đối tượng tuyển sinh là học sinh học hết lớp 12 hoặc tương đương cộng thêm ít nhất một năm làm việc thực tế trong ngành nghề mà mình theo học

o Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Sydney có mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật và dạy nghề khác hẳn các nơi khác Họ đào tạo lấy bằng cử nhân giáo dục dành cho giáo dục người lớn (Bachelor of Education in Adult Education) với thời gian đào tạo 3 năm Đặc biệt nếu chuyên sâu vào phần dạy nghề chỉ cần 2 năm Điều kiện xét tuyển là đã có trình độ nghề nghiệp phù hợp

Trang 20

vaø 5 naím kinh nghieôm trong ngaønh cođng nghieôp

ÔÛ Australia, phaăn lôùn ñoôi nguõ giaùo vieđn dáy ngheă ñöôïc tuyeơn chón töø caùc lónh vöïc cođng nghieôp vì hó coù trình ñoô ngheă vaø kinh nghieôm sạn xuaât Nhöõng giaùo vieđn maø chöa qua ñaøo táo giaùo vieđn kyõ thuaôt dáy ngheă thì phại hóc chuaơn hoùa (thôøi gian hóc 2 naím nhöng neâu hóc vieđn naøo coù thôøi gian hóc taôp trung 22 giôø/ tuaăn thì khoaù hóc chư 1 naím)

1.1.4 Coông hoaø Phaùp, Anh vaø Lieđn xođ cuõ:

Coông hoaø Phaùp laø nöôùc coù heô thoâng Sö phám Kyõ thuaôt khaù ñieơn hình, töø naím 1966 chính phụ Phaùp ñaõ thaønh laôp vieôn Ñái hóc Cođng ngheô vôùi quy mođ tređn 60.000 sinh vieđn phađn boâ khaĩp cạ nöôùc vaø ñaøo táo 18 ngaønh ngheă khaùc nhau nhö

Y teâ, Thöông nghieôp, Xađy döïng, Giao thođng, Kyõ thuaôt Cođng ngheô…

ÔÛ Anh ñaău nhöõng naím 1970 coù 30 tröôøng ñaøo táo veă Sö phám Kyõ thuaôt vôùi tređn 150000 sinh vieđn vaø chieâm tôùi 1/3 toơng soâ sinh vieđn cạ nöôùc

ÔÛ û nöôùc Lieđn xođ cuõ cuõng phaùt trieơn raât mánh veă loái hình ñaøo táo naøy

1.1.5 Caùc nöôùc Ñođng Nam AÙ:

* Philipine :

Giaùo vieđn kyõ thuaôt ñaøo táo ban ñaău (tieăn nhieôm) trong 4 naím ôû tröôøng ñái

hóc Sö phám Kyõ thuaôt, 5 naím ôû caùc tröôøng ñái hóc kyõ thuaôt coøn giaùo vieđn chư ñeơ dáy thöïc haønh ñöôïc ñaøo táo 3 naím Hó chụ yeâu ñaøo táo ôû caùc mođn nhö: nhöõng vaân ñeă cô bạn trong giaùo dúc kyõ thuaôt ngheă nghieôp, nhöõng ngöôøi trẹ tuoơi ñi hóc kyõ thuaôt ngheă nghieôp, laôp keâ hoách vaø toơ chöùc thöïc hieôn ñaøo táo, nhöõng cô sôû phaùp lyù cụa giaùo dúc kyõ thuaôt ngheă nghieôp Taât cạ caùc mođn naøy ñeău coù thôøi löôïng töø 100 ñeân 200 giôø Giaùo vieđn kyõ thuaôt ngheă nghieôp ôû Philippine ñöôïc phađn laøm 4 loái sau:

Giaùo vieđn thöïc haønh kyõ thuaôt ôû tröôøng caâp 1 vaø 2

Giaùo vieđn thöïc haønh kyõ thuaôt ôû tröôøng caâp 3 vaø tröôøng ngheă

Giaùo vieđn dáy lyù thuyeât vaø thöïc haønh ôû caùc tröôøng cao ñaúng, ñái

hóc

Giaùo vieđn khoa hóc kyõ thuaôt öùng dúng

* Indonesia:

Giaùo vieđn kyõ thuaôt ngheă nghieôp ôû ñađy ñöôïc ñaøo táo ôû caùc tröôøng cao ñaúng

Sö phám Kyõ thuaôt Ñoâi töôïng tuyeơn sinh phaăn lôùn laø hóc sinh toât nghieôp phoơ thođng trung hóc nhöng coù chón lóc, chư tuyeơn vaøi hóc sinh öu tuù ôû moêi tröôøng Töø

1980 coù caùc khoaù ñaøo táo giaùo vieđn kyõ thuaôt ngheă nghieôp khi toẫt nghieôp caâp

Trang 21

bằng Diploma Riêng trung tâm bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp Bangdung có các khoá đào tạo và bồi dưỡng giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp trong 6 học kỳ, trong đó những học kỳ chẵn được tổ chức tại trường mà giáo viên đó đang công tác

* Malaysia:

Giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp được đào tạo ở các trường cao đẳng với

sự phân bố thời gian 40% lý thuyết và 60% thực hành trong đó có 17 tuần thực tập tại xí nghiệp, 14 tuần thực tập sư phạm

1.2 SƠ LƯỢC VỀ HỆ THỐNG SƯ PHẠM KỸ THUẬT Ở VIỆT NAM:

Hệ thống sư phạm kỹ thuật thực hiện chức năng chính là đào tạo đội ngũ giáo viên kỹ thuật và dạy nghề để đáp ứng nhu cầu về giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp của xã hội

1.2.1 Vị trí, vai trò của giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp:

Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp là một bộ phận hữu cơ của hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trực tiếp thuộc ngành giáo dục chuyên nghiệp Nó có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ tri thức và người lao động có nghề nghiệp với những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành cần thiết Nó có quan hệ với giáo dục phổ thông để tạo cho con người những khả năng hoàn thiện và phát triển về nhân cách, năng động, sáng tạo biết thích nghi với mọi biến động của môi trường Điều đó cũng cho thấy giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp cũng chính là giáo dục con người có văn hoá và mang tính nhân bản Mặt khác giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp không chỉ giới hạn ở chỗ chỉ cung cấp kiến thức mà đặc biệt quan trọng là chuẩn bị cho người học tham gia tích cực vào cuộc sống bằng chính những hiểu biết, những kỹ năng về sản xuất, về sử dụng các công cụ lao động, thực hiện được các thao tác cũng như vận hành và xử lý được các quy trình công nghệ, kể cả những hiểu biết về những mức độ khó khăn hay những nguy cơ cũng như thuận lợi trong môi trường mà họ đang sống Trong thực tế còn tuỳ thuộc vào trình độ công nghệ, các kiến thức cần được người lao động thể hiện bằng những kỹ năng, kỹ xảo, đó chính là một điều kiện tiên quyết và thiết yếu để tạo nên những nét đặc trưng của các sản phẩm có chất lượng Vì thế mà giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp có nét nổi bật đó là không chỉ tạo nên kiến thức, mà điều quan trọng ở đây là người học biết sử dụng những kiến thức đã học đó tức là đạt được mục tiêu cơ bản của quá trình giáo dục kỹ thuật và

Trang 22

nghề nghiệp Như vậy có thể nói giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp là điều kiện đầu tiên cho sự phát triển đối với người lao động, nhờ đó mà chúng ta mới có thể giúp cho người lao động hoà nhập vào thời đại công nghệ tiến bộ, thời kỳ mà cả thế giới đang bắt đầu bước vào nền kinh tế tri thức, xã hội loài người chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang một nền văn minh mới đó là nền văn minh trí tuệ

1.2.2 Các hình thức giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp:

Tại Việt Nam, dựa trên thực tế có thể phân biệt các hình thức giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp như sau:

- Giáo dục kỹ thuật là hệ thống các biện pháp và công cụ của nhà

trường tác động lên học sinh-sinh viên để hình thành các nhận thức tổng quát về nhân văn, kỹ thuật nghiệp vụ, có kỹ năng thực hành và thực hiện được các quy trình công nghệ trong lĩnh vực chuyên môn được đào tạo Giáo dục kỹ thuật nhằm đào tạo cán bộ chuyên môn cho các ngành công, nông, lâm, ngư nghiệp, thương nghiệp cũng như dịch vụ từ trung cấp đến cao đẳng và đại học

- Giáo dục nghề nghiệp là quá trình giáo dục nhằm đào tạo học

sinh thành công nhân lành nghề, có năng lực và phẩm chất cần thiết để lao động với năng suất cao trong chuyên môn đào tạo tức là cần có kiến thức tổng quát, có kỹ năng kỹ xảo trong lĩnh vực chuyên môn ngành nghề lựa chọn với kiến thức lý thuyết cơ bản có liên quan Giáo dục nghề nghiệp nhằm cung cấp nhân lực có kỹ thuật cho các ngành nghề với trình độ trung học trở lên Trong loại hình này trọng tâm là học thực hành (chiếm 75% thời gian) Có thể tổ chức giảng dạy ở nhà trường hoặc ngoài trường như tại các trung tâm, cơ sở dạy nghề thậm chí tại các hộ gia đình cho học sinh hay người lớn

- Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là chương trình giáo dục dành cho

học sinh trung học nhằm hình thành ở họ những khái niệm ban đầu về công nghệ, những nguyên lý cơ bản của quá trình sản xuất, làm quen với các công cụ lao động tạo cho họ ham thích lao động và quen dần với tác phong công nghiệp trong lao động Chương trình giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhằm thăm dò, định hướng và tạo thói quen nghề nghiệp hơn là dạy cho học sinh thông thạo một nghề xác định Với những kiến thức ban đầu đủ đảm bảo cho họ không bỡ ngỡ khi rời trường phổ thông để dễ dàng xác định nghề nghiệp và bước vào cuộc sống lao động trong tương lai Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đang ở xu thế phát triển đa dạng, có thể từ đây hình thành một hình thức giáo dục mới đó là giáo

Trang 23

dục hướng nghiệp Đây là hình thức kết hợp tác động giữa nhà trường, gia đình và xã hội nhằm định hướng, tư vấn và chuẩn bị cho thế hệ trẻ đi vào các ngành nghề mà xã hội cần, đồng thời phù hợp với năng lực riêng của mỗi cá nhân người học Hướng nghiệp tốt sẽ tạo điều kiện cho học sinh học nghề đúng, sẽ sử dụng hợp lý tiềm năng lao động của xã hội Hướng nghiệp còn tạo ra sự phân công lao động xã hội và hình thành nhu cầu lao động xã hội đúng đắn, góp phần tạo tâm lý tích cực cho học sinh để họ sẵn sàng đi vào lao động sản xuất, chọn ngành nghề phù hợp, ổn định được lưu lượng lao động, hạn chế hiện tượng thay đổi nghề tránh tạo sự lãng phí cho xã hội như đào tạo lại Giáo dục hướng nghiệp có thể tổ chức trong hoặc ngoài nhà trường, đặc biệt ở các cơ quan chuyên trách về hướng nghiệp như các trung tâm tư vấn hướng nghiệp Điều này cho thấy công tác hướng nghiệp chỉ đạt được hiệu quả khi nhà trường phổ thông tiến hành tốt giáo dục kỹ thuật tổng hợp và các hoạt động ngoài nhà trường góp phần làm thể hiện rõ thiên hướng, sở trường, năng lực của mỗi học sinh

Với các hình thức giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trên ta cần góp phần khắc phục trở ngại lớn trong tâm lý xã hội và nhất là các bậc phụ huynh coi thường việc học nghề, coi lao động chân tay là công việc chỉ giành cho những người thấp kém Để có được quan niệm đúng đắn về các loạïi hình lao động điều quan trọng ở đây là làm sao thấy được tầm quan trọng của loại hình đào tạo ra những người có khả năng tham gia quá trình giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp cho người khác

1.2.3 Phân loại giáo viên kỹ thuật dạy nghề:

Dựa trên các hình thức đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp mà ta có đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề tương ứng sau:

- Giáo viên kỹ thuật có nhiệm vụ giảng dạy lý thuyết và thực

hành các môn kỹ thuật tổng quát và chuyên ngành ở các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật Giáo viên kỹ thuật có thể làm trưởng xưởng, trưởng phòng thí nghiệm, giảng dạy thực hành và làm công tác ở phòng thí nghiệm như một thí nghiệm viên và có thể dạy thực hành ở trường đại học Giáo viên kỹ thuật được đào tạo ở bậc đại học từ 1976-1993 ở Việt Nam được gọi là kỹ sư giáo dục Từ năm 1993 đến nay, sau khi tốt nghiệp đại học Sư phạm Kỹ thuật sinh viên được nhận bằng tốt nghiệp đại học (kỹ sư) và chứng chỉ sư phạm bậc 2 (giáo viên kỹ thuật)

- Giáo viên chuyên nghiệp giáo viên dạy lý thuyết và thực hành ở

Trang 24

các trường chuyên nghiệp (phi công nghiệp) như ngân hàng, kế toán, dịch vụ, thủ công mỹ nghệ , nếu được đào tạo ở bậc đại học, được gọi là cử nhân giáo dục Ở Việt Nam chưa có loại hình đào tạo này nhưng được khắc phục bằng cách là mở các khoá bồi dưỡng sư phạm bậc 1 và bậc 2 cho các cử nhân, thợ cả

- Giáo viên dạy nghề được đào tạo ở bậc trung học (từ 1998 là bậc

cao đẳng) giỏi thực hành, thông thạo thao tác nghề nghiệp có nhiệm vụ dạy lý thuyết nghề và thực hành nghề và hướng nghiệp cho các cơ sở đào tạo nghề của nhà nước và tư nhân Đội ngũ giáo viên này nếu được đào tạo ở bậc cao đẳng thì gọi là kỹ sư dạy nghề Đặc biệt đội ngũ đốc công, thợ cả trong xí nghiệp có trách nhiệm hướng dẫn, rèn luyện tay nghề cho công nhân, thợ học việc hay học sinh thực tập tốt nghiệp cũng được công nhận là giáo viên dạy nghề nếu họ được tham gia qua các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm

- Giáo viên kỹ thuật tổng hợp dạy lý thuyết và thực hành các

môn kỹ thuật tổng hợp ở các trường sư phạm và các trường phổ thông Họ có thể được gọi là giáo viên kỹ thuật hoặc giáo viên dạy nghề

Với các loại hình giáo viên kỹ thuật và dạy nghề nêu trên ta thấy cần có một hệ thống trường lớp phù hợp để đáp ứng yêu cầu đặt ra nhằm đào tạo đội ngũ giáo viên phục vụ cho mục đích chuẩn bị lực lượng lao động có chất lượng cho xã hội

1.2.4 Hệ thống sư phạm kỹ thuật:

Hệ thống sư phạm kỹ thuật ở nước ta được hình thành nhằm thực hiện chiến lược dài hạn của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đón đầu xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế hiện nay mà nền kinh tế tri thức mang đến Đó chính là việc chuẩn bị và sử dụng nguồn tài nguyên quí giá nhất của xã hội chính là con người, phát triển con người là một cách phát triển bền vững và cần phải chuẩn bị một cách kỹ lưỡng và đúng đắn nhất Những con người này phải là những người được giáo dục, được đào tạo nghề nghiệp để đáp ứng được mọi yêu cầu do xã hội phát triển và tiến bộ đặt ra Họ được đào tạo thông qua đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề Giáo viên kỹ thuật và dạy nghề là những giáo viên khác nhau về chuyên môn, nhưng giống nhau về nghề nghiệp Chính sự khác nhau về chuyên môn tạo nên sự đa dạng về nội dung và phương thức đào tạo Dù sự khác biệt có đa dạng thế nào đi nữa thì đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề cũng phải được đào tạo với những đặc điểm chung sau:

- Vềà nội dung:

Trang 25

Gồm những phần chủ yếu là kiến thức cơ bản vững chắc, các môn học lý thuyết và thực hành chuyên môn, kinh nghiệm làm việc trong các lĩnh vực chuyên môn, các môn sư phạm và thực tập sư phạm Trong những chương trình

đang được đào tạo ở các trường sư phạm kỹ thuật thường có những nội dung như:

Kiến thức tổng quát: khoa học xã hội và nhân văn, ngoại ngữ và khoa học tự nhiên

Kiến thức chuyên môn: các tri thức về kỹ thuật và công nghệ, các kỹ năng kỹ xảo trong lĩnh vực thực hành nghề nghiệp

Kiến thức về khoa học sư phạm: kiến thức và kỹ năng giáo dục, lý thuyết và thực hành giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hiểu biết về tổ chức quản lý quá trình đào tạo

Các khối kiến thức trên nhằm trang bị cho sinh viên những hiểu biết cơ bản về nghề dạy học để làm công cụ truyền đạt kiến thức chuyên môn và hướng dẫn thực hành đạt hiệu quả tối ưu Nội dung đào tạo được xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế và mục tiêu phát triển lâu dài Quan trọng hơn là với những tri thức trên người giáo viên kỹ thuật dạy nghề phải thể hiện được hết trách nhiệm đối với việc hình thành một bình diện văn hoá cho người học nhằm bồi dưỡng nhân cách và khả năng sáng tạo trong việc ứng dụng kiến thức kỹ thuật của họ Chương trình đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề không chỉ để rèn luyện một nghề nghiệp mà là đào tạo một mẫu người có khả năng hướng dẫn, định hướng và giúp cho thế hệ sau giải quyết được các vấn đề công nghệ của đất nước trong nền kinh tế tri thức đang đặt ra

Thông thường cấu trúc chương trình của những cơ sở đào tạo chính quy bao gồm toàn bộ các phần trên Trong thực tế hiện nay có một số cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề chỉ bồi dưỡng phần nghiệp vụ sư phạm, thực tập sư phạm còn toàn bộ phần chuyên môn, kinh nghiệm thực tế đều đã được hình thành từ quá trình đào tạo trước đó của người học Hiện nay, xây dựng chương trình đào tạo khoá học bồi dưỡng nghịêp vụ sư phạm bậc 1, bậc 2 chủ yếu chú trọng giữ cho phần cứng ổn định, cho các môn khoa học cơ bản, kỹ thuật cơ sở, kỹ thuật chuyên ngành, thực hành nghề, lý thuyết và thực hành sư phạm đồng thời cũng có các phần mềm đa dạng, linh hoạt và tự chọn Cơ sở của quá trình bồi dưỡng là để giải quyết tình trạng thiếu hụt một cách trầm trọng đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề hiện nay

- Về tổ chức:

Trang 26

Trước đây, dạy nghề thường là theo kiểu truyền thống cha truyền con nối, dạy kỹ thuật chỉ cần các chuyên gia kỹ thuật (thạo nghề-không cần biết nghiệp vụ sư phạm, dạy nghề chỉ cần đốc công, thợ cả nhưng đến nay loại hình đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề đã được tiến hành trong những cơ sở đào tạo có sự tổ chức và quản lý chặt chẽ Hệ thống sư phạm kỹ thuật được hình thành ở nước ta và nhiều nước trên thế giơí hầu hết đều theo mô hình tập trung như ở Đức, Anh, Trung Quốc, Nhật và các nước Đông Aâu cũ (Ở một số nước khác có mô hình phân tán, đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề không thuộc vào hệ thống giáo dục quốc dân.).Đây là mô hình của các cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề do nhà nước quản lý Các yêu cầu về chức năng, nhiệm vụ của từng giáo viên được xác định rõ Mỗi ngành, mỗi trường đều có nhiệm vụ đào tạo một loại giáo viên kỹ thuật dạy nghề nào đó để phục vụ cho một đối tượng trong hệ thống giáo dục quốc dân Vì vậy cần chuẩn hóa các nội dung, phương pháp đào tạo giúp cho việc quản lý cũng như việc tuyển sinh nhẹ nhàng hơn (có thể cũng dựa vào thi tuyển quốc gia đối với các khoá học đào tạo chính quy) Đối với các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm bậc 1, bậc 2 giữa các trường, các Khoa Sư phạm Kỹ thuật với các cơ sở đào tạo nghề các cấp thì dành riêng cho đội ngũ giáo viên chưa có nghiệp vụ sư phạm

* Hệ thống sư phạm kỹ thuật ở Việt Nam:

Hệ thống sư phạm kỹ thuật ở Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh chung của thế giới là một hệ thống đào tạo còn non trẻ, ngày càng hoàn thiện và củng cố vai trò của nó đối với xã hội qua những đóng góp thiết thực có giá trị trong việc đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề phục vụ sự nghiệp tái sản xuất sức lao động xã hội Hệ thống này được thể hiện qua các cơ sở đào tạo như:

o Bậc đại học: gồm trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ

Chí Minh và Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên

o Bậc cao đẳng: gồm các trường sư phạm kỹ thuật II (Nam Định), III(Vinh), IV (Vĩnh long)

o Các khoa Sư phạm Kỹ thuật ở các trường đại học như Đại học Nông Lâm, Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Nông nghiệp 1, Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Huế, Đại học Kỹ thuật Đà Nẵng, Đại học Sư phạm Đồng Tháp, Cao đẳng Công nghiệp 1 Hà Nội và Tổ bộ môn Sư phạm Kỹ thuật ở trường Đại học Bách khoa thành phố Hồ Chí Minh, Tổ bộ môn Sư phạm kỹ thuật tổng hợp ở các trường Đại học Sư phạm

Trang 27

+ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh:

Tiền thân là Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật thành lập năm 1962 sử dụng cơ sở vật chất chung với trường Bách khoa, Khoa trung cấp Phú Thọ trong khuôn viên Đại học Bách khoa

1972 Ban Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật về cơ sở hiện nay ở Thủ Đức và đã được đổi tên thành Trung tâm Sư phạm Kỹ thuật

1974 đổi thành trường Đại học Giáo dục thuộc Viện Đại học Thủ Đức Từ năm 1962-1974 trường Đại học Giáo dục đã đào tạo 2 loại giáo viên:

o Giáo viên đệ nhất cấp với chương trình 2 năm

o Giáo viên đệ nhị cấp với chướng trình 4 năm Ngành nghề đào tạo: Khoa học áp dụng, kinh tế gia đình, kỹ nghệ hoạ, kỹ nghệ gỗ, kỹ nghệ sắt, Điện tử, Điện kỹ nghệ, Cơ khí Oâtô, Máy công cụ, Aán loát, Thủ công Mỹ nghệ, Đồ sứ, Đồ sứ và Sơn mài

Từ ngày 27 tháng 10 năm 1976 trường được đổi tên thành trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Với chương trình đào tạo có thời gian 5 năm, các ngành kỹ thuật tổng hợp đào tạo 4 năm Khi tốt nghiệp ra trường sinh viên nhận bằng tốt nghiệp được công nhận là Kỹ sư Giáo dục

Tháng 8 năm 1984 trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật nhập chung với trường Trung học Công nghiệp Việt-Đức

Tháng 8 năm 1991 trường Sư phạm Kỹ thuật V được sáp nhập vào trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hiện nay trường có tổ chức đào tạo với 11 khoa: Khoa Điện, Khoa Điện tử, Khoa Cơ khí Chế tạo máy, Khoa Cơ khí Động lực, Khoa kỹ thuật Cơ sở, Khoa Kỹ thuật in, Khoa Chủ nghĩa Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Khoa Công nghệ May và Chế biến thực phẩm, Khoa Khoa học Cơ bản, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Sư phạm Kỹ thuật;Các Trung tâm: Trung tâm Tin học, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Nghiên cứu và chuyển giao Công nghệ, Trung tâm Việt-Đức, Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp;Các viện:Trường Trung học Kỹ thuật thực hành, Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục chuyên nghiệp Với 4 bậc đào tạo: Công nhân, Cao đẳng, Đại học và Sau đại học Từ việc rèn luyện nghề đến việc đào tạo đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề, trường đã thực sự đặt nền tảng cho thanh niên phát triển các kỹ năng, thói quen làm việc, thái độ yêu nghề và tinh thần trách nhiệm đối với lao động từ bậc thấp đến bậc cao

Trang 28

Tháng 10 năm 2001 trường đã tách khỏi hệ thống Đại học Quốc Gia của thành phố Hồ Chí Minh

+ Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên:

Tiền thân là trường Sư phạm Kỹ thuật I, được thành lập từ năm 1971 đến 1979 được nâng cấp thành trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật I Hải Hưng và hiện nay đã được nâng cấp thành trường đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên Giống như Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên cũng đào tạo giáo viên dạy nghề bậc đại học, cao đẳng về lý thuyết nghề, tay nghề 4/7 và trình độ sư phạm dạy nghề theo qui định đào tạo của Bộ Trường đào tạo trình độ Đại học, Cao đẳng (ngắn hạn, dài hạn) nhằm đáp ứng nhu cầu về giáo viên kỹ thuật, dạy nghề cho các tỉnh khu vực phía Bắc

+ Các trường Sư phạm Kỹ thuật khác:

Trường Sư phạm Kỹ thuật II (Nam Định) được thành lập từ 1971 đến tháng 7 năm 1998 đã được nâng cấp lên Cao đẳng Sư phạm kỹ thuật Nam Định Trường đào tạo các ngành như: Công nghệ thông tin, Cơ khí chế tạo máy, Cơ khí Động lực, Cơ Điện (Cơ khí Hàn), Điện khí hoá và cung cấp điện, Kỹ thuật địên

tử, Kỹ thuật công nghiệp Thời gian đào tạo hệ cao đẳng 3,5 năm

 Trường Sư phạm Kỹ thuật Vinh được thành lập 1971 đến tháng 7 năm

1998 đã được nâng cấp thành trường Cao đẳng cũng đào tạo giống như trường Sư phạm Kỹ thuật Nam Định

 Trường Cao đẳng Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long tiền thân là trường Trung học Kỹ thuật Vĩnh Long được thành lập từ năm 1962 Đến tháng 3 năm

1976 trường thay đổi chức năng đào tạo và có tên mới là trường Giáo viên Dạy nghề Cửu Long Năm 1978 đổi lại thành trường Sư phạm Kỹ thuật IV Vĩnh Long đào tạo giáo viên dạy nghề cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long

 Trường Sư phạm Kỹ thuật V được thành lập 1983 được sự tài trợ của Liên Xô và đến 1991 đã sáp nhập thành khoa Cơ giới hoá Nông nghiệp của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh với chức năng đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật dạy nghề bậc cao đẳng và công nhân

+ Các khoa sư phạm kỹ thuật:

Để đáp ứng nhu cầu giáo viên kỹ thuật tổng hợp ở các trường phổ thông

Trang 29

cuối năm 1970, trường Đại học Sư phạm Hà Nội I đã thành lập 2 khoa: Lý-Kỹ thuật Công nghiệp và Sinh-Kỹ thuật Nông nghiệp Mục tiêu của 2 khoa này là đào tạo giáo viên dạy một môn khoa học Cơ bản, đồng thời có thể dạy một môn Kỹ thuật Tổng hợp như Kỹ thuật Công nghiệp hoặc Kỹ thuật Nông nghiệp cho học sinh trung học Trường Đại học Sư phạm Đồng Tháp năm 2004-2005 thành lập Khoa Sư phạm Kỹ thuật Công nghiệp Mục tiêu của Khoa này là đào tạo đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề công nghiệp cho tỉnh Đồng Tháp và Khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Với sự phát triển các ngành nghề, nhu cầu đào tạo người lao động phù hợp có thể định hướng hình thành các Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại các trường Đại học, Cao đẳng thuộc các ngành kỹ thuật như các Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Kỹ thuật Công nghệ Thái Nguyên, Đại học Kỹ thuật Đà Nẵng nhằm bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho các đối tượng như Kỹ

sư, Cử nhân có nhu cầu muốn tham gia công việc đào tạo nghề nghiệp cũng như đào tạo kịp thời đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề hiện nay đang rất thiếu trên toàn quốc Tuy nhiên phải có sự theo dõi giám sát chặt chẽ về nội dung và chương trình bồi dưỡng nhằm đạt hiệu quả cao trong việc đào tạo đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề mà xã hội đang đặt ra

+ Trường sư phạm kỹ thuật phổ thông:

Để đào tạo đội ngũ giáo viên kỹ thuật phổ thông cho các trường trung học

cơ sở tại thành phố Hồ Chí Minh đã có trường Sư phạm Kỹ thuật Phổ thông do Sở Giáo dục quản lý Sau này trường đã trở thành phân hiệu Sư phạm Kỹ thuật Phổ thông của trường Cao đẳng Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh và nay là Khoa Kỹ thuật của trường này

Theo số liệu thống kê tổng hợp của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo báo cáo về tình hình Giáo dục cho Đại biểu Quốc hội vào tháng 10 năm 2004 như sau:

Tình hình phát triển về mạng lươiù trường, lớp:

1 Đại học-Cao đẳng: có 214 trường ( năm 2003 có 178 trường)

2 Trung học chuyên nghiệp: có 86 trường (năm 2003 có 253 trường)

3 Dạy nghề: có 546 trường (năm 2003 có 312 trường)

Tình hình phát triển đội ngũ giáo viên:

Trang 30

1 Đại học-Cao đẳng có 39985 Giáo viên (32205 năm 2003)

2 Trung học chuyên nghiệp có 11121 Giáo viên (10189 năm 2003)

3 Dạy nghề có 7056 Giáo viên (5500 năm 2003)

Tình hình số lượng học sinh sinh viên theo học tại các trường:

1 Đại học-Cao đẳng có 1032440 Sinh viên( 960692 năm 2003)

2 Trung học chuyên nghiệp có 360392 Học sinh(309807 năm 2003)

3 Dạy nghề có 1145100 Học sinh( 1074100 năm 2003)

<Nguồn từ Vụ kế hoạch –Tài chính( Bộ Giáo dục Đào tạo) và Tổng Cục Dạy nghề>

Ngoài ra còn có hàng trăm lớp dạy nghề trong các xí nghiệp, các cơ sở dạy nghề tư nhân Để đáp ứng đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề, giáo viên kỹ thuật tổng hợp cho các cơ sở đào tạo như trên (dự báo trong tương lai sẽ còn phát triển hơn nữa theo báo cáo mới đây của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Hằng cho Chủ tịch nước có nêu trong 5 năm qua (2001-2005) hệ thống các trường dạy nghề đã dạy nghề cho trên 5,2 triệu người trong đó có

854800 người học hệ dài hạn Theo định hướng phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam trong những năm tới hệ thống dạy nghề phải đáp ứng đủ đội ngũ giáo viên dạy nghề sao cho có thể đào tạo đội ngũ công nhân lành nghề nhằm nâng cao tỉ lệ lao động thông qua đào tạo nghề hiện nay khoảng 25% lên khoảng 50-70% trong những năm tới Đó là một trách nhiệm hết sức nặng nề cho hệ thống

sư phạm kỹ thuật dạy nghề Điều này đồng nghĩa với việc xây dựng và mở rộng các trường sư phạm kỹ thuật cũng như mở ra các Khoa Sư phạm Kỹ thuật trong các trường đại học là một hướng đi tất yếu nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội đặt

ra

Hệ thống Sư phạm Kỹ thuật ở nước ta tuy ra đời muộn nhưng cũng góp phần đáng kể đào tạo đội ngũ giáo viên Kỹ thuật và Dạy nghề đáp ứng phần nào nhu cầu phục vụ đất nước Tuy nhiên, yêu cầu của thời đại đòi hỏi hệ thống

Sư phạm Kỹ thuật phải thích ứng nhanh chóng để đáp ứng với thực tiễn của nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa và hội nhập của Việt Nam Chính vì thế ngành Sư phạm Kỹ thuật phải không ngừng đổi mới, vươn lên ngang tầm với vai trò và nhiệm vụ của thời đại

Mô hình đào tạo giáo viên dạy nghề hiện nay tại Việt Nam là đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật nghề nhiều trình độ khác nhau (Đại học, Cao đẳng) tương

Trang 31

ứng với nhu cầu thực tế và thời gian đào tạo cũng khác nhau (Đại học 4,5năm đến 5 năm, Cao đẳng 3,5 năm) nhằm đáp ứng nhu cầu phân bố nhân lực của xã hội như giáo viên dạy lý thuyết và thực hành tại các cơ sở đào tạo nghề (Trung tâm dạy nghề, trường Công nhân Kỹ thuật, Trung học Chuyên nghiệp, Cao đẳng và Đại học) Theo kết quả nghiên cứu của các nhà chuyên môn tại Việt Nam hiện nay, mô hình đào tạo giáo viên dạy kỹ thuật nghề nghiệp ở bậc cao (Dạy các môn lý thuyết ứng dụng, Lý thuyết nghề và thực hành nghề) chưa thực hiện được

1.3 MỘT SỐ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN:

Những đề tài nghiên cứu về Ngành Sư phạm Kỹ thuật từ trước tới giờ là rất

ít Không như những ngành khoa học khác, ngành Sư phạm Kỹ thuật ở Việt Nam còn rất non trẻ, các tài liệu tham khảo và những đề tài có liên quan rất hạn chế

Vì thế ø người nghiên cứu chỉ có thể nêu lên một số đề tài điển hình có liên quan như:

- Technical and Vocational Industrial Education in South Vietnam by Doctor

Do định phát triển giáo dục đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực ở miền Nam Việt Nam Sơ lược lịch sử hình thành giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp ở Việt Nam từ trước

đến 1974.Thanh Long Tác giả viết về phát triển giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp và

hoạch

- Xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật ở trình độ đại học cho các trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, mã số: B99-52-36 do PGS-TS Nguyễn Đức Trí làm chủ nhiệm đề tài Nhóm nghiên cứu đã nêu lên một số vấn về lý luận xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật, các quan điểm về phát triển đội ngũ giáo viên, các loại mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật có liên quan, đôi nét về thực trạng đội ngũ giáo viên kỹ thuật dạy nghề ở Việt Nam cũng như đưa ra đề xuất một số mô hình trong tương lai

- Xây dựng chương trình giảng dạy nghiệp vụ sư phạm kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên kỹ thuật dạy nghề đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước Đề tài cấp Bộ, mã số: B 2000-19-20 do Thạc sĩ Nguyễn Thị Việt Thảo làm chủ nhiệm đề tài Nhóm nghiên cứu đã sơ lược về một số chương trình đào tạo kỹ thuật nghề nghiệp của một số nước trên thế giới cũng như nêu ra những cơ sở lý luận về xây dựng chương trình của một số nước Hệ thống các chương trình nghiệp vụ Sư phạm Kỹ thuật của Việt Nam từ trước

Trang 32

đến 2002

-> Các đề tài nghiên cứu trước đây đã nêu lên được một số mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp của các nước trên thế giới và Việt Nam, nêu lên được lịch sử hình thành các cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp tại Việt Nam, đưa ra một số đề xuất về xây dựng mô hình đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp trong tương lai Đặc biệt, các đề tài nghiên cứu trước đây đã giúp người nghiên cứu nắm vững các cơ sở lý luận một cách có hệ thống về mô hình các cơ sở đào tạo giáo viên kỹ thuật cũng như kế thừa những chương trình đào tạo giáo viên kỹ thuật nghề nghiệp và đã định hướng cho người nghiên cứu” Xây dựng mô hình Khoa Sư phạm Kỹ thuật trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh”

1.4 NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ QUAN ĐIỂM HIỆN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU:

1.4.1 Các khái niệm:

Mô hình: (Theo từ điển gốc và nghĩa từ Việt thông dụng của tác giả Vũ

Xuân Thái-Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin) có nghĩa là:

o Mô (Hán): kiểu, mẫu

o Hình (Hán): cái mẫu nhỏ của công trình nào đó

Cái mẫu đã làm trước, theo đó mà làm ra công trình sau này

Theo từ điển tiếng Việt mô hình có 2 nghĩa:

1 Vật cùng dạng nhưng làm thu nhỏ lại nhiều, mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật khác để trình bày, nghiên cứu

2 Hình thức diễn đạt hết sức gọn theo một ngôn ngữ nào đó về các đặc trưng chủ yếu của một đối tượng để nghiên cứu đối tượng ấy

Mô hình - Theo từ điển triết học (Leipzig, 1976, D.805):

Là một sự vật được tạo ra bởi một chủ thể trên cơ sở tương tự, giống nhau về cấu trúc, chức năng hoặc hành vi so với nguyên mẫu tương ứng, được sử dụng để có thể giải quyết những nhiệm vụ mà việc thực hiện chúng bằng các thao tác trực tiếp lên nguyên mẫu là khó khăn hoặc hoàn toàn không thể được hay quá tốn kém trong điều kiện đã cho

Mô hình - Theo từ điển tâm lý của Nguyễn Khắc Viện chủ biên, nhà xuất bản Thế giới-HN 1995:

Là mẫu hình chỉ một hình thái cấu trúc được vẽ ra, với những cấu thành rõ

Trang 33

nét và những mối tương quan giữa các bộ phận, những cơ chế hoạt động để mô tả các sự vật phức tạp, có tính khái quát

Định nghĩa trong từ điển triết học và từ điển tâm lý là phù hợp với chủ đề mà người nghiên cứu muốn đề cập đến

* Sư phạm Kỹ thuật: được xác định là một ngành khoa học nghiên cứu

những quy luật giảng dạy về kỹ thuật và nghề nghiệp nhằm đào tạo đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật có đầy đủ phẩm chất và năng lực để duy trì sự phát triển sản xuất của xã hội

* Giáo dục nghề nghiệp: là một quá trình dạy và học, kèm cặp nghề

nghiệp có hệ thống để giúp cho người học hình thành một thái độ, kỹ năng và năng lực nhất định phù hợp với các mức độ của quy trình công nghệ

1.4.2 Các quan điểm về việc thành lập khoa SPKT

Qua quá trình điều tra bằng phiếu hỏi 312 giáo viên và 72 nhà quản lý với nội dung: Theo Thầy(Cô) làm thế nào để đào tạo kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội tối ưu về đội ngũ giáo viên dạy nghề, trung học chuyên nghiệp hiện nay?

º Mở thêm các trường cao đẳng, đại học Sư phạm Kỹ thuật

º Mở thêm các Khoa Sư phạm Kỹ thuật tại các trường đại học

º Ý kiến

khác………

Khi sử lý kết quả thống kê người nghiên cứu tổng hợp lại như sau:

 Mở thêm các trường Cao đẳng SPKT hoặc Đại học SPKT

Căn cứ vào phiếu điều tra dành cho giáo viên( câu 11-phụ lục 1) có 154/312 người( chiếm tỉ lệ 49,4%) được điều tra cho rằng nên mở thêm các trường Cao Đẳng SPKT hoặc Đại học SPKT và căn cứ vào phiếu điều tra dành cho các nhà quản lý ( câu 3-phụ lục 2) có 35/72 người( chiếm tỉ lệ 48,6%) được điều tra cho rằng nên mở thêm các trường Cao Đẳng SPKT hoặc Đại học SPKT

 Mở thêm khoa SPKT tại các trường Đại học Kỹ thuật

Có 156/312 ý kiến( chiếm tỉ lệ 50%) dành cho giáo viên ( câu 11-phụ lúc) cho rằng nên mở thêm các khoa SPKT ở các trường ĐH Kỹ thuật và có 36/72 ý kiến( chiếm tỉ lệ 50%) dành cho các nhà quản lý cho rằng nên mở thêm các khoa SPKT ở các trường ĐH Kỹ thuật

 Mở thêm cả 2 loại hình

Còn lại 2/312 ý kiến ( chiếm tỉ lệ 0,6%) dành cho giáo viên ( câu phụ lục 1) cho rằng nên mở cả hai loại hình và có 1/72 ý kiến( chiếm tỉ lệ 1,4%)

Trang 34

11-dành cho các nhà quản lý( câu 3-phụ lục 2) cho rằng nên mở cả hai loại hình

Như phân tích trên, việc mở thêm các trường cao đẳng SPKT hoặc Đại học SPKT và mở thêm các khoa SPKT tại các trường Đại học Kỹ thuật chiếm tỉ lệ gần như bằng nhau về quan điểm Tuy nhiên, người nghiên cứu chọn quan điểm mở thêm các khoa SPKT tại các trường Đại học Kỹ thuật nó phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình đó là: “Xây dựng mô hình khoa SPKT tại trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh”

1.4.3 Các xu hướng mới của giáo dục trên thế giới:

Số lượng người học sẽ tăng nhanh và có nhiều cách học khác nhau cho nhiều đối tượng Chương trình và nội dung khoá học sẽ được xây dựng dựa trên kinh nghiệm và nền tảng kiến thức của người học Sản xuất và nghiên cứu sẽ kết hợp chặt chẽ làm cho cấu trúc về trường học trở nên linh hoạt hơn và giáo dục từ

xa bằng nhiều loại hình sẽ được ra đời Người học trong tương lai sẽ không còn gắn bó với một cơ sở đào tạo duy nhất nữa mà người học sẽ tự do lựa chọn và quyết định cách thức học và nơi học phù hợp với nhu cầu thực tế cũng như điều kiện hiện có của họ

Tóm tắt: Chương 1 trình bày tổng quan về một số vấn đề liên quan đến đề tài

nghiên cứu như: sơ lược về ngành Sư phạm Kỹ thuật, về hệ thống Sư phạm Kỹ thuật ở Việt Nam và trên thế giới, vị trí vai trò của giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp như các hình thức giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp, phân loại giáo viên kỹ thuật dạy nghề Nội dung đào tạo, tổ chức đào tạo hệ thống Sư phạm Kỹ thuật hiện nay tại Việt Nam Nêu lên những đề tài nghiên cứu cũng như những khái niệm và quan điểm, xu hướng mới về giáo dục có liên quan đến đề tài nghiên cứu

Phần này cho thấy ngành Sư phạm Kỹ thuật trên thế giới vẫn còn non trẻ

so với các ngành khoa học khác Tại Việt Nam cũng vậy, ngành Sư phạm Kỹ thuật chưa thật sự đáp ứng được nhu cầu mà xã hội đang đặt ra Chính vì thế đây cũng là một lĩnh vực đang trong giai đoạn nghiên cứu để hoàn thiện và phát triển

Trang 35

CHƯƠNG 2

SỰ CẦN THIẾT PHẢI THÀNH LẬP KHOA SPKT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HỒ CHÍ MINH

2.1 VAI TRÒ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH:

Trường đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh là trường đại học công lập, tổ chức tuyển sinh hàng năm Hiện nay trường có 33.017 sinh viên, học sinh trong đó có 27114 hệ chính quy, 930 hệ tại chức, 882 hệ liên thông, 1293 Hợp tác Quốc tế và 2798 hệ Liên kết Trong những năm tới con số này sẽ tăng lên mà đặc biệt là năm 2005 có thêm 1050 Sinh viên hệ đại học chính quy khoá

1 Trường là một trong những trung tâm đào tạo lớn nhất của cả nước Trường có vai trò đào tạo và cung cấp đội ngũ công nhân lành nghề, kỹ thuật viên và kỹ sư thực hành cho các công ty, xí nghiệp trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh lân cận cho Khối Bộ Công nghiệp và cả nước Trường tuyển sinh trên cả nước, số lượng học sinh, sinh viên rất đa dạng ở khắp mọi miền đất nước Hằng năm học sinh, sinh viên tốt nghiệp của trường là 8470, đây là ngọn cờ đầu trong lĩnh vực đào tạo nghề của cả nước Năm 2005 trường mở thêm Khoa Ngoại ngữ, năm tới trường sẽ mở thêm Khoa Xây dựng và một số ngành đào tạo khác theo đúng với định hướng của nhà trường là đào tạo đa ngành, đa nghề, đa bậc học và

đa cơ sở Hiện nay, trường ĐHCN TPHCM có các hệ đào tạo sau:

* HỆ CHÍNH QUY: gồm có Bậc Đại học, Cao đẳng, Trung cấp, Trung cấp 4 năm, Công nhân

o Bậc Đại học đào tạo 4 năm cấp bằng Kỹ sư, Cử nhân

o Bậc Cao đẳng đào tạo 3 năm và cấp bằng Kỹ sư thực hành

o Bậc trung cấp đào tạo 2 năm, 4 năm và cấp bằng kỹ thuật viên

o Bậc Công nhân đào tạo 2,5 năm và cấp bằng bậc 4/7

* HỆ TẠI CHỨC:

o Bậc Đại học đào tạo 4 năm cấp bằng Kỹ sư, Cử nhân

o Bậc Cao đẳng đào tạo 3 năm và cấp bằng Kỹ sư thực hành

* HỆ LIÊN THÔNG:

o Bậc Đại học liên thông từ Cao đẳng đào tạo 2 năm cấp bằng Kỹ

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1 Các thành phần của Đào tạo nghề trong hệ thống song hành của CHLB  Đức - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 1.1 Các thành phần của Đào tạo nghề trong hệ thống song hành của CHLB Đức (Trang 13)
Bảng 1.2 : Sơ đồ cấu trúc quá trình đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật ở - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 1.2 Sơ đồ cấu trúc quá trình đào tạo giáo viên và giáo viên kỹ thuật ở (Trang 15)
Bảng 1.3: Phân bố nội dung và thời gian học môn giáo dục học nghề nghiệp và  giáo dục học kinh tế trong đào tạo GVKT ở trường Đại học Hannover, CHLB Đức - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 1.3 Phân bố nội dung và thời gian học môn giáo dục học nghề nghiệp và giáo dục học kinh tế trong đào tạo GVKT ở trường Đại học Hannover, CHLB Đức (Trang 16)
Hình 2.1: Biểu đồ thống kê số lượng GVKT-DN qua điều tra - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Hình 2.1 Biểu đồ thống kê số lượng GVKT-DN qua điều tra (Trang 38)
Hình 2.2: Biểu đồ thống kê chuyên môn và NVSP của  GVKT-DN qua điều tra - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Hình 2.2 Biểu đồ thống kê chuyên môn và NVSP của GVKT-DN qua điều tra (Trang 39)
Bảng 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM (Trang 48)
Bảng 3.2 Sơ đồ tuyển sinh Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.2 Sơ đồ tuyển sinh Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM (Trang 50)
Bảng 3.3 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT tại Việt Nam - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.3 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT tại Việt Nam (Trang 52)
Hình 3.1: Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của  GVKT-DN qua - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Hình 3.1 Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của GVKT-DN qua (Trang 53)
Bảng 3.4 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT trên Thế giới - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.4 Bảng khối lượng NV SPKT của các trường SPKT trên Thế giới (Trang 53)
Hình 3.2: Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của  GVKT-DN qua điều - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Hình 3.2 Biểu đồ thống kê tỉ lệ chương trình đào tạo NVSP của GVKT-DN qua điều (Trang 54)
Bảng 3.7 Chương trình bồi dưỡng NV SPKT Bậc II - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.7 Chương trình bồi dưỡng NV SPKT Bậc II (Trang 59)
Bảng 3.8 Danh sách dự kiến Giáo viên Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM - Xây dựng mô hình khoa sư phạm kỹ thuật trường đại học công nghiệp TP
Bảng 3.8 Danh sách dự kiến Giáo viên Khoa SPKT trường ĐHCN TPHCM (Trang 60)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w