Phần nội dung: Trình bày trong 3 chương, tập trung vào những vấn đề sau: Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học; Phân tích thực trạn
Trang 1Trang v
TÓM TẮT Ngày nay, hòa vào xu thế đổi mới giáo dục để hội nhập, giáo dục nước ta cần phải đổi mới một cách mạnh mẽ và toàn diện Ngoài đổi mới về mục tiêu, chương trình thì đổi mới về phương pháp dạy học là yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM là nơi đào tạo
ra đội ngũ GV và kỹ sư tương lai, đây là đội ngũ có sức ảnh hưởng lớn đến xã hội đến các thế hệ HS nối tiếp thì việc đổi mới phương pháp dạy học cần được quan tâm và ưu tiên thực hiện
Chính vì vậy, người nghiên cứu tiến hành đề tài: Vận dụng Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM là cần thiết, có ý nghĩa và mang tính thực tiễn cho Trường
Luận văn gồm 3 phần, trong đó:
Phần mở đầu: Nêu rõ lý do, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu, giới hạn nội dung và ý nghĩa đóng góp của đề tài
Phần nội dung: Trình bày trong 3 chương, tập trung vào những vấn đề sau: Tìm hiểu cơ sở lý luận về việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học; Phân tích thực trạng của việc dạy học môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM ; Áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM qua quá trình thực nghiệm và sau đó đánh giá kết quả đạt được
Phần kết luận và khuyến nghị: Trình bày những kết quả đạt được của quá trình nghiên cứu như: Hệ thống được cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học; đánh giá được thực trạng dạy học môn Thiết kế trang phục 2; Tổ chức dạy học theo hướng tích cực hoá người học theo trình tự hợp
lý
Trang 2Trang vi
ABSTRACT
Recently, education is becoming increasingly international and the global trend of education has been noticed by many countries and researchers To keep up with the globalized world of education, our nation’s education system must be modified to be more suitable to the global trend of education in term of operation and rules as well as the outcome requirements The innovations must be done not only in the objectives but also the programs Additionally, the modification in teaching methodologies could bring more efficient to teaching quality At the University of Technical Education Ho Chi Minh City, students are educated to become technical trainers or engineers who will play
an important role in the society Consequently, the innovation in teaching methodologies
is vital and need to be prioritized as the most important thing to be done
For the development of the university as well as the faculty, it is essential to conduct a research about new teaching strategies In this thesis, “Applications of student-centred approach methodologies in the Costume Design II course at the University of Technical Education Ho Chi Minh City”, a set of modern teaching methodologies which focus on changing from teacher-centred approach to a student-centred approach are presented The advantages and disadvantages are summarized for each method and the examples are also given
The content of this thesis is divided into three parts as following:
Part 1: Introduction In this part, the motivations, objectives, assumptions and contributions of thesis are presented
Part 2: Content This is the main part of thesis which is divided into three chapters: Background, Literature Review and Applications of Student-Centred Approach Methodologies
Part 3: Conclusions and Recommendations The results of thesis includes the summary of modern teaching methodologies (which are student-centred approach), evaluation of current teaching activities which are applied in Custom Design II course, proposed systematic process to apply modern teaching methodologies, are presented The recommendations are also proposed in this part
Trang 3Trang vii
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Giả thuyết nghiên cứu 3
5 Giới hạn nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Ý nghĩa đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 6
1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ VỀ DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 6
1.1.1 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học trên thế giới 6
1.1.2 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học ở Việt Nam 9
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 11
1.2.1 Phương pháp 11
1.2.2 Phương pháp dạy học (PPDH) 11
1.2.3 Phương pháp dạy học tích cực (PPDHTC) 12
1.2.4 Tính tích cực học tập (TTC) 12
1.2.5 Tích cực hóa (TCH) người học 12
1.2.6 Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học 12
1.3 TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC TRONG DẠY HỌC HIỆN NAY 14
1.3.1 Quan điểm chung về tích cực hóa người học 14
1.3.2 Những dấu hiệu của tính tích cực cá nhân trong học tập 15
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập 15
1.3.4 Các biện pháp tích cực hóa học tập 16
1.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC 20
1.4.1 Đặc trưng của Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học 20
1.4.2 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực 27
1.4.3 Đánh giá PPDH theo hướng TCH người học 30
1.5 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HOÁ NGƯỜI HỌC 32
Trang 4Trang viii
1.5.1 Dạy học bằng phương pháp thảo luận theo nhóm nhỏ 32
1.5.2 Dạy học bằng phương pháp vấn đáp (hay đàm thoại) 34
1.5.3 Dạy học bằng phương pháp giải quyết vấn đề 36
1.5.4 Phương pháp hướng dẫn HS thực hành 38
1.5.5 Các phương pháp dạy thực hành 40
1.6 MỘT SỐ KỸ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC 43
1.6.1 Động não 43
1.6.2 Động não viết 45
1.6.3 Kỹ thuật XYZ 46
1.6.4 Lược đồ tư duy 46
1.7 CƠ SỞ TRIỂN KHAI DẠY HỌC TÍCH CỰC 47
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DẠY VÀ HỌC MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC 2 TẠI TRƯỜNG 51
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM 51
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM 51
2.2 PHÂN TÍCH CHƯƠNG TRÌNH MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC 2 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM 59
2.2.1 Vai trò của môn học 59
2.2.2 Nội dung và thời gian phân phối chương trình 59
2.2.3 Phương pháp dạy học 60
2.2.4 Tổ chức thực hiện môn học 61
2.2.5 Thiết bị phương tiện dạy học 62
2.2.6 Kiểm tra đánh giá 63
2.3 THỰC TRẠNG DẠY HỌC MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC 2 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TPHCM 64
2.3.1 Mục tiêu, đối tượng, phạm vi, cách thức và thời gian khảo sát 64
2.3.2 Thiết kế bộ công cụ và chọn mẫu khảo sát 65
2.3.3 Tiến hành điều tra và xử lý kết quả 66
2.4 NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG CHƯA HỨNG THÚ, TÍCH CỰC VÀ SÁNG TẠO CỦA SINH VIÊN TRONG GIẢNG DẠY MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC 2 81
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC CHO MÔN THIẾT KẾ TRANG PHỤC 2 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT TP.HCM 84
Trang 5Trang ix
3.1 TỔ CHỨC VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH
CỰC HOÁ NGƯỜI HỌC 84
3.1.1 Lựa chọn phương pháp dạy học và phương pháp đánh giá theo hướng tích cực hóa người học 84
3.1.2 Xây dựng bài dạy và bài kiểm tra đánh giá theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 92
3.1.3 Tiến hành giảng dạy 114
3.2 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 115
3.2.1 Mục đích, nội dung, đối tượng dạy thực nghiệm 115
3.2.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 117
3.2.3 Xử lý kết quả sau thực nghiệm 118
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 140
1 KẾT LUẬN 140
2 HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI 141
3 KHUYẾN NGHỊ 142
TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
Trang 6Trang x
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
Bảng 2.1: Kết quả đánh giá về năng lực của GV đang giảng dạy tại
khoa Công nghệ may và Thời trang tại Trường Đại học Sư phạm
Kỹ thuật TP.HCM
66
3 Bảng 2.2: Nhận định của GV về nguyên nhân ảnh hưởng đến kết
4 Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các phương pháp dạy học mà GV đã
hay đang sử dụng trong giảng dạy môn Thiết kế trang phục 2 67
6
Bảng 2.5: Về hình thức tổ chức lớp học của các GV tham gia
giảng dạy tại khoa Công nghệ may và Thời trang Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM hiện nay
71
7
Bảng 2.6: Ý kiến của GV góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng
giáo dục và đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật
TP.HCM
72
8 Bảng 2.7: Nguồn tài liệu học tập môn Thiết kế trang phục 2 74
13 Bảng 2.12: Biểu thị kết quả khảo sát về hình thức kiểm tra đánh
14 Bảng 2.13: Biểu thị kết quả mong muốn của sinh viên về cách
21 Bảng 3.3: Bảng tỷ lệ % nhận xét của GV sau khi dự giờ lớp ĐC và 119
Trang 7Trang xi
TN
22 Bảng 3.4: Biểu thị kết quả khảo sát về mức độ hứng thú học tập
23 Bảng 3.5: Biểu thị kết quả khảo sát về thời gian cần thiết để học
24 Bảng 3.6: Biểu thị kết quả khảo sát về tính tích cực của sinh viên
25 Bảng 3.7: Biểu thị kết quả khảo sát về tính dễ hiểu bài môn thiết
kế trang phục 2 qua việc học với các PPDH đã được áp dụng 126
26
Bảng 3.8: Biểu thị kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về mức độ
tiếp thu kiến thức môn thiết kế trang phục 2 khi được học với các
phương pháp dạy học đã được áp dụng
127
27 Bảng 3.9: Biểu thị kết quả khảo sát ý kiến HV về tính hiệu quả của
việc sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học cho môn TKTP2 128
28
Bảng 3.10: Biểu thị kết quả khảo sát ý kiến sinh viên về tính thích
hợp của việc áp dụng các hình thức kiểm tra đánh giá cho môn
TKTP2
129
29 Bảng 3.11: Thống kê điểm trung bình bài kiểm tra số 1 của lớp
30 Bảng 3.12: Phân phối tần số của lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 1 132
31 Bảng 3.13: Xếp loại kết quả bài kiểm tra số 1 của HS lớp TN và
32 Bảng 3.14: Thống kê điểm trung bình bài kiểm tra số 2 của lớp
33 Bảng 3.15: Phân phối tần số của lớp TN và ĐC bài kiểm tra số 2 135
34 Bảng 3.16: Xếp loại kết quả bài kiểm tra số 2 của HS lớp TN và
Trang 8Trang xii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 2.1: Các cách GV thực hiện để trao đổi, học hỏi kinh
5 Biểu đồ 2.5: Biểu thị hình thức tổ chức lớp học cho môn TKTP2
6
Biểu đồ 2.6: Biểu thị tỉ lệ ý kiến của sinh viên về những yếu tố cần
thay đổi để nâng cao chất lượng dạy học cho môn Thiết kế trang
phục 2
79
16 Biểu đồ 3.1: Biểu thị mức độ hứng thú học tập của sinh viên giữa
17 Biểu đồ 3.2: Biểu thị ý kiến của HV về thời gian cần thiết để học
18 Biểu đồ 3.3: Biểu thị mức độ tích cực của HV khi tham gia học tập
19 Biểu đồ 3.4: Biểu thị tính hiệu quả của việc sử dụng phương tiện,
20 Biểu đồ 3.5: Phân phối tần số bài kiểm tra số 1 của lớp TN và ĐC 132
21 Biểu đồ 3.6: Phân phối tần số bài kiểm tra số 2 của lớp TN và ĐC 135
Trang 9Trang xiii
DANH MỤC PHỤ LỤC
PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DÀNH CHO GV LẦN 1 155 PHỤ LỤC 4: PHIẾU KHẢO SÁT THỰC TRẠNG DÀNH CHO SV LẦN 1 159
Trang 10Trang xiv
CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 11Vì thế, ngành giáo dục cần phải đẩy mạnh đổi mới liên tục cho phù hợp với thực tiễn, điều này giúp cho lực lượng sản xuất không phải tụt hậu về kiến thức khoa học kỹ thuật, kỹ năng nghề nghiệp, phát huy khả năng hợp tác, tư duy sáng tạo, mà cần phải phù hợp với bốn trụ cột giáo dục của UNESCO (1995) đã đề ra: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống với nhau và học để làm người Trong Nghị quyết hội nghị lần II Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
về định hướng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa
và hiện đại hóa trong những năm tới đã nêu: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện với định hướng tự học, tự nghiên cứu của HS, nhất là sinh viên đại học Phát huy mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và mở rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” [11] Chính vì lẽ đó mà việc đổi mới phương pháp dạy học ngày càng cấp bách và cần thiết hơn
Trong “Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010” (được phê duyệt bởi Thủ tướng chính phủ, theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg), ngành giáo dục cũng được yêu cầu: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động
tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển
Trang 122
được năng lực cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của HS, sinh viên trong quá trình học tập, hoạt động tự quản trong nhà trường và tham gia các hoạt động xã hội” Trong chiến lượt này giáo viên không phải là người truyền đạt tri thức cho sinh viên mà chính cá nhân sinh viên phải tích cực trong học tập để tự chiếm lĩnh được tri thức, giáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng cho sinh viên
Từ những mục tiêu to lớn đó để thực hiện tốt thì trong mỗi GV, nhà trường, các sở, ban ngành trong ngành giáo dục cần phải ra sức phấn đấu, nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi nhiều hơn nữa về việc ứng dụng các mô hình dạy học, phương pháp dạy học, phát triển nguồn học liệu trong quá trình giảng dạy… nhằm phát huy tiềm lực sẵn có trong mỗi GV, HS để đáp ứng đúng nhu cầu nhân lực mà xã hội yêu cầu Hơn nữa, là một GV giảng dạy môn Thiết kế trang phục 2 đồng thời cũng là một sinh viên khoa Công nghệ may và Thời trang, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM Do đặc thù của môn học chuyên ngành, nhu cầu nâng cao chất lượng dạy và học của toàn trường, người nghiên cứu thấy rằng, cần phải nghiên cứu, ứng dụng những phương pháp giảng dạy phù hợp với nhu cầu xã hội, mục tiêu, nội dung đào tạo, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy và học của toàn trường
Mặc khác ở trường việc sử dụng hình thức kiểm tra viết - tự luận được phần đông GV sử dụng và sử dụng ở mức độ rất thường xuyên Những hình thức khác như đánh giá qua các báo cáo, làm tiểu luận, nghiên cứu chuyên đề chưa được GV
sử dụng, hầu hết sinh viên vẫn còn rất thụ dộng trong giờ học
Từ những lý do trên “Vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM” là cần thiết, hoàn thành đề tài này sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học cho môn Thiết kế trang phục 2, cũng như góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Việc vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trang 133
2.2 Khách thể nghiên cứu
PPDH theo hướng tích cực hóa người học môn Thiết kế trang phục 2 của GV
và HS tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tổ chức dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống cơ sở lý luận về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học
- Khảo sát thực trạng dạy học môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học
Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
- Tổ chức dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay các GV đã vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học môn Thiết kế trang phục 2 nhưng chưa phát huy tính tự giác, tích cực, tự lực và chưa nâng cao kết quả học tập của sinh viên Vì vậy, nếu áp dụng qui trình vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học như người nghiên cứu đề ra thì phát huy tính tự giác, tích cực, tự lực và nâng cao kết quả học tập của sinh viên
5 Giới hạn nghiên cứu
Thực tế Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM đào tạo môn Thiết kế trang phục 2 cho cả 2 hệ là cao đẳng và đại học với thời lượng chương trình như nhau Trong đề tài này, người nghiên cứu chỉ tiến hành vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho khối lớp ở hệ đại học của khoa Công nghệ may và Thời trang vì có số lượng đông
Mặt khác chương trình môn Thiết kế trang phục 2 gồm 2 phần, trong đó phần 2
là phần trọng tâm của môn học và cấu trúc của các bài trong chương 2 đều giống
Trang 144
nhau (phương pháp đo – nguyên phụ liệu và màu sắc – bảng ni mẫu – phương pháp tính vải – phương pháp thiết kế - cách gia đường may) nên người nghiên cứu chỉ tiến hành vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học cho hai bài: Thiết kế áo sơ mi nam căn bản và Thiết kế quần tây căn bản vì đây là 2 bài căn bản nhất trong môn học này
6 Phương pháp nghiên cứu
Với những nhiệm vụ trên của đề tài người nghiên cứu sử dụng các phương pháp sau:
− Phương pháp tham khảo tài liệu
Thông qua các luận văn đã được công bố, báo chí, sách tham khảo nhằm hệ thống cơ sở lý luận về PPDH theo hướng TCH người học
− Phương pháp điều tra
Thông qua việc lấy ý kiến tham khảo của GV giảng dạy môn Thiết kế trang phục 2, sinh viên đã và đang học môn Thiết kế trang phục 2 để xác định thực trạng dạy và học của GV và sinh viên ở những lớp khác nhau và từ đó vận dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá người học một cách đúng đắn và hiệu quả nhất
− Phương pháp thực nghiệm
Người nghiên cứu lựa chọn và tiến hành áp dụng dạy thực nghiệm với phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, theo dõi và rút ra các kết luận về kết quả của việc áp dụng
− Phương pháp thống kê
Được sử dụng để kiểm nghiệm kết quả khảo sát thực trạng của việc dạy học môn Thiết kế trang phục 2, cũng như kiểm nghiệm kết quả của việc áp dụng phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học sau thực nghiệm
7 Ý nghĩa đóng góp của đề tài
Vận dụng PPDH theo hướng tích cực hóa người học cho môn Thiết kế trang phục 2 tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM thành công sẽ:
- Nâng cao được tính chủ động học tập cho sinh viên trong quá trình học cũng như hình thành được ý thức tích cực chủ động trong công việc sau này
Trang 155
- Nâng cao chất lượng dạy học cho môn Thiết kế trang phục 2, cũng như góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
- Góp phần làm thay đổi quan điểm trong dạy học thụ động để hòa vào xu thế đổi mới phương pháp dạy học trong giai đoạn hiện nay
- Đóng góp được một phần nhỏ tạo sự chuyển biến cho việc mạnh dạn đổi mới phương pháp dạy học từ truyền thống sang hiện đại tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
- Góp phần tạo thêm sự thuận lợi cho việc dạy học các môn có liên quan như: môn Thiết kế trang phục 3, môn Thiết kế trang phục 4 trong chương trình đào tạo của khoa Công nghệ may và Thời trang Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP.HCM
Trang 161.1.1 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học trên thế giới
Phát huy tính tích cực không phải là vấn đề mới Từ thời cổ đại các nhà sư phạm tiền bối như Khổng Tử, Aristot,… đã từng nói đến tầm quan trọng to lớn của việc phát huy tính tích cực, chủ động của SV và đã nói lên nhiều biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức Trong thời Phục Hưng từ thế kỷ 16 cho đến thế kỷ 19 có nhiều tác giả tiêu biểu đề cập đến quan điểm này, cụ thể:
+ J.A.Komenxki (John Amos Comenius, 1592 - 1670) là nhà Tiệp Khắc yêu nước, nhà sư phạm lỗi lạc của thế kỷ 17 đã đưa ra những biện pháp dạy học bắt HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm được bản chất của sự vật và hiện tượng Theo Komenxki: “Giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”
+ J.J.Rousseau (Jean Jacques Rousseau, 1712 - 1778) là một nhà giáo dục lớn của Pháp Ông cũng cho rằng, phải hướng HS tích cực tự dành lấy kiến thức bằng cách tìm hiểu, khám phá và sáng tạo
+ K.D.Ushinsky (Konstantin Dmitrievich Ushinsky, 1824 - 1871), nhà sư phạm dân chủ người Nga, người sáng lập khoa học giáo dục Nga Usinxki nhấn mạnh tầm quan trọng của việc GV điều khiển, dẫn dắt HS tự chiếm lĩnh kiến thức…
Từ thế kỷ 20, quan điểm này được các nhà giáo dục quan tâm rộng rãi trong phạm vi toàn quốc Có thể kể ra các trường phái cơ bản sau:
Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa: Từ sau cách mạng tháng Mười Nga, các nhà giáo dục Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác đã có những đóng góp quan trọng trong việc nghiên cứu quan điểm dạy học phát huy tính tích cực nhận
Trang 17Châu Âu: Từ cuối những năm 1960, Châu Âu bắt đầu cải cách giáo dục mới Các tư tưởng dạy học lấy HS làm trung tâm, phát huy tính tích cực của HS được sử dụng rộng rãi và tiếp tục phát triển trên cơ sở những tri thức khoa học giáo dục hiện đại với những mô hình và thuật ngữ khác nhau Chẳng hạn, Đức không dùng thuật ngữ dạy học lấy HS làm trung tâm mà sử dụng phổ biến thuật ngữ dạy học định hướng HS (dạy học hướng vào HS) với chủ ý thể hiện mô hình hiện đại về quan điểm dạy học này, đồng thời tránh tư tưởng cực đoan quá nhấn mạnh vai trò “trung tâm” của HS trong quá trình dạy học
Khi đề cập đến tích cực hóa người học thì không quên nhắc đến mô hình tích cực hóa người học của Malone-Lapper (1987) và của Keller-Suzuki (1988) Theo Malone - Lapper các yếu tố tích cực bên trong (tích cực đến từ người học, ví dụ như
sở thích cá nhân) mang lại nhiều lợi ích hơn là tích cực bên ngoài (do tác động của bên ngoài như động viên, khen thưởng của thầy….) Malone và Lapper cho rằng có
4 yếu tố làm gia tăng tính tích cực bên trong: sự thử thách, sự tò mò, sự kiểm soát
và khả năng tưởng tượng Chính vì thế ông đã đưa ra những đề nghị để làm tăng tính tích cực nhận thức bên trong:
- Sử dụng các trò chơi
Trang 188
- Sử dụng các hiệu ứng cảm giác để thu hút sự chú ý của người học và làm cho quá trình nhận thức sâu hơn
- Xây dựng các môi trường cho phép người học khám phá
- Dành cho người học nhiều quyền kiểm soát
- Luôn đặt ra các hoàn cảnh để thử thách người học
- Khơi dậy tính tò mò của người học
- Luôn động viên khích lệ người học
Tương tự như vậy, Keller cũng đưa ra 4 thành phần tạo ra sự tích cực: Sự chú
ý (Attention), sự phù hợp (Relevance), sự tự tin (Confidence) và sự thỏa mãn (Sastisfaction) Mô hình Keller còn được gọi là mô hình ARCS Quan điểm chung của Keller cho rằng một nhà thiết kế dạy học trong môi trường multimedia phải biết các biện pháp tích cực hóa người học, biết tổ chức chiến lược dạy học và biết thiết
kế nội dung dạy học [21, 34]
Roger Johnson và David Johnson [31, 34] cho rằng phần nhiều thời gian dạy học dành cho các tương tác HS – GV và HS – tài liệu, còn tương tác HS – HS thì hầu như bị lờ đi Trong một tình huống học hợp tác, sự tương tác được đặc trưng bởi việc khẳng định sự phụ thuộc lẫn nhau về mục đích với trách nhiệm cá nhân Sự phụ thuộc về mục đích đòi hỏi sự chấp nhận của nhóm là họ sẽ cùng bơi hoặc cùng chìm Theo Roger và David Johnson, thông thường ngày nay GV cố tách HS khỏi các HS khác và cho họ làm việc độc lập, khi liên tục dùng các câu như “đừng có nhìn vào bài người khác”, “tôi muốn thấy những gì em làm chứ không phải của người bên cạnh”, hay “tự làm bài đi” Một nghịch lý là đại đa số các nghiên cứu so sánh sự tương tác HS – HS chỉ ra rằng HS học hiệu quả hơn khi họ làm việc hợp tác
Ngoài ra, Roger Johnson và David Johnson cho rằng, có một khác biệt giữa
“chủ trương HS làm việc trong một nhóm” và cấu trúc làm việc hợp tác với một nhóm HS ngồi cùng bàn và làm việc của họ, nhưng tự do nói với những HS khác khi làm việc, không được cấu trúc để là một nhóm hợp tác khi không có sự phụ thuộc tích cực lẫn nhau Tương tự, một nhóm HS được phân công làm một báo cáo
mà chỉ có một HS quan tâm và làm tất cả công việc trong khi những HS khác thì
Trang 199
rong chơi cũng không phải là một nhóm hợp tác Một nhóm hợp tác có một ý thức
về trách nhiệm cá nhân có nghĩa là tất cả HS cần nắm vững kiến thức và cùng góp sức để nhóm thành công
1.1.2 Dạy học theo hướng tích cực hóa người học ở Việt Nam
Ở Việt nam, từ những năm 1960, vấn đề phát huy tính tích cực của HS đã được đặt ra Những khẩu hiệu: “Biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”
đã được các trường sư phạm phổ biến Nhất là sau cuộc cải cách giáo dục lần hai năm 1980, phát huy tính tích cực là một trong những phương hướng cải cách nhằm đào tạo ra những người lao động làm chủ đất nước Vào thời điểm này đã bắt đầu xuất hiện những công trình nghiên cứu về vấn đề cải tiến phương pháp giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Điển hình là đề tài nghiên cứu cấp nhà nước của GS Lê Khánh Bằng về: “Cải tiến phương pháp giảng dạy trong các trường Đại học và Cao đẳng”
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng Sản Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm định hướng cho việc phát triển giáo dục và yêu cầu: “Phát huy tính độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học, sinh viên để nâng cao năng lực tự học, tự hoàn thiện học vấn và tay nghề”
Căn cứ vào Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 02 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn
2006 – 2020 đã ra quyết định đổi mới nội dung, phương pháp và quy trình đào tạo:
“ Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo 3 tiêu chí: trang bị cách học; phát huy tính chủ động của người học; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động dạy và học” Theo nghị quyết thì phải đổi mới toàn diện nhiều mặt nhưng về phương pháp cần đổi mới theo 3 tiêu chí trên để nâng cao chất lượng dạy học đại học ở Việt Nam
Theo thông báo về việc tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp giảng dạy theo công văn số 11686/BGDĐT- GDĐH ngày 23/12/2008 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tổ chức hội thảo đổi mới phương pháp giảng dạy Đại học, Cao đẳng nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, tạo hứng thú, say mê cho người dạy và người học
Trang 2010
Bên cạnh đó còn có những học giả khác cũng có những công trình nghiên cứu, các báo cáo tham luận khoa học liên quan đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hóa người học như:
- PGS TS.Võ Thị Xuân (chủ nhiệm đề tài ) với đề tài cấp Bộ: “ Nghiên cứu,
đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo kỹ năng sư phạm kỹ thuật”, trong
đó tác giả cũng đã mở ra các giải pháp đào tạo kỹ năng sư phạm kỹ thuật theo hướng tích cực hóa HS qua bài tập kỹ năng
- TS Nguyễn Văn Tuấn, với giáo trình phương pháp dạy học chuyên ngành kỹ thuật, trong đó, tác giả đã nêu và phân tích các phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học như: dạy học khám phá, dạy học định hướng hoạt động, dạy học theo dự án, dạy học giải quyết tình huống …
- PGS.TS Đặng Thành Hưng với Vấn đề tích cực hóa và biện pháp tích cực hóa học tập trong sách Dạy học hiện đại Lý luận – Biện pháp – Kỹ thuật, với nội dung về bản chất của tính tích cực, những biện pháp tích cực hóa học tập cho HS Bên cạnh đó ở Trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật, một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học và Lý luận cũng đã tìm hiểu phương pháp dạy học tích cực như:
- Nguyễn Thị Uyên trong đề tài: “Cải tiến phương pháp dạy học môn khí cụ điện tại trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Cao Thắng theo hướng tích cực hóa người học” năm 2009 Người nghiên cứu đã cho thấy thông qua việc thực nghiệm đã đạt kết quả cao về mức độ hứng thú và học tập Vì thế, chứng tỏ việc vận dụng tổ chức các hoạt động dạy học trong việc cải tiến các PPDH môn khí cụ điện góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả môn học
- Nguyễn Thị Minh Trang trong đề tài: “Cải tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học trong giảng dạy môn nghề Tin học văn phòng tại Trung tâm Giáo dục thường xuyên – Kỹ thuật Hướng nghiệp Dĩ A, tỉnh Bình Dương” năm 2011 Người nghiên cứu đã triển khai các PPDH truyền thống kết hợp với sử dụng các PPDH tích cực hóa người học cho từng bài, từng chủ đề của môn học cùng với sự hỗ trợ của phương tiện dạy học nhằm phát huy tối đa ưu điểm, hạn
Trang 21là trọng tâm của quá trình dạy và học, GV đóng vai trò là người tổ chức và hướng dẫn; Phương tiện dạy học được sử dụng hiệu quả hơn; Cách kiểm tra đánh giá cũng được vận dụng thích hợp và linh hoạt SV được tham gia vào việc nhận xét đánh giá cùng với GV; Cuối cùng là những ý kiến từ phía SV, chính SV cho rằng khi được học theo PPDH mới, SV nhận thấy được làm việc nhiều hơn, có mục đích, có động
cơ học tập và hiệu quả học tập đạt được cũng cao hơn
- Và còn rất nhiều công trình nghiên cứu, cũng như các tài liệu liên quan về đổi mới PPDH phát huy TTC của người học, mà người nghiên cứu không thể nào khái quát hết Tuy nhiên, qua đó chúng ta cũng thấy được mức độ ảnh hưởng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng đã có những tác động mạnh mẽ đến quá trình dạy học như thế nào, đó là sự ảnh hưởng lan tỏa từ các nhà nghiên cứu, đến các cấp, các ngành và đến tận mỗi
GV, người trực tiếp thực hiện quá trình dạy học
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM
1.2.1 Phương pháp
Thuật ngữ “phương pháp” có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp “Methodos” có nghĩa là “con đường dõi theo sau một đối tượng” Hay nói một cách khác PP là hệ thống các nguyên tắc, những yêu cầu mà con người phải thực hiện trong khi vươn tới mục đích của mình Vì vậy, PP có nghĩa là con đường, là cách thức để đạt được những mục tiêu nhất định
1.2.2 Phương pháp dạy học (PPDH)
PPDH là khái niệm cơ bản của lý luận dạy học, một “công cụ” quan trọng hàng đầu của quá trình dạy học Đây là một khái niệm rất phức hợp, có nhiều bình
Trang 2212
diện, phương diện khác nhau mà từ hàng trăm năm nay người ta đã bàn đến nhưng vẫn chưa thống nhất được trong cách định nghĩa, phân loại cũng như về mô hình cấu trúc của nó Trong những nghiên cứu gần đây về dạy học, lý thuyết kiến tạo được đặc biệt chú trọng, trong đó có việc tạo môi trường học tập thích hợp với từng đối tượng Mặt khác định hướng chung của việc đổi mới giáo dục là chú trọng việc hình thành năng lực cho HS Theo đó, có thể hiểu: PPDH là những hình thức và cách thức hoạt động của GV và HS trong những môi trường dạy học được chuẩn bị, nhằm đạt được mục tiêu dạy học, phát triển các năng lực của cá nhân [20,6]
TTC trong học tập, về thực chất là TTC nhận thức, đặc trưng ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí lực và có nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh tri thức Tích cực hóa hoạt động học tập của HS là việc thực hiện một loạt các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả quá trình học tập [7,190]
1.2.5 Tích cực hóa (TCH) người học
TCH là tác động để làm cho một cá nhân nào đó trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, thể hiện những hoạt tính của họ nhiều và cao hơn so với trạng thái trước đây Trong lý luận dạy học, TCH được sử dụng theo nghĩa làm cho quá trình học tập và nghiên cứu của người học tích cực đến mức tối đa so với tiềm năng và bản chất vốn có của họ, so với những điều kiện và cơ hội thực tế mà mỗi người có được [7,191]
1.2.6 Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học
Hiện nay có nhiều tài liệu nói về PPDH theo hướng tích cực hóa người học, Tuy nhiên mỗi tác giả có một cách diễn đạt vấn đề theo cách riêng PPDH theo
Trang 2313
hướng tích cực hóa người học được hiểu:
- Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến: Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, được dùng ở nhiều nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học [13]
- Theo GS.TSKH Thái Duy Tuyên: tích cực hóa học tập là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động,
từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập[24]
- Theo TS Lê Văn Hảo, tác giả nêu lên ý kiến cho rằng: Phương pháp giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội đủ các yếu tố sau đây [4,27]:
Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có;
Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học;
Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động;
Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác trong quá trình học;
Thể hiện được kết quả mong đợi của người học
Từ những quan điểm trên, người nghiên cứu có thể khái quát chung lại về Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học như sau: Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học là phương pháp dạy học mà ở đó GV phải tạo được các hoạt động dạy học làm cho người học tích cực hơn, năng động hơn và tạo cơ hội cho người học phát huy sự sáng tạo của mình như: phải đa dạng các hình thức học (làm cho người học biết cách tự nghiên cứu tài liệu, tự đúc kết những kết quả học tập, biết thảo luận, giải thích, trình bày, biết bảo vệ ý kiến, biết cách chia sẻ và cách chấp nhận ý kiến của người khác )
Muốn làm được như vậy, thì GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, mà GV trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập cho HS GV phải đầu tư công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy
và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận sôi nổi của HS Về phía HS, phải thể hiện vai trò hoạt động là chính trên lớp học;
Trang 2414
thể hiện sự chủ động, tích cực, sáng tạo trong các hoạt động thông qua sự hướng dẫn của GV để chiếm lĩnh tri thức và kỹ năng
1.3 TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC TRONG DẠY HỌC HIỆN NAY
1.3.1 Quan điểm chung về tích cực hóa người học
Về ngữ nghĩa, tích cực hóa (TCH) là tác động để làm cho ai đó, sự vật nào
đó trở nên năng động hơn, linh hoạt hơn, thể hiện hoạt tính của chúng nhiều hơn so với trạng thái của chúng trước đây Trong lý luận dạy học, TCH được sử dụng theo nghĩa làm cho tích cực hơn so với thụ động, trì trệ, nhu nhược (Active so với Passive), hoàn toàn không liên quan đến việc đánh giá đạo đức, hành vi xã hội (tốt
và xấu) [7,190]
Tích cực hóa người học là đề cao chủ thể nhận thức, chính là phát huy tính
tự giác, chủ động của người học Tích cực là một nét quan trọng của tính cách, theo Kharlanôp: "Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác, có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những hành động trí óc và tay chân nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn."[16] Như vậy tích cực là một đức tính quý báu rất cần thiết cho mọi quá trình nhận thức, là nhân tố quan trọng tạo nên hiệu quả dạy học Vấn đề TCH còn được giải thích từ nhiều lập trường khác nhau, được bàn đến bằng những thuật ngữ khác nhau như:
- Tích cực hóa quá trình dạy học
- Tích cực hóa quá trình nhận thức của HS
- Phát huy tính tích cực nhận thức của HS
- Nâng cao tính tích cực, tự giác chủ động của HS
- Tích cực hóa hoạt động học tập của HS
- Hoạt động hóa người học và quá trình học tập
- Phát huy tính năng động, sáng tạo của người học Mặc dù có nhiều quan niệm về tích cực hóa, nhưng có thể hiểu chung về TCH trong dạy học là người học sống và làm việc đến mức tích cực tối đa so với tìm năng và bản chất vốn có của mỗi người, so với những điều kiện và cơ hội thực
tế mà mỗi người có được Điều đó hàm nghĩa rộng hơn và đúng hơn việc quy TCH
Trang 2515
chỉ vào lĩnh vực nhận thức, hăng hái phát biểu, chịu khó suy nghĩ của người học;
nó cũng chính xác hơn việc tìm hiểu TCH một cách chung chung là TCH dạy học, TCH quá trình dạy học
1.3.2 Những dấu hiệu của tính tích cực cá nhân trong học tập
Việc nhận biết HS có tích cực trong học tập hay không là một vấn đề rất quan trọng góp phần cho GV biết cách điều chỉnh hoạt động dạy và học cho phù hợp
Trong quá trình dạy học, GV muốn phát hiện được HS có tính tích cực học tập hay không, cần dựa vào những dấu hiệu sau đây của HS để nhận biết:
o Có chú ý học tập không?
o Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức hoạt động học tập hay không?
o Có hoàn thành những nhiệm vụ đợc giao không?
o Có ghi nhớ tốt những điều đã được học không?
o Có hiểu bài học không?
o Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không?
o Có vận dụng được các kiến thức đã học vào thực tiễn không?
o Tốc độ học tập có nhanh không?
o Có hứng thú trong học tập hay chỉ vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
o Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
o Có sáng tạo trong học tập không?
Việc phát hiện ra những dấu hiệu về việc HS có thể hiện tính tích cực trong học tập hay không, sẽ giúp GV lựa chọn các biện pháp thích hợp trong việc tổ chức quá trình dạy học Hơn nữa, khi thấy những dấu hiệu không tích cực từ phía HS,
GV sẽ nhanh chóng chuyển hướng cách thực hiện hoặc điều chỉnh lại kịp thời cách dạy để thay đổi thái độ học tập của sinh viên theo chiều hướng tốt hơn Để phát hiện được những dấu hiệu trên, GV phải rất thường xuyên quan tâm đến lớp học, quản lý lớp tốt, theo dõi từng hoạt động của HS, nên trách nhiệm của người GV trong dạy học theo hướng tích cực hóa người học rất nặng nề, không đơn giản là chỉ dạy và kiểm tra là hết trách nhiệm
1.3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực trong học tập
Trang 2616
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tính tích cực học tập của HS, nó tác động hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp làm cho người học có tích cực hay không trong quá trình học tập
Qua phân tích của các nhà nghiên cứu về giáo dục, điển hình như qua sự phân tích của GS TSKH Thái Duy Tuyên thì tính tích cực học tập phụ thuộc vào những nhân tố sau đây:
1.3.3.1 Về bản thân HS:
- Đặc điểm hoạt động trí tuệ (tái hiện, sáng tạo )
- Năng lực (hệ thống tri thức, kĩ năng, kinh nghiệm hoạt động sáng tạo, sự trải nghiệm cuộc sống )
- Tình trạng sức khỏe
- Trạng thái tâm lí (hứng thú, xúc cảm, chú ý, nhu cầu, động cơ, ý chí )
- Tâm lý lứa tuổi
- Điều kiện vật chất, tinh thần (thời gian, tiền của, không khí đạo đức)
Để có thể hiểu rõ hơn về biện pháp cũng như về phương pháp, và có thêm
cơ sở để định hướng cho việc lựa chọn những phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học ở những phần sau của đề tài, người nghiên cứu xin được trình bày về sự phân biệt giữa biệp pháp và phương pháp: [7,205]
Sự khác nhau giữa phương pháp và biện pháp thể hiện ở các đặc điểm sau:
Trang 2717
- Phương pháp có bản chất khoa học và khách quan hơn biện pháp, còn biện pháp có tính kinh nghiệm và chủ quan hơn phương pháp
- Phương pháp là cái chung, biện pháp là cái riêng
Sự phân biệt phương pháp và biện pháp chỉ là tương đối vì xét đến cùng chúng có chung nguồn gốc Các phương pháp nói chung là kết quả tổng kết những kinh nghiệm giáo dục, những nguyên tắc, những yếu tố trong vô vàn những biện pháp khác nhau từ xưa đến nay của nhiều thế hệ Các biện pháp tuy do GV sáng tạo
ra dựa vào nhiều kinh nghiệm của cá nhân và nhiều người, song chúng đều phải bắt đầu từ ý thức về phương pháp dạy học, bởi vì trong kinh nghiệm sư phạm luôn có các yếu tố lý luận và khoa học về phương pháp Đó là một điểm xuất phát quan trọng của những sáng kiến về biện pháp dạy học của GV
Có nhiều biện pháp để tích cực hóa người học, sau đây là hai trong số những quan điểm của các nhà nghiên cứu giáo dục về các biện pháp tích cực hóa người học:
Quan điểm thứ nhất - quan điểm của PGS.TS Đặng Thành Hưng: có những biện pháp chung và những biện pháp cụ thể để tích cực hóa người học như sau: [7, 211]
* Những biện pháp chung để tích cực hóa người học:
- Cá nhân hóa dạy học: GV phân chia các nhiệm vụ học tập ra và chuyển giao cho HS bằng những con đường phù hợp với trình độ của mỗi cá nhân nhất
- Phân hóa dạy học: GV phân hóa nội dung ra thành từng phần nhỏ, phần nào GV giảng, phần nào HS tự nghiên cứu, phần nào dành cho thảo luận nhóm HS
sẽ lần lược giải quyết từng phần mà không cảm thấy nặng nề quá tải, HS sinh sẽ cảm thấy thích thú vì nghĩ rằng mình đã hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Tích hợp dạy học: GV kết hợp một số nội dung môn học, bài học lại thành một hệ thống mới để giảm nhẹ tính cồng kềnh, giàn trải của chương trình Có nhiều cách tích hợp: tích hợp nội dụng, tích hợp chương trình, tích hợp phương pháp đáp ứng tốt khả năng hành nghề của người học nhất
* Những biện pháp cụ thể để tích cực hóa người học:
- Phân hóa dạy học vi mô: tức là thực hiện cách tiếp cận riêng biệt trên lớp
để tăng hiệu quả học nhóm và các nhân GV đặt ra yêu cầu riêng cho từng nhóm
Trang 28- Tổ chức các quan hệ và môi trường học tập đa dạng, giàu cảm xúc tích cực: đó là đa dạng hóa môi trường học tập hay các hình thức tổ chức dạy học Mỗi bài học hay chủ đề học tập cần được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tránh nhàm chán, hạn chế sự đơn điệu trong quá trình hoạt động của người học
- Sử dụng các phương pháp luận dạy học thích hợp với người học, mục tiêu
và nội dung học tập: đây là lĩnh vực phong phú nhất của các biện pháp tích cực hóa học tập Ngày nay, những phương pháp luận được đánh giá cao về khả năng tích cực hóa bao gồm: Dạy học phát triển; Dạy học giải quyết vấn đề; Dạy học hợp tác Những phương pháp này mở ra khả năng xác định và lựa chọn các mô hình kỹ thuật của những phương pháp dạy học cụ thể, chẳng hạn mô hình thảo luận, động não, tìm tòi thực nghiệm, làm mẫu, tái tạo
- Tổ chức và khuyến khích các hoạt động thực hành, thực nghiệm, ứng dụng tri thức của HS trong học tập: biện pháp này có tác dụng củng cố, hoàn thiện kết quả học tập bằng việc làm và kiểm nghiệm thực tiễn, giúp HS trải nghiệm thành công sâu sắc hơn
- Huy động và sử dụng kinh nghiệm sống và kinh nghiệm học tập của người học trong quá trình học tập
Trang 2919
nâng cao TTC nhận thức của HS trong giờ lên lớp có thể tóm tắt như sau [24]:
- Nội dung DH phải mới, nhưng không qúa xa lạ với HS mà cái mới phải liên
hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tương lai Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, suy nghĩ hàng ngày, thỏa mãn nhu cầu nhận thức của HS
- Phải dùng các PP đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so sánh, tổ chức thảo luận, semina và phối hợp chúng với nhau
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn với nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột, bất ngờ
- Sử dụng các phương tiện DH hiện đại
- Sử dụng các hình thức tổ chức DH khác nhau: cá nhân, nhóm, tập thể, tham quan, làm việc trong vườn trường, phòng thí nghiệm
- Luyện tập, vận dụng kiến thức vào thực tiễn trong các tình huống mới
- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức
- Kích thích TTC qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS
- Phát triển kinh nghiệm sống của HS trong học tập qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học nói chung và biểu dương những HS có thành tích học tập tốt
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội
Từ các quan điểm trên của các nhà giáo dục, người nghiên cứu khái quát chung lại về các biện pháp tích cực hóa HS như sau:
Đối với GV: Thay đổi về cách dạy, đa dạng các phương pháp dạy học, tạo hứng thú cho HS khi tham gia vào quá trình dạy học Cố gắng tìm hiểu HS ở nhiều mặt để có phương pháp dạy học thích hợp Thay đổi cách đánh giá như đa dạng các hình thức kiểm tra đánh giá tạo điều kiện cho HS có nhiều cách thể hiện sự hiểu biết, phát huy được thế mạnh của mình thì HS sẽ cảm thấy hứng thú và tích cực hơn trong học tập
Đối với nhà trường: Thay đổi chương trình đào tạo sao cho đáp ứng đúng nhu
Trang 3020
cầu của người học Khi nhu cầu học tập được đáp ứng đúng thì người học sẽ ham học hơn và khi đó, tự nhiên tính tích cực học tập sẽ tăng lên; về chính sách cũng nên có những chính sách hỗ trợ kịp thời để khuyến khích sinh viên hăng say học tập Bên cạnh đó nhà trường đầu tư cơ sở hạ tầng, phương tiện, thiết bị dạy học để tạo nên sự tích cực trong học tập cho HS
1.4 PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG TÍCH CỰC HÓA NGƯỜI HỌC
1.4.1 Đặc trưng của Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học Mỗi phương pháp dạy học đều có những đặc trưng riêng để phân biệt với các phương pháp khác Phương pháp dạy học tích cực cũng vậy, có những đặc trưng nổi bậc để nhận biết như:
Theo PGS.TS Vũ Hồng Tiến [13], Phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học có những đặc trưng cơ bản sau:
* Đặc trưng thứ nhất: Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh
Trong phương pháp dạy học tích cực, người học - đối tượng của hoạt động
"dạy", đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được GV sắp đặt Được đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức,
kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo
* Đặc trưng thứ hai: Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh
Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho HS không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho
Trang 3121
họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong trường phổ thông, không chỉ
tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV
* Đặc trưng thứ ba: Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của HS không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu
và khả năng của mỗi HS
Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều được hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giao tiếp thầy - trò, trò - trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân được bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của người thầy giáo
Trong nhà trường, phương pháp học tập hợp tác được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp hoặc trường Được sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tượng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên được bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tương trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đưa vào đời sống học đường sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội
* Đặc trưng thứ tư: Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
Trang 3222
Trong dạy học, việc đánh giá HS không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy
Trước đây GV giữ độc quyền đánh giá HS Trong phương pháp tích cực, GV phải hướng dẫn HS phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, GV cần tạo điều kiện thuận lợi để HS được tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho
sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trường phải trang bị cho HS
* Những đặc trưng về phương pháp dạy học tích cực theo các cách tiếp cận khác
Tuy nhiên, khi tìm hiểu về phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học ở nhiều tài liệu khác, cũng như việc tham khảo thông tin trên các mạng giáo dục, các đề tài nghiên cứu về PPDH tích cực Người nghiên cứu bổ sung thêm những đặc trưng đáng chú ý khác của PPDH theo hướng tích cựa hóa người học như sau:
- Đặc trưng về mục tiêu dạy học
Trong dạy học theo hướng tích cực hóa người học, đặc trưng của mục tiêu dạy học đặt ra là chuẩn bị cho HS sớm có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, tôn trọng nhu cầu, lợi ích, hứng thú và khả năng của HS Đây là đặc trưng khác biệt cơ bản nhất so với quan điểm dạy học truyền thống
- Đặc trưng về vai trò và vị trí của người dạy và người học
Trong dạy học theo hướng tích cực hóa người học, GV rời bỏ vị trí trung tâm,
và chỉ giữ vai trò là người đề xướng, gợi mở, hướng dẫn, là người cố vấn, người trọng tài trong mọi hoạt động nhận thức của người học, là người động viên khuyến khích HS phấn đấu bằng tất cả sức mạnh trí tuệ và thể lực để lần lượt vượt qua các yêu cầu của nhiệm vụ học tập đã được định trước Vì vậy, GV phải có trình độ chuyên môn vừa sâu, vừa rộng, vừa có kinh nghiệm thực tế, có đầu óc sáng tạo hay nhạy cảm, biết cách xử lý tình huống một cách tinh tế Có trình độ sư phạm, có tri thức về tổ chức và quản lý quá trình học tập
Sinh viên giữ vai trò chủ thể trong hoạt động dạy học, được định hướng tự
Trang 3323
khám phá những điều chưa rõ, từ đó có được kiến thức và kỹ năng, biết được phương pháp tìm ra kiến thức, không rập khuôn theo những gì có sẵn, lại được phát huy tìm năng sáng tạo
- Đặc trưng về hình thức tổ chức lớp học
Trong dạy học theo hướng tích cực hóa người học, hình thức tổ chức lớp học cũng rất linh hoạt: trong phòng học, học ngoài trời hay một địa điểm tham quan Tại những nơi đó, HS cùng thảo luận, tranh luận về một vấn đề học tập do GV đưa
ra hoặc thậm chí là một vấn đề do HS đề xuất
- Đặc trưng về phân bố thời gian cho hoạt động của thầy và trò
Trước đây hoạt động của người GV khi lên lớp chiếm khoảng 90% đến 100% thời gian của buổi học Nhưng hiện nay, theo quan điểm dạy học theo hướng tích cực hóa người học, thời gian trong một buổi lên lớp được phân bố từ 3/7 đến 5/5 (tổng thời gian cho các hoạt động của thầy khoảng 3 phần thời gian, tổng thời gian cho các hoạt động của trò khoảng 7 phần thời gian của lớp học, hoặc 5 – 5)
- Đặc trưng về cách đánh giá
Có sự kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Việc đánh giá không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của HS mà còn tạo điều kiện để nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của GV HS được tạo điều kiện tham gia đánh giá không chỉ đánh giá sản phẩm cuối cùng mà còn đánh giá cả quá trình làm việc, cách tổ chức và giải quyết vấn đề, đánh giá tinh thần, thái độ làm việc của mình và của bạn Thông qua đó HS được phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học của mình Điều này có ích cho cả trong công việc và cuộc sống sau này
So sánh những đặc trưng cơ bản của phương pháp dạy học truyền thống và phương pháp dạy học tích cực [23,75]
Có nhiều hình thức so sánh giữa phương pháp dạy học theo hướng tích cực
và phương pháp dạy học theo hướng truyền thống nhằm mục đích là để làm nổi bậc những ưu điểm của phương pháp dạy học theo hướng tích cực mang lại cho người học, để từ đó người GV có thêm cơ sở cho việc mạnh dạng đổi mới phương pháp giảng dạy sao cho phù hợp với xu thế của giáo dục hiện đại
Trang 34Trò học thuộc lòng Cùng với thầy khẳng định kiến thức lĩnh
hội được hình thành các phương pháp học,
tư duy và giải quyết các vấn đề cụ thể
Thầy độc quyền đánh giá cho
điểm
Tự đánh giá, tự điều chỉnh để thầy cho điểm
Sự khác nhau căn bản của 2 quan điểm dạy học dẫn đến sự khác nhau trong việc xác định các phương pháp cụ thể cho từng môn học, bài học, từng phần, từng đối tượng HS
Bất cứ một quá trình dạy học nào cũng bao gồm các thành tố cơ bản như: mục tiêu dạy học; nội dung dạy học; phương pháp dạy học; phương tiện dạy học; kiểm tra, đánh giá kết quả của quá trình dạy học; GV; HS Các yếu tố này có quan hệ phụ thuộc và tác động tương hỗ nhau Song việc vận dụng phương pháp dạy học cần được xem xét ở tất cả các yếu tố của quá trình dạy học
Bảng 1.1 So sánh giữa hai mô hình của dạy và học [2, 79]
DẠY HỌC TRUYỀN THỐNG
(GV làm trung tâm)
DẠY HỌC TÍCH CỰC (Định hướng HS) Mục tiêu dạy học
Trang 3525
- Đào tạo trẻ em thành người lớn
thông qua những người lớn tuổi
hơn, những người hiểu biết, những
hình mẫu Lý luận dạy học
(LLDH) ở đây thiên về mệnh lệnh
và uy quyền
- Tạo ra các chương trình đào tạo phù hợp với chủ thể, nhằm hình thành các năng lực chuyên môn, năng lực
xã hội và cá thể, khả năng hành động LLDH chú trọng phát triển năng lực tự chủ, khả năng giao tiếp Nội dung dạy học
- Nội dung học tập là hệ thống tri
thức được cấu trúc và khép kín
- Người học cần thực hiện các tiêu
chuẩn chất lượng đã được quy
định có tính pháp lí
- Lĩnh hội các tri thức lí thuyết, về
cơ bản được giới hạn trong tri thức
chuyên môn
- Tri thức không khép kín, phụ thuộc vào cá nhân và môi trường xã hội trong học tập
- Mục đích là làm người học suy nghĩ
và hành động như nhà chuyên môn
- Tri thức được cấu tạo từ các tình huống học tập phức hợp, tri thức lí thuyết gắn với thực tiễn và kinh nghiệm
Phương pháp dạy học
- Dạy học thông báo chiếm ưu thế,
trong đó bao gồm định hướng mục
đích học tập và kiểm tra
- Các phương pháp nặng về định
hướng hiệu quả truyền đạt
- Giờ học là sự phối hợp hành động của người dạy và học trong việc lập
kế hoạch, thực hiện, và đánh giá
- Dạy học theo hướng giải quyết vấn
đề, định hướng hành động chiếm ưu thế
Người học
- Người học có vai trò bị động, do
bên ngoài điều khiển và kiểm tra
- Người học có vai trò tích cực và tự điều khiển
Người dạy
- Người dạy trình bày và giải thích
nội dung mới cũng như chỉ đạo và
kiểm tra các bước học tập
- Người dạy có nhiệm vụ đưa ra các tình huống có vấn đề và chỉ dẫn các
“công cụ” để giải quyết vấn đề GV
Trang 36Quá trình dạy
- Quá trình dạy là quá trình chuyển
tải tri thức từ người dạy sang
người học Cuối quá trình người
học lĩnh hội nội dung học tập theo
phương thức đã được lập kế hoạch
và xác định trước Quá trình dạy
có thể lặp lại
- Việc dạy được tiến hành với ý nghĩa gợi ý, hỗ trợ và tư vấn cho người học Tính lặp lại các phương pháp dạy đã sử dụng bị hạn chế
Đánh giá
- Kết quả học tập được đo và dự báo
với nhiều phương pháp khác nhau
Dạy học và đánh giá là hai thành
phần khác nhau của quá trình dạy
Từ những khía cạnh so sánh trên, ta có thể nhận thấy:
Vai trò của người thầy trong quá trình dạy học theo quan điểm tích cực hóa người học không thể bị mờ nhạt mà trái lại còn rõ nét hơn Người thầy vẫn là linh
Trang 37Một vấn đề quan trọng là, nhiều GV nhận thức được sự cần thiết phải đổi mới phương pháp nhưng rất khó từ bỏ các phương pháp đã quen dùng Do đó, muốn thực hiện đổi mới phương pháp dạy học thì trước hết bản thân mổi GV phải
ý thức được việc chủ động từ bỏ các phương pháp dạy học truyền thống đã thành thói quen và chuyển hẳn sang các phương pháp mới
1.4.2 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực
Để áp dụng được phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa người học, phải có những điều kiện nhất định để đảm bảo thực hiện được như sau [13]:
- Về GV: Phải được đào tạo chu đáo để thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục GV vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, có trình độ sư phạm lành nghề, biết ứng sử tinh tế, biết sử dụng các công nghệ tin vào dạy học, biết định hướng phát triển của HS theo mục tiêu giáo dục nhưng cũng đảm bảo được sự tự do của HS trong hoạt động nhận thức
- Về HS: Dưới sự chỉ đạo của GV, HS phải dần dần có được những phẩm chất và năng lực thích ứng với phương pháp dạy học tích cực như: giác ngộ mục đích học tập, tự giác trong học tập, có ý thức trách nhiệm về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp, biết tự học và tranh thủ học ở mọi nơi, mọi lúc, bằng mọi cách, phát triển các loại hình tư duy biện chứng, lôgíc, hình tượng, tư duy
kĩ thuật, tư duy kinh tế…
- Về chương trình và sách giáo khoa: Phải giảm bớt khối lượng kiến thức nhồi nhét, tạo điều kiện cho thầy trò tổ chức những hoạt động học tập tích cực; giảm bớt những thông tin buộc HS phải thừa nhận và ghi nhớ máy móc, tăng cường các
Trang 3828
bài toán nhận thức để HS tập giải; giảm bớt những câu hỏi tái hiện, tăng cường loại câu hỏi phát triển trí thông minh; giảm bớt những kết luận áp đặt, tăng cường những gợi ý để HS tự nghiên cứu phát triển bài học
- Về thiết bị dạy học: Thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếu được cho việc triển khai chương trình, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của
HS Đáp ứng yêu cầu này phương tiện thiết bị dạy học phải tạo điều kiện thuận lợi cho HS thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm
Cơ sở vật chất của nhà trường cũng cần hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học được thay đổi dễ dàng, linh hoạt, phù hợp với dạy học cá thể, dạy học hợp tác Trong quá trình biên soạn sách giáo khoa, sách GV, các tác giả đã chú ý lựa chọn danh mục thiết bị và chuẩn bị các thiết bị dạy học theo một số yêu cầu để có thể phát huy vai trò của thiết bị dạy học Những yêu cầu này rất cần được các cán
bộ chỉ đạo quản lý quán triệt và triển khai trong phạm vi mình phụ trách Cụ thể như sau:
Đảm bảo tính đồng bộ, hệ thống, thực tế và đạt chất lượng cao, tạo điều kiện đẩy mạnh hoạt động của HS trên cơ sở tự giác, tự khám phá kiến thức thông qua hoạt động thực hành, thâm nhập thực tế trong qúa trình học tập
Đảm bảo để nhà trường có thể đạt được thiết bị dạy học ở mức tối thiểu, đó
là những thiết bị thực sự cần thiết không thể thiếu được Các nhà thiết kế và sản xuất thiết bị dạy học sẽ quan tâm để có giá thành hợp lí với chất lượng đảm bảo
Chú trọng thiết bị thực hành giúp HS tự tiến hành các bài thực hành thí nghiệm Những thiết bị đơn giản có thể được GV, HS tự làm góp phần làm phong phú thêm thiết bị dạy học của nhà trường Công việc này rất cần được quan tâm và chỉ đạo của lãnh đạo trường, sở
Đối với những thiết bị dạy học đắt tiền sẽ được sử dụng chung Nhà trường cần lưu ý tới các hướng dẫn sử dụng, bảo quản và căn cứ vào điều kiện cụ thể của trường đề ra các quy định để thiết bị được GV, HS sử dụng tối đa
Cần tính tới việc thiết kế đối với trường mới và bổ sung đối với trường cũ
Trang 3929
phòng học bộ môn, phòng học đa năng và kho chứa thiết bị bên cạnh các phòng học bộ môn
- Về kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS:
Đánh giá là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong qúa trình giáo dục Đánh giá thường nằm ở giai đoạn cuối cùng của một giai đoạn giáo dục và sẽ trở thành khởi điểm của một giai đoạn giáo dục tiếp theo với yêu cầu cao hơn, chất lượng mới hơn trong cả một qúa trình giáo dục
Việc kiểm tra, đánh giá sẽ hướng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chương và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp Các câu hỏi bài tập
sẽ đo được mức độ thực hiện các mục tiêu được xác định
Yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của HS,
bộ công cụ đánh giá sẽ được bổ sung các hình thức đánh giá khác như đưa thêm dạng câu hỏi, bài tập trắc nghiệm; chú ý hơn tới đánh giá cả qúa trình lĩnh hội tri thức của HS, quan tâm tới mức độ hoạt động tích cực, chủ động của HS trong từng tiết học, kể cả ở tiết tiếp thu tri thức mới lẫn tiết thực hành, thí nghiệm Điều này đòi hỏi GV đầu tư nhiều công sức hơn cũng như công tâm hơn Lãnh đạo nhà trường cần quan tâm và giám sát hoạt động này
- Về trách nhiệm quản lý:
Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trực tiếp về việc đổi mới phương pháp dạy học ở trường mình, đặt vấn đề này ở tầm quan trọng đúng mức trong sự phối hợp các hoạt động toàn diện của nhà trường Hiệu trưởng cần trân trọng, ủng hộ, khuyến khích mỗi sáng kiến, cải tiến dù nhỏ của GV, đồng thời cũng cần biết hướng dẫn, giúp đỡ GV vận dụng các phương pháp dạy học tích cực thích hợp với môn học, đặc điểm HS, điều kiện dạy và học ở địa phương, làm cho phong trào đổi mới phương pháp dạy học ngày càng rộng rãi, thường xuyên và có hiệu quả hơn Qua phân tích những điều kiện trên, có thể nói điều kiện Về GV là quan trọng nhất, vì GV là người chủ động điều khiển các hoạt động dạy học thông qua việc tìm tòi và sáng tạo trong việc sử dụng các phương pháp dạy học cũng như kiểm tra đánh giá, linh hoạt trong việc sử dụng các phương tiện dạy học Vì cho dù
có người học sẵn sàng thích ứng, có giáo trình tốt, có phương tiện hiện đại nhưng
Trang 4030
bản thân GV không chủ động để thích ứng với những thay đổi về chức năng, nhiệm
vụ rất đa dạng và phức tạp của mình, chưa nhiệt tình với công cuộc đổi mới giáo dục thì cũng khó có thể thực hiện được việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tích cực hóa người học
1.4.3 Đánh giá PPDH theo hướng TCH người học
Việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên đối với mỗi học phần cần phải đáp ứng được 2 mục tiêu, đó là đo lường kết quả học tập của sinh viên để phân loại học tập và giúp sinh viên học tốt hơn Muốn vậy, công tác ra đề kiểm tra, đề thi và thang điểm phải được đầu tư tốt, cụ thể:
- Khi ra đề, trước hết cần phải dựa vào chuẩn đầu ra đã xây dựng
- Nên hạn chế việc kiểm tra trí nhớ đơn thuần, theo kiểu học thuộc lòng mà không hiểu bản chất vấn đề
- Cần chú trọng kỹ năng tổng hợp, phân tích và thực hành của sinh viên Chẳng hạn, đối với phần bài tập, đề thi (môn học đang giảng dạy) được ra theo số báo danh trong phòng thi của sinh viên, như vậy, mỗi sinh viên sẽ có một đáp án khác nhau Cách ra đề này đã hạn chế được việc copy của sinh viên và đòi hỏi sinh viên phải học, phải làm bài tập thì mới biết cách làm bài kiểm tra và bài thi
- Đề thi hoặc đề kiểm tra cũng không nên ra quá khó hoặc quá dễ vì như vậy sinh viên sẽ không biết được mình đang đứng ở mức độ nào để phấn đấu Rõ ràng, khi đi học, điểm luôn là mối quan tâm hàng đầu của sinh viên, có tác dụng khuyến khích các em chăm chỉ, chuyên cần học tập Vì vậy, nó cần được sử dụng làm đòn bẩy thực sự trong dạy học tích cực
- Trong điều kiện giảng dạy theo hướng tiếp cận CDIO, chúng ta chỉ có đủ thời gian đào tạo cho sinh viên những phần kiến thức cốt lõi (phần kiến thức phải học) của ngành nghề Do vậy, để không lãng phí thời gian trên lớp, chúng ta cần rèn luyện cho sinh viên có khả năng tự học, tự phát triển Một khi sinh viên tự khám phá ra tri thức mới thì các em sẽ cảm thấy hứng thú hơn với việc học Điều này không chỉ tốt cho các em khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường mà còn hữu ích ngay cả khi các em đã ra trường, làm việc ở bất cứ lĩnh vực nào thì cũng luôn phải học và tự học suốt đời thì mới có thể đáp ứng, hoàn thành nhiệm vụ được giao Còn