1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II

60 505 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo nghĩa rộng, phương tiện dạy học là tất cả những thứ mà người dạy và người học sử dụng trong quá trình dạy học kể cả kiến thức, kinh nghiệm của giáo viên và học sinh, bao gồm 5 nhóm

Trang 1

Chương 1

TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học

Cho đến nay, khái niệm về phương tiện dạy học vẫn chưa được sự thống nhất Tùy theo mỗi tác giả mà được hiểu theo khía cạnh khác nhau

Theo nghĩa rộng, phương tiện dạy học là tất cả những thứ mà người dạy và người học sử dụng trong quá trình dạy học kể cả kiến thức, kinh nghiệm của giáo viên và học sinh, bao gồm 5 nhóm [12, tr 29]:

+ Vật liệu dạy học

+ Công cụ, thiết bị dạy học

+ Phương tiện kỹ thuật dạy học

+ Hiện trường dạy học

Theo quan điểm của Giáo sư Ihbe [18, tr 13]: Phương tiện dạy học là tập hợp các dấu hiệu trình bày và lưu trữ đầy chủ đích từ một hay nhiều hệ thống dấu hiệu (chữ viết, âm thanh, ký hiệu, ảnh, đồ thị, …) để truyền đạt một nội

dung từ người phát (người thầy) đến người nhận (học sinh) và nội dung kết

dính ở dấu hiệu và tập hợp dấu hiệu làm cầu nối giữa người nhận với chủ đích suy nghĩ , với một mục đích theo đuổi, và với những phương pháp lựa chọn của người phát

Trong quá trình giáo dục, để đạt được mục đích giáo dục thì phương tiện dạy học, phương pháp dạy học, giáo viên và học sinh phải có quan hệ chặt chẽ gắn bó lẫn nhau, phải phù hợp với nhau trong môi trường giáo dục

Với mục đích giáo dục cần đạt được, với phương pháp dạy học giáo viên sử dụng, với trình độ nhất định của học sinh, giáo viên cần phải chọn phương tiện dạy học thích ứng thì hiệu quả giáo dục mới cao Việc lựa chọn phương pháp, phương tiện dạy học phải dựa trên cơ sở lý luận có khoa học, không thể tùy tiện

Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, phương tiện dạy học được hiểu là những đồ dùng dạy học và những nguồn thông tin học tập khác nhau mà giáo

Trang 2

viên dùng để dạy và học sinh dùng để học, các phương tiện này có thể là lời nói của giáo viên, sách giáo khoa, tài liệu học tập, tài liệu tham khảo, thiết bị học tập, các đồ dạy trực quan, phim điện ảnh phục vụ học tập, máy thu thanh, máy ghi âm, vô tuyến truyền hình và những phương tiện kỹ thuật dạy học khác

1.2 Vị trí của phương tiện dạy học trong hệ thống giáo dục

Trong lịch sử tiến hóa của nhân loại, con người đã phải trải qua một quá trình lao động lâu dài với sự đóng góp hết sức quan trọng của công cụ lao động do chính họ làm ra Chính nhờ có công cụ kết hợp với nhiều yếu tố khác con người mới có thể đạt được những điều mình mong muốn

Trong lĩnh vực giáo dục, quá trình giáo dục là một quá trình phức tạp, bao gồm một hệ thống những yếu tố liên hệ chặt chẽ với nhau: nội dung dạy học, phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, thầy giáo và học sinh Trong đó thầy giáo và học sinh là những nhân tố quyết định của hệ thống giáo dục và phương tiện dạy học đóng vai trò quan trọng dưới sự điều khiển và sử dụng của giáo viên Để chế tạo và sử dụng phương tiện sao cho phù hợp với nội dung dạy học nhằm đạt hiệu quả giáo dục cao nhất, cần phải tìm hiểu mối quan hệ giữa phương tiện với nội dung và giữa phương tiện với phương pháp dạy học

 Quan hệ giữa phương tiện dạy học và nội dung dạy học

Mỗi phương tiện chứa đựng một nội dung dạy học nhất định, nội dung ngày càng phong phú thì phương tiện dạy học cũng phải phù hợp với mức độ hiện đại của nội dung Nội dung chứa trong mỗi phương tiện phải hướng t ới những lý thuyết và sự kiện cơ bản, thực sự quan trọng đối với việc học tập và hoạt động tương lai của học sinh, giúp học sinh trong việc nắm vững các kiến thức khoa học hiện đại góp phần vận dụng tốt trong công tác nghiên cứu những hiện tượng thực tiễn

Các phương tiện này phải được chế tạo sao cho sự trình bày kiến thức sẽ hình thành cho học sinh những khái niệm, định luật khoa học theo phương pháp quy nạp (điển hình), đồng thời nó cũng góp phần rèn luyện phương pháp suy diễn, làm cho học sinh nắm vững và vận dụng tốt vào trong thực tiễn

Phương tiện cũng phải góp phần trang bị cho học sinh những kiến thức về kỹ thuật tổng hợp và phát triển hứng thú cho học sinh

Khi phương tiện dạy học được phát triển cao hơn (hiện đại, chính xác và đạt tiêu chuẩn sư phạm cao) thì cũng thúc đẩy sự phát triển nội dung, chương trình, sách giáo khoa, … Phương tiện cũng giúp rút ngắn thời gian dạy học, cho phép tăng khối lượng kiến thức và như vậy mục tiêu đào tạo sẽ được đáp ứng

Trang 3

 Quan hệ giữa phương tiện dạy học và phương pháp dạy học

Trong hoạt động dạy - học của giáo viên và học sinh, phương tiện dạy học được sử dụng và tùy theo phương pháp dạy học Dạy học bằng phương pháp nào thì phương tiện dạy học tương ứng với phương pháp đó

Phương pháp dạy học phát triển thì hiệu quả giáo dục càng cao, tất nhiên phương tiện dạy học cũng phát triển theo Ngược lại, phương tiện dạy học cũng là yếu tố giáo viên dựa vào đó lựa chọn phương pháp giảng dạy, sự phát triển của phương tiện dạy học là điều kiện để phương pháp dạy học phát triển

Mặt khác, với phương tiện ngày càng phong phú, hiện đại, giáo viên có thể trong một thời gian ngắn sử dụng phối hợp được nhiều phương pháp với nhau và linh hoạt hơn trong giảng dạy

Tóm lại, phương tiện dạy học và phương pháp dạy học có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau cùng phát triển trong quá trình dạy học

1.3 Vai trò của phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học không chỉ là công cụ hỗ trợ hoạt động lao động sư phạm của giáo viên mà còn có vai trò thay thế cho các sự vật, hiện tượng và các quá trình xảy ra trong đời sống lao động mà giáo viên và học sinh không có khả năng tiếp cận trực tiếp Các phương tiện dạy học tạo điều kiện để phát huy hết các chức năng tư duy của bộ não, các giác quan và hệ vận động của học sinh trong quá trình học tập Phương tiện dạy học có vai trò chủ yếu như:

- Là nguồn thông tin cung cấp kiến thức để người học hiểu một cách chắc chắn, rõ ràng, chính xác và sâu sắc

- Gây hứng thú, tạo sự chú ý cho người học trong quá trình học tập, không mất nhiều thời gian ghi chép những cái đã có trong sách giáo khoa hay tài liệu học tập

- Tiết kiệm được thời gian, sức lực giảng dạy do giảm bớt thời gian viết bảng, vẽ minh họa, … trên lớp của giáo viên

- Tăng tính trực quan làm cho quá trình nhận thức của người học được dễ dàng, hiệu quả hơn do tạo ra được các hình ảnh, biểu tượng trong quá trình nhận thức, tư duy

- Trong giờ học có thể tăng thêm lượng kiến thức, đưa thêm những vấn đề mới, những vấn đề mở rộng và đi sâu vào thảo luận những vấn đề cụ thể

- Các thiết bị dụng cụ thực hành tạo điều kiện cho học sinh luyện tập hình thành các kỹ năng, kỹ xảo

Trang 4

Nếm Sờ Ngửi Nghe Nhìn

- Phát huy tính tích cực hoạt động của người học

- Giáo viên đỡ vất vả trong giờ lên lớp, hạn chế được việc dùng phấn có ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ

Qua nghiên cứu, người ta đã tổng kết được mức độ ảnh hưởng của các giác quan trong quá trình truyền thông như sau [9, tr 21]:

- Khi học sự tiếp thu tri thức đạt được qua:

Hình 2.1 Tỷ lệ kiến thức thu được qua các giác quan

- Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau khi học qua:

Nghe Nhìn Nghe và nhìn Nói Nói và làm

Hình 2.2 Tỷ lệ kiến thức nhớ được qua các giác quan

Trang 5

Như vậy giáo viên khi dạy phải biết sử dụng linh hoạt những kênh thông tin kết hợp với nhau để đạt hiệu quả cao Từ đó ta thấy rằng phương tiện dạy học có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu và trình diễn lại những vấn đề được học Phương tiện dạy học là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo thông qua vai trò của nó

1.4 Khả năng của các phương tiện dạy học

Phương tiện dạy học đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục, mức độ phát triển và giá trị của chúng ngày càng cao Dưới đây sẽ làm sáng tỏ về những khả năng của phương tiện dạy học đối với việc lĩnh hội kiến thức, củng cố và rèn luyện các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo

 Khả năng của phương tiện dạy học đối với quá trình nhận thức

Trong thực tế, học sinh không thể hiểu được khi sử dụng ngôn ngữ để mô tả một khái niệm, một hiện tượng nếu không có những biểu tượng ban đầu Học sinh có những biểu tượng ban đầu không đồng bộ nhau, do đó khi muốn cho học sinh hiểu bài được chính xác và chắc chắn thì phải xây dựng các khái niệm từ sự quan sát trực tiếp các hiện tượng tự nhiên hoặc nhân tạo (phương tiện trực quan) để giảng dạy

Dựa vào các tài liệu trực quan học sinh có thể tự kiểm tra lại tính chính xác của các kiến thức thu nhận được so với thực tiễn Ngoài ra các tài liệu trực quan tăng tổng hợp các hiện tượng để rút ra những kết luận đúng đắn Trong quá trình nhận thức thế giới vĩ mô, vi mô hay siêu vi mô, phương tiện lại càng cần thiết Aênghen đã nói: “công cụ làm dài thêm cơ quan cảm giác của con người, cho phép con người đi sâu vào trong thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan thông thường” Nói chung, trong quá trình nhận thức về hiện thực khách quan, phương tiện dạy học đưa con người đến tầm sâu, rộng và chính cường hứng thú học tập ở học sinh hơn, dễ dàng hơn trong quá trình phân tích, xác hơn về bản chất của thế giới

 Khả năng của phương tiện dạy học đối với việc rèn luyện kỹ năng thực hành

Nhận thức được thế giới là điều cần thiết, nhưng như thế chưa đủ, mà con người cần phải cải tạo được thế giới Trên quan điểm đó, nhà trường cần thiết đào tạo ra những con người có khả năng thực hành, cụ thể học sinh cần rèn luyện kỹ năng thực hành

Để học sinh thực hành phải sử dụng nhiều phương tiện khác nhau Đặc biệt trong rèn luyện kỹ năng thực hành không thể thiếu phương tiện được vì không có nó việc học tập sẽ nghèo nàn, chỉ có thể nhận thức về mặt lý thuyết thôi nhưng cũng không đầy đủ Các phương tiện sẽ giúp cho học sinh

Trang 6

có điều kiện kiểm tra lại và vận dụng các kiến thức lý thuyết vào thực tiễn một cách sinh động hơn, hứng thú hơn và đưa đến kết quả cao hơn

1.5 Phân loại phương tiện dạy học

Trong vấn đề phân loại phương tiện dạy học, nhiều nhà giáo dục phân chia theo nhiều cách khác nhau Có thể phân loại dựa trên cơ sở nhận thức của quá trình học tập của học sinh Quá trình học tập của học sinh đi từ:

 Tác động thực tế tới các vật và hiện tượng hoặc từ sự quan sát chúng

 Từ tri giác những hình khối và mặt phẳng, những biểu hiện âm thanh của những sự vật và hiện tượng đó, thực hành với các vật và hiện tượng đó

 Từ tri giác những điều mô tả các vật và hiện tượng bằng những ký hiệu và những từ của ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật, quá trình thực hành với các vật và hiện tượng đó

 Đến sự hình thành những biểu tượng, đến sự diều chỉnh trong óc những nội dung các vật và hiện tượng đó bằng cách phân tích và tổng hợp, trừu tượng hóa và khái quát hóa, so sánh, đối chiếu và hình thành khái niệm, đến chỗ ghi vào trí nhớ các vật và hiện tượng đó bằng ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật, vận dụng để giải quyết những nhiệm vụ quan trọng và nhận thức cái mới

Trên cơ sở đó, theo X.G.Sapôvalencô, Viện thiết bị trường học và các phương tiện kỹ thuật dạy học, thuộc Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên xô, phương tiện dạy học có thể phân loại như sau:

Nhóm 1: Những đối tượng tự nhiên (những mẫu thật)

Các vật và hiện tượng của thế giới khách quan (các khoáng chất, các mẫu cây cỏ, động vật, …) để nghiên cứu trực tiếp

Các vật và những phương tiện để làm nhớ lại các hiện tượng bằng cách diễn thị và thực nghiệm để nghiên cứu về chất và lượng các hiện tượng đó

Nhóm 2: Những hình ảnh và các ảnh xạ của đối tượng (các mẫu vật thật)

Những hình tự nhiên và những hình trưng bày để xem: hình khối (hình mẫu, khuôn, mô hình, quả địa cầu, …), hình phẳng (tranh ảnh, biểu đồ, sơ đồ, bản vẽ, )

Những phương tiện nghe (đĩa hát, băng ghi âm, …)

Những phương tiện nghe nhìn (phim đèn chiếu, phim vòng có lồng tiếng, phim trích đoạn, …)

Những hình ảnh và ảnh xạ tự nhiên, hình ảnh và ảnh xạ tổ hợp, những mô hình khối và mô hình phẳng

Trang 7

Nhóm 3: Những bản mô tả các vật và hiện tượng

Những tác phẩm khoa học, văn học và những sách tra cứu

Tuyển tập các bài tập và luyện tập, sách hướng dẫn luyện tập, thực hành…

Nhóm 4: Những phương tiện kỹ thuật để hiển hiện và truyền đạt những thông tin

Những phương tiện thông tin (máy chiếu, máy thu vô tuyến, máy quay đĩa, máy ghi âm, …)

Những phương tiện kiểm tra (tấm mẫu, bản đục lỗ, …)

Các máy luyện tập

Những phương tiện tổng hợp (máy dạy học, …)

Nhóm 5: Những phương tiện vật chất và kỹ thuật để thu thập và sản xuất ra những mẫu thật, những hình ảnh

Vật liệu để sản xuất ra những mẫu vật, những hình ảnh, những bản mô tả (giấy bìa, thuốc màu, gỗ, kim loại, chất dẻo, …)

Dụng cụ và những vật dụng (viết, bút vẽ, bảng vẽ, …)

Thiết bị kỹ thuật (máy công cụ, phụ tùng kỹ thuật, …)

Thiết bị tham quan

Những phương tiện kỹ thuật để điều khiển công tác giảng dạy và giáo dục (vô tuyến điện, điện thoại, …)

1.6 Phương tiện dạy học

1.6.1 Sự cần thiết phải sử dụng phương tiện dạy học

 Do sự đòi hỏi của phương pháp dạy học

Kiến thức của loài người về mọi lĩnh vực tích lũy ngày càng nhiều Yêu cầu chính yếu đối với các trường là đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới ngày càng toàn diện hơn Đó chính là mâu thuẫn mà nhà trường phải giải quyết, trong quá trình giải quyết các mâu thuẫn này, những phương pháp dạy học mới ra đời, kéo theo nhu cầu thiết yếu của phương tiện dạy học cũng phải đổi mới để theo kịp sự tiến bộ của phương pháp dạy học

 Do hoạt động nhận thức của học sinh

Hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình học tập là một quá trình vận động không ngừng, từ chỗ chưa biết đến biết, từ chỗ biết chưa đầy đủ, chưa đúng đắn đến chỗ biết đúng đắn hơn, đầy đủ hơn Sự hoạt động đó phải trải qua nhiều con đường, trong đó con đường quan trọng đó là quan sát, thực hành, lao động sản xuất, …

Trang 8

Trải qua các con đường đó, hoạt động nhận thức của học sinh được thực hiện nhờ có sự tác động của vật chất (sự biến đổi trong thực hành, trong lao động sản xuất…), nhờ có sự tác động của tri giác (thụ cảm, biểu tượng, quan sát), nhờ có sự tác động của tư duy (phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch,

so sánh, đối chiếu, chứng minh…), nhờ tác động của ngôn ngữ tự nhiên và ngôn ngữ nghệ thuật (ký hiệu, công thức, phương trình…)

Sự tác động trực tiếp của vật chất đến các cơ quan thụ cảm, đó là nguồn gốc, là điểm xuất phát của nhận thức Lênin đã nói: “hình tượng tư duy được phát sinh không bằng con đường nào khác là cảm tính” Nếu không có sự tồn tại của các biểu tượng về các hiện tượng và sự kiện cụ thể, nếu không có trực quan sinh động về các sự vật và các quá trình nghiên cứu thì học sinh không thể nắm vững kiến thức chính xác và hiểu được những quy luật của tự nhiên và xã hội

Các phương tiện dạy học được xem là đối tượng vật chất của nhận thức, chiếm vị trí trong việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh, nhờ có các phương tiện dạy học mà các hoạt động nhận thức của học sinh được thúc đẩy và hướng tập trung vào những điểm cơ bản của nhận thức

 Do lợi ích khi sử dụng các phương tiện dạy học

Sử dụng các phương tiện dạy học trong quá trình giảng dạy có những lợi ích sau:

 Trong một thời gian ngắn truyền thụ cho học sinh một lượng thông tin chính xác và đầy đủ về đối tượng nghiên cứu

 Học sinh tiếp thu những thông tin chính xác, đầy đủ hơn về các đối tượng, hiện tượng và quá trình nghiên cứu so với sự trình bày bằng lời

 Nâng cao tính trực quan của việc dạy học, giúp học sinh hiểu sâu về bản chất, nắm vững tài liệu học tập, …

 Tạo tình huống có vấn đề trong giảng dạy, kích thích lôi cuốn, động viên học sinh tích cực tham gia vào quá trình học tập và nghiên cứu khoa học

 Thỏa mãn những nhu cầu và hứng thú học tập của học sinh

 Tiết kiệm được thời gian cho giáo viên

 Bằng các phương tiện dạy học, học sinh có thể biết nhiều sự vật, hiện tượng phong phú trong thế giới, giúp cho học sinh gần với thực tế hơn và quá trình học tập hứng thú hơn

1.6.2 Phân tích đặc điểm, cách thức chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học

Trang 9

Dưới đây là một số phương tiện thường dùng và hiện đại đang được thiết kế và chế tạo cũng như sử dụng trong day học hiện nay:

 Tranh ảnh:

Tranh ảnh là những tranh ảnh tạo hình, thuộc loại tài liệu ấn họa Đây là tài liệu rất phong phú: các ảnh chụp, các tranh vẽ, tài liệu trong sách báo, tạp chí, … đều là những tài liệu tranh ảnh dùng để dạy học

 Đặc điểm:

Tranh ảnh ghi lại những hình ảnh của sự vật, hiện tượng trên mặt phẳng tờ giấy, trong trạng thái tĩnh, với đặc điểm này đòi hỏi sự kích động sáng tạo, sự hướng dẫn quan sát “đọc” và học bằng tranh ảnh của giáo viên khi giảng dạy cho học sinh giúp cho học sinh hứng thú tìm hiểu tài liệu

 Chức năng:

Tranh ảnh mang nguồn thông tin xác định thường dùng để trình bày những điểm nổi bật của sự vật

Trực quan hóa các sự vật và hiện tượng

Làm phong phú và sinh động các sự vật và hiện tượng trong thực tế, làm giàu biểu tượng cho học sinh

Tạo sự ngạc nhiên, sự kích thích giúp cho học sinh say mê và hứng thú học tập

 Sử dụng tranh ảnh trong giờ học:

Chuẩn bị cho việc sử dụng tranh ảnh trong giờ học:

Chọn tranh phù hợp với nội dung bài học, khi chọn tranh cần chú ý: có những bức tranh không phù hợp với trình độ cảm thụ của học sinh cấp dưới, phải là học sinh cấp cao hơn mới hiểu được ý nghĩa, hiểu được cái đẹp trong đó Nhưng như thế không có nghĩa là với những bức tranh mà học sinh cấp dưới đã thích thì đến lứa tuổi cấp trên không cần xem lại nữa, mà vẫn cần cho xem lại để học sinh nhận ra những điểm trước kia chưa thấy

Tranh phải rõ, đẹp, khuôn khổ tranh nên chọn lớn, bố trí việc xem tranh trong giờ học vào giáo án cụ thể

Chuẩn bị nội dung của lời hướng dẫn khi xem tranh, chọn vị trí phù hợp để treo tranh

Chuẩn bị câu hỏi để kiểm tra học sinh về sự lĩnh hội tri thức

Trình bày tranh ảnh trong giờ học:

Cho học sinh xem tranh ảnh đúng lúc, không nên treo sẵn trước khi giảng bài, làm phân tán sự theo dõi bài học của học sinh

Trang 10

Hướng dẫn học sinh xem tranh đúng trọng tâm, bằng cách nêu lên những điểm chính hay câu hỏi gợi ý

Tranh ảnh phải được treo ở nơi số đông học sinh quan sat rõ, nếu tranh ảnh không treo được giáo viên cần đưa cao trước học sinh Với những hình ảnh khuôn khổ nhỏ, có thể cho từng nhóm học sinh xem hoặc cho học sinh chuyền nhau xem, nhưng như thế phải hướng dẫn kỹ những điểm chính cần xem cho ít tốn thời gian Nếu ảnh nhỏ, chưa cần thiết phải đưa ra ngay trong giờ học, có thể cho học sinh xem sau bài giảng bằng cách gắn nhiều ảnh trong bảng trình bày (chú ý ghi lời thuyết minh kèm theo)

Phải có đủ thời gian để nhiều học sinh được xem

Giáo viên cần có lời thuyết minh về tranh lúc học sinh đang xem

Có thể thảo luận ngay lúc xem tranh

Sau khi xem:

Cất ngay những tranh đã trình bày để tránh sự mất trật tự và phân tán sự chú ý của học sinh trong phần kế tiếp

 Ưu và nhược điểm:

- Ưu điểm:

 Tài liệu dồi dào, phong phú

 Kích động được sự quan sát của học sinh

 Làm nổi bật được các điểm chính muốn trình bày (bằng cách dùng màu, xếp đặt vị trí trong hình, …)

Trang 11

Vật thật là một đối tượng của nội dung giảng dạy, là đối tượng nhận thức của học sinh trực tiếp có mặt trong quá trình dạy học

Trực quan hóa các sự vật

Thực tế hóa kiến thức của học sinh

 Phương pháp sử dụng vật thật

Giới thiệu cho học sinh cách quan sát, những vấn đề cần quan sát, mục đích quan sát, nội dung lời hướng dẫn cần ngắn gọn, súc tích, đầy đủ Có thể đặt câu hỏi để hướng sự chú ý của học sinh vào đối tượng

Khi cho học sinh quan sát vật thật có nhiều chi tiết, có những mối liên hệ nhau, cần phải giới thiệu từng chi tiết, chức năng của nó, sự hoạt động của nó v.v… rồi mới cho học sinh quan sát cái tổng thể

Để nâng cao hiệu quả sử dụng vật thật, ta cần nghiên cứu kỹ các vấn đề sau:

 Dùng các thí nghiệm nào cần phải phối hợp, biểu diễn các thí nghiệm vào giai đoạn nào trong quá trình sử dụng vật thật

 Trước và trong khi sử dụng cần phải liên hệ các kiến thức đã học nào

 Sử dụng các phương pháp biểu diễn, lời nói như thế nào trong quá trình dùng vật thật

 Sự bố trí các phương tiện cho học sinh để quan sát

 Ưu và nhược điểm

Trang 12

 Khi vật thật có các kích thước quá lớn hay quá nhỏ, hoặc bị hạn chế về không gian, thời gian không thể trình bày cho học sinh trong quá trình giảng dạy

 Vật thật có nhiều chi tiết bên trong khó trình bày cho học sinh như động cơ, các bộ phận bên trong của người hay động vật…

 Mô hình:

Mô hình là phương tiện dạy học được sử dụng rộng rãi trong nhà trường, mô hình mô tả lại hình dáng và cấu tạo của vật thật, bằng kết cấu đơn giản hơn, và làm nổi bật những điểm chính yếu của sự vật Mô hình được phân chia thành nhiều loại:

Mô hình tỉ lệ: là vật mô phỏng lại hình dáng, màu sắc của vật thật (thu nhỏ hoặc phóng đại kích thước của vật theo một tỉ lệ)

Mô hình giản hóa: là vật mô phỏng lại hình dáng màu, sắc, của vật thật, với kích thước không theo một tỉ lệ (hệ thái dương hệ)

Mô hình tháo ráp: là vật trình bày lại vật thật với những chi tiết có thể tháo ra và ráp lại được dễ dàng

Mô hình cắt: là vật mô phỏng lại vật thật diễn tả lại vật thật bằng cách cắt để dễ nhìn thấy được các chi tiết bên trong

Mô hình phỏng tạo: là mô hình phối hợp với các mô hình giản hóa, mô hình tỉ lệ và vật thật

 Sử dụng mô hình:

Trong quá trình dạy học phải xuất phát từ những mô hình gần với đối tượng, sau đó mới sử dụng những mô hình ngày càng trừu tượng hơn (chẳng hạn những mô hình dấu hiệu), để hình thành ở học sinh thoạt tiên những biểu tượng, rồi sau đến những khái niệm Nhưng khi đưa vào khái niệm cũng phải vận động từ những mô hình lý tưởng trừu tượng, qua những mô hình vật chất gần với đối tượng để xây dựng những hình tượng trực quan của chúng Ví dụ

Trang 13

như trong quá trình dạy hóa học và vật lí, thường xuất phát từ những mô hình thí nghiệm (thí dụ như điều chế axít sulfuric) rồi chuyển sang những mô hình cấu trúc vật chất, về sự cấu tạo của các chất nhờ những phản ứng hóa học, sau đó dùng mô hình lý tưởng dấu hiệu (phương trình bằng ngôn ngữ hóa học) để hình thành khái niệm (trong trường hợp này là điều chế axít sulfuric) Nhưng chúng ta có thể tiến hành theo trình tự ngược lại: Trước tiên sử dụng những mô hình dấu hiệu (thí dụ những phương trình phản ứng các chất), chuyển sang hình vẽ sau đó sang mô hình vật chất về thiết bị của nhà máy, để hình thành biểu tượng về sự sản xuất các chất trong nhà máy Tính trực quan mô hình giúp quan sát cảm tính và tư duy trừu tượng, hình thành biểu tượng và khái niệm theo trình tự và sự kết hợp khác nhau, theo những mối liên hệ tương hỗ và tính tuần tự khác nhau

Việc sử dụng tổng hợp những mô hình cụ thể và trừu tượng khác nhau làm cho học sinh có kiểu hoạt động thần kinh khác nhau (kiểu hình tượng, kiểu lý trí và kiểu chuyển tiếp) dễ dàng lĩnh hội kiến thức

Mô hình giúp thực hiện những nguyên tắc trực quan trong dạy học, mà cả nguyên tắc tích cực, tự giác, lý thuyết gắn với thực hành và những nguyên tắc dạy học khác Ý nghĩa nhận thức to lớn của mô hình là ở đó Chính vì vậy mà mô hình cần phải được sử dụng rộng rãi trong quá trình dạy học

 Ưu và nhược điểm:

 Phim đèn chiếu:

Phim đèn chiếu là loại phương tiện dạy học đơn giản được dùng rộng rãi trong các nhà trường hiện nay

Loại phim này giáo dục học sinh về nhiều lĩnh vực như chính trị, xã hội, khoa học thường thức, phim giáo khoa vệ sinh phòng bệnh, thể dục thể thao…

Trang 14

Thầy giáo có thể tự tạo phim để dạy, thông dụng nhất là phim giáo khoa chiếu hình ảnh tĩnh có chú thích bằng chữ Hiện nay có một số phim được chia ra làm nhiều đoạn ngắn và có ghi câu hỏi cho học sinh Cũng có phim ghi kèm lời thuyết minh vào đó gây hứng thú cho học sinh khi xem, nâng cao tính tích cực học tập cho học sinh

 Kích thước của các vật trên màn ảnh thường không đúng các kích thước thật

 Chỉ có một cơ quan cảm giác là thị giác hoạt động để tri giác hình ảnh trên màn ảnh

 Các vật trên phim đèn chiếu được mô tả trên cùng một mặt phẳng, không có chiều sâu như nó có trong thực tế

 Chức năng:

Theo quan điểm của nhà giáo dục nổi tiếng người Ba lan Phờ-lê-min, các loại phim đèn chiếu có thể sử dụng để minh họa một câu chuyện và lời giải thích của giáo viên, cũng như tích lũy thêm các đối tượng và hiện tượng quan sát Các đối tượng và hiện tượng này được xem là một nguồn cơ bản của tri thức mới

Phim đèn chiếu cũng là một phương tiện củng cố các khái niệm, là tài liệu để củng cố và ôn tập hằng ngày nhằm mục đích chuẩn bị cho học sinh quan sát thí nghiệm nhờ nhiều phương tiện dạy học khác, phân tích và khái quát hóa những điều đã thu lượm được nhờ các kết quả quan sát trực tiếp và thí nghiệm ở thế giới khách quan

 Phương pháp sử dụng phim đèn chiếu

Có nhiều phương pháp sử dụng phim đèn chiếu, việc sử dụng phụ thuộc vào năng lực sáng tạo của thầy giáo và từng bài học cụ thể Dưới đây minh hoạ về phương pháp sử dụng phim đèn chiếu dùng trong giảng day Có thể chia quá trình sử dụng phim này thành ba giai đoạn: chuẩn bị bài học, giảng bài tại lớp và sau khi xem phim

Chuẩn bị bài học:

Trang 15

Để đạt hiệu quả cao nhất khi giảng bài bằng phim đèn chiếu, trong quá trình chuẩn bị người giáo viên cần chú ý:

 Chất lượng của bài thuyết minh: phải có mối liên hệ chặt chẽ với các hình tượng trong phim, nó cũng là một trong những điều kiện quan trọng để lựa phim

 Không nên đưa ra nhiều khái niệm mới trong phim, nếu có khái niệm mới cần giới thiệu một cách chi tiết bằng cách nghiên cứu các sự vật, hiện tượng từ nhiều mặt khác nhau để học sinh dễ dàng nắm được mối tương hỗ giữa các sự vật và hiện tượng đó

 Nên chọn phim và giới thiệu sao cho học sinh nắm vững từ kiến thức đã biết đến kiến thức chưa biết, như thế kiến thức cũ được ôn lại, kiến thức mới được giới thiệu, súc tích, lý thú tạo ấn tượng mạnh mẽ, lâu dài trong trí nhớ của học sinh

 Chọn phim cần chú ý tính liên tục của hình tượng Không nên để thiếu hoặc thừa số hình tượng trong phim làm cho phim không chặt chẽ

 Hình ảnh phản ánh sát theo thực tiễn Không nên quá đơn giản mà cũng tránh các chi tiết rườm rà, gây mất tập trung vào vấn đề chính

 Nội dung phù hợp với chương trình của nhà trường và đặc điểm lứa tuổi của học sinh

 Thời gian chiếu phim dài hay ngắn tùy theo nội dung của phim, trình độ tiếp thu của học sinh để xác định, nếu nội dung đơn giản, học sinh tiếp thu dễ, có thể kéo dài, nếu nội dung phức tạp hơn, mức độ tiếp thu căng thẳng, đòi hỏi sự suy nghĩ nhiều thì nên rút ngắn thời gian

 Cần suy nghĩ cách hướng dẫn cho học sinh xem phim như thế nào được tập trung nhất, trước khi xem phim nên giới thiệu tóm tắt nội dung và lưu ý những chỗ khó cho học sinh

 Giáo viên cần chuẩn bị những dẫn dắt cho học sinh và đồng thời đề ra một số câu hỏi gợi ý trước khi học sinh xem phim, hoặc là những câu hỏi để kiểm tra sự lĩnh hội của học sinh

Giảng bài trên lớp:

 Khi cần dùng phim để minh họa, để trình bày thay giáo án cần giới thiệu nội dung chính của phim, trọng tâm cần theo dõi đễ tránh tình trạng tản mạn của học sinh trong khi xem phim

 Lời thuyết minh của thầy giáo phải rõ ràng, dễ hiểu và gây hứng thú đối với học sinh Cần phải giải thích phù hợp những hình ảnh trên phim Đôi lúc

Trang 16

có thể dùng kết hợp tranh ảnh, sơ đồ, mô hình hay vẽ hình trên bảng để giải thích nội dung trên phim

 Sự trình bày các hình ảnh phải có thời gian cân đối, không nên dừng lại quá lâu ở một hình nào, tuy nhiên có thể kéo dài hơn hình ảnh trọng tâm nhất của phim

 Trong khi chiếu phim thầy giáo nên đưa ra một số câu hỏi để kích thích sự hứng thú và tăng cường sự chú ý cho học sinh Câu hỏi cần phải rõ ràng và gắn liền với hình ảnh hiện ra trên màn ảnh và câu hỏi đưa đến câu trả lời ngắn gọn để không làm ảnh hưởng đến thời gian chiếu

 Bố trí thời gian chiếu vào đầu, giữa hay cuối giờ tùy vào nội dung và yêu cầu của bài học, nên chiếu vào:

 Đầu giờ học: để giới thiệu một đề tài mới

 Giữa giờ học: giới thiệu tài liệu mới

 Cuối giờ học: để củng cố kiến thức

 Có thể trình chiếu hai lần cho một nội dung, lần đầu thầy giáo thuyết minh phim, lần sau học sinh giải thích các hình ảnh để gây hứng thú và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh

Sau khi xem phim:

 Giáo viên cần tổ chức đàm thoại để củng cố kiến thức mà học sinh tiếp thu được trên bài học Giáo viên có thể cho học sinh làm bài ở nhà bằng cách kể lại, vẽ lại… nội dung, hình ảnh đã tiếp thu ở trên phim

 Giáo viên hướng dẫn sao cho quá trình xem phim của học sinh không thụ động, chỉ có nhìn và nhớ, mà phải là một hoạt động trí tuệ căng thẳng trên con đường nhận thức cái mới

 Ưu và nhược điểm:

Các ưu điểm về mặt sư phạm so với các vật tự nhiên như sau: Phim đèn chiếu có khả năng tách ra những điểm chính, làm mờ những điểm phụ, loại bỏ những điểm không cần thiết trong quá trình nhận thức của học sinh Phim có khả năng mô tả các vật và các hiện tượng ít được quan sát trong thực tế Đây là ưu điểm nâng cao mức độ sử dụng trong học tập Phim có thể sử dụng bất cứ lúc nào trong quá trình học tập, các vật tự nhiên chỉ áp dụng trong những điều kiện nhất định nào đó

Ưu điểm so với các tài liệu trực quan khác như mô hình, tranh ảnh, bản vẽ: do tính đồng bộ của các hình ảnh cho phép đưa vào phim một khối lượng kiến thức rất lớn theo từng chương hoặc từng phần như các bộ tranh, các bộ bản vẽ Tính đồng bộ của phim đèn chiếu cho phép giới thiệu khá tỉ mỉ, liên

Trang 17

tục của nội dung về một số đề tài nào đó Kích thước lớn củøa các hình ảnh trên màn ảnh giúp học sinh quan sát dễ hơn tranh ảnh Hình ảnh giữ lại trên màn chiếu theo ý muốn của thầy giáo Vẻ đẹp của phim đèn chiếu màu có khả năng kích thích xúc cảm của học sinh hay hơn mô hình hay bản vẽ (nhất là đối với học sinh cấp nhỏ) Gọn nhẹ và sử dụng dễ dàng, giá thành thấp hơn mô hình và tranh ảnh

Nhờ các ưu điểm của phim đèn chiếu trở thành một tài liệu trực quan khá phổ biến Tuy nhiên phản chiếu là một vấn đề đối với giáo viên, làm hạn chế mức độ sử dụng Điều này kỹ thuật đã khắc phục bằng cách tăng công suất đèn chiếu, trang bị phòng, lớp học bằng các loại rèm sáo, điều khiển độ sáng tối của phòng khi chiếu phim

 Aán phẩm dùng làm các phương tiện dạy học:

Aán phẩm dùng làm phương tiện dạy học là những tài liệu phục vụ riêng trong quá trình giảng dạy và học tập được soạn ra trên cơ sở phương pháp sư phạm, được xuất bản hoặc in làm nhiều bản Những tài liệu này có thể soạn

ra theo hình thức chương trình hóa, không chương trình hóa Các ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học có thể sắp lại như sau:

Tài liệu in cơ bản như:

 Sách giáo khoa, giáo trình

 Sách bài tập

 Sách tóm tắt kiến thức

 Bản chỉ dẫn học tập

Tài liệu in đặc biệt như:

 Bài đọc in sẵn

 Bản tóm tắt bài giảng

 Bản ghi bài tập, bản sưu tầm bài tập

 Phiếu luyện tập

 Phiếu hướng dẫn thí nghiệm

Tài liệu in đặc biệt gồm tất cả những ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học phù hợp với một bước lên lớp nhất định và với việc tự học cần thiết để bổ sung cho các tài liệu in cơ bản về mặt chuyên môn, về mặt phương pháp và về mặt tổ chức học tập

 Chức năng chung của các ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học

Các ấn phẩm làm phương tiện dạy học là những phương tiện quan trọng để thực hiện mục đích của các trường Đại học, Cao đẳng và Trung học

Trang 18

chuyên nghiệp Chức năng của các ấn phẩm dùng làm các phương tiện dạy học được rút ra từ:

 Mục đích đào tạo và bồi dưỡng của nhà trường, đặc biệt là từ kế hoạch học tập và chương trình giảng dạy

 Những đặc điểm riêng của quá trình học tập trong nhà trường

Các ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học phục vụ cho việc tự học tiếp thu kiến thức, kỹ năng, cũng như để hình thành niềm tin Việc sử dụng và tổng hợp các ấn phẩm khác nhau cùng với các phương tiện dạy học nghe nhìn là một việc làm cần thiết để thực hiện các chức năng của các ấn phẩm này Các ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học còn phục vụ việc chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp và chỉnh lý, đánh giá sau khi lên lớp, là cơ sở để bổ sung cho các bài giảng Các ấn phẩm này chủ yếu dùng trong việc tự học Các ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học cần phải thực hiện được các chức năng sau đây:

 Sự thống nhất giữa giáo dục nhân cách với đào tạo chuyên môn ở trình độ cao

 Sự thống nhất giữa giảng dạy và nghiên cứu khoa học

 Bố trí quá trình đào tạo và giáo dục phù hợp với quá trình nhận thức (đặc biệt là giải quyết tính vừa sức tiếp thu và tính trực quan)

 Liên hệ lý luận với thực tiễn, trực quan hóa những phần nhất định thuộc phạm vi thực tế, tạo mối liên hệ chặt chẽ giữa nhận thức lý luận và vận dụng thực tế

 Phát triển tính chủ động lĩnh hội các kiến thức một cách hợp lý, tiếp tục phát triển các phương pháp làm việc khoa học

 Chức năng đặc biệt của sách giáo khoa, sách tóm tắt kiến thức và sách

bài tập

Sách giáo khoa là một ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học, chứa đựng những kiến thức quan trọng của một ngành khoa học hay một môn học, được biên soạn theo phương pháp sư phạm trên cơ sở các tư liệu về đào tạo (kế hoạch học tập, chương trình giảng dạy)

Là một phương tiện sư phạm, sách giáo khoa tạo khả năng và hỗ trợ cho quá trình đào tạo

Trước hết phương tiện này góp phần vào:

- Việc truyền thụ kiến thức cơ bản của một ngành chuyên môn hoặc một ngành khoa học dưới một hình thức mang tính hệ thống, tính liên hệ thực tế, và tính vừa sức tiếp thu

Trang 19

- Việc truyền thụ phương pháp làm việc khoa học cũng như khuyến khích việc đọc các tài liệu tham khảo

Sách tóm tắt kiến thức là một loại ấn phẩm dùng làm phương tiện dạy học trong đó bao gồm các kiến thức cơ bản quan trọng của một ngành khoa học hoặc của một môn học, trình bày dưới hình thức rất súc tích, bao quát và hệ thống, loại này biên soạn theo phương pháp sư phạm dựa trên những tư liệu về đào tạo

 Chức năng riêng và việc bố trí sử dụng các ấn phẩm đặc biệt dùng làm

phương tiện dạy học

Bản chỉ dẫn học tập là một loại ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện dạy học để chỉ dẫn và động viên học sinh sắp xếp học tập có kết quả, đồng thời cũng góp phần vào việc chuẩn bị thực hiện gia công và đánh giá các bài giảng một cách chủ động và có hiệu quả

Bài được in sẵn là những bài nguyên văn, những bản dịch, những bản trích dẫn từ sách chuyên môn, tủ sách tra cứu và từ những tài liệu, đã được ấn hành, được soạn ra không phải để nhằm chủ yếu cho quá trình giáo dục, song cũng được đưa cho học sinh sử dụng tuy việc sử dụng có khó khăn Vì vậy trong từng lúc, những bài học in sẵn đó có chức năng của các ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện dạy học

Tài liệu này, chủ yếu phục vụ cho việc củng cố và mở rộng nội dung b ài giảng và cũng như việc tiếp thu kiến thức chuyên môn

Bản tóm tắt bài giảng là một loại ấn phẩm dùng làm tài liệu học tập cho học sinh và chủ yếu sử dụng giờ giảng dạy lý thuyết trên lớp Các bản tóm tắt bài giảng cũng tương tự như những bản tóm tắt kiến thức là một dạng cô đọng, bao quát và hệ thống những kiến thức cụ thể có liên quan với nhau, những điều đáng lưu ý quan trọng, những định nghĩa, chứng minh, bảng số, sơ đồ, hình vẽ, chỉ dẫn tài liệu, dàn bài…

Ơû đây có sự khác nhau giữa bản tóm tắt bài giảng và bản tóm tắt kiến thức Bài tóm tắt bài giảng dùng trực tiếp cho những buổi lên lớp đặc biệt và có mối liên hệ hữu cơ với bài giảng

Bản ghi bài tập và bản sưu tầm bài tập là một tập hợp dưới hình thức diễn tả bằng chữ hoặc bằng hình ảnh những bài tập và những vấn đề được sắp xếp theo từng lĩnh vực, từng phạm vi, theo tính chất tổng hợp cũng như mức độ khó khăn phức tạp

Phiếu luyện tập là một loại ấn phẩm đặc biệt, dùng làm phương tiện dạy học, là một tài liệu chương trình hóa đơn giản có các chỗ trống để học sinh điền vào Trong quá trình thu nhận kiến thức, hình thức này buộc học sinh

Trang 20

làm việc với nội dung giáo dưỡng và giáo dục một cách chủ động và sáng tạo Phiếu luyện tập dùng cho việc thu nhận, xử lý và lưu trữ những thông tin có thể được phát triển và sử dụng để thực hiện nhiều chức năng theo lý luận dạy học

Bản hướng dẫn thí nghiệm là những ấn phẩm đặc biệt dùng làm phương tiện dạy học nhằm hỗ trợ cho học sinh trong việc chuẩn bị, tiến hành và đánh giá thực tập trong phạm vi những hình thức tổ chức học tập nhất định Bài hướng dẫn thí nghiệm phải liên quan chặt chẽ với những bản chỉ dẫn học tập chuyên môn

 Multimedia (đa phương tiện)

Multimedia (đa phương tiện): được hiểu là sử dụng nhiều hơn một loại phương tiện vào cùng một thời điểm Kể từ lâu con người đã khám phá ra rằng các thông điệp sẽ trở nên có nhiều tác động hơn (có nghĩa là người nghe sẽ nhớ và hiểu chúng dễ hơn) khi chúng được biểu đạt với sự kết hợp của các phương tiện khác nhau

Ngày nay con người thường sử dụng lời nói, âm thanh, văn bản, hình ảnh đồ họa, hoạt cảnh và video để chuyển tải thông tin

Vậy Multimedia là sự hợp nhất của nhiều phương tiện truyền thông (âm thanh, đồ họa, hoạt cảnh, video…) nhằm tăng cường tác động ảnh hưởng đến các thông điệp

Multimedia cung cấp cho người thầy khả năng tích hợp các kênh thông tin phong phú vào tài liệu giảng dạy của mình Tuy nhiên chính sự tích hợp của nhiều kênh thông tin (màu sắc, âm thanh, ảnh động, …) có thể sẽ làm rối loạn nhận thức của người học, vì họ không biết điều gì là chủ yếu mình cần phải ghi nhớ Vì vậy, người thầy cần phải biết với kênh thông tin nào cần cho người học lưu trữ thì ta nhấn mạnh kênh đó, những kênh không cần thiết hay

bị lạm dụng quá đáng sẽ gây rối loạn cho người học

Ngày nay với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin khả năng tích hợp các kênh thông tin phong phú cho tài liệu học tập được nâng cao (có nhiều phần mềm hỗ trợ cho việc mô phỏng, diễn họa, tạo ảnh động, như là: Power Point, Macromedia Flash, Director MX, Macromedia Dreamweaver, Adobe Acrobat), nhưng khả năng đó cũng có mặt trái của nó, nếu người thầy quá lạm dụng và đưa vào quá nhiều kênh thông tin không cần thiết và không biết cách tổ chức chúng sao cho người học dễ dàng tiếp cận và tìm kiếm thì sẽ gây rối loạn, quá tải cho người họ Tương tự với các hình thức hỗ trợ khác như mô phỏng, hay luyện tập trên máy tính nếu việc thiết kế không được tính toán một cách chu đáo thì sẽ không có tác dụng thậm chí là phản tác dụng

Trang 21

Để có được một sản phẩm (phương tiện dạy học) đa phương tiện với sự hỗ trợ của máy tính tốt cần lưu ý một số đặc điểm sau khi thiết kế:

- Giữ cho đơn giản

Giữ sườn bài đơn giản, rõ ràng và trong thiết kế tài liệu phải có sự phù hợp, nhất quán giữa nội dung, hình ảnh… Hạn chế một cách có cơ sở sự quá tải kiến thức (dựa trên mục tiêu)

Giữ cho tài liệu không bừa bộn bằng cách chắt lọc những thành phần cần thiết

Sàng lọc những thông tin dư thừa

Cấu trúc tài liệu thành những modul cục bộ

Thiết kế các màn hình đơn giản và sử dụng chữ, ảnh động, âm thanh màu sắc hợp lý

- Sử dụng các tín hiệu lôi cuốn sự chú ý phù hợp

Sử dụng màu sắc, mũi tên, bóng mờ, âm thanh vừa phải để hướng sự chú

ý của người học vào các phần quan trọng

Tránh phân chia sự chú ý của người học, sử dụng các thành phần như chữ, hình ảnh, âm thanh để củng cố thông điệp chứ không lạm dụng gây nhầm lẫn

- Mã hóa kép các thông tin

Một thông tin nên trình bày bằng nhiều cách khác nhau: bài text, hình ảnh, mô phỏng chuyển động, âm thanh…

- Hỗ trợ cho bộ nhớ và hỗ trợ người học xử lý thông tin

Hỗ trợ và khuyến khích người học: lập lại, sắp xếp tổ chức lại các thông tin đã học thông qua các bài tập, thiết lập các bảng tóm tắt, phân loại, phân lớp các tài liệu

Hỗ trợ thêm các thông tin mà người học có thể quên, tránh mất thời giờ tìm kiếm của người học

- Thiết kế các mô phỏng ở cấp độ cao cho các bài luyện tập

Đối với các kỹ năng được hình thành theo một trình tự người học cần được luyện tập với các bài tập mô phỏng ở cấp độ cao, các mô phỏng thiết kế càng gần với thực tế càng tốt

- Hướng dẫn và khuyến khích người học sử dụng các chiến lược nhận thức

Học qua các tình huống, khám phá dưới sự hướng dẫn, học từ các sai

hỏng…

1.7 Cơ sở lựa chọn phương tiện dạy học

Trang 22

Khi lựa chọn thiết kế phương tiện dạy học, giáo viên chú ý đến những vấn đề cơ bản về phương tiện dạy học như: chức năng của phương tiện dạy học, vai trò của phương tiện dạy học trong giáo dục, vai trò của các giác quan

trong quá trình truyền thông dạy học, các tính chất của phương tiện dạy học,

ba nguyên tắc sử dụng phương tiện dạy học và dựa vào:

- Mục đích yêu cầu sư phạm, dựa vào các khâu của quá trình dạy học

- Mục tiêu học tập: kiến thức, kỹ năng, tư tưởng thái độ

- Đặc điểm môn học và tính chất của tài liệu cụ thể

- Đặc điểm lứa tuổi, trình độ học sinh: mỗi lứa tuổi đều có đặc điểm sinh lý khác nhau, mức độ nhận thức khác nhau

- Điều kiện thiết bị của nhà trường, thời gian giảng dạy, hiện trường dạy học

- Trình độ thiết kế, chế tạo và sử dụng phương tiện dạy học của giáo viên kết hợp với kinh nghiệm giảng dạy thực tế

- Nguyên tắc dạy học trực quan

1.8 Các mô hình lựa chọn và chế tạo phương tiện dạy học

Có rất nhiều mô hình lựa chọn và chế tạo phương tiện dạy học của LEVIE, của GOODMAN, mô hình ASSURE Có thể đúc kết các mô hình lựa chọn và chế tạo phương tiện dạy học như sau:

Phân tích:

Phân tích thực trạng giảng dạy môn học

Phân tích mục tiêu

Lập kế hoạch chi tiết cho từng bài học

Sử dụng các kỹ thuật, công nghệ phù hợp để thể hiện thiết kế phương

tiện

Thực nghiệm :

Đưa thiết kế vào thực hiện trên một lớp học thực nghiệm

Đánh giá:

Trang 23

Đánh giá hình thành: thực hiện trong quá trình nhằm cải tiến thiết kế bằng việc quan sát, rút kinh nghiệm qua từng phần

Đánh giá tổng kết: Đánh giá hiệu quả bằng cách đo lường kết quả học

đối chiếu với các mục tiêu học tập và lớp học đối chứng

Trang 24

Chương 2

THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC

MÔN “THIẾT KẾ ÁO DÀI “ 2.1 Phân tích cơ sở thực tiễn cho việc thiết kế, chế tạo phương tiện dạy học môn: “Thiết kế áo dài “ hệ trung học chuyên nghiệp Trường Cao đẳng Kinh tế Kỹ thuật Công nghiệp II

2.1.1 Giới thiệu môn Thiết kế áo dài

Tầm quan trọng:

Môn Thiết kế áo dài là môn chuyên ngành, vừa chứa đựng cả nội dung lý thuyết và thực hành, thuộc ngành Công nghệ may Trong chương trình đào tạo ngành Công nghệ may, môn học này được bố trí giảng dạy vào học kỳ 2 cho học sinh học năm thứ 2 của hệ Trung học Chuyên nghiệp

Nội dung cơ bản của môn học này nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về phương pháp đo, phương pháp tính nguyên phụ liệu, phương pháp thiết kế áo dài và phương pháp may hoàn chỉnh một bộ áo dài

cơ bản

Có thể nói, chiếc áo dài Việt Nam không chỉ xuất hiện trong những dịp trọng đại như Tết cổ truyền dân tộc, các lễ hội, hội nghị, trình diễn thời trang, đám cưới, … mà cả trong những ngày thường, ở các cơ quan ngoại giao, giáo dục, tiếp viên hàng không, bưu điện, … ở trong nước mà còn ở cả ngoài nước Đây là loại trang phục truyền thống của người Việt Nam, được thực hiện cẩn thận, tỉ mỉ và đa số các công đoạn phải thực hiện bằng thủ công, độ phức tạp nhiều hơn những trang phục khác Vì thế, đòi hỏi người thực hiện phải thông hiểu về may đo, phải có tính cần cù và khéo léo thì mới cho ra đời sản phẩm đẹp Do đó môn Thiết kế áo dài là môn không thể thiếu trong chương trình đào tạo ngành Công nghệ may Chính môn học này sẽ cung cấp cho học sinh những phương pháp thiết kế và may trang phục cơ bản mà khi tiếp cận với thực tế sản xuất học sinh sẽ phát triển cho những sản phẩm phức tạp hơn

Mục tiêu môn Thiết kế áo dài:

Sau khi học xong môn học học sinh có thể:

- Hiểu và giải thích chính xác những đặc điểm kiểu mẫu, các số đo cần thiết cho việc thiết kế, các công thức và phương pháp thiết kế áo dài

- Thiết kế, dựng hình được các chi tiết trong một sản phẩm cụ thể (áo dài Việt Nam), trên cơ sở của hệ thống cỡ số, lượng cử động phù hợp với từng cơ thể người mặc

- May hoàn chỉnh một bộ áo dài theo đúng quy trình may

Trang 25

- Phân tích và lựa chọn phương pháp thiết kế mẫu mới hợp lý và hiện đại

Nội dung chương trình môn Thiết kế áo dài:

Nội dung chương trình được trình bày qua đề cương chi tiết môn Thiết kế áo dài như sau:

1 Tên môn học: THIẾT KẾ ÁO DÀI

2 Số đơn vị học trình: 4 (60 tiết)

3 Trình độ: học sinh năm thứ 2

4 Phân bố thời gian:

- Lý thuyết: 30 tiết

- Thực hành: 30 tiết

5 Điều kiện tiên quyết:

Học sinh phải học qua các môn đại cương, các môn lý thuyết cơ sở (vẽ kỹ thuật, vật liệu may, thiết bị may), các môn lý thuyết chuyên môn (công nghệ may, kỹ thuật may cơ bản, thiết kế quần áo cơ bản, … )

6 Mô tả vắn tắt nội dung học phần:

Môn học trang bị cho học sinh những kiến thức về phương pháp lấy số

đo trên cơ thể người, về hệ thống công thức thiết kế, về phương pháp dựng hình, quy trình cắt may lắp ráp quần ống xéo, áo dài tay raglan, áo dài tay ráp phồng

7 Nhiệm vụ của học sinh:

- Dự lớp ít nhất 80% số tiết học quy định đối với môn học

- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ phục vụ học lý thuyết và thực hành may gồm: viết chì, thước, kéo, phấn may, kim, chỉ, vải, …

- Thực hiện đầy đủ bài tập được giao

- Đo, cắt, may hoàn chỉnh sản phẩm một cách thuần thục

- Nghiên cứu, tham khảo thêm tài liệu về thiết kế trang phục

8 Tài liệu học tập:

- Triệu Thị Chơi, Cắt may toàn tập, NXB Phụ nữ- 1998

- Huỳnh Kim Phiến, Bài giảng môn Y phục truyền thống, ĐHSPKT-

TP.HCM- 2002

- Giáo trình “Thiết kế quần áo cao cấp” Trường Cao Đẳng Kinh Tế Kỹ

Thuật Công Nghiệp II

9 Tiêu chuẩn đánh giá kết quả học tập của học sinh:

- Thi viết và thực hành cắt, may sản phẩm hoàn chỉnh

10 Thang điểm: 10 điểm

Trang 26

11 Mục tiêu của môn học:

Sau khi học xong môn học học sinh có khả năng:

 Hiểu và giải thích chính xác những đặc điểm kiểu mẫu, các số đo cần thiết cho việc thiết kế, các công thức và phương pháp thiết kế áo dài

 Thiết kế, dựng hình được các chi tiết trong một sản phẩm cụ thể (áo dài Việt Nam), trên cơ sở của hệ thống cỡ số, lượng cử động phù hợp với từng cơ thể người mặc

 May hoàn chỉnh một bộ áo dài theo đúng quy trình may

 Phân tích và lựa chọn phương pháp thiết kế mẫu mới hợp lý và hiện đại

12 Nội dung môn học: Bao gồm 3 chương và chia thành 6 bài Dưới đây

là đề cương môn Thiết kế áo dài:

Chương 1: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ ÁO DÀI

Bài 1: PHƯƠNG PHÁP ĐO

1.1 Phương pháp đo:

A Một số yêu cầu trước khi đo

B Đo dài áo

C Đo hạ eo trước

D Đo hạ eo sau

E Đo dài tay

F Đo dài quần

G Đo chéo ngực

H Đo dang ngực

I Đo vòng cổ

J Đo vòng ngực

K Đo vòng eo

L Đo vòng mông

M Đo vòng nách

N Đo vòng bắp tay

1.2 Phương pháp tính vải:

A Phương pháp tính vải quần ống xéo

B Phương pháp tính vải áo dài

Trang 27

Bài 2: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ QUẦN ỐNG XÉO

2.1 Hình vẽ mô tả mẫu (mẫu phác họa)

2.2 Phương pháp thiết kế

A Thân quần

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng đáy

c Vẽ sườn quần

d Vẽ chiết quần

e Cách cắt, cộng đường may

B Lưng quần

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ ÁO DÀI

Bài 1: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ ÁO DÀI TAY RAGLAN

1.1 Hình vẽ mô tả mẫu (mẫu phác họa)

1.2 Phương pháp thiết kế

A Thân sau

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn áo

e Vẽ tà áo

f Vẽ lai áo

g Vẽ chiết eo

h Cách cắt, cộng đường may

B Thân trước

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn áo

e Vẽ tà áo

f Vẽ lai áo

g Vẽ chiết eo, chiết ngực

h Cách cắt, cộng đường may

C Tay áo

Trang 28

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn tay

e Vẽ lai tay

f Cách cắt, cộng đường may

D Bâu áo

E Hò áo

F Vạt con

Bài 2: PHƯƠNG PHÁP THIẾT KẾ ÁO DÀI TAY RÁP PHỒNG

2.1 Hình vẽ mô tả mẫu (mẫu phác họa)

2.2 Phương pháp thiết kế

A Thân sau

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn áo

e Vẽ tà áo

f Vẽ lai áo

g Vẽ chiết eo

h Cách cắt, cộng đường may

B Thân trước

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn áo

e Vẽ tà áo

f Vẽ lai áo

g Vẽ chiết eo, chiết ngực

h Cách cắt, cộng đường may

C Tay áo

a Xác định các đường ngang

b Vẽ vòng cổ

Trang 29

c Vẽ vòng nách

d Vẽ sườn tay

e Vẽ lai tay

f Cách cắt, cộng đường may

D Bâu áo

E Hò áo

F Vạt con

Chương 3: QUY TRÌNH MAY ÁO DÀI

Bài 1: QUY TRÌNH MAY QUẦN ỐNG XÉO

1.1 May chiết quần

1.2 Ráp sườn quần

1.3 May lai quần

1.4 Tra dây kéo

1.5 May lưng quần

1.6 Ráp đáy quần

1.7 Các công đoạn trang trí khác

A Đơm móc

B Làm bọ

C Uûi hoàn tất sản phẩm

Bài 2: QUY TRÌNH MAY ÁO DÀI TAY RAGLAN

2.1 May lai tay, ráp sườn tay

2.2 May chiết eo, chiết ngực

A May chiết eo

B May chiết ngực 2.3 May hò áo

2.4 May tà áo

2.5 May vạt con

2.6 Ráp sườn áo, ráp vạt con

2.7 Tra tay áo

2.8 May bâu áo

2.9 Kiểm tra bâu áo khớp với cổ thân áo

2.10 Tra bâu áo vào thân áo

2.11 Lược bâu áo

Trang 30

2.12 May sườn thân trước tay phải

2.13 Lên lai áo

2.14 Các công đoạn trang trí khác

A Đơm nút

B Kết móc

C Làm khuy

D Uûi hoàn tất sản phẩm

2.1.2 Thực trạng giảng dạy môn Thiết kế áo dài

Giáo viên phụ trách môn học

Hiện nay khoa Dệt May có 17 giáo viên, trong đó 10 giáo viên thuộc bộ môn Công nghệ may và 7 giáo viên còn lại thuộc bộ môn Dệt 100% giáo viên của bộ môn Công nghệ may có trình độ từ Cao đẳng, trong đó 10% tốt nghiệp cao học chuyên ngành Giáo dục học, 80% tốt nghiệp đại học Sư phạm kỹ thuật và 10% tốt nghiệp cao đẳng, đúng chuyên ngành giảng dạy

Trước năm 2003 do khoa Dệt May chưa được hình thành môn Thiết kế áo dài và chưa có giáo viên cơ hữu phụ trách môn học này

Từ năm 2003 trong chương trình học đã có môn Thiết kế áo dài và có một giáo viên cơ hữu chuyên trách môn học này

Chương trình môn học

Với sự phát triển của ngành Công nghệ may, nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm may trong giai đoạn hiện nay, các phương pháp thiết kế sản phẩm may rất được quan tâm và phát triển Trên thực tế chất lượng hàng may mặc xuất khẩu của Việt Nam chưa đều, còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới

Hiện nay, sản phẩm may mặc khá đa dạng phong phú nhưng khả năng đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng trong và ngoài nước còn hạn chế Mẫu mã sản phẩm còn đơn điệu, chưa đẹp hoặc không phù hợp với sinh hoạt ngày thường nên chưa thu hút sự chú ý của người tiêu dùng

Vì lý do trên từ khoá 2002-2003 môn Thiết kế áo dài đã được đưa vào giảng dạy với chương trình môn học

Cơ sở vật chất phục vụ môn học

Khoa có hai xưởng may gồm: 1 máy cắt vải (máy cắt vòng), 3 máy vắt sổ công nghiệp 5 chỉ, 1 máy đóng nút, 1 máy thùa khuy, 1 máy giác sơ đồ, hơn

60 máy may công nghiệp Một phòng cắt, một phòng thiết kế Các thiết bị hỗ trợ khác: bàn ủi, kéo, thước dây, thước cây, manơcanh, …

Ngày đăng: 18/11/2020, 14:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1. Tỷ lệ kiến thức thu được qua các giác quan - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.1. Tỷ lệ kiến thức thu được qua các giác quan (Trang 4)
Hình 2.2 . Giao diện nội dung của phần giới thiệu - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.2 Giao diện nội dung của phần giới thiệu (Trang 40)
Hỡnh 2.1. Giao dieọn chớnh cuỷa phaàn meàm - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
nh 2.1. Giao dieọn chớnh cuỷa phaàn meàm (Trang 40)
Hỡnh 2.3 . Giao dieọn chung cuỷa chửụng - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
nh 2.3 . Giao dieọn chung cuỷa chửụng (Trang 41)
Hình 2.4. Giao diện chung các bài học - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.4. Giao diện chung các bài học (Trang 42)
Hình 2.5. Giao diện chung mục tiêu bài học - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.5. Giao diện chung mục tiêu bài học (Trang 42)
Hình 2.6. Giao diện trình bày nội dung bài 1 chương 3 - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.6. Giao diện trình bày nội dung bài 1 chương 3 (Trang 43)
Hình 2.7. Giao diện phần mô phỏng - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.7. Giao diện phần mô phỏng (Trang 44)
Hình 2.8. Giao diện phần luyện tập - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 2.8. Giao diện phần luyện tập (Trang 44)
Hỡnh 2.9. Giao dieọn phaàn traộc nghieọm - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
nh 2.9. Giao dieọn phaàn traộc nghieọm (Trang 45)
Hình 3.1. Đồ thị điểm kiểm tra đầu vào lớp đối chứng và thực nghiệm - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 3.1. Đồ thị điểm kiểm tra đầu vào lớp đối chứng và thực nghiệm (Trang 47)
Bảng 3.1:  Kết quả khảo sát về tính hấp dẫn của phương tiện dạy học mới - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Bảng 3.1 Kết quả khảo sát về tính hấp dẫn của phương tiện dạy học mới (Trang 49)
Bảng 3.3:  Kết quả khảo sát về tính dễ sử dụng của phần mềm dạy học mới - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Bảng 3.3 Kết quả khảo sát về tính dễ sử dụng của phần mềm dạy học mới (Trang 50)
Bảng 3.4:  Kết quả khảo sát về tính rõ ràng về nội dung - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Bảng 3.4 Kết quả khảo sát về tính rõ ràng về nội dung (Trang 51)
Hình 3.2.: Đồ thị phân bố điểm số đầu ra của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm - Thiết kế và chế tạo phương tiện dạy học môn thiết kế áo dài hệ trung học chuyên nghiệp trường cao đẳng kinh tế kỹ thuật công nghiệp II
Hình 3.2. Đồ thị phân bố điểm số đầu ra của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm (Trang 55)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm