• Khi có chỉ định PM vĩnh viễn: Mode tạo nhịp thích hợp nhất cho bệnh nhân phải được lựa chọn.. • Sự lựa chọn phụ thuộc vào có mặt của các bất thường cụ thể • Từ khi một loạt các chức nă
Trang 1CHỌN MODE TẠO NHỊP TRONG HỘI CHỨNG NÚT XOANG BỆNH LÝ
TS Phạm Hữu Văn
Trang 2• Khi có chỉ định PM vĩnh viễn: Mode tạo nhịp thích hợp nhất cho bệnh nhân phải được lựa chọn
• Sự lựa chọn phụ thuộc vào có mặt của các bất thường cụ thể
• Từ khi một loạt các chức năng máy tạo nhịp tim đã được
phát triển để đáp ứng nhu cầu lâm sàng cụ thể
Trang 3Lựa chọn mode tạo nhịp từ lâu được dựa trên các căn cứ sau:
- Tình trạng hoạt động của nhĩ
- Tình trạng dẫn truyền nhĩ thất
- Khả năng đáp ứng với gắng sức hay khả năng điều biến tần
số (chronotropically competent)
Trang 5• Hầu hết BN có thể được điều trị bằng 1 trong 2 hoặc 3 chế
độ thông thường ( AAI, VVI, hoặc DDD), có hoặc không có
TS đáp ứng
• Đa số PM linh hoạt, có khả năng có phương thức tạo nhịp
thường được sử dụng nhất và cơ bản: chế độ chuyển đổi và tần số đáp ứng)
• Một số tính năng, chẳng hạn như rớt tần số (rate – drop
pacing) và tạo nhịp thất có điều chỉnh (managed ventricular pacing), có sẵn trong các thiết bị lựa chọn
Trang 6Chế độ để giảm thiểu tạo nhịp thất
● Thuật toán tránh tạo nhịp thất:
- DDD có AAI, nếu mất dẫn truyên AV được cảm nhận → DDD cho một khoảng thời gian cho đến khi các thuật toán một lần nữa tìm kiếm dẫn AV nội tại
- Kết quả: TS tạo nhịp thất ↓ so với tạo nhịp 2 buồng thường (9 so với 99% và 4
so với 74% trong hai nghiên cứu )
● Tìm kiếm thời gian AV trễ
- DDD có thể lập trình với trễ AV cài đặt trước, nhưng ở một khoảng thời gian lập trình (ví dụ, mỗi 32-1024 nhịp đập ) sẽ cho phép trễ AV cài đặt sẵn để kéo dài thời gian lên đến 100% để xem dẫn truyền nội tạo biểu hiện
- Nếu dẫn với PR dài hoặc AR xảy ra, trễ AV lập trình được tự động tăng lên đến mức độ cần thiết để cho phép dẫn truyền nội tại (thường tăng gấp đôi trong
khoảng thời gian ban đầu được lập trình)
• Sweeney MO, Bank AJ, Nsah E, et al Minimizing ventricular pacing to reduce atrial fibrillation in sinus-node disease N Engl J Med 2007; 357:1000
• Sweeney MO, Ellenbogen KA, Casavant D, et al Multicenter, prospective, randomized safety and efficacy study of a new atrial-based managed ventricular pacing mode (MVP) in dual chamber ICDs J
Cardiovasc Electrophysiol 2005; 16:811
• Olshansky B, Day JD, Moore S, et al Is dual-chamber programming inferior to single-chamber programming in an implantable cardioverter-defibrillator? Results of the INTRINSIC RV (Inhibition of
Unnecessary RV Pacing With AVSH in ICDs) study Circulation 2007; 115:9
Trang 7• Khi AAI, các thiết bị này có lợi ích chỉ cần một đây đơn
• Tuy nhiên, không giống VVI, sẽ không bảo vệ khi block AV
• Do hạn chế, nhu cầu PM nhĩ không được thường xuyên sử dụng
• Nhiều bác sĩ lo ngại sau này sẽ phát triển thành bệnh dẫn truyền AV
• Nâng cấp máy tạo nhịp tim có thể kỹ thuật khó hơn vị trí ban đầu của một buồng, thủ thuật thứ hai rõ ràng là đòi hỏi thêm chi phí và rủi ro
Trang 8Tuy nhiên, nếu BN HCNXBL được đánh giá một cách cẩn
thận và không có bệnh nút AV tại thời điểm cấy máy tạo nhịp tim
Đánh giá dẫn truyền AV bằng kỹ thuật KT vượt tần số
Mặc dù tiêu chí khác nhau giữa các tổ chức và các bác sĩ cấy
máy, BN người lớn nên có khả năng dẫn 1: 1 AV với TS 120-140 nhịp / phút
Sự xuất hiện của bệnh nút AV ý nghĩa LS < 2% mỗi năm Hayes DL, Furman S Stability of AV conduction in sick sinus node syndrome patients with implanted atrial pacemakers Am Heart J 1984; 107:644.
Trang 9Tạo nhịp DDD hoặc DDDR — Cung cấp hệ thống tạo nhịp sinh lý
Trang 10Hiệu quả trên bệnh suất và tử suất
Một NC và phân tích so sánh TNSL và TN- VVI
Trong tổng hợp, các báo cáo chứng minh trên toàn bộ BN có chỉ định nhịp chậm cho PM
TNSL không cải thiện sự sống sót hay tỷ lệ ST
Nhưng làm giảm tỷ lệ mắc chứng rung tâm nhĩ (AF ) và có thể làm giảm tỷ lệ đột quỵ
Trang 11Phân tích từ 5 thử nghiệm ngẫu nhiên:
● NC Đan Mạch trên 225 BN bị hội chứng bệnh xoang (SSS)
và dẫn truyền AV bình thường
● NC MOST 2010 BN với SSS, 20% trong số đó cũng bị
bệnh dẫn truyền nút AV
● NC CTOPP thử nghiệm 2568 BN cả SSS và bệnh dẫn AV ( 42% SSS)
● NC PASE 407 BN, 43% SSS
● NC UKPACE 2021 BN cao tuổi, tất cả đều bị bệnh dẫn AV
Trang 12Gồm 7.231 BN và > 35.000 BN / năm TD T TB 76 Ngẫu nhiên DDD, AAI Những phát hiện sau đây đã được ghi nhận:
● Không có sự khác biệt trong tỷ lệ ST hoặc TV do tất cả các NN giữa TNSL
và VVI ( tỷ lệ TV 31 so với 33% do mọi NN)
Trang 13Tuy nhiên, do một số khác biệt trong quần thể BN (ví dụ, SSS so với
block AV, BN cao tuổi ), và PM được sử dụng ( ví dụ, AAI đối lại DDD), một số điểm của từng NC có giá trị xem xét :
● Trong phân tích nhóm nhỏ, kết quả từ NC Đan Mạch cho thất lợi ích
lớn hơn của TNSL trong SSS hơn trong block AV
● BN rất cao tuổi, tỷ lệ AF và đột quỵ là cao bất kể mode tạo nhịp Đặc
biệt người có block AV
● Điều này được minh họa tốt nhất trong UKPACE trên 2021 BN cao
tuổi (TB 80 tuổi), tất cả có block AV Trong số này, TNSL không làm ↓ tỷ lệ tử vong, AF, hoặc huyết khối tắc mạch
Toff WD, Camm AJ, Skehan JD, United Kingdom Pacing and Cardiovascular Events Trial Investigators Single-chamber versus dual-chamber pacing for high-grade atrioventricular block N Engl J Med 2005; 353:145.
Trang 15Ưu tiên bệnh nhân - Mặc dù không có lợi ích phù hợp TV, BN có vẻ
thích TNSL được minh họa bằng các quan sát sau:
● Trong NC chéo mù đôi chế độ nhịp khác nhau, 86% bệnh nhân ưa
thích nhịp sinh lý
● PASE và MOST, điểm số chất lượng cuộc sống cao hơn ở những
bệnh nhân có SSS phân ngẫu nhiên để TNSL
● Trong các NC LS so sánh TNSL và VVI, khi từ VVI → TNSL đã
được dễ dàng, 38% BN đã chọn Trong PASE và MOST, Tần số giao nhau trong hai thử nghiệm này là 26 và 38% (so với ít hơn 5% trong các thử nghiệm khác)
Sulke N, Chambers J, Dritsas A, Sowton E A randomized double-blind crossover comparison of four rate-responsive pacing modes J Am Coll Cardiol 1991; 17:696.
Trang 16• Dựa trên tỷ lệ giảm của rung tâm nhĩ và sở thích
bệnh nhân, người ta cho rằng nhịp sinh lý nên được sử dụng trong hầu hết các bệnh nhân cần một máy tạo nhịp tim
Trang 18THUẬT TOÁN LỰA CHỌN MODE
Trang 22KẾT LUẬN
• Hầu hết BN có thể được điều chỉnh bằng một trong ba mode tạo nhịp: AAI (R), VVI (R), hoặc DDD (R)
• Tại thời điểm cấy, ta nên xem xét có bao nhiêu điện cực sẽ
là cần thiết và đặc tính nào thêm vào, nếu có, sẽ có giá trị tiềm năng
Trang 23Các PM 1 buồng hoặc 2 buồng
• Sự lựa chọn quan trọng nhất: nên đặt PM một buồng
hoặc hai:
● BN AF mạn, có chỉ định PM cho nhịp thất chậm, chọn VVI hoặc VVIR ) (CC 1B )
● BN có điều kiện có thể được điều trị với hoặc là một hoặc hai buồng (ví dụ, blốc AV, SSS), đề nghị PM 2 buồng (CC 2B )
Trang 24• PM 1 buồng hợp lý ở BN rất cao tuổi hoặc có giải phẫu và điều kiện thể lực cho cấy PM 2 buồng khó khăn hơn bình thường
• PM AAI (R) lựa chọn hợp lý thay cho tạo nhịp VVI (R) trong SSS khi nút AV tốt và đáp ứng các tiêu chí test lúc cấy máy
• Tuy nhiên, nhịp AAIR hiệu quả cũng có thể được thực hiện với một máy tạo nhịp hai buồng với một lựa chọn tránh nhịp tâm thất
Trang 26XIN TRÂN TRỌNG CẢM ƠN SỰ QUAN TÂM CỦA
CÁC QUY ĐỒNG NGHIỆP !
Toàn văn bài này sẽ được đăng trong web.site của Hội Nhịp Tim tp HCM