Đặt vấn đề Kinh tế trang trại KTTT là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh tế nông hộ, là mô hình sản xuất đã có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vaitrò quan trọng trong qu
Trang 1Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Kinh tế trang trại (KTTT) là bước phát triển cao có tính quy luật của kinh
tế nông hộ, là mô hình sản xuất đã có từ rất lâu, mang tính phổ biến và giữ vaitrò quan trọng trong quá trình phát triển nông nghiệp ở hầu hết các quốc giatrên thế giới Thực tế đã chứng minh kinh tế trang trại đã phát huy được vaitrò to lớn, tạo ra sức mạnh mới trong sự nghiệp phát triển nông nghiệp nôngthôn, phát triển KTTT đã khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai, vốn, kỹ thuật,kinh nghiệm quản lí góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, khuyến khíchlàm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo, phân bổ lại lao động, dân cư khôngnhững vậy mà việc phát triển kinh tế trang trại còn góp phần vào việc chuyểndịch cơ cấu kinh tế
Ở Việt Nam trong những năm gần đây nhất là từ sau Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị năm 1988, kinh tế trang trại đã có những bước phát triển khá vàtừng bước khẳng định là một hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh nôngnghiệp có nhiều ưu thế và phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu của mộtnền sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Đảng và nhà nước ta cũng đã có nhiều chính sách khuyến khích pháttriển và bảo hộ KTTT như các Nghị định, Quyết định như: Nghị định số51/1999/NĐ-CP, Nghị định số 30/1998/NĐ-CP- quy định chi tiết thi hànhLuật thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng quy định đối tượng nộp thuế lànhững hộ làm kinh tế trang trại đã sản xuất kinh doanh ổn định, có giá trịhàng hóa và lãi lớn, giảm thấp nhất mức thuế suất, nhằm khuyến khích pháttriển kinh tế trang trại, Nghị định số 43/1999/NĐ-CP - hỗ trợ đầu tư phát triểnkết cấu hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, thông tin, cơ sởchế biến, ngoài ra còn rất nhiều các chính sách về thuế, khoa học - công nghệ,
Trang 2môi trường, thị trường Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại đangđặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết kịp thời.
Huyện Ba Vì là một địa phương có nhiều tiềm năng phát triển kinh tếtrang trại, đặc biệt là trang trại chăn nuôi Trong những năm gần đây trang trạichăn nuôi đã và đang phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và quy mô, nên đãcải thiện về thu nhập cho nhiều hộ nông dân, làm thay đổi bộ mặt của vùngnông thôn, giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người lao động Tuy nhiênbên cạnh đó, vấn đề quy hoạch trang trại chăn nuôi( TTCN) còn giàn trải,chưa đồng bộ, việc phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi( KTTTCN) cũnggặp không ít những khó khăn như: chủ trang trại hầu hết còn thiếu kiến thứckhoa học kỹ thuật, khó khăn về tiêu thụ sản phẩm, thiếu vốn; lao động trangtrại chưa qua đào tạo, thị trường các yếu tố đầu vào, và đầu ra còn bấp bênh,thiếu ổn định, tiềm ẩn nhiều rủi ro…
Chính vì vậy tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thực trạng và giải pháp phát triển kinh tế trang trại chăn nuôi hộ gia đình trên địa bàn huyện Ba
Vì - Thành phố Hà Nội” nhằm đánh giá tổng quát nhất về tình hình TTCN
trên địa bàn huyện và đưa ra những giải pháp để phát triển ngành chăn nuôimột cách hiệu quả, phù hợp trong giai đoạn hiện nay
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá thực trạng phát triển KTTTCN trên địa bàn huyện Ba Vì
Phân tích được những khó khăn thuận lợi và các yếu tố ảnh hưởng đến
sự phát triển ngành chăn nuôi tại huyện Ba Vì
Xác định được những định hướng và giải pháp phát triển bền vững KTTTCN trênđịa bàn huyện
Trang 31.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Bổ sung và hệ thống hóa một số kiến thức về trang trại và KTTT, cácyếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế trang trại
Sinh viên có cái nhìn tổng thể hơn về thực trạng phát triển KTTT trên địabàn huyện Ba Vì, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm khắc phục những khókhăn, tồn tại thúc đẩy phát triển KTTT
Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phương pháp nghiên cứu khoahọc cho mỗi sinh viên trước khi ra trường
Là tài liệu tham khảo cho các bạn sinh viên tham gia nhiên cứu khoa học
về vấn đề kinh tế trang trại
1.4.1 Ý nghĩa trong thực tiễn.
Đề tài có thể là cơ sở khắc phục những vấn đề bất cập mà các trang trạiđang gặp phải
Đề tài có thể đưa ra những định hướng, giải pháp thiết thực giúp ngườilao động, các chủ trang trại phát triển trang trại của mình
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho các nhà quản lý, lãnh đạo,các ban ngành đưa ra phương hướng để phát huy những tiềm năng thế mạnh,giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển kinh tế trang trại ngàycàng hiệu quả và bền vững
Trang 4Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Khái niệm về kinh tế trang trại
Hiện nay khái niệm về kinh tế trang trại đối với nước ta vẫn còn là vấn
đề tương đối mới Tuy nhiên cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kinh tếtrang trại, mỗi tác giả có một góc nhìn khác nhau về loại hình kinh tế này Tôixin đưa ra một số khái niệm về kinh tế trang trại như sau:
- Theo tác giả Trần Đức: “Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức sản xuất cơ sở trong nước có mục đích chủ yếu là sản xuất sản phẩm hàng hoá, tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô tập trung đủ lớn, với cách thức tổ chức, quản lý tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trường”.[9]
- Theo tác giả Lê Trọng: “ Kinh tế trang trại (hay kinh tế nông lâm ngư trại) là một hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của nền sản xuất xã hội, dựa trên cơ
sở hợp tác và phân công lao động xã hội Bao gồm một số người lao động nhất định được chủ trang trại tổ chức, trang bị những tư liệu sản xuất kinh doanh, phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường và được nhà nước bảo hộ” [4].
Nghị quyết 03/2000/NQ - CP ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế
trang trại đã ghi rõ: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nông nghiệp, nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng, gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm, thuỷ sản”.
Trang trại là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp của các hộ gia đình nôngdân, hình thành và phát triển chủ yếu trong điều kiện kinh tế thị trường khiphương thức sản xuất tư bản thay thế phương thức sản xuất phong kiến.[5]
Trang 5Phần lớn các các nhà nghiên cứu đều cho rằng trang trại là một loại hình
tổ chức sản xuất cơ sở trong nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, có mục đích chính làsản xuất hàng hoá, có tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữu, hoặc quyền sửdụng của một người chủ độc lập, sản xuất được tiến hành trên quy mô ruộngđất và các yếu tố sản xuất tiến bộ, trình độ kỹ thuật cao, hoạt động tự chủ vàluôn gắn với thị trường
Kinh tế trang trại là một loại hình kinh tế sản xuất hàng hoá phát triểntrên cơ sở kinh tế hộ nhưng ở quy mô lớn hơn, được đầu tư nhiều hơn về cảvốn và kỹ thuật, có thể thuê mướn nhân công để sản xuất ra vài loại sản phẩmhàng hoá từ nông nghiệp với khối lượng lớn cho thị trường
Để hiểu hơn về khái niệm kinh tế trang trại, trước hết cần phân biệt cácthuật ngữ “trang trại” và “kinh tế trang trại” Trong tiếng Việt hiện nay haithuật ngữ này trong nhiều trường hợp được sử dụng không phân biệt, tuynhiên về thực chất “trang trại” và “kinh tế trang trại” là hai khái niệm khôngđồng nhất
Kinh tế trang trại là tổng thể các yếu tố vật chất của sản xuất và các quan
hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tồn tại và hoạt động của trang trại Còntrang trại là nơi kết hợp các yếu tố vật chất của sản xuất và là chủ thể của cácquan hệ kinh tế đó.[7] Điểm chung của những khái niệm trên cho thấy kinh tếtrang trại là kinh tế hộ nông dân sản xuất hàng hoá, nhưng quy mô sản xuấthàng hoá đó phải đạt tới một mức độ tương đối lớn Như vậy, trang trại làhình thức tổ chức sản xuất hàng hoá dựa trên cơ sở lao động, đất đai, tư liệusản xuất cơ bản của hộ gia đình, hoàn toàn tự chủ và bình đẳng với các tổchức kinh tế khác, sản phẩm làm ra chủ yếu để bán và tạo nguồn thu nhậpchính cho gia đình
2.1.2 Các đặc trưng chủ yếu của kinh tế trang trại
Theo công văn số 216/KTTW ngày 04/09/1998 của Ban Kinh tế Trungương về báo cáo kết quả hội nghị nghiên cứu kinh tế trang trại đã sơ bộ xác địnhcác đặc trưng chủ yếu để nhận dạng kinh tế trang trại ở nước ta hiện nay là:
Trang 6* Trang trại là hình thức tổ chức kinh tế trong nông, lâm, ngư nghiệp,được hình thành trên cơ sở kinh tế hộ nhưng mang tính chất sản xuất hànghoá rõ rệt, đạt khối lượng và tỷ lệ sản phẩm hàng hoá lớn hơn và thu được lợinhuận nhiều hơn
* Mục đích chủ yếu của kinh tế trang trại là sản xuất nông sản phẩmhàng hoá theo nhu cầu thị trường
* Tư liệu sản xuất trong trang trại thuộc quyền sở hữu hay sử dụng củamột người chủ Trang trại hoàn toàn có quyền tự chủ trong tổ chức hoạt độngsản xuất kinh doanh
* Các yếu tố sản xuất của trang trại trước hết là ruộng đất và tiền vốn được tậptrung với quy mô nhất định theo yêu cầu phát triển sản xuất hàng hoá
* Lao động chính trong các trang trại chủ yếu là chủ trang trại vànhững người trong gia đình và có thuê mướn lao động theo hình thứccông nhật hoặc thời vụ
* Chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có vốn, có năng lực tổ chứcquản lý, có kiến thức và kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp, đồng thời có hiểubiết nhất định về kinh doanh và nắm bắt nhu cầu thị trường
* Trang trại có cách tổ chức và quản lý sản xuất tiến bộ dựa trên cơ
sở chuyên môn hoá sản xuất, thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học côngnghệ, thực hiện hạch toán, điều hành sản xuất hợp lý và thường xuyêntiếp cận thị trường
* Phương thức khai thác đất đai bằng chính sức lao động trực tiếp vàkinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của gia đình
* Kinh tế trang trại mang bản chất kinh tế hai mặt của kinh tế hộ nôngdân: vừa là đơn vị sản xuất mang tính chất gia đình; vừa mang dáng dấp củamột loại hình doanh nghiệp tư nhân một chủ sở hữu
* Kinh tế trang trại còn có đặc trưng thể hiện sự phát triển cao hơn vềchất so với kinh tế nông hộ, điểm khác chủ yếu giữa kinh tế nông hộ với kinh
tế trang trại là mục tiêu và quy mô sản xuất hàng hoá; sản xuất hàng hoá làđặc trưng có tính bản chất của kinh tế trang trại
Trang 72.1.3 Vị trí và vai trò của kinh tế trang trại
* Về tính chất và vị trí của kinh tế trang trại:
Theo Nghị quyết 03 năm 2000 của Chính phủ thì:
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hoá trong nôngnghiệp nông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình nhằm mở rộng quy mô vànâng cao hiệu quả sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ nông lâm, thuỷ sản
- Phát triển kinh tế trang trại nhằm khai thác sử dụng có hiệu quả đất đai,vốn, kinh nghiệm quản lý góp phần phát triển nông nghiệp bền vững, tạo việclàm, tăng thu nhập, khuyến khích làm giàu đi đôi với xoá đói giảm nghèo,phân bổ lại lao đông, dân cư, xây dựng nông thôn mới
- Quá trình chuyển dịch, tích tụ ruộng đất hình thành các trang trại gắnliền với quá trình phân công lại lao động ở nông thôn, từng bước chuyển dịchlao động nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp, thúc đẩy tiến trìnhcông nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn
* Vai trò của kinh tế trang trại nói chung.
Ở các nước phát triển, trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu,
có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống kinh tế nông nghiệp,có vai trò tolớn và quyết định trong sản xuất nông nghiệp, là lực lượng sản xuất ra phầnlớn sản phẩm nông nghiệp trong xã hội, tiêu thụ sản phẩm cho các ngànhcông nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho chế biến và thương nghiệp
Trong điều kiện nước ta, vai trò và hiệu quả phát triển của kinh tế trangtrại phải được đánh giá, nhìn nhận trên cả ba mặt đó là: hiệu quả về mặt kinh
tế, xã hội và môi trường Được thể hiện rõ trên các nội dung chủ yếu sau:
- Vai trò thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, góp phần đưa sản xuấtnông nghiệp lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Kinh tế trang trại là một bước phát triển mới của nền sản xuất xã hội, lànhân tố mới ở nông thôn, là động lực mới, nối tiếp và phát huy động lực kinh
tế hộ nông dân, là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nông nghiệphàng hoá, tạo ra sức sản xuất mới, có khả năng tạo ra khối lượng lớn về nông
Trang 8sản hàng hoá đáp ứng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Kinh tế trang trại làm ra sản phẩm để bán theo yêu cầu của thị trường,nên nó kích thích sản xuất và đòi hỏi cạnh tranh để tồn tại, phát triển Đểgiành thắng lợi trong cạnh tranh, các trang trại phải nâng cao năng suất laođộng, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành để nâng cao hiệu quả sản xuấtkinh doanh Muốn vậy, các trang trại phải biết đầu tư quy mô sản xuất hợp
lý, đầu tư khoa học công nghệ, máy móc thiết bị, tăng cường quản lý , do
đó kinh tế trang trại đã góp phần thúc đẩy nhanh việc sản xuất hàng hoá trongnông nghiệp nông thôn Sự tập trung sản xuất đòi hỏi các trang trại tất yếuphải tiến hành cơ giới hoá, điện khí hoá các khâu của quá trình sản xuất, vậnchuyển, bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Như vậy, kinh tế trang trại
đã tạo điều kiện để đưa nông nghiệp đi dần vào công nghiệp hoá, hiện đạihoá, tạo tiền đề đi lên sản xuất lớn
- Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành quan hệ sản xuất mớitrong nông nghiệp và nông thôn Sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại
ở nước ta hiện nay là xu hướng tất yếu của tập trung hoá, chuyên môn hoá vàthị trường hoá sản xuất nông nghiệp, góp phần tích cực trong quá trìnhchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, phát triển các loại câytrồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng manh mún,phân tán, tạo nên những vùng chuyên canh hoá, tập trung hoá và thâm canhcao, tạo điều kiện thúc đẩy công nghiệp phát triển nhất là công nghiệp chếbiến, thương mại và dịch vụ, góp phần làm nông thôn phát triển, tạo thu nhập
ổn định trong một bộ phận dân cư làm nông nghiệp
Nhiều chủ trang trại đã đầu tư hoặc tự giác hợp tác với nhau để đầu tưmua sắm máy móc thiết bị công nghiệp để chế biến sản phẩm tạo ra nhữngbán thành phẩm nông sản hàng hoá cung cấp đầu vào cho các cơ sở chế biếnhàng xuất khẩu lớn hơn của Nhà nước
Một số doanh nghiệp Nhà nước đã hợp tác với các trang trại thực hiệnđầu tư ứng trước vốn cho chủ trang trại và bao tiêu toàn bộ sản phẩm, tạo
Trang 9thế chủ động về nguồn nguyên liệu cho sản xuất kinh doanh
Một số lâm trường quốc doanh đã khoán khoanh nuôi, bảo vệ, chămsóc rừng cho các hộ dân, điều đó tạo ra sự phân công và hợp tác, làmchuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng côngnghiệp hoá, hiện đại hoá
- Vai trò huy động, khai thác các nguồn lực trong dân, giải quyết việclàm cho lao động xã hội, làm giàu cho nông dân, cho đất nước
Kinh tế trang trại là sự đột phá trong bước chuyển sang sản xuất nôngnghiệp hàng hoá, lấy việc khai thác tiềm năng và lợi thế so sánh phục vụ nhucầu xã hội làm phương thức chủ yếu, nên các trang trại phải nỗ lực tìm mọibiện pháp để phát huy tiềm năng đất đai Huy động các nguồn lực về vốn, laođộng, kinh nghiệm, kỹ thuật trong dân một cách hợp lý, có hiệu quả để mởrộng và phát triển sản xuất, tăng thêm lợi nhuận Điều đó dẫn đến sự tích tụ vàtập trung đất đai, vốn đầu tư tạo quy mô sản xuất của các trang trại ngày mộtlớn hơn, thu hút, sử dụng ngày càng nhiều lao động hơn.[5]
- Vai trò sử dụng hiệu quả và bảo vệ tài nguyên đất đai
Bên cạnh lợi ích về kinh tế, Nhà nước và cộng đồng còn thu được lợi ích
về tài nguyên và môi trường Phát triển kinh tế trang trại đã góp phần khaithác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đất đai tài nguyên, đưa đất hoanghoá vào phát triển sản xuất, nhất là đối với vùng trung du, miền núi, và venbiển Ngoài ra, phát triển kinh tế trang trại còn góp phần tăng nhanh độ chephủ rừng, bảo vệ môi trường tận dụng mặt nước cho nuôi trồng thuỷ sản
2.1.4 Một số các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của hệ thống trang trại nói chung và trang trại chăn nuôi nói riêng.
* Các nhân tố chủ quan
- Vốn đầu tư của chủ trang trại
Một trang trại muốn phát triển với quy mô lớn thì điều kiện tiên quyết làvấn đề vốn đầu tư của trang trại Với loại hình kinh tế trang trại nào, phươngthức huy động vốn ra sao, thì việc đầu tư vốn có hiệu quả và thể hiện triển
Trang 10vọng sản xuất của trang trại là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ trangtrại diễn ra trong quá trình sản xuất.
- Trình độ quản lý, chuyên môn nghiệp vụ của các chủ trang trại
Các chủ trang trại thường không được đào tạo, hoặc được đào tạo mộtcách chắp vá ảnh hưởng tới việc quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sảnxuất và tiếp cận thông tin thị trường…dẫn đến việc quản lý không tốt, trangtrại phát triển kém dễ bị tác động lớn từ các biến đổi của thị trường
- Quy mô diện tích trang trại
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn tuy nhiên đất canh tác lạithiếu vì dân cư tập chung đông tại các vùng đồng bằng thuận lợi trong sảnxuất và buôn bán Quỹ đất trung du miền núi lớn nhưng chỉ phù hợp với pháttriển các trang trại chăn nuôi đại gia súc, hơn nữa do giao thông đi lại khókhăn nên việc phát triển các trang trại chăn nuôi quy mô lớn ở những vùngnày gặp rất nhiều khó khăn Chính vì vậy việc tổ chức quy hoạch đất đainhằm phát triển hệ thống trang trại phù hợp, lâu dài, bền vững là vô cùngquan trọng
- Trình độ lao động trong trang trại
Trang trại đã giải quyết được một phần lao động nông nhàn ở nông thôn,phân bố lại dân cư và lao động giữa các ngành và các vùng trong địa phương
Trang 11Tuy nhiên, hầu hết số lao động đều chưa qua đào tạo, trình độ kỹ thuật cònhạn chế do đó ảnh hưởng rất lớn tới việc áp dụng KHKT vào sản xuất hạn chế
sự phát triển của các trang trại, vệ sinh và bảo vệ môi trường
*Các nhân tố khách quan
- Nhân tố môi trường
+ Khí hậu( nhiệt độ, độ ẩm, thời tiết…): Ảnh hưởng trực tiếp tới sự sinhtrưởng và phát triển của vật nuôi, tới việc bảo quản thức ăn, nguy cơ bùngphát dịch bệnh…
+ Dịch bệnh: Dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triểncủa mỗi trang trại Nếu trang trại phòng trừ và chữa trị tốt vật nuôi khỏe mạnhlớn nhanh sẽ đem lại lợi nhuận lớn cho trang trại, tuy nhiên nếu không có biệnpháp phòng trừ hợp lý để dịch bệnh lây lan trên diện rộng không những làmthiệt hại cho trang trại mà còn ảnh hưởng tới các trang trại xung quanh, cũngnhư vấn đề vệ sinh môi trường các khu vực lân cận
- Chính sách của nhà nước: Các chủ trương chính sách hợp lý thôngthoáng sẽ kích thích sự phát triển của hệ thống trang trại, tăng cường lưuthông hàng hóa phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên do còn nhiều vướng mắcchưa được tháo gỡ, các quy định của cơ quan nhà nước như thú y, kiểm soát
vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng thức ăn gia súc còn những bất cập chưatạo điều kiện cần và đủ để trang trại phát triển bền vững
Thời gian giao đất, cho thuê đất, thủ tục giao đất, cho thuê đất còn nhiềukhó khăn; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm; chính sáchvay vốn còn hạn chế và nhiều bất cập làm ảnh hưởng tới quá trình đầu tư xâydựng và phát triển của các trang trại
- Tốc độ tăng dân số: Dân số và môi trường là nền tảng cho sự phát triểnbền vững Không thể có sự phát triển bền vững nếu môi trường bị hủy hoại,suy thoái, chất lượng cuộc sống và sức khỏe người dân bị sa sút Sự pháttriển bền vững phụ thuộc rất lớn vào công tác dân số và bảo vệ môi trường.Nhiều khi giá phải trả cho chi phí về môi trường nhiều hơn những thứ con
Trang 12người thu về từ thiên nhiên Dân số, môi trường và phát triển tạo thành vòngquay tuần hoàn khép kín ảnh hưởng chi phối lẫn nhau Dân số tăng nhanh dẫnđến nhu cầu về lương thực thực phẩm và các mặt hàng thiết yếu tăng nhanhkích thích sự phát triển của hệ thống các trang trại, tuy nhiên nó cũng gây rasức ép rất lớn về vấn đề đất đai và môi trường Chính vì vậy cần phải cónhững chiến lược phát triển lâu dài mang tính bền vững cho ngành chăn nuôisao cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển của xã hội.
2.1.4 Phân loại các loại hình kinh tế trang trại
* Theo nguồn gốc hình thành
Có ba con đường chính hình thành trang trại:
- Trang trại được hình thành từ những khu đất từ thời phong kiến Đây
là các trang trại hình thành từ các khu đất thuộc quyền sở hữu tư nhân củatầng lớp quý tộc, địa chủ
- Trang trại phát triển từ kinh tế hộ gia đình: Quá trình sản xuất đã diễn
ra sự phân hoá giữa các hộ Các hộ sản xuất kinh doanh thuận lợi sẽ phát triểncao hơn về quy mô và kết quả sản xuất mà hình thành các trang trại
- Trang trại hình thành theo kiểu xí nghiệp TBCN: Các nhà tư bản đầu
tư vốn vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp, họ bỏ tiền mua máy móc thiết
bị, thuê đất đai và lao động, kinh doanh theo kiểu tư bản chủ nghĩa hình thànhcác trang trại
Trang 13* Theo hình thức quản lý
- Trang trại gia đình: toàn bộ tư liệu sản xuất đều thuộc quyền sở hữu của
hộ gia đình, hộ gia đình là người tự quyết định tổ chức và sản xuất kinhdoanh Loại hình trang trại này sử dụng sức lao động trong gia đình là chính,kết hợp thuê nhân công phụ trong mùa vụ
Trang trại gia đình là mô hình sản xuất phổ biến trong nền nông nghiệpthế giới, chiếm tỷ trọng lớn về đất canh tác và khối lượng nông sản so với cácloại hình sản xuất khác
- Trang trại hợp tác: là loại hình hợp tác tự nguyện của một số trang trạigia đình với nhau thành một trang trại quy mô lớn hơn để tăng thêm khả năng
về vốn, tư liệu sản xuất và công nghệ mới tạo ra ưu thế cạnh tranh
- Trang trại cổ phần: là loại hình hợp tác các trang trại thành một trangtrại lớn theo nguyên tắc góp cổ phần và hoạt động giống nguyên tắc của công
ty cổ phần Loại hình này chủ yếu phát triển trong lĩnh vực chế biến, tiêu thụlâm sản
- Nông trại uỷ thác: là loại hình trang trại mà chủ trang trại uỷ thác cho
bà con, bạn bè quản lý từng phần hoặc toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanhtrong khoảng thời gian nhất định khi chủ trang trại đi làm việc khác
* Theo cơ cấu sản xuất
- Trang trại kinh doanh tổng hợp: là loại nông trại sản xuất kinh doanhnhiều loại sản phẩm, gắn trồng trọt với chăn nuôi, nông nghiệp với các ngànhnghề khác
- Trang trại sản xuất chuyên môn hoá là trang trại tập trung sản xuất kinhdoanh một loại sản phẩm như trang trại chuyên nuôi gà, vịt, lợn và bò sữa,chuyên trồng hoa, rau, chuyên nuôi trồng thuỷ sản
Trang 142.1.5 Các tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại
Thông tư số 74/2003/TT-BNN,ngày 04/7/2003 của bộ NN&PTNT vềviệc thay thế thông tư liên tịch số 62/2003/TTLT/BNN-TCTK Qua đó đưa ratiêu chí để xác định kinh tế trang trại như sau:
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đượcxác đinh là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí sau :về giá trị sản lượnghàng hoá, dịch vụ bình quân một năm hoặc quy mô sản xuất phải tương đốilớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng với từng ngành sản xuất vàvùng kinh tế:
Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hànghoá của các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thuỷ sản thì tiêu chíxác định trang trại là giá trị sản lượng hàng hoá dịch vụ bình quân năm
2.1.5.1 Giá trị sản lượng hàng hoá bình quân một năm
- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền Trung từ 40 triệu đồng trở lên
- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên từ 50 triệu đồng trở lên
2.1.5.2 Quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông hộ tương ứng ngành sản xuất và vùng kinh tế
* Đối với trang tại trồng trọt
(1).Trang trại trồng cây hàng năm
+ Từ 2 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây nguyên
(2).Trang trại trồng cây lâu năm
+ Từ 3 ha trở lên đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên Hải miền Trung+ Từ 5 ha trở lên đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên
+ Trang trại trồng hồ tiêu từ 0.5 ha trở lên
(3).Trang trại lâm nghiệp
+Từ 10 ha trở lên đối với các vùng trong cả nước
*Đối với trang trại chăn nuôi
(1).Chăn nuôi gia súc ,trâu ,bò…
Trang 15+ Chăn nuôi sinh sản lấy sữa thường xuyên từ 10 con trở lên
+ Chăn nuôi lấy thịt có thường xuyên từ 50 con trở lên
(2).Chăn nuôi gia súc :lợn ,dê
+ Chăn nuôi sinh sản có thường xuyên từ 20 con trở lên đối với lợn và
có từ 100 con trở lên đối với cừu và dê
+ Chăn nuôi lợn thường xuyên có từ 100 con trở lên ( không kể lợnsữa) dê thịt từ 200 con trở lên (không tính dê con dưới 7 ngày tuổi)
* Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
Diện tích mặt nước để nuôi trông thuỷ sản có từ 2 ha trở lên( riêng đốivới nuôi tôm theo kiểu công nghiệp diện tích mặt nước từ 1 ha trở lên)
*Trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp
Là những trang trại có từ 2 hoạt động sản xuất nông, lâm, và nuôi trồngthuỷ sản khác nhau trở lên và mỗi hoạt động đều đạt về quy mô hoặc mức giátrị hàng hoá và dịch vụ như quy định cho trang trại
2.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1 Tình hình phát triển trang trại trên thế giới
Trải qua vài thế kỷ tồn tại và phát triển, kinh tế trang trại đã được khẳngđịnh là mô hình sản xuất phù hợp và đạt hiệu quả kinh tế trong sản xuất nônglâm nghiệp Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi quốc gia, kinh tế trang trại rất đadạng cả về hình thức quản lý, quy mô và cơ cấu sản xuất
Ở hầu hết các nước, trang trại là hình thức sản xuất giữ vị trí xung kíchtrong quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn và trở thành lựclượng chủ lực khi nền kinh tế phát triển đến giai đoạn cao Thực tiễn đãchứng minh rằng kinh tế trang trại có vai trò quan trọng ở các nước đang pháttriển (Hàn Quốc, Đài Loan,…) và đang tiếp tục phát huy tác dụng ở nhữngnước có nền kinh tế phát triển cao (Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản,….) Kinh tế trangtrại gia đình đã thể hiện rõ vai trò tích cực trong quá trình phát triển nôngnghiệp thế giới, thúc đẩy ngành sản xuất nông sản hàng hoá và đưa nền nôngnghiệp tiến lên hiện đại.[3]
Trang 16Kinh tế trang trại phát triển mạnh ở thời kỳ các nước tiến hành côngnghiệp hoá sau đó, khi công nghiệp phát triển thì số lượng trang trại có xuhướng giảm dần và quy mô trang trại có xu hướng tăng lên
Ở những vùng đất mới như châu Mỹ, châu Úc thì quy mô trang trại là rấtlớn Như ở Mỹ mỗi trang trại có diện tích bình quân từ 180-200 ha, ở Canađa
là 400-450 ha, ở Úc là 500 ha, thậm chí hàng nghìn ha…Họ gọi là trang trạinhưng thực chất đó là những đồn điền được Nhà nước khuyến khích, bảo vệbằng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Ở Mỹ, năm 1950 có 5.648 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 151ha/ trang trại, nhưng đến năm 1992 chỉ còn 1.925 nghìn trang trại với diệntích bình quân là 198 ha/ trang trại
Ở Anh năm 1950 có 453 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 36 ha,đến 1987 còn 254 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 71 ha/ trang trại
Ở Pháp năm 1955 có 2.285 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 14ha/ trang trại, đến nay còn 952 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 19ha/ trang trại
ỞĐức năm 1960 có 1.709 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 10ha/trang trại, đến năm 1985 còn có 983 nghìn trang trại với diện tích bìnhquân là 15 ha/trang trại
Ở châu Á, chế độ phong kiến tồn tại hàng ngàn năm luôn là một cản trởđối với phát triển kinh tế hàng hoá và cơ chế thị trường Do vậy, kinh tế trangtrại cũng xuất hiện muộn hơn và quy mô nhỏ hơn ở châu Âu, châu Mỹ, nhiềunghiên cứu cho thấy quy mô trang trại nhỏ ở châu Á chiếm từ 60-70% về sốlượng, canh tác 30% diện tích và sản xuất 35% tổng sản phẩm nông nghiệp
Ở Nhật Bản, trang trại gia đình có vai trò quan trọng trong ngành nôngnghiệp, bảo đảm lương thực, thực phẩm cho xã hội Nhật Bản có xu hướng
mở rộng quy mô trang trại lên từ 10-20 ha, nhưng vẫn chưa thực hiện được.Năm 1970 Nhật Bản có 5.342 nghìn trang trại với diện tích bình quân là 1,1ha/trang trại, đến 1993 còn 3.691 nghìn trang trại với diện tích bình quân là1.38 ha/trang trại
Trang 17Ở Đài Loan năm 1970 có 916 nghìn trang trại với diện tích bình quân là0,38 ha/trang trại, đến năm 1998 còn 739 nghìn trang trại với diện tích bìnhquân là 1,21 ha/ trang trại
Ở Hàn Quốc năm 1965 có 2.507.000 trang trại có diện tích bình quân là0,90 ha/ trang trại, đến năm 1979 còn 1.772.000 trang trại có diện tích bìnhquân là 1,20 ha/trang trại Trang trại dưới 0.5 ha chiếm 29.7% từ 0,5 - 1 hachiếm 34.7%, trên 1 ha chiếm 35,6%
Một số nước khác thuộc Châu Á như: Inđônêsia, Malaixia…đang trongquá trình công nghiệp hoá nên luôn có sự biến động về số lượng và diện tíchbình quân của trang trại
Ở Inđônêsia, năm 1963 có 744.000 trang trại với diện tích bình quân là1.20 ha/trang trại đến năm 1973 có 808.000 trang trại với diện tích bình quân
là 1.14 ha/trang trại/ đến năm 1983 có 916.000 trang trại với diện tích bìnhquân là 0.95 ha/trang trại
Ở Thái Lan, năm 1963 có 3.124.000 trang trại với diện tích bình quân
là 0.55 ha/ trang trại đến năm 1978 có 4.018.000 trang trại với diện tích bìnhquân là 0.8 ha/trang trại
Ngày nay, ở Châu Mỹ La tinh các đồn điền đang trong quá trình chia nhỏruộng đất cho các công nhân nông nghiệp hình thành các trang trại nông nghiệp giađình có trình độ chuyên môn nông nghiệp mà vẫn tập trung được lượng nông sảnhàng hoá lớn Họ thấy rằng hình thức kinh doanh tư bản chủ nghĩa không thích hợpvới sản xuất nông nghiệp Ở các nước xã hội chủ nghĩa đang trong quá trình chia nhỏlại các xí nghiệp nông nghiệp và phát triển hình thức trang trại gia đình Từ đó có thểnhận thấy điểm tương đồng là “sản xuất lớn” không thể áp dụng có hiệu quả hơn sovới kinh tế trang trại trong gia đình nông nghiệp
Sản lượng chăn nuôi năm 2009
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới - FAO năm
2009 số lượng đầu gia súc và gia cầm chính của thế giới như sau: Tổng đàntrâu 182,2 triệu con và trâu phân bố chủ yếu ở các nước Châu Á, tổng đàn bò
Trang 181.164,8 triệu con, dê 591,7 triệu con, cừu 847,7 triệu con, lợn 887,5 triệu con,
gà 14.191,1 triệu con và tổng đàn vịt là 1.008,3 triệu con Tốc độ tăng về sốlượng vật nuôi hàng năm của thế giới trong thời gian vừa qua thường chỉ đạttrên dưới 1% năm
Hiện nay các quốc gia có số lượng vật nuôi lớn của thế giới như sau:
Về số lượng đàn bò nhiều nhất là Brazin 204,5 triệu con, nhì Ấn Độ172,4 triệu, thứ ba Hoa kỳ 94,5 triệu, thứ tư là Trung Quốc 92,1 triệu, thứnăm Ethiopia và thứ sáu Argentina có trên 50 triệu con bò
Chăn nuôi trâu số một là Ấn Độ 106,6 triệu con (chiếm trên 58% tổng sốtrâu của thế giới), thứ hai Pakistan 29,9 triệu trâu, thứ ba Trung Quốc 23,7 triệu con,bốn Nepan 4,6 triệu con, thứ năm Egypt 3,5 triệu, thứ sáu Philippine 3,3 triệu con
và Việt Nam đứng thứ 7 thế giới đạt 2,8 triệu con trâu
Các cường quốc về chăn nuôi lợn của thế giới: số đầu lợn hàng năm số một
là Trung Quốc 451,1 triệu con, nhì Hoa Kỳ 67,1 triệu, ba Brazin 37,0 triệu, ViệtNam đứng thứ 4 có 27,6 triệu con và thứ năm Đức 26,8 triệu con lợn
Về chăn nuôi gà số một Trung Quốc 4.702,2 triệu con gà, nhì Indonesia1.341,7 triệu, ba Brazin 1.205,0 triệu, bốn Ấn Độ 613 triệu và năm Iran 513triệu con gà Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 thế giới
Chăn nuôi Vịt nhất Trung Quốc có 771 triệu con, nhì Việt Nam 84triệu, ba Indonesia 42,3 triệu, bốn Bangladesh 24 triệu và thứ năm Pháp có22,5 triệu con Vịt
Về số lượng vật nuôi của thế giới, các nước Trung quốc, Hoa kỳ, Ấn
Độ, Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước có tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 về số lượng vịt, thứ 4 về heo, thứ 6 về số lượng trâu và thứ 13 về số lượng gà.
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế trang trại trong nước.
* Tình hình phát triển kinh tế trang trại trong nước
Hình thức kinh tế trang trại ở nước ta đã xuất hiện sơ khai từ đời Lý,Trần…, trải qua các thời kỳ lịch sử, kinh tế trang trại có các tên gọi khác nhau
Trang 19như “Thái ấp”; “Điền trang”; Đồn điền”…Trước cách mạng và trong thời kỳkháng chiến chống Pháp, chống Mỹ có trang trại, đồn điền của địa chủ, chủnông, chủ tây Các trang trại này phần lớn sử dụng lao động làm thuê từ táđiền, cũng là kiểu phát canh thu tô và công cụ sản xuất thủ công, sử dụng sứcngười, súc vật, sản xuất mang tính quảng canh, độc canh một số cây ngắnngày là chính Bên cạnh đó còn có kinh tế trang trại của những nhà tư sảntrong nước và nước ngoài, một số tướng lĩnh thời nguỵ làm ăn kinh tế Hìnhthức trang trại ở dạng các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa, đồn điềncao su, cà phê và những cây công nghiệp khác phục vụ cho mục đích làm giàucủa chúng.[5]
Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, các trang trại trước đóđược cải tạo, tập thể hoá, quốc doanh hoá thành các cơ sở sản xuất tập thể vàNhà nước dưới hình thức hợp tác xã, nông trường, trạm trại Tiếp theo đó,Nhà nước đã có những chủ trương mới về giao đất, giao rừng, thực hiện nông,lâm kết hợp, khuyến khích di dân kinh tế mới, khai hoang, phục hoá tạo tiền
đề cho kinh tế trang trại phát triển Đặc biệt, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trịkhoá VI và Nghị quyết Trung ương 5 khoá VII cũng như luật đất đai năm
1993, đã mở đường cho các thành phần kinh tế trong nông nghiệp phát triển
và từ đó xuất hiện ngày một nhiều các mô hình kinh tế trang trại trên khắp cảnước Bước sơ khai của kinh tế trang trại trong giai đoạn này chủ yếu mangtính tự phát và cho đến nay phát triển kinh tế trang trại đã và đang trở thànhvấn đề được Đảng, Nhà nước ta quan tâm và khuyến khích phát triển
Ngày 02/02/2000, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số
03/2000/NQ-CP về phát triển kinh tế trang trại Tạo điều kiện hợp pháp cho loại hình kinh
tế trang trại phát huy năng lực sản xuất, kinh doanh thông qua các chính sách
ưu đãi về nhiều mặt đối với kinh tế trang trại
Mặt khác, Nhà nước đã ban hành các tiêu chí xác định kinh tế trang trạinhằm tạo điều kiện quản lý, hỗ trợ và khuyến khích kinh tế trang trại pháttriển trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
Trang 20Tháng 1/1981 Chỉ thị 100/CT-BBT ra đời đánh dấu quá trình đổi mớitrong nông nghiệp, nông thôn, thực sự giải phóng sức sản xuất cho nông dân.
Đại hội VII (tháng 12/1986) đề ra chủ trương đổi mới nền kinh tế nước
ta Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (tháng 4/1987) về đổi mới cơ chế quản lýkinh tế nông nghiệp, khẳng định hộ gia đình xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ,khuyến khích phát triển
Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương tháng12/1997 và Nghị quyết số 06 ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị về phát triểnnông nghiệp, nông thôn
Luật đất đai 1993 khẳng định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhànước quản lý Nhà nước giao cho hộ nông dân sử dụng ổn định, lâu dài với 5quyền đó là: quyền sử dụng, thừa kế, thế chấp, trao đổi, chuyển nhượng
+ Nghị định 64/CP (1993) quy định giao đất nông nghiệp cho hộ giađình và các cá nhân sử dụng lâu dài, thời hạn là 20 năm
+ Nghị định 02/CP (1994) quy định giao đất nông nghiệp cho các tổchức, cá nhân, hộ gia đình thời hạn 50 năm
+ Nghị định 01/CP (1994) quy định giao khoán kinh doanh rừng vàđất rừng lâu dài cho các cá nhân và hộ gia đình
+ Nghị quyết 03 ngày 02/02/2000 của Chính phủ về kinh tế trang trại.+ Thông tư số 423/2000/QĐNHNN ngày 22/9/2000 về chính sách tíndụng với kinh tế trang trại
+ Thông tư 23/2000/TTBNĐXH hướng dẫn áp dụng một số chế độđối với người lao động làm việc trong trang trại
+ Thông tư 69/2000/TTNB-BNN-TCTK và Thông tư số TCTK ngày 20/5/2003 hướng dẫn tiêu chí kinh tế trang trại
62/TT-NBN-Tính đến ngày 06/08/2009 cả nước có 120.699 trang trại, trong đó có34.361 trang trại trồng cây hàng năm (28,44 %), 24.215 trang trại trồng câylâu năm (20,06 %), 17.635 trang trai chăn nuôi (14,61 %), 34.989 trang trạinuôi trồng thuỷ sản ( 28,99 %) Các trang trại tập trung nhiều nhất ở Đồng
Trang 21Bằng Sông Cửu long là 47,62 %, Đông Nam Bộ là 11,43 %, Đồng Bằng SôngHồng 14,24 %, Tây Nguyên 7,85 %, Trung du miền núi phía Bắc 3,67%, BắcTrung Bộ và Duyên hải miền Trung 15,09 %.
Ở nước ta điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội mỗi vùng, mỗi miền làkhác nhau do đó sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại cung rất khácnhau Nhưng nhìn chung sản phẩm sản xuất từ các trang trại vẫn chủ yếuđược tiêu thụ dưới dạng thô, phụ thuộc nhiều về giá cả thị trường, khó tiêuthụ, cơ cơ hạ tầng yếu kém cần có những chính sách đồng bộ, toàn diện chonền kinh tế trang trại phát triển
Trang 22Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì- Thành phố Hà Nội
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Tình hình sản xuất của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì
từ năm 2008 đến năm 2010
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 17/2/2011 đến ngày 25/5/2011
3.3 Nội dung nghiên cứu
-Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Ba Vì
- Phân tích những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố ảnh hưởng tới quá
trình sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi
- Điều tra, nghiên cứu về tình hình sản xuất kinh doanh của một số trang
trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn
huyện Ba Vì – Hà Nội
3.4 Phương pháp nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1.1 Câu hỏi nghiên cứu.
Số lượng và quy mô của các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì?Hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại chăn nuôi trên địa bànhuyện Ba Vì?
Trang 23Các trang trại chăn nuôi trên địa bàn huyện Ba Vì đang phát triển theochiều hướng nào?
Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của cáctrang trại chăn nuôi?
3.4.1.2 Phương pháp thu thập thông tin
* Thu thập số liệu thứ cấp
- Thu thập số liệu thứ cấp là: thu thập những số liệu, thông tin liên quantrực tiếp và gián tiếp đến vần đề nghiên cứu của đề tài đã được công bố chínhthức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, như lấy số liệu từ các banngành của huyện, các báo cáo tổng kết liên quan đến vấn đề trang trại, thuthập số liệu qua sách báo, tạp chí, nghị định, quyết định…
- Thu thập số liệu thứ cấp trong đề tài này bao gồm:
+ Số liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội
+ Báo cáo tổng kết tình hình hoạt động của các trang trại trong 3 năm
2008 - 2010
+ Báo cáo thực trạng điều tra kinh tế trang trại
Các số liệu trên được thu thập thông qua các tài liệu thống kê, báo cáotổng kết của phòng Kinh tế huyện Ba Vì
* Thu thập số liệu sơ cấp
- Phương pháp chọn điểm điều tra: Đề tài chọn 4 xã : Ba Trại, Vật Lại,Tây Đằng, Vạn Thắng đại diện cho các vùng sinh thái trên địa bàn huyện
- Chọn mẫu điều tra:
+ Lượng mẫu chọn điều tra cho các chỉ tiêu nghiên cứu là 35 trang trại
Cụ thể được thể hiện qua bảng sau:
Trang 24Bảng 3.1 : Số lượng mẫu điều tra ở các điểm nghiên cứu
Loại hình TT lượng Số
(TT)
Cơ cấu (%)
Phân bố Vùng
miền núi Tỷ lệ (%) Vùng đồng bằng Tỷ lệ (%)
( Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)
* Số lượng trang trại chăn nuôi điều tra tại các xã cụ thể như sau:
- Ba trại: 12
Trang trại lợn: 5
Trang trại gia cầm: 4
Trang trại thủy cầm: 0
Trang trại tổng hợp: 3
- Vật Lại: 8
Trang trại lợn: 2
Trang trại gia cầm: 3
Trang trại thủy cầm: 0
Trang trại tổng hợp: 3
- Tây Đằng: 10
Trang trại lơn: 3
Trang trại gia cầm: 3
Trang trại thủy cầm: 2
Trang trại tổng hợp: 2
Trang 25-Vạn Thắng: 5
Trang trại lợn: 0
Trang trại gia cầm: 0
Trang trại thủy cầm: 3
Trang trại tổng hợp: 2
- Để thu thập số liệu sơ cấp, tôi sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: + Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn PRA : Trực tiếp tiếp xúc vớichủ trang trại, tạo điều kiện để cho họ tự bộc lộ, tự mô tả những điều kiện sảnxuất, những kinh nghiệm, những khó khăn và mong muốn của họ, để thu thậpđược thông tin cần thiết và tìm ra những thuận lợi, khó khăn khi tạo lập, vậnhành trang trại làm cơ sở đưa ra định hướng và giải pháp
+ Phương pháp điều tra trực tiếp chủ trang trại:
Phiếu điều tra chúng tôi có đủ thông tin về trang trại như nguyên nhân tạolập trang trại, kết quả sản xuất Phiếu điều tra được xây dựng cho từng trang trại
và đã được chuẩn bị từ trước Những thông tin về tình hình cơ bản của trang trạinhư: họ tên, tuổi, dân tộc, giới tính, trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, loại hìnhtrang trại, số khẩu, số lao động, diện tích đất đai, vốn sản xuất
Những thông tin về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của trangtrại như: tình hình các khoản chi phí, các khoản thu cả hiện vật và giá trị.Những thông tin về ý kiến, nguyện vọng, nhu cầu, thuận lợi, khó khăn củachủ trang trại Các yếu tố sản xuất như: vốn, kỹ thuật, lao động, giá cả thịtrường, các chính sách của Đảng và Nhà nước về kinh tế trang trại, sự giúp đỡcủa chính quyền địa phương, của nhân dân với vấn đề kinh tế trang trại
+ Phương pháp quan sát: Tiến hành trực tiếp khi vào điều tra trang trại,nhằm có cái nhìn tổng quát về trang trại, đồng thời cũng là những tư liệu đểđánh giá độ chính xác các thông tin mà chủ trang trại cung cấp
Trang 263.4.1.3 Phương pháp xử lí và phân tích thông tin
* Phương pháp xử lí thông tin
Những thông tin, số liệu thu thập được tổng hợp, phân tổ, đồng thờiđược xử lí thông qua chương trình Excle Việc xử lí thông tin là cơ sở choviệc phân tích
* Phương pháp phân tích thông tin
Khi đủ số liệu, sẽ tiến hành làm sạch biểu tức là kiểm tra, rà soát vàchuẩn hoá lại thông tin, loại bỏ thông tin không chính xác, sai lệch trong điềutra Toàn bộ số liệu điều tra thu thập được tổng hợp, tính toán và phân tổthống kê theo những tiêu thức khác nhau, các chỉ tiêu giá trị được hiện tạihoá bằng đơn giá thống nhất theo giá hiện hành của năm điều tra Trên cơ sở
đó sử dụng phương pháp phân tích sau:
- Phương pháp thống kê kinh tế
+ Phân tích so sánh kết quả của số liệu điều tra, thu thập: tính hiệu quả,đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến kết quả sản xuất của trang trại (vốn, đấtđai, lao động, trình độ quản lý), so sánh kết quả loại hình trang trại, nhận xét
xu hướng của trang trại Hạch toán các khoản mà trang trại đã chi ra, cáckhoản thu của trang trại, sử dụng phương pháp này trong công tác điều tra,tính các chỉ tiêu hiệu quả làm cơ sở cho sự định hướng đưa ra các giải phápcho sự phát triển của kinh tế trang trại
3.4.2 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.2.1 Chỉ tiêu phản ánh đặc điểm của chủ trang trại
+ Tuổi đời, giới tính
+ Dân tộc, tôn giáo
+ Nghề nghiệp,
+ Trình độ văn hoá, chuyên môn
3.4.2.2 Chỉ tiêu phản ánh yếu tố sản xuất
+ Đất đai bình quân 1 trang trại
+ Vốn bình quân 1 trang trại
Trang 27+ Lao động bình quân 1 trang trại
+ Thức ăn sử dụng trong trang trại
+ Phòng trừ dịch bệnh trong trang trại
+ Chi phí sản xuất trong trang trại:
Chi phí cố định: Là chi phí khấu hao của toàn bộ tài sản cố định trongtrang trại trong 1 năm bao gồm khấu hao nhà xưởng, chuồng trại; khấu haomáy móc thiết bị … trong trang trại
Chi phí lưu động : Là toàn bộ chi phí mà trang trại đầu tư để phát triểnsản xuất kinh doanh trong 1 năm bao gồm chi phí về giống, thức ăn, điện nước,thuốc men … những chi phí không cụ thể cố định mà thay đổi liên tục theo thờigian Chi phí lưu động được tính bằng tổng chi phí của 1 chu kỳ sản xuất kinhdoanh x số chu kỳ sản xuất kinh doanh trong 1 năm ( chu kỳ sản xuất kinhdoanh đối với trang trại lợn thit là 4, lợn giống : 2.5, gà :4, vịt: 4,…
3.4.2.3 Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất
Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh của trang trại như:giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, cụ thể là:
+ Giá trị sản xuất (Gross Output): là giá trị bằng tiền của các sản phẩmsản xuất ra ở trang trại bao gồm phần giá trị để lại để tiêu dùng và giá trị bán
ra thị trường sau một chu kỳ sản xuất thường là một năm Được tính bằng sảnlượng của từng loại sản phẩm nhân với đơn giá sản phẩm được xác định chitiết theo các chỉ tiêu giá trị sản xuất trên 1 ha canh tác; GTSX trên 1 ngàycông lao động; GTSX trên 1 đồng chi phí
Trang 28Cách tính: IC = ∑ Cij ,
Trong đó: IC : là chi phí trung gian
Cij : là chi phí nguyên vật liệu thứ i cho sản phẩm thứ j+ Giá trị gia tăng ( :Value Added), là giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ cho các ngành sản xuất kinh doanh
Cách tính: VA = GO - IC
Trong đó: VA : giá trị gia tăng
GO : giá trị sản xuất
IC : chi phí trung gian
3.4.2.4 Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất
+ Hiệu quả sự dụng lao động thể hiện qua giá trị gia tăng VA/lao động+ Hiệu quả sự dụng vốn : VA/vốn
3.4.2.5 Chỉ tiêu phản ánh vấn đề bảo vệ môi trường
+ Xử lý chất thải trong các trang trại chăn nuôi
Trang 29Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1 Vị trí địa lý
Ba Vì là huyện thuộc vùng bán sơn địa nằm ở phía Tây Bắc của thànhphố Hà Nội, từ 21o đến 21o19`40``o độ vĩ Bắc, 105017`35`` đến 105028`22``kinh độ đông cách trung tâm thành phó hà nội 53km
Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì của tỉnh Phú Thọ và tỉnh Vĩnh Phúc,ranh giới là con sông Hồng Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn và Kỳ Sơncủa tỉnh Hoà Bình Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới là sông Đà PhíaĐông Bắc giáp sông Hồng, ngăn cách với tỉnh Vĩnh Phúc Phía Đông Namgiáp thị xã Sơn Tây và một phần nhỏ của huyện Thạch Thất
Huyện Ba Vì được thành lập trên địa bàn các huyện cũ Bất Bạt, TùngThiện và Quảng Oai của tỉnh Sơn Tây Thời kỳ 1975 - 1978, huyện thuộc tỉnh
Hà Sơn Bình Từ năm 1978 đến năm 1991 thuộc thành phố Hà Nội Sau đó lạitrở về tỉnh Hà Tây và từ tháng 8/2008 lại thuộc về thành phố Hà Nội Huyệnbao gồm thị trấn Tây Đằng và 30 xã là: Thái Hoà, Ba Vì, Cổ Đô, Phú Cường,Tản Hồng,
Ba vì nối liền với các tỉnh và trung tâm thành phố Hà Nội bằng các trụcđường bộ quan trọng như quốc lộ 32, 88 Đặc biệt quốc lộ 32 chạy qua nốiliền nội thành Hà Nội với các tỉnh phía bắc( Hoài Đức, Đan Phượng, PhúcThọ, Sơn Tây) đến các tỉnh Phú Thọ, Yên Bái,v.v… Ngoài ra, Ba Vì còn có
hệ thống đường giao thông liên huyện liên xã phát triển, cùng với tuyếnđường thủy qua phía Tây Bắc và Đông Bắc huyện( sông Hồng và sông Đà vớitổng chiều dài trên 70 km) với hệ thống các bến đò và bến phà trải dọc trên 2sông là những điều kiện thuận lợi thúc dẩy kinh tế phát triển
Trang 30Ba Vì còn tiếp giáp với nhiều khu vực kinh tế, khu công nghiệp Việt Trì,nhà máy thủy điện Hòa Bình, Trong tương lai còn tiếp cận với nhiều khu vănhóa lớn của cả nước: Làng Văn Hóa, trường Đại học quốc gia, chuỗi đô thịMiếu Môn – Sơn Tây, khu công nghiệp Phú Cát.v.v…
Ba Vì còn là tuyến phòng thủ phía Tây của thủ đô Hà Nội, vì vậy có vịtrí đặc biệt quan trọng đối với quốc phòng và an ninh quốc gia
4.1.1.2 Địa hình
Huyện thuộc vùng bán sơn địa ở phía Tây Bắc tỉnh Hà Tây cũ Địa hìnhđược chia ra làm ba vùng rõ rệt: vùng núi, vùng đồi gò, vùng đồng bằng vensông Vùng núi chiếm 47,5% diện tích, có các núi cao trên 700m, trong đócao nhất là Tản Viên cao 1.296m, đỉnh Vua và Ngọc Hoa cao trên 1000m.Vùng đồng bằng lại được bao bọc và bồi đắp bởi hai con sông là sông Hồng
và sông Đà nên đất đai rất phì nhiêu, màu mỡ Huyện có hai hồ rất lớn là hồSuối Hai và hồ Đồng Mô Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì Ở ranhgiới của huyện với tỉnh Phú Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữasông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sôngHồng và sông Lô (tại các xã Tản Hồng và Phú Cường, đối diện với thành phốViệt Trì)
4.1.1.3 Khí hậu
Đặc điểm chung của Ba Vì bị chi phối bởi các yếu tố vĩ độ Bắc, cơ chếgió mùa, sự phối hợp giữa gió mùa và vĩ độ tạo nên khí hậu nhiệt đới ẩm vớimùa đông lạnh và khô Nhiệt độ bình quân năm trong khu vực là 23,40C Ởvùng thấp, nhiệt độ tối thấp xuống tới 2,70C; nhiệt độ tối cao lên tới 420C Ở
độ cao 400m nhiệt độ trung bình năm 20,60C; Từ độ cao 1000m trở lên nhiệt
độ chỉ còn 160C Nhiệt độ thấp tuyệt đối có thể xuống 0,20 C Nhiệt độ caotuyệt đối 33,10C Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đềutrong năm, tập trung nhiều vào tháng 7, tháng 8 Độ ẩm không khí 86,1%.Vùng thấp thường khô hanh vào tháng 12, tháng 1 Từ độ cao 400m trở lênkhông có mùa khô Mùa đông có gió Bắc với tần suất >40% Mùa Hạ có gió
Đông Nam với tấn suất 25% và hướng Tây Nam
Trang 31Bảng 4.1: Lượng mưa hàng năm trên địa bàn huyện Ba Vì
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Vì năm 2010)
Lượng mưa hàng năm có sự thay đổi tuy nhiên vẫn theo 1 quy luật nhấtđịnh, giảm dần trong các tháng 9, 10, 11, 12 năm trước đến tháng 1, 2, 3 nămsau Có những tháng lượng mưa là 0ml như tháng 1, tháng 12 năm 2007 vàtháng 12 năm 2010 Sau đó lượng mưa tăng dần từ tháng 4 đến tháng 8, một
số năm có mưa trái mùa gây ngập úng cục bộ vào tháng 9, tháng 10 như năm
2008 và 2010 Qua đó ta có thể thấy khí hậu ở Ba Vì có sự phân hoá 2 mùa rõrệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thích hợp với trồng 1 số loại cây: lúamùa, rau muống, nuôi trồng thuỷ sản… mùa khô thích hợp với 1 số loại câyrau màu vụ đông như khoai lang, lạc, đậu tương, rau cải, lúa chiêm…
4.1.4 Chế độ thuỷ văn
Hệ thống sông suối trong khu vực chủ yếu bắt nguồn từ thượng nguồnnúi Ba Vì và núi Viên Nam Các suối lớn và dòng nhánh chảy theo hướngBắc, Đông Bắc và đều phụ lưu của sông Hồng Ở phía Tây của khu vực, cácsuối ngắn và dốc hơn so với các suối ở phía Bắc và phía Đông, đều là phụ lưucủa sông Đà Các suối này thường gây lũ và mùa mưa Về mùa khô các suối
Trang 32nhỏ thường cạn kiệt Các suối chính trong khu vực gồm có: Suối Cái, suốiMít, suối Ninh, suối Yên Cư, suối Bơn…
Sông Đà chảy ở phía Nam núi Ba Vì, sông rộng cùng với hệ suối khádày như suối ổi, suối Ca, suối Mít, suối Xoan thường xuyên cung cấp nướccho sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng đệm Bên cạnh còn có các hồchứa nước nhân tạo như hồ suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Hóoc cua và các hồchứa nước khác vừa có nhiệm vụ dự trữ nước cung cấp cho hàng chục ngàn
ha đất sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt cho dân Đồng thời, tạo nên khônggian thắng cảnh tuyệt đẹp, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi vãn cảnh cho du khách.Nguồn nước ngầm trong khu vực tương đối dồi dào, ở sườn Đông cũng dồidào hơn bên sườn Tây do lượng mưa lớn hon và địa hình đỡ dốc hơn
Bảng 4.2 Mực nước trung bình trên sông Đà từ năm 2005 đến 2010.
Trang 33Mực nước trên sông Đà hàng năm có sự thay đổi tuy nhiên khá ổn định
do có sự điều tiết của hệ thống thuỷ điện Hoà Bình Thời gian khô hạn kéo dài
từ tháng 11, 12 năm trước đến tháng 4 năm sau Tuy nhiên vào thời giantháng 2 đến tháng 4 là thấp nhất do thời kỳ này chưa có mưa hoặc mưa rất ít,lại phải tận dụng nguồn nước để tăng gia sản xuất nông nghiệp Đây làkhoảng thời gian rất khó khăn quyết định đến đời sống của người dân trên địabàn huyện, chính vì vậy cần tận dụng tối đa nguồn nước nâng cao hiệu quả sửdụng đất, nước, xây dựng hồ ao trữ nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt cho bàcon nông dân
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Vì năm 2010)
Diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm qua các năm Năm
2009 diện tích đất nông nghiệp là 28751 ha bằng 97.74% so với năm 2008,năm 2010 diện tích này tiếp tục giảm chỉ còn 96.53% so với năm 2009.Nguyên nhân là do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong 3 năm từ 2008 đến
2010 hàng loạt khu công nghiệp, dịch vụ được xây dựng hàng trăm ha đấtnông nghiệp bị chuyển đổi, mạnh nhất là diện tích đất nông nghiệp dọc trêntuyến quốc lộ 32 chạy qua địa bàn huyện Xu hướng chuyển đổi này là tất yếutuy nhiên huyện cần có chính sách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sản xuấtnông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho những hộ gia đình mất đất, quy hoạch
cụ thể chính xác và hiệu quả tránh gây thất thoát, lãng phí
Trang 34Đất lâm nghiệp đang có xu hướng tăng cụ thể năm 2009 là 10725ha giảm0.83% so với năm 2008 là 10728ha, nhưng đến năm 2010 diện tích đất lâmnghiệp đã tăng lên 10902ha tăng 1.7% so với năm 2009 Đây là kết quả của
sự lỗ lực phấn đấu của chính quyền cũng như người dân trên địa bàn huyệnthực hiện chương trình phủ xanh đất trống đồi trọc Hàng trăm ha cây lâmnghiệp được trồng mới trên diện tích còn trống và diện tích rừng mới khaithác, thực hiện phương trâm: “Khai thác đến đâu trồng ngay đến đó” giảmthiểu tối đa quá trình xói mòn, rửa trôi đất
Đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng mạnh từ 2372.3 ha năm 2009 lên2662.3 ha năm 2010, hàng loạt các khu công nghiệp, khu vui chơi giải tríđược quy hoạch xây dựng Đây là xu hướng tất yếu và là mục tiêu phấn đấucủa chính quyền và nhân dân huyện nhằm tận dụng tối đa những lợi thế sẵn
có, nắm bắt cơ hội đưa huyện Ba Vì trở thành huyện công nghiệp phát triểntheo kịp sự phát triển của đất nước
Trong xu thế phát triển của xã hội đất là nguồn tài nguyên vô cùng quýgiá, diện tích đất chưa sử dụng đang được tận dụng tối đa và giảm mạnh từ640.2 ha năm 2008 xuống còn 274.1 ha năm 2010
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Ba Vì nối liền với các tỉnh và thủ đô Hà Nội bằng các trục đường chínhnhư: quốc lộ 32, tỉnh lộ 89A… và các tuyến đường thủy qua sông Hồng, sông
Đà có tổng chiều dài 70 km Với những lợi thế về giao thông đường thủy,đường bộ, Ba Vì có điều kiện khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóavới bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tếvới cơ cấu đa dạng nông nghiệp, dịch vụ, du lịch, công nghiệp
Thế mạnh kinh tế của huyện là nông nghiệp Cây lúa được trồng ở cácvùng bãi ven sông Cây công nghiệp và cây ăn quả được trồng ở các vùng đồinúi Toàn huyện hiện có 1.200 ha chè, cung cấp nguồn nguyên liệu khá ổnđịnh cho các nhà máy chế biến chè ở địa phương Ngành chăn nuôi cũng pháttriển, đặc biệt là chăn nuôi bò thịt và bò sữa Cùng với phát triển ngành nôngnghiệp, Ba Vì đặc biệt chú ý khai thác tiềm năng về du lịch - dịch vụ
Trang 35Ba Vì cũng là vùng đất thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá, tiếp thunhững tiến bộ của khoa học kĩ thuật để phát triển kinh tế Cơ cấu kinh tế củahuyện khá đa dạng, trong đó huyện đã ưu tiên cho việc phát triển dịch vụ dulịch bên cạnh phát triển nông nghiệp và công nghiệp.
Về nông nghiệp: huyện đang từng bước đẩy mạnh cơ cấu cây trồng cógiá trị kinh tế cao, tăng diện tích gieo trồng lên 28.567 ha Phát triển chănnuôi toàn diện, đa dạng hóa vật nuôi, tăng đàn bò lên 30 ngàn con, hàng nămcung cấp 4.200 tấn sữa và 1.400 tấn thịt Quy hoạch 4 khu vành đai rau sạch
có diện tích hàng chục ha
Với đặc thù đồng đất chia làm ba vùng là núi, bán sơn địa và đồng bằng,những năm qua, huyện Ba Vì còn đẩy mạnh thực hiện các dự án chăn nuôi bòsữa, bò thịt, trồng chè, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm… phùhợp từng vùng để khai thác thế mạnh Đến nay, diện tích trồng chè toàn huyệnchiếm khoảng 1.650 ha, sản lượng hằng năm đạt gần 13 nghìn tấn, giá trị đạttrên 50 triệu đồng/ha; tổng đàn bò sữa đạt gần 3.000 con, đàn bò thịt pháttriển mạnh với hơn 50.000 con Ngoài ra, Ba Vì còn định hướng các xã vùngbán sơn địa và miền núi phát triển chăn nuôi lợn quy mô lớn Toàn huyệnhiện có gần 400 trang trại chăn nuôi lợn tập trung với quy mô (500-2.000con) Đối với 15 xã đồng bằng, huyện chỉ đạo đưa giống mới năng suất cao,chất lượng tốt vào sản xuất, đồng thời chuyển giao tiến bộ KHKT cho nôngdân để nâng cao năng suất cây trồng Ở những vùng đất trũng, canh tác lúakém hiệu quả, huyện đã chỉ đạo chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản Hiệnnay, Ba Vì đã xây dựng được vùng nuôi thủy sản Vạn Thắng (diện tích 90ha)
và Cổ Đô 350 ha cho hiệu quả kinh tế cao gấp 5 lần trồng lúa
Về du lịch – dịch vụ: Đổi mới phương thức hoạt động theo cơ chế thịtrường, doanh thu sẽ tăng nhiều lần và đón 5 triệu lượt khách mỗi năm, giảiquyết việc làm, tạo thu nhập ổn định cho 1.600 đến 6.000 dân, đưa du lịchthành ngành kinh tế mũi nhọn
Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục kêu gọi các nhà đầu tưtrong và ngoài huyện có chương trình kế hoạch quy hoạch đất đai, dành quỹđất thích hợp cho các điểm công nghiệp
Trang 36Huyện Ba Vì cũng là địa phương có các hoạt động xã hội rất tốt, tiêubiểu là hoạt động xoá đói giảm nghèo Năm 2009, huyện Ba Vì đã giải quyếtviệc làm cho 10.500 lao động; xóa được 3.116 hộ nghèo, giảm 3,2% so vớiđầu năm 2009 Nhiều xã thuộc diện xã nghèo như Khánh Thượng tỷ lệ hộnghèo chiếm 36,24%; thị trấn Tây Đằng 29,12%; Thái Hòa 27,37% songvới nỗ lực trong công tác XĐGN các xã này đã "ra" khỏi diện xã nghèo.
Bảng 4.4: Tình hình dân số và lao động của huyện Ba Vì 2008 – 2010
Chỉ tiêu ĐVT 2008 2009 2010
So sánh (%)
BQ 09/08 10/09
I Tổng dân số Người 263148 265234 267107 100.79 100.71 100.75
1 Phân theo giới tính Người
- Nam Người 126937 127584 137650 100.51 107.89 104.2
- Nữ Người 70.799 71.057 71.100 100.36 100.06 100.21 -Thành thị Người 23623 24784 25965 104.91 104.77 104.84 -Nông thôn Người 239525 240450 231142 100.39 96.13 98.26
Trang 37Về dân số: Năm 2008 dân số Ba Vì là 263148 người năm 2010 dân số đãtăng lên 267107 người Tỉ lệ gia tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm từ0.82% năm 2008 xuống còn 0.71% năm 2010 Có được kết quả như vậy là sự
nỗ lực rất lớn của chính quyền và nhân dân huyện, công tác DS&KHHGĐđược tập trung tuyên truyền phổ biến rộng rãi, trình độ và ý thức người dânngày càng được nâng cao Mặc dù tỉ lệ gia tăng dân số là khá thấp tuy nhiên
do điều kiện địa hình phân ra 2 khu vực rõ rệt nên khu vực đồng bằng dân cưtập trung đông gây ra sức ép rất lớn về vấn đề đất đai và các vấn vấn đề xãhội Ngược lại khu vực trung du miền núi đất đai khá rộng đây là điều kiệnthuận lợi để phát triển các mô hình trang trại quy mô lớn, quy hoạch các khucông nghiệp, du lịch nghỉ mát.v.v
Dân số thành thị không lớn chiếm khoảng 5.2% dân số toàn huyện, trongnhững năm gần đây việc di dân cơ học ra bên ngoài là nguyên nhân chính dẫnđến việc dân số thành thị của huyện Ba Vì tăng chậm Đa số dân số sống ởvùng nông thôn xung quanh Trong những năm gần đây một lượng lớn laođộng nông thôn rời quê xuống khu vực Hà Nội hoặc các khu công nghiệp lâncận làm thuê, hiện tượng chảy máu chất xám cũng là vấn đề rất khó khăn củađịa phương Đa số những người có trình độ cao đều tìm cách ở lại trung tâmthành phố Hà Nội làm việc Trong thời kỳ đổi mới bài toán nhân lực có trình
độ cao đang là vấn đề nan giải mà huyện cần giải quyết
4.1.2.2 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật
Bảng 4.5: Thực trạng cơ sở hạ tầng của huyện năm 2010
2 Số xã có đường giao thông tới thôn, xóm Xã 32 100
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Ba Vì năm 2010)
Trang 38- Hệ thống giao thông
Nhìn chung Ba Vì có mạng lưới giao thông vận tải khá hoàn chỉnh, tất cảcác xã, thị trấn đều có đường ô tô đến trung tâm xã, đảm bảo giao lưu thôngsuốt quanh năm, thúc đẩy phát triển kinh tế trên địa bàn huyện và các vùnglân cận Nhờ sự thông suốt của mạng lưới giao thông, đời sống của người dânngày càng được nâng lên, bộ mặt nông thôn Ba Vì có sự thay đổi rõ rệt
Giao thông đường bộ bao gồm:
Một tuyến quốc lộ 32A chạy qua địa bàn huyện với tổng chiều dài 15.5
km Đây là 1 đoạn của tuyến xa lộ Bắc Nam nối giữa các tỉnh trung du miềnnúi phía Bắc như Phú Thọ, Yên Bái, … với Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc
Bộ, là trục giao thông quan trọng nhất trong phát triển kinh tế của huyện.Mười một tỉnh lộ với chiều dài 115 km, 35 tuyến huyện lộ với chiều dài
151 km, đường giao thông nông thôn bao gồm 100 km đường trục xã và850km đường giao thông liên thôn, ngõ, xóm, gắn kết toàn bộ đời kinh tế, xãhội của người dân trong huyện và giao lưu với các vùng lân cận
- Ngoài hệ thống giao thông đường bộ, Ba Vì còn có gần 40 km giaothông đường thủy trên sông Đà và sông Hồng Trên tuyến thủy lộ này hiệnđang duy trì hoạt động 1 cảng, 9 bến phà khách sang sông và 10 bãi bốc xếpvật liệu xây dựng Tuyến giao thông thủy này có vai trò quan trọng trong việcgiao lưu hàng hóa, hành khách giữa các vùng của huyện với các vùng lân cậncủa Vĩnh Phúc và Phú Thọ
Tuy nhiên, hệ thống giao thông ở 7 xã miền núi cần được chú trọng đầu
tư nhiều hơn nữa nhằm tạo động lực phát triển cho các vùng khó khăn này
- Hệ thống thuỷ lợi
Hệ thống thủy lợi ở Ba Vì được chú trọng đầu tư, xây dựng kiên cố hóa
và thường xuyên được tu tạo bảo dưỡng Với chiều dài đoạn sông Hồng, sông
Đà chảy qua địa bàn dài trên 40km, Ba Vì có 36,2 km đê Đại Hà, 19km đêbao, 21km kè Hiện nay đã có 15km đê được đổ bê tông , còn lại 21.1 km làđất và rải đá cấp phối bị xuống cấp nặng nề
Trang 39Toàn huyện có 1 hồ lớn là hồ Suối Hai, với dung tích 48.5 triệu m3, đượcxây dựng năm 1960 và vẫn đang vận hành tốt, phụ trách tưới tiêu cho khu vựcphía nam của huyện, và một số vùng lân cận.
Ba Vì có 2 trạm bơm tưới nước quy mô lớn là Trung Hà( 26 máy bơmcông suất 1000 m3 /giờ và Sơn Đà ( 10 máy, công suất 1000 m3 /giờ Ngoàitrên địa bàn còn có 56 trạm bơm quy mô nhỏ, quy mô từ 1 đến 4 máy, lấynước từ sông, suối kênh tiêu, ao, hồ phục vụ tưới nước cho các vùng cao cục
bộ, vùng đồi gò trên toàn huyện
Kênh mương: Hệ thống kênh tưới chính dài 35 km, kênh cấp 2 dài 60
km, kênh cấp 3 và nội đồng dài 450km Hiện nay tổng số kênh tưới được kiên
cố hóa là 145km, gồm 3 km kênh cấp 1,17km kênh cấp 2,125 km kênh cấp 3
và nội đồng Hệ thống kênh tiêu chính dài 20km, kênh tiêu cấp 2 dài 50km,kênh tiếu cấp 3 và nội đồng dài 250km
- Mạng lưới điện
Mạng lưới điện của Ba Vì được đầu tư khá đồng bộ 100% số xã trên địabàn huyện đã có điện lưới quốc gia Trên địa bàn huyện có 296 trạm biến ápvới tổng số 309 máy, 295.000 km đường dây hạ thế đảm bảo cung cấp nhucầu về điện cho 100% số hộ Tổng nguồn điện năm 2010 đạt 91.500 KVA,bình quân tiêu thụ điện năng theo đầu người 1 năm đạt 296 KV Nhờ mạnglưới điện khá hoàn chỉnh và đồng bộ đã tạo điều kiện tốt cho việc phát triểnkinh tế nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nông thôn
Trang 40THCS: hiện toàn huyện có 33 trường trung học cơ sở và 2 trường PTCS, vớitổng số 442 lớp , 14726 học sinh Tỷ lệ huy động học sinh ra lớp 6 đạt 99%.
THPT, Trung tâm giáo dục thường xuyên: Gồm 8 trường trong đó có 1trường Dân lập Lương Thế Vinh, với tổng số 210 lớp, 9562 học sinh
Về chất lượng giáo dục, tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm duy trì ở mức 98% Kết quả thi tốt nghiệp THPT năm học 2009- 2010 đạt 67.85% 100% số
96-xã đã phổ cấp giáo dục hết THCS, 100% giáo viên Tiểu học và THCS đạtchuẩn đào tạo và 98.5% giáo viên mầm non đạt chuẩn đào tạo trở lên
Về hệ thống cơ sở vật chất giáo dục, toàn ngành giáo dục huyện hiện cótổng số 1367 phòng học, trong đó có 707 phòng kiên cố Tỉ lệ trường cóphòng thư viện đạt 59% Tỉ lệ trường có phòng thiết bị, thí nghiệm đạt 47%.Tổng số trường đạt chuẩn quốc gia hiện nay là 18 trường đạt 16.1% Dù vậy,
hệ thống cơ sở vật chất phòng học vẫn còn thiếu thốn , đối với cấp tiểu họchiện nay mới chỉ có 70% học sinh được học 2 buổi/ ngày
- Hệ thống y tế:
Tính đến hết năm 2010, mạng lưới y tế huyện Ba Vì gồm có 1 bệnh viện
Đa Khoa , 1 Trung tâm y tế dự phòng, 3 phòng khám đa khoa khu vực( MinhQuang, Tản Lĩnh, Bất Bạt) và 32 trạm y tế xã, thị trấn Tổng số cán bộ y tếtrên địa bàn huyện là 448 cán bộ, trong đó có 51 bác sĩ, 2 dược sỹ, 2 cao đẳngđiều dưỡng Số trạm y tế có bác sĩ là 18 trạm Tỷ lệ số xã đạt tiêu chuẩn quốcgia về y tế là 90.3% ( 28/31 xã) Số giường bệnh trên 1 vạn dân đạt 6.4giường Số bác sĩ trên 1 vạn dân là 2.04 bác sĩ
Năm 2010 bệnh viện đa khoa huyện đã khám và chữa bệnh cho 234nghìn lượt người, các trạm y tế xã, thị trấn cũng đáp ứng nhu cầu khám chữabệnh cho 135905 lượt người, trong đó riêng trẻ em là 29524 cháu Điều trị nộitrú cho 16000 bệnh nhân, công suất sử dụng giường bệnh đạt 120% Tỉ lệ trẻ
em suy dinh dưỡng giảm từ 24% năm 2005 xuống còn 16.5%