1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ

86 500 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ
Tác giả Hoàng Thị Hường
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kinh tế đầu tư
Thể loại Chuyên đề tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 618,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương I: Thực trạng công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ Chương II: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ

Trang 1

Lời mở đầu

Nền kinh tế thị trường có xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa cácluồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng, hoạt động kinh doanhngày càng trở nên phức tạp Thực tế đó đòi hỏi hệ thống các ngân hàng thương mạiphải có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản trị rủi ro Rủi ro là mộtđiều rất phổ biến và dường như mang tính tất yếu đối với mọi hiện tượng cả trongtự nhiên lẫn đời sống kinh tế, xã hội của con người Vì vậy, chấp nhận và đối đầuvới rủi ro là một điều bình thường, không tránh khỏi, nhưng vấn đề đặt ra ở đâykhông phải có hay không có rủi ro, mà là ở chỗ phải phòng ngừa để giảm thiểu rủi

ro ở mức chấp nhận được Kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại càngkhông phải là một ngoại lệ, càng khó tránh được rủi ro Về mặt lý thuyết, ngân hànglà một nghề kinh doanh rủi ro, hiệu quả hoạt động của nó phụ thuộc nhiều vào mứcđộ rủi ro Rủi ro là một đại lượng khó xác định và không thể triệt tiêu hoàn toàn, vìvậy ta luôn phải chấp nhận rủi ro, nghĩa là luôn phải biết cách tính toán, phân tíchrủi ro để có thể đưa ra quyết định phù hợp

Bắt đầu từ tháng 6 năm 2005 Hội sở chính của Ngân hàng Quân đội đượcchuyển về số 3 Liễu Giai thì địa chỉ 28A Điện Biên Phủ cũng được tách ra thành lậpchi nhánh cấp 1 Theo lời ông Lê Văn Bé - Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội, “Điện Biên Phủ là anh cả đỏ của Ngân hàng Quân đội” Đúng vậy, chi nhánh ĐiệnBiên Phủ luôn đảm bảo 50% lợi nhuận của toàn Ngân hàng Quân đội, xứng đáng làxương sống của Ngân hàng Quân đội Nhận thấy, quá trình hình thành và phát triểncủa Ngân hàng Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ có nhiều điểm đáng tìm hiểuvà học hỏi, vì vậy em đã chọn Chi nhánh là cơ sở thực tập với mong muốn tiếp xúcvới công tác thẩm định dự án nói chung và thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn nóiriêng Trong suốt thời gian thực tập tại Chi nhánh, bản thân em tự nhận thấy thẩmđịnh rủi ro tuy không mới nhưng là một vấn đề khó do rủi ro là một đại lượng khó

xác định và không thể triệt tiêu hoàn toàn Do vậy, em đã chọn đề tài “ Hoàn thiện

công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ”

Trang 2

Chuyên đề tốt nghiệp của em gồm 2 chương:

Chương I: Thực trạng công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ

Chương II: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – Chi nhánh Điện Biên Phủ

Hà nội, ngày 05 / 06 / 2009 Sinh viên thực hiện: Hoàng Thị Hường

Trang 3

CHƯƠNG I: Thực trạng công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn

tại ngân hàng thương mại CP Quân Đội

1.1 Tổng quan về MBĐBP

1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của MBĐBP

Bắt đầu từ tháng 6 năm 2005 Hội sở chính của Ngân hàng Quân đội đượcchuyển về số 3 Liễu Giai thì địa chỉ 28A Điện Biên Phủ cũng được tách ra thành lậpchi nhánh cấp 1 Theo lời ông Lê Văn Bé - Tổng giám đốc Ngân hàng Quân đội, “Điện Biên Phủ là anh cả đỏ của Ngân hàng Quân đội” Đúng vậy, chi nhánh ĐiệnBiên Phủ luôn đảm bảo 50% lợi nhuận của toàn Ngân hàng Quân đội, xứng đáng làxương sống của Ngân hàng Quân đội

Hiện nay, chi nhánh Điện Biên Phủ có 6 phòng giao dịch trực thuộc, đó là :Lý Nam Đế, Giảng Võ, Đống Đa, Đào Duy Anh, Thái Nguyên, Thành Công Trướcđây một số phòng giao dịch này còn được gọi là chi nhánh cấp 2 nhưng giờ đâyNgân hàng Quân đội thống nhất gọi đây là các phòng giao dịch trực thuộc các chinhánh Các phòng giao dịch này hoạt động rất hiệu quả nhiều khi còn hơn cả các chinhánh cấp 1 ở các tỉnh thành khác Từ khi thành lập đến nay, chi nhánh hoạt độngvới tư cách là một cơ sở hạch toán độc lập và luôn nỗ lực hoạt động nhằm quảng bávà nâng cao uy tín của hệ thống MB

1.1.2 Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ của các phòng ban

1.1.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Ngân hàng Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ

Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của MB - ĐBP

Trang 4

1.1.2.2 Nhiệm vụ của các phòng ban tại chi nhánh Điện Biên Phủ:

Phòng hành chính:

- Trực tiếp thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng theo đúng quy

định, quản lý và sử dụng con dấu của cơ quan theo đúng quy định

- Thực hiện công tác văn thư lưu trữ tại Chi nhánh

- Thực hiện công tác hậu cần và chịu trách nhiệm đảm bảo điều kiện làm việc

và an toàn lao động của cán bộ nhân viên

- Trực tiếp mua sắm, bảo quản tài sản đảm bảo sử dụng có hiệu quả và tiết

kiệm theo quy định

Phòng khách hàng doanh nghiệp

* Sơ đồ 1.2: Cơ cấu tổ chức của phòng khách hàng doanh nghiệp

Ban Giám Đốc Chi Nhánh

Phòng

Hành

Chính

Phòng Kho Quỹ

Phòng Khách Hàng Doanh Nghiệp

Phòng Khách Hàng Cá

Nhân

Phòng Thanh Toán Quốc Tế

Phòng Kế

Toán

Phòng Công Nghệ

Thông Tin

Trang 5

- Đầu mối thu xếp cho vay hợp vốn và quản lý đồng tài trợ cho toàn Chinhánh; thực hiện chăm sóc khách hàng nhằm duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài;chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng hoạt động theo nhiệm vụ được giao.

- Chủ động báo cáo, đề xuất, kiến nghị với Ban Giám đốc Chi nhánh, Khốikhách hàng Doanh nghiệp tại Hội sở về các nội dung liên quan phát triển kinhdoanh trong mảng thị phần KHDN; thực hiện chế độ báo cáo theo quy định; Nghiêncứu, đề xuất và triển khai các sản phẩm mới

Phòng khách hàng cá nhân.

Bộ phận quan hệ

khách hàng Bộ phận hỗ trợ quan hệ khách hàng

Nhóm QHKH Vừa vànhỏ

Nhóm đồng tài trợ

Nhóm hỗ trợ

nghiệp vụ

Nhóm thẩm định TSBĐ

Trang 6

Sơ đồ 1.3: Cơ cấu tổ chức của phòng khách hàng cá nhân

*

Nhiệm vụ:

- Xây dựng và tổng hợp kế hoạch phát triển Khách hàng cá nhân( bao gồmkế hoạch kinh doanh, phát triển sản phẩm và phát triển thẻ) theo quy định của Ngânhàng; tổ chức, triển khai hoạt động kinh doanh, phát triển sản phẩm, phát triển thẻ,phát triển mạng lưới và kênh phân phối theo kế hoạch và định hướng

- Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng cho khách hàng cá nhân,phát triển thẻ, marketing, triển khai các sản phẩm mới theo hướng dẫn của Khốikhách hàng cá nhân, tuyên truyền, vận động liên quan tới công tác tiền gửi từ dân

cư nhằm mang lại hiệu quả cao

- Thực hiện hướng dẫn đào tạo cán bộ làm nghiệp vụ bán lẻ tại cấp cơ sở;thực hiện chăm sóc khách hàng nhằm duy trì mối quan hệ lâu dài; nghiên cứu, đềxuất và tổ chức triển khai các sản phẩm, dịch vụ mới; thực hiện chế độ báo cáo theoquy định

Phòng khách hàng cá nhân

Bộ phận

quan hệ

khách hàng

Bộ phận hỗ

trợ quan hệ

kháchhàng

Bộ phận thẻ MarketingBộ phận

Trang 7

dụng của khách hàng vay tại Chi nhánh theo các quy định và hướng dẫn của Ngânhàng.

- Quản lý, theo dõi nợ quá hạn, xử lý nợ quá hạn tại Chi nhánh

- Theo dõi thực trạng chất lượng tài sản đảm bảo

Phòng thanh toán quốc tế.

- Trực tiếp giao dịch, chủ động mở rộng hoạt động kinh doanh, thu hút kháchhàng trong nước; căn cứ mức ký quỹ, phí dịch vụ thanh toán quốc tế tối thiểu dotổng giám đốc ngân hàng Quân đội ban hành từng thời điểm cụ thể để ấn định mứcký quỹ, mức phí với khách hàng đảm bảo lợi ích kinh doanh phù hợp với địa bànkhu vực

- Hoàn toàn chịu trách nhiệm về các nghiệp vụ thanh toán quốc tế do phạm

vi chi nhánh phụ trách, đảm bảo thu hồi cả gốc và lãi Chi nhánh được mở L/C vớigiá trị cao nhất của một L/C là 500.000 USD, quá mức trên chi nhánh đề nghị bằngvăn bản để xin phê duyệt; thực hiện báo cáo đầy đủ theo quy định

Phòng kế toán và phòng Ngân Quỹ

Phòng kế toán được chia thành hai bộ phận: Bộ phận giao dịch trực tiếp vớikhách hàng (front office); Bộ phận hỗ trợ (back office) Còn Phòng kho quỹ cũnggồm hai bộ phận: Quỹ chính và Các nhân viên còn lại được bố trí kết hợp cùng vớinhân viên kế toán tại mối quầy giao dịch

Phòng kế toán có nhiệm vụ chính là:

- Tổ chức thực hiện và kiểm tra công tác hạch toán kế toán chi tiết, kế toántổng hợp và chế độ báo cáo kế toán, theo dõi quản lý tài sản

- Thực hiện công tác hậu kiểm đối với toàn bộ hoạt động tài chính kế toáncủa chi nhánh bao gồm các chi nhánh cấp 2, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm theoquy trình luân chuyển và kiểm soát chứng từ

- Đề xuất, tham mưu với giám đốc chi nhánh về việc hướng dẫn thực hiệnchế độ kiểm toán, xây dựng chế độ quản lý tài sản

- Tham gia ý kiến và chịu trách nhiệm về ý kiến tham gia, phối hợp ới cácphòng về những vấn đề liên quan theo chức năng nhiệm vụ của từng phòng

Trang 8

Phòng kho quỹ có nhiệm vụ chung là:

- Trực tiếp thực hiện các nghiệp vụ về quỹ, quản lý kho quỹ: Tiếp quỹ vànhập hoàn quỹ; Dự kiến lượng tiền thu, chi trong ngày…

- Hỗ trợ các quầy thu, chi những số tiền lớn hơn 200 triêu đồng; Thu, chi cáckhoản khác không thuộc nhiệm vụ của các quầy giao dịch

- Vào sổ tổng hợp thu chi toàn chi nhánh, đối chiếu khớp đúng với số liệucủa kế toán và máy tính

- Làm các báo cáo liên quan về ngân quỹ theo quy định

- Hướng dẫn trong chi nhánh về công tác kho quỹ khi cần thiết trên cơ sở cácvăn bản quy định

- Đề xuất, tham mưu với Giám đốc chi nhánh về các biện pháp thực hiệnđúng quy trình về kho quỹ

Phòng công nghệ thông tin.

Phòng CNTT là nơi trực tiếp quản lý mạng, quản trị hế thống phân quyềntruy cập, kiểm soát tại Chi nhánh, tổ chức vận hành hệ thống thiết bị tin học và cácchương trình phần mềm được áp dụng tại chi nhánh Phòng chịu trách nhiệm đềxuất và thực hiện các biện pháp nhằm bảo đảm hệ thống tin học vận hành thôngsuốt trong mọi tình huống, đáp ứng yêu cầu hoạt động của ngân hàng, bảo mậtthông tin, quản lý an toàn dữ liệu tại chi nhánh theo đúng quy định Đồng thờiphòng cũng tham mưu với Giám đốc và làm đầu mối hợp tác với các đơn vị liênquan tham gia nghiên cứu, triển khai các dự án hoàn thiện, nâng cấp, vận hành hệthống thông tin của chi nhánh

6 phòng giao dịch trực thuộc

Các phòng giao dịch này có đầy đủ các phòng ban trên

1.1.2 Tình hình hoạt động đầu tư và kinh doanh của chi nhánh

1.1.3.1 Tình hình hoạt động đầu tư

Hoạt động huy động vốn

Trang 9

Vốn huy động của MB - ĐBP là giá trị tiền tệ huy động được trên thị trườngthông qua nghiệp vụ tiền gửi, tiền vay và một số nguồn khác Bộ phận huy độngvốn có ý nghĩa quyết định tới khả năng hoạt động của Ngân hàng Nguồn vốn huyđộng liên tục tăng qua các năm: Năm 2006 nguồn vốn huy động của chi nhánh là4253,528 tỷ đồng, đến năm 2007 con số này đã tăng lên 4704,338 tỷ đồng và đếnnăm 2008 nguồn vốn huy động của chi nhánh là 5645,2056 tỷ đồng Như vậy nguồnvốn huy động năm 2007 gấp 1,1 lần so với năm 2006 và năm 2008 nguồn vốn huyđộng gấp 1,2 lần so với năm 2007 Tuy năm 2008 là năm có nhiều khó khăn đối vớingành ngân hàng nói chung và ngân hàng Quân đội chi nhánh Điện Biên Phủ nóiriêng, nhưng năm nay lại là năm mà MB hoàn tất công cuộc cải tổ trong chiến lượcphát triển 2004 – 2008, cho nên vốn huy động năm 2008 của Chi nhánh vẫn tăngkhá cao Cơ cầu huy động vốn tiếp tục được đảm bảo theo chiều hướng tốt Đây làkết quả có được từ những thành công trong các chương trình “ tiết kiệm dự thưởng”và rất nhiều nỗ lực nâng cao chất lượng dịch vụ, tăng cường quảng bá hình ảnh,thương hiệu của MB.

Bảng 1.1: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng khách hàng

(Đơn vị: Tỷ đồng)

1 Huy động từ dân cư 1968,856 2210,567 2652,6804

2 Huy động từ tổ chức

Trang 10

Bảng 1.2: Cơ cấu huy động vốn phân theo sản phẩm tiền gửi

Đơn vị: Tỷ đồng

( Nguồn: báo cáo tài chính năm 2007 và 2008 của Chi nhánh ĐBP)

Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy các loại tiền gửi đều liên tục tăng qua cácnăm, cụ thể là tiền gửi thanh toán năm 2007 là 2.103 tỷ đồng tăng 102 tỷ đồng sovới năm 2006 và tiền gửi thanh toán năm 2008 là 2.523,6 tăng 420,6 tỷ đồng; Tiềngửi tiết kiệm năm 2008 là 2.701,2 tỷ đồng tăng 450,2 tỷ đồng so với năm 2006, vàtăng 595,2 tỷ đồng

Bảng 1.3: Cơ cấu huy động vốn phân theo loại tiền

Ngoại tệ qui đổi ( triệu USD) 55,533 77,746 93,2952

( Nguồn: báo cáo tài chính năm 2007 và 2008 của Chi nhánh ĐBP)

Vốn huy động bằng VND tăng liên tục qua các năm, năm 2007 tăng 1.349 tỷđồng so với năm 2006, và năm 2008 tăng 1,2 lần so với năm 2007 Đây là mức tăngkhá cao chứng tỏ công tác huy động vốn của Chi nhánh rất tốt Trong 3 năm từ

2006 – 2008 vốn huy động bằng USD tăng liên tục, từ 55,533 triệu USD lên đến93,2952 triệu USD

Hoạt động tín dụng

Tín dụng là loại sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất của Ngân hàng, phản ánhhoạt động đặc trưng của Ngân hàng Tín dụng có vai trò quan trọng nền tảng cho sựphát triển của một Ngân hàng Nó phản ánh khả năng sử dụng vốn của Ngân hàng

Bảng 1.4 : Cho vay theo kỳ hạn

Trang 11

Đơn vị: Tỷ đồng

( Nguồn: báo cáo tài chính năm 2007 và 2008 của Chi nhánh ĐBP)

Như vậy, tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh liên tục tăng từ 2.221 tỉ đồngnăm 2006 lên 3.104 tỷ đồng năm 2007 và đến năm 2008 tổng dư nợ của chi nhánhlà 3.724,8 tỷ đồng Tuy nhiên, không phải vì thế mà chất lượng tín dụng bị giảm.Chi nhánh luôn nâng cao chất lượng tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động vàđảm bảo tính an toàn cũng như sinh lời

Nợ quá hạn và nợ xấu

Trong quá trình hoạt động, Chi nhánh luôn chủ trương nâng cao chất lượngtín dụng, cơ cấu lại danh mục nợ vay, tăng cường các khoản tín dụng có tài sản đảmbảo Như vậy, chất lượng tín dụng được cải thiện đáng kể Trong các năm 2006 -

2007, Chi nhánh đã tích cực triển khai tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động tíndụng, cơ cấu lại nợ, chuẩn hóa lại quy trình, từng bước hoàn thiện hệ thống kiểmsoát rủi ro và các công cụ quản lý, chấp hành tốt các quy định hiện hành… Nhờ vậy,Chi nhánh đã hạn chế được rất nhiều các khoản nợ quá hạn mới phát sinh, thu hồiđược phần lớn số nợ đọng năm trước Theo đó, tỷ lệ nợ quá hạn năm 2006 - 2007đều dưới 5% Chất lượng tín dụng của Chi nhánh cũng có nhiều tiến bộ đáng kể.Chi nhánh đã triển khai thực hiện nghiêm chỉnh Quyết định 493 về phân loại vàtrích lập dự phòng rủi ro của NHNN Nợ xấu năm 2006 là khoảng 70 tỉ đồng vànăm 2007 là 90 tỷ đồng Theo đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ năm 2006 là 2,7%,năm 2007 là 1.01% Dự phòng trích lập liên tục tăng qua các năm, cụ thể là năm

2006 là 57,285 tỉ đồng và đến năm 2007 là tỷ đồng

Trang 12

Đầu tư vào nguồn nhân lực

Tình hình nguồn nhân lực của MB Điện Biên Phủ

Năm 2005 là một năm Ngân hàng đã thực hiện thành công mô hình quản lýtập trung, đề cao vai trò hoạt động của các Ủy ban cao cấp, hoàn thiện một số chứcnăng nhiệm vụ, bổ sung nhân sự cho các phòng ban Hội sở; tách bạch hoạt độngquản lý và kinh doanh trong toàn bộ hệ thống; Thực hiện sắp xếp, phân cấp chinhánh theo quyết định 888 của Ngân hàng Nhà nước Đồng thời MB cũng hoànthiện mô hình hoạt động tài chính, thành lập các Khối theo đề án tổ chức đã đượcHội đồng quản trị phê duyệt

Trên cơ sở đó, MB tập trung đề bạt, sắp xếp, bổ sung, tuyển dụng mới lựclượng cán bộ quản lý các cấp, từ ban điều hành đến giám đốc, phó giám đốc các chinhánh, các phòng giao dịch Đây là một đội ngũ trẻ, có năng lực được sắp xếp phùhợp vì thế đã góp phần tạo sự chuyển biến tích cực trong hệ thống quản lý của ngânhàng Cùng với việc bổ sung cán bộ quản lý Ngân hàng đã tổ chức tuyển dụng gần

200 nhân viên cho toàn bộ hệ thống, nâng tổng số lao động từ 500 lên 711 ngườivào cuối năm 2005 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2006, toàn bộ hệ thống Ngânhàng MB có 1.069 người, tăng 357 người so với đầu năm Nếu không tính các công

ty trực thuộc thì tổng cán bộ công nhân viên Ngân hàng là 828 người Đội ngũ cánbộ công nhân viên Ngân hàng ngày càng được nâng cao về trình độ từ đại học đếntrên đại học chiếm trên 88%, trình độ cao đẳng là 12% Tỷ lệ này tăng khá so vớiđầu năm, thể hiện chất lượng nhân sự đầu vào của Ngân hàng đã cao hơn Đến năm

2007 nhân sự của MB có sự tăng trưởng lớn cả về chất và lượng Tính đến ngày 31tháng 12 năm 2007, tổng số cán bộ nhân viên trong toàn hệ thống là 1885 người,trong đó nhân viên Ngân hàng là 1480 người, tăng 44% so với thời điểm cuối năm

2006 Nguồn nhân lực của MB là nguồn nhân lực trẻ, năng động, nhiệt huyết vớitrình độ đại học, trên đại học chiếm trên 90%

MB Điện Biên Phủ là chi nhánh cấp 1 lớn nhất của MB, sau một thời gianhoạt động chi nhánh có 260 cán bộ nhân viên Với một đội ngũ cán bộ nhân viên

Trang 13

tre, năng động, nhiệt tình và trình độ cao nên chi nhánh đã hoạt động rất hiệu quả vàtừng bước khẳng định mình trong hệ thống MB.

Chính sách đối với người lao động

- Chính sách đào tạo

Đào tạo và phát triển nhân viên là một trong những công tác ưu tiên của MB.Chính sách đào tạo của MNB có mục tiêu xây dựng và phát triển đội ngũ nhân viênthành thạo về nghiệp vụ, chuẩn mực trong đạo đức kinh doanh, chuyên nghiệp trongphong cách làm việc và nhiệt tình phục vụ khách hàng

Nhân viên trong MB có cơ hội tham dự các lớp huấn luyện đào tạo nghiệp vụvà các kỹ năng theo nhu cầu công việc bên trong và bên ngoài ngân hàng, được tàitrợ kinh phí Ngoài ra, với sự hỗ trợ từ các đối tác nước ngoài, MB có chế độ cử cánbộ tham gia các khóa đào tạo và thực tập tại nước ngoài

Năm 2005, MB đã tổ chức và cử trên 726 lượt cán bộ tham gia trên 32 khóahọc và hội thảo tại Ngân hàng và tại các trung tâm trong và ngoài nước Trong đóchi nhánh MB- ĐBP đã cử đi 150 lượt cán bộ đi Trong năm 2006, MB đã tổ chức

56 khóa đào tạo bao gồm đào tạo nội bộ và đào tạo từ bên ngoài, cử 361 lượt cán bộ

đi đào tạo trong nước và nước ngoài, nâng tổng số lượt cán bộ đào tạo lên 1.087lượt, tăng gần 50% so với năm 2005 Trong đó chi nhánh MB-ĐBP đã được cử 30lượt người, nâng tổng số lên 180 lượt người được đào tạo, tăng 20% so với năm

2005 Và đến năm 2007, MB đã tổ chức được 58 khóa đào tạo cho cán bộ nhân viên

đi đào tạo tại nước ngoài, nâng tổng số lượt cán bộ được đào tạo lên trên 1.200 lượt.Trong đó MB-ĐBP cử đi 10 lượt người, nâng tổng số lượt cán bộ dược đào tạo lên

190, tăng 5,5 lần so với năm 2006

- Chế độ khen thưởng, chế độ phụ cấp bảo hiểm xã hội và các chế độ khác

Chế độ khen thưởng cho nhân viên MB là một chế độ khen thưởng tạo nhiềuđộng lực cho nhân viên, gắn liền với kết quả thực hiện công việc MB có các chế độ

cơ bản sau:

- Mỗi năm, nhân viên được hưởng tối thiểu 13 tháng lương, ngoài ra nhânviên còn được hưởng lương kinh doanh theo kết quả thực hiện công việc

Trang 14

- Thưởng cổ phiếu cho các cán bộ nhân viên có thành tích xuất sắc.

- Thưởng cho các đơn vị, cá nhân tiêu biểu trong năm; thưởng sáng kiến

- Thưởng trong các dịp lễ tết của quốc gia và kỷ niệm thành lập Ngân hàng.Tất cả nhân viên chính thức của MB đều được hưởng trợ cấp xã hội phù hợpvới Luật lao động Mặt khác hàng năm MB thực hiện chế độ nghỉ mát, thăm quandã ngoại đồng phục cho nhân viên MB luôn quan tâm đến đời sống tinh thần chocán bộ nhân viên như tổ chức khám sức khỏe định kỳ, tổ chức các lớp học khiêu vũ,trang điểm, các buổi nói chuyên về các chuyên gia chăm sóc và giữ gịn hạnh phúcgia đình…

Đầu tư vào khoa học công nghệ

Trong năm 2005, MB đã hoàn thành đánh giá thực trạng, xây dựng chiếnlược và các giải pháp triển khai lựa chọn xong nhà cung cấp phần mềm Corebanking là tập đoàn Thụy Sỹ Đồng thời, MB thực hiện cơ cấu từng bước về tổ chứcquản lý để vừa đảm bảo việc triển khai thành công dự án công nghệ thông tin, vừađảm bảo cho hệ thống IBank phục vụ tốt hơn nhu cầu quản lý hệ thống Và đếnngày 6/1/2006 thì dự án nhận chuyển giao phần mềm Core banking của Temenosđược ký ngày hợp đồng Đây là dự án lớn được triển khai trên 5 module lớn là tíndụng, bán lẻ, Treasury, Trade finance và tài chính kế toán Dự án đã hoàn thànhviệc phân tích nghiệp vụ, phát triển hệ thống theo đặc thù và yêu cầu của MB, đàotạo các Super user, soạn thảo quy trình vận hành chuẩn cho người sử dụng Đặcbiệt, trong năm 2007, MB tập trung triển khai dự án công nghệ thông tin với việcthay thế phân mềm Corebanking từ Ibank sang T24 do Temenos thực hiện Và đếnngày 10/8/2007, MB đã chính thức chuyển đổi dữ liệu sang hệ thống T24, đóng hệthống Ibank Hệ thống Ibank sau này dùng vào mục đích tra cứu dữ liệu lịch sử của

MB Hiện nay, hệ thống T24 đã chạy ổn định, đảm bảo chính xác tron các hoạtđộng tài khoản và giao dịch với khách hàng.Hệ thống T24 là một hệ thống hiện đại,linh hoạt và tích hợp, có thể đáp ứng các yêu cầu của Ngân hàng ở mức chi nhánhcũng như ở mức trụ sở chính, đáp ứng các yêu cầu trực tuyến và môi trường xử lýtức thời, theo sát các thông lệ và các yêu cầu nghiệp vụ của Ngân hàng Ngoài ra

Trang 15

T24 có các tính năng nổi bật như hỗ trợ chạy trên nhiều máy chủ cho phép hệ thốnggia tăng đáng kể tốc độ hạch toán và truy xuất thông tin, qua đó tăng cao hiệu suấtgiao dịch, đồng thời với công nghệ tổ hợp và cân bằng tải, hệ thống sẽ an toàn hơntrong việc đề phòng các sự cố máy chủ Trong thực tế T24 cho phép thực hiện tới

1000 giao dịch ngân hàng/ giây với cùng một lúc cho phép tới 10.000 người truycập hệ thống trực tiếp và 10.000 người qua T24 Internet, quản lý hơn 50 triệu tàikhoản khách hàng Đồng thời với tính năng Non-stop vượt trội loại bỏ tình trạnggiao dịch hệ thống bị ngừng khi đóng ngày, trong thời gian quyết toán Ngân hàngvà khách hàng có thể truy cập vào hệ thống vào mọi thời điểm trong ngày.Vì vậymà hệ thống MB nói chung và MB-ĐBP nói riêng hoạt động ngày càng có hiệu quảvà được khách hàng tin dùng

Đầu tư vào hoạt động Marketting

Hoạt động Marketing là một hoạt động rất quan trọng không chỉ đối với cácdoanh nghiệp mà còn cả các ngân hàng, đặc biệt trong bối cảnh các ngân hàngthương mại đang cạnh tranh nhau gay gắt Vì vậy, MB rất chú trọng vào hoạt độngnày, cụ thể là trong năm 2005, MB đã tổ chức thành công nhiều sự kiện quan trọng,tích cực đưa các tin về các hoạt động của Ngân hàng trên báo chí, trang Web Đồngthời, MB cũng chuẩn hóa lại các biển hiệu cho chi nhánh, nâng cấp trang Webmilitarybank.com.vn, góp phần tăng cường giới thiệu hình ảnh của MB một cáchhiện đại và chuyên nghiệp hơn, thu hút được ngày càng nhiều sự quan tâm của cônchúng và mang lại nhiều kết quả thiết thực cho hoạt động kinh doanh đặc biệt làtrong lĩnh vực huy động vốn Hoạt động Marketing năm 2006 đã có tính chuyênnghiệp và hiệu quả hơn so với năm 2005 với việc thương hiệu MB ngày càn đượcbiết đến rộng rãi trong công chúng Trong năm này, Ngân hàng đã lựa chọn đượcđối tác về xây dựng chiến lược và phát triển thương hiệu MB, thành lập Ban đề ánthương hiệu để triển khai các hoạt động về xây dựng chiến lược và phát triểnthương hiệu Giải thưởng thương hiệu mạnh 2005 được trao trong năm 2006 là mộtkết quả rất đáng khích lệ Và đến năm 2007, Ngân hàng được trao giải thưởng “Cúpvàng top ten Thương Hiệu Việt- Ngành Tài chính Ngân hàng” thông qua chương

Trang 16

trình “Bình chọn cúp vàng Thương Hiệu uy tín chất lượng lần thứ III” nhằm tônvinh các doanh nghiệp đi đầu trong việc xây dừng thương hiệu và ứng dụng côngnghệ thông tin, các quy trình quản lý vào sản xuất kinh doanh.

1.2 Thực trạng công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại MBĐBP

1.2.1 Sự cần thiết phải thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn

Nền kinh tế thị trường có xu hướng toàn cầu hóa kinh tế và quốc tế hóa cácluồng tài chính đã làm thay đổi căn bản hệ thống ngân hàng, hoạt động kinh doanhngày càng trở nên phức tạp Thực tế đó đòi hỏi hệ thống các ngân hàng thương mạiphải có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản trị rủi ro Rủi ro là mộtđiều rất phổ biến và dường như mang tính tất yếu đối với mọi hiện tượng cả trongtự nhiên lẫn đời sống kinh tế, xã hội của con người Vì vậy, chấp nhận và đối đầuvới rủi ro là một điều bình thường, không tránh khỏi, nhưng vấn đề đặt ra ở đâykhông phải có hay không có rủi ro, mà là ở chỗ phải phòng ngừa để giảm thiểu rủi

ro ở mức chấp nhận được Kinh doanh tiền tệ của các ngân hàng thương mại càngkhông phải là một ngoại lệ, càng khó tránh được rủi ro Về mặt lý thuyết, ngân hànglà một nghề kinh doanh rủi ro, hiệu quả hoạt động của nó phụ thuộc nhiều vào mứcđộ rủi ro Rủi ro là một đại lượng khó xác định và không thể triệt tiêu hoàn toàn, vìvậy ta luôn phải chấp nhận rủi ro, nghĩa là luôn phải biết cách tính toán, phân tíchrủi ro để có thể đưa ra quyết định phù hợp

Vòng đời của một dự án là rất dài, vì vậy trong suốt quá trình thực hiện và vậnhành kết quả đầu tư thì doanh nghiệp không thể lường trước được những rủi ro xảy

ra Mà khi đưa ra quyết định đầu tư, doanh nghiệp thường dựa trên các số liệu giảđịnh Cho nên có một số dự án khi lập thì khả thi nhưng khi thực hiện thì lại gặpnhiều khó khăn, có nhiều dự án còn bị lỗ Các dự án thất bại, ngoài chủ đầu tư bịthiệt thì ngân hàng cũng gặp rủi ro Chính vì vậy, khi thẩm định rủi ro dự án đầu tưcác cán bộ cần tính toán đầy đủ các loại rủi ro xảy ra để có biện pháp phòng ngừanếu chấp nhận dự án

Đánh giá rủi ro là một khâu quan trọng trong thẩm định dự án đầu tư Kết quảcủa khâu này nhằm xác định tính khả thi, tính vững chắc của dự án, do đó ảnh

Trang 17

hưởng lớn đến quyết định cho vay của ngân hàng Ngân hàng TMCP Quân đội nóichung và với chi nhánh Điện Biên Phủ nói riêng rất quan tâm đến công tác thẩmđịnh rủi ro dự án xin vay vốn Bởi vì, nó có vai trò quan trọng đối với sự phát triểncủa Ngân hàng, nhất là khi các dự án xin vay vốn của Ngân hàng ngày càng tăng lêncả về số lượng lẫn quy mô

Qua phân tích trên chúng ta thấy được tầm quan trọng của công tác thẩm địnhdự án xin vay vốn, khẳng định sự cần thiết phải tiến hành công tác này

1.2.2.Phương pháp thẩm định rủi ro

1.2.2.1 Phương pháp định tính

Phương pháp định tính trong thẩm định rủi ro dự án đầu tư được thực hiệntrên cơ sở hồ sơ dự án đầu tư xin vay vốn của chủ đầu tư do khách hàng hoặc cácđối tác khác cung cấp Ngoài ra, để thêm thông tin phục vụ cho việc đánh giá, phântích, cán bộ thẩm định cần phải tìm hiểu, thu thập thông tin, tài liệu liên quan đếndự án thông qua các nguồn:

- Đi tìm hiểu thực tế về giá cả, tình hình cung cầu thị trường đối với sảnphẩm của dự án;

- Tìm hiểu qua các nhà cung ứng thiết bị, nguyên vật liệu, các nhà tiêuthụ sản phẩm tương tự để đánh giá tình hình thị trường đầu vào, đầu

ra của dự án;

- Tìm hiểu từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài, mạng máytính…); các cơ quan quản lý Nhà nước, quản lý doanh nghiệp;

- Tìm hiểu qua các báo cáo, nghiên cứu, hội thảo chuyên đề về từngnghành nghề;

- Tìm hiểu từ các dự án đầu tư cùng loại;

- Tham khảo ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực dự án;

Các nguồn tài liệu cần thiết cho công tác thẩm định rủi ro gồm có:

- Báo cáo nghiên cứu và phân tích ngành kinh tế, lĩnh vực kinh tế;

Trang 18

- Các số liêụ thống kê có liên quan đến dự án: Các nhà cung cấp, cácsản phẩm cùng loại, cung cầu của thị trường, kim ngạch xuất nhậpkhẩu, nguyên vật liệu đầu vào;

- Quy hoạch phát triển ngành nghề hoặc định hướng của Chính phủ đốivới ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh của dự án;

- Các văn bản pháp quy điều chỉnh quan hệ kinh tế thuộc dự án, hoặcđiều chỉnh các mối quan hệ kinh tế có liên quan…

Việc thẩm định rủi ro dự án đầu tư thì người cán bộ thẩm định cần bắt đầu từviệc nghiên cứu tổng hợp phân tích các ngành nghề, lĩnh vực kinh tế của dự án đầu

tư, từ đó có đánh giá sơ định hướng cho công tác thẩm định rủi ro

Phương pháp này được Ngân hàng Ngân áp dụng nhằm xác định, đánh giá cácrủi ro khó lượng hóa như: rủi ro cơ chế, chính sách; rủi ro thi công xây dựng, hoàntất; rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán; rủi ro Rủi ro về cung ứng; Rủi ro kỹthuật và vận hành; Rủi ro môi trường, xã hội; Rủi ro kinh tế vĩ mô Khi áp dụngphương pháp này cán bộ thẩm định sẽ đưa ra các câu hỏi để xác định xem có nhữngrủi ro nào có thể xảy ra và nếu có thì trong hồ sơ dự án đã có sẵn các phương ánkhắc phục chưa

1.2.2.2 Phương pháp định lượng

Phương pháp phân tích mà Ngân hàng đang sử dụng là phương pháp phân tíchđộ nhạy Phương pháp này có ưu điểm hơn so với phương pháp định tính vì nó cóthể cụ thể hóa rủi ro thành số đo để từ đó xác định được mức độ rủi ro của dự án.Phân tích độ nhạy là là việc phân tích ảnh hưởng của sự thay đổi của một sốnhân tố hay hai nhân tố có tính chất bất định như MARR (lãi suất chiết khấu), chiphí, thu nhập, tuổi thọ dự án… đến độ đo hiệu quả kinh tế của các phương án sosánh và khả năng đảo lộn kết luận về các phương án so sánh, nghĩa là từ đáng giátrở thành không đáng giá và ngược lại Nói một cách khác, phân tích độ nhạy làxem xét mức độ “nhạy cảm” của các kết quả khi có sự thay đổi giá trị của một haymột số tham số đầu vào

Trang 19

Trước tiên ta tiến hành chọn chỉ tiêu để phân tích, thông thường dự án khôngcần phải phân tích sự biến động đối với cả 4 chỉ tiêu T, NPV, IRR, BEP mà chỉ cầnphân tích đối với NPV và IRR là đủ

Mô hình phân tích độ nhạy thuộc loại mô hình mô tả, kết quả của mô hình nàysẽ cung cấp thêm thông tin có liên quan cho cán bộ thẩm định ra quyết định để lựachọn phương án hoặc yêu cầu phải tổ chức thêm về một tham số kinh tế nào đó.Trong phân tích độ nhạy cần đánh giá được biến số quan trọng, là biến số có ảnhhưởng nhiều đến kết quả và sự thay đổi của biến số có nhiều tác động đến kết quả

Nhược điểm của phân tích độ nhạy là:

 Không trình bày được xác suất xuất hiện của các tham số và xác suất xảy racủa các kết quả

 Chỉ xem xét từng tham số trong khi kết quả lại chịu tác động của nhiều thamsố cùng một lúc

Có thể thực hiện phân tích độ nhạy trên EXCEL bằng cách sử dụng bảng phântích một chiều với các lệnh DATA và TABLE

Phương pháp định lượng được sử dụng để phân tích rủi ro tài chính của dự ánđầu tư

Theo phương pháp này các cán bộ thẩm định sẽ tiến hành phân tích bằng cáchdựa trên số liệu được cung cấp trong hồ sơ dự án và tiến hành cho các nhân tố (đượcxác định là có khả năng có các biến động lớn) thay đổi, trên cơ sở các thay đổi đó,cán bộ thẩm định tiến hành phân tích lại các chỉ tiêu tài chính, xác định biên an toàncũng như độ vững chắc của dự án, mặt khác còn xác định được nhân tố nào tácđộng mạnh nhất đến kết quả và hiệu quả đầu tư, từ đó có sự đánh giá phù hợp

Các bước thực hiện:

- Xác định các biến dữ liệu đầu vào, đầu ra cần phải tính toán độ nhạy Đâylà những biến chủ yếu của chỉ tiêu hiệu quả tài chính cần quan tâm củadự án

Các thành phần thuộc đầu vào của dự án:

Trang 20

+ Các khoản mục thuộc biến phí (BP – VC) trong đó đặc biệt là nguyên vậtliệu, bán thành phẩm, giá thuê nhân công, hao phí dịch vụ hạ tầng điện, nước.

+ Các khoản mục thuộc định phí (DP – FC)

Các thành phần thuộc đầu ra của dự án:

+ Giá tiêu thụ 1 đơn vị sản phẩm (P)

+ Sản lượng tiêu thụ (Q)

- Liên kết các dữ liệu trong các bảng tính có liên quan đến mỗi biến theo mộtđịa chỉ duy nhất (bước này được thực hiện song song trong quá trình tính toánhiệu quả tài chính của dự án)

- Xác định các chỉ số đánh giá hiệu quả dự án (thông thường là các chỉ sốNPV, IRR, T), cần khảo sát sự ảnh hưởng khi các biến thay đổi Biên độ dao độngcủa các chỉ tiêu trên được phân tích tương ứng với sự biến thiên giá trị đầu vào vàđầu ra của dự án ở 3 trạng thái:

+ Bình thường: như được tính toán trong dự án

+ Bi quan: tăng đầu vào hoặc giảm đầu ra

+ Lạc quan: giảm đầu vào hoặc tăng đầu ra

Trong phân tích rủi ro thì trạng thái bi quan cần được quan tâm

- Tăng giảm mỗi yếu tố cùng một tỷ lệ % nào đó

Đo lường tỷ lệ thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính do sự thay đổi của cácyếu tố

- Chia tỷ lệ % thay đổi của chỉ tiêu hiệu quả tài chính do sự thay đổi của mỗiyếu tố ta có độ nhạy của yếu tố đó Chỉ số độ nhạy của yếu tố nào lớn là dự án nhạycảm với yếu tố đó, do đó cán bộ thẩm định cần phải xác định xem dự án đã nghiêncứu và có các phương pháp quản lý nhằm hạn chế tác động xấu đến dự án chưa

- Lập bảng tính toán độ nhạy theo các trường hợp một biến thông số thay đổihay cả hai biến thay đổi đồng thời theo mẫu dưới đây (các bảng này phải nằm cùngbảng với các biến)

Trang 21

Bảng 1.5: Bảng tính độ nhạy khi một biến thay đổi:

Trường hợp cơ bản Giá trị 1 Giá trị 2 Giá trị 3 Giá trị…

Bảng 1.6 : Bảng tính độ nhạy khi nhiều biến cùng thay đổi:

Thông số dự án

Nguyên tắc của phân tích độ nhạy:

Bản chất của phân tích độ nhạy là nhằm xác định bổ sung các chỉ tiêu đánh giákhả năng sinh lời của dự án đầu tư phụ thuộc vào sự biến đổi của một hay một sốcác thành phần thuộc đầu vào và đầu ra trong điều kiện bất định xảy ra ở tương lai

1.2.2.3 Phương pháp thẩm định theo trình tự

Việc thẩm định rủi ro được thực hiện theo trình tự từ chi tiết đến tổng hợp, kếtluận sau được tổng hợp dựa trên các kết luận trước đó

Thẩm định chi tiết là quá trình thẩm định từng khía cạnh của dự án, chỉ ranhững rủi ro có khả năng xảy ra cho dự án

Trang 22

Thẩm định tổng hợp là việc tổng hợp lại các rủi ro có thể xảy ra đối với dự ánđầu tư đã được xác định trong bước trên Trong bước này, các loại rủi ro sẽ đượcđánh giá một lần nữa nhằm đảm bảo chính xác, đồng thời sẽ rà soát lại để đảm bảocác rủi ro được xác định là đầy đủ

Phương pháp này được áp dụng đối với tất cả các loại rủi ro xảy ra

1.2.2.4 Phương pháp dự báo

Đầu tư phát triển có đặc điểm là một hoạt động mang tính lâu dài, đòi hỏi vốnvà nguồn lực lớn, thời gian thực hiện và vận hành kết quả đầu tư dài… nên mức độrủi ro trong hoạt động này sẽ rất cao Do vậy, việc áp dụng phương pháp dự báonhằm đánh giá tính khả thi của dự án là rất quan trọng

Phương pháp dự báo là việc sử dụng các số liệu điều tra thống kê và vận dụngcác phương pháp dự báo thích hợp để kiểm tra cung cầu về sản phẩm của dự án, vềgiá cả sản phẩm, thiết bị, nguyên vật liệu… ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi củadự án

Phương pháp này được áp dụng đối với các loại rủi ro: Rủi ro về cung cấp; rủi

ro về thị trường, thu nhập, thanh toán; rủi ro thi công xây dựng, hoàn tất; rủi ro kỹthuật và vận hành; rủi ro môi trường, xã hội; rủi ro kinh tế vĩ mô; rủi ro cơ chế,chính sách

1.2.3 Quy trình thẩm định rủi ro

Trong hoạt động cho vay đối với dự án đầu tư, Ngân hàng chịu tác động củarủi ro từ chủ đầu tư chính là khách hàng vay vốn, rủi ro đầu tư của dự án vay vốn vàrủi ro tín dụng của hoạt động cho vay Ba loại rủi ro này có quan hệ mật thiết vớinhau, nếu một trong 3 nội dung đánh giá rủi ro không đảm bảo tin cậy thì dự án sẽkhông được chấp nhận cho vay vốn

Quan hệ tín dụng là quan hệ được dựa trên cơ sở lòng tin, bởi vậy việc đánhgiá năng lực pháp lý, quản lý điều hành và năng lực tài chính của chủ đầu tư là hếtsức quan trọng nhằm xem xét xem khách hàng (chủ đầu tư) có đủ tin cậy không,nếu không đủ tin cậy thì ngân hàng sẽ gặp phải rủi ro do đầu tư mang lại Nếu mộtdự án đầu tư mà khả thi nhưng chủ đầu tư có tư cách đạo đức kém, năng lực quản lý

Trang 23

điều hành yếu, hay tiềm lực tài chính không đủ thì dự án đó chưa chắc đã đi vàohoạt động tốt, khó mang lại hiệu quả tốt được Trong hoạt động tín dụng cho vay thìchủ đầu tư phải có tài sản đảm bảo và Ngân hàng phải tiến hành đánh giá tài sảnđảm bảo đó Vì vậy nếu dự án không có tài sản đảm bảo hoặc tài sản đảm bảokhông đủ tiêu chuẩn thì Ngân hàng sẽ dễ gặp phải rủi ro tín dụng Và ngược lại nếudự án không khả thi mà nhà đầu tư được đánh giá tốt về các mặt, có tài sản đảm bảocó giá trị cao thì cũng không thể vay vốn được, bởi lợi nhuận mà dự án thu đượcchính là cơ sở để khách hàng thanh toán cho ngân hàng.

Rủi ro là việc xảy ra trong tương lai không được như mong muốn Rủi ro đầu

tư là rủi ro nội tại của dự án, nó ảnh hưởng đến tính khả thi của dự án, đánh giá rủi

ro đầu tư nhằm xem xét xem dự án có khả thi không, có an toàn khi cho vay không.Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh khi một bên đối tác không thực hiện nghĩavụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với Ngân hàng, bao gồm cả việckhông thực hiện thanh toán nợ, cho dù đó là nợ gốc vay hay nợ lãi khi khoản nợ đếnhạn Đánh giá rủi ro tín dụng nhằm để xem xét xem dự án có khả năng trả vốn và lãicho Ngân hàng không

Thẩm định dự án đầu tư là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, toàndiện các nội dung cơ bản liên quan đến dự án đầu tư có ảnh hưởng trực tiếp tới tínhkhả thi, hiệu quả và khả năng hoàn vốn đầu tư của dự án Thẩm định dự án đầu tư làmột khâu then chốt của tác nghiệp thẩm định tín dụng (Bước 2) trong quy trìnhnghiệp vụ tín dụng của MB, có vai trò quan trọng trong việc xem xét, quyết địnhđầu tư của Ngân hàng Cụ thể là:

- Đưa ra kết quả về tính khả thi, hiệu quả về mặt tài chính của dự án,khả năng trả nợ và những rủi ro có thể xảy ra để phục vụ cho việcquyết định cho vay hoặc từ chối cho vay hay đầu tư

- Làm cơ sở tham gia góp ý, tư vấn cho chủ đầu tư, tạo tiền đề để đảmbảo hiệu quả cho vay thu được trả nợ gốc và lãi đúng hạn, hạn chế vàphòng ngừa rủi ro

Trang 24

- Làm cơ sở để xác định tiền vay, thời gian cho vay, dự kiến tiến độ giảingân, mức thu nợ hợp lý, các điều kiện cho vay; tạo tiền đề cho kháchhành hoạt động có hiệu quả và đảm bảo mục tiêu đầu tư của ngânhàng.

Quy trình tác nghiệp thẩm định dự án đầu tư là văn bản quy định và hướngdẫn các tác nghiệp một dự án đầu tư của người cán bộ thẩm định và các phòngnghiệp vụ trong toàn hệ thống của MB, được vận dụng trong các tác nghiệp tíndụng trung dài hạn cho vay dự án đầu tư, đồng tài trợ trung dài hạn, ủy thác đầu tưdự án hoặc trong việc thẩm định các dự án đầu tư trực tiếp của Ngân hàng Quytrình tác nghiệp thẩm định dự án đầu tư là văn bản gắn liền, không tách rời bản quytrình nghiệp vụ tín dụng của MB

Việc thẩm định dự án đầu tư sẽ tập trung phân tích, đánh giá về khía cạnhhiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án Các khía cạnh như hiệu quả về mặtxã hội, hiệu quả kinh tế nói chung cũng sẽ được đề cập tới tùy theo đặc điểm và yêucầu của từng dự án Các nội dung thẩm định và trình tự thực hiện như sau:

- Phân tích kinh tế dự án đầu tư

- Phân tích kỹ thuật

- Thẩm định về khả năng thực hiện dự án

- Đánh giá hiệu quả về mặt tài chính và khả năng trả nợ của dự án

- Phân tích rủi ro, các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro

Thẩm định rủi ro là một trong những nội dung quan trọng của thẩm định dự ánđầu tư việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quantrọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủđộng có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu

Việc đánh giá, phân tích, dự đoán các rủi ro có thể xảy ra là rất quan trọng nhằmtăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động có biệnpháp phòng ngừa, giảm thiểu

Những sơ đồ sau sẽ giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về quy trình đánh giárủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

Trang 25

Sơ đồ 1.4: Quy trình tổng quát về đánh giá rủi ro trong cho vay dự án tại

MB – ĐIỆN BIÊN PHỦ

Bước 1: Tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ khách hàng

Sau khi hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn, cán bộ thẩm định sẽ tiếpnhận hồ sơ vay vốn và kiểm tra tính đầy đủ, hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ Bộ phậnquan hệ khách hàng có nhiệm vụ nhận hồ sơ, tiếp nhận các nhu cầu vay vốn củakhách hàng và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn cần thiết theo quy định.Nếu tài liệu khách hàng cung cấp là đầy đủ, cán bộ thẩm định sẽ tiếp tục tiến hànhcác bước tiếp theo Ngược lại, nếu tài liệu khách hàng cung cấp chưa đủ để tiếnhành thẩm định, quyết định cho vay, cán bộ thẩm định sẽ đề nghị khách hàng bổsung hoàn thiện

Bước 2: Đánh giá rủi ro của dự án đầu tư

Sau khi nhận hồ sơ của khách hàng có đầy đủ các tài liệu cần thiết và thu thậpđầy đủ thông tin về khách hàng Cán bộ thẩm định sẽ dựa vào hồ sơ của dự án vàcác thông tin thu thập được tiến hành thẩm định sẽ tiến hành thẩm định các nộidung cần thiết (trong đó chưa bao gồm thẩm định rủi ro) Trong quá trình thẩm định

Đánh giá rủi ro của các biện pháp bảo đảm tiền vay

Lập tờ trình thẩm định

Báo cáo

trưởng phòng

nghiệp vụ

Trình duyệt hồ

sơ và phán quyết cho vay

Đánh giá rủi

ro về chủ đầu tư

Đánh giá rủi ro của dự án đầu tưTiếp nhận

hồ sơ

Trang 26

từng khía cạnh dự án như khía cạnh pháp lý, khía cạnh thị trường, khía cạnh kỹthuật… cán bộ thẩm định sẽ đưa ra nhận xét về các mặt tích cực cũng như những rủi

ro tiềm ẩn đối với từng khía cạnh Khi đã tiến hành xong các rủi ro cần thiết cảu dựán, cán bộ thẩm định sẽ tiến hành tổng hợp các rủi ro, đánh giá và phân tích kỹlưỡng các rủi ro của dự án đầu tư

Cán bộ thẩm định sẽ tổng hợp các rủi ro này trong báo cáo thẩm định dự án

Rủi ro của dự án đầu tư được tổng hợp lại như sau:

Sơ đồ 1.5: Tổng hợp rủi ro của dự án đầu tư

Sơ đồ1.6: Vị trí của bước thẩm định – tổng hợp rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại MB-ĐBP

Phân tích kinh tế dự án đầu tư

Phân tích kinh tế

dự án đầu tư

- Rủi ro về thị trường, thu nhập

- Rủi ro về cung cấp

- Rủi ro kinh tế vĩ mô

Phân tích kỹ

hành

Thẩm định về

phương diện tổ

chức, quản lý

thực hiện dự án

Rủi ro về thi công, xây dựng

Thẩm định khía

cạnh tài chính dự

án

Rủi ro về khả năng trả

nợ của khách hàng

Rủi ro tổng hợp của dự án xin vay vốn tại MB- ĐBP

Trang 27

Phân tích kinh tế dự án đầu tư gồm: phân tích thị trường, khả năng tiêu thụ sảnphẩm, dịch vụ đầu ra của dự án và đánh giá khả năng cung ứng nguyên vật liệu, cácyếu tố đầu vào khác Đây là những yếu tố quan trọng nhất của dự án, bởi vậy phântích kinh tế dự án được cán bộ thẩm định thực hiện đầu tiên trong các bước thẩmđịnh dự án đầu tư.

Thẩm định rủi ro dự án đầu tư là khâu cuối cùng trong thẩm định dự án đầu tư,nhưng đây là khâu rất quan trọng, nhằm xem xét xem dự án có khả thi không khi cósự thay đổi của các yếu tố đầu vào và đầu ra của dự án, hay nói cách khác là đánhgiá dự án trong trường hợp có rủi ro xảy ra và dự án đã có các biện pháp phòngtránh chưa

Bước 3: Đánh giá rủi ro của các biện pháp bảo đảm tiền vay

Bảo đảm tiền vay là việc Ngân hàng áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro,tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay Các biện pháp bảo đảm tiền vay bao gồm:

Thẩm định khả năng thực hiện dự án

Đánh giá hiệu quả về tài chính và khả

năng trả nợ của dự án

Phân tích, biện pháp giảm thiểu rủi roThẩm định khả năng thực hiện dự án

Phân tích kỹ thuật

Trang 28

a Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản

- Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay;

- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba;

- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay

b Các biện pháp bảo đảm tiền vay trong trường hợp không có bảo đảm bằng tàisản:

- Ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng vay để không có bảo đảm bằng tàisản;

- Ngân hàng nhà nước được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định củaChính phủ;

- Ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp củatổ chức đoàn thể chính trị – xã hội

Nguyên tắc bảo đảm tiền vay:

- Ngân hàng có quyền lựa chọn, quyết định cho vay có bảo đảm bằng tài sản,cho vay không có bảo đảm theo quy định của Nghị định của Chính phủ vàphải chịu trách nhiệm về quyết định của mình

- Khách hàng vay được tổ chức tín dụng lựa chọn cho vay không có bảo đảmbằng tài sản, nếu trong quá trình sử dụng vốn vay, tổ chức tín dụng phát hiệnkhách hàng vay vi phạm cam kết trong hợp đồng tín dụng, thì tổ chức tíndụng có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản hoặc thu hồi nợtrước hạn

- Ngân hàng có quyền xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của Nghịđịnh Chính phủ về bảo đảm tiền vay của các tổ chức tín dụng và theo quyđịnh của pháp luật có liên quan đến thu hồi nợ khi khách hàng vay hoặc bênbảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ đã cảmkết

- Sau khi xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, nếu khách hàng vay hoặc bên bảo lãnhvẫn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ, thì khách hàng vay hoặc bên bảolãnh có trách nhiệm tiếp tục thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ đã cam kết

Trang 29

Bước 4: Lập tờ trình thẩm định

Dựa trên kết luận về rủi ro của khách hàng, rủi ro đối với dự án, với tài sản bảođảm tiền vay, cán bộ thẩm định sẽ lập tờ trình thẩm định theo mẫu của Ngân hàngQuân đội

Bước 5 : Báo cáo trưởng phòng nghiệp vụ

Sau khi lập tờ trình thẩm định xong, cán bộ thẩm định sẽ trình lên trưởngphong nghiệp vụ xem xét

Bước 6: Trình duyệt hồ sơ và phán quyết cho vay

Sau đó bộ phận quan hệ khách hàng thực hiện trình hồ sơ khoản vay lên cáccấp xét duyệt sau khi đã có kiểm soát của lãnh đạo phòng khách hàng doanh nghiệp,ý kiến tái thẩm định của phòng quản lý tín dụng, Giám đốc chi nhánh (nếu có)

- Giám đốc, Phó Giám đốc chi nhánh thực hiện xét quyệt khoản vay có giá trịnằm trong mức phán quyết được Tổng Giám đốc ủy quyền sau khi đã cóKiểm soát

- Ban giám đốc thực hiện xét quyệt các khoản vay vượt mức phán quyết củaBan Giám đốc chi nhánh sau khi đã có Kiểm soát của Ban Giám đốc chinhánh, ý kiến tái thẩm định của phòng quản lý tín dụng hội sở

1.2.4 Nội dung thẩm định rủi ro

1.2.4.1.Thẩm định rủi ro về chủ đầu tư

Rủi ro về năng lực pháp lý của chủ đầu tư

Rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định năng lực pháp lý của chủ đầu tư khi kháchhàng vay vốn không có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định củapháp luật hiện hành Các tài liệu dùng để thẩm định rủi ro năng lực pháp lý củachủ đầu tư bao gồm:

- Hồ sơ pháp lý của khách hàng

- Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

- Các tài liệu tham khảo khác…

Đối với các doanh nghiệp đi vay thì cán bộ thẩm định cần phải:

- Kiểm tra tính hợp pháp, hợp lệ của:

Trang 30

+ Quyết định thành lập đối với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp thànhlập theo luật công ty

+ Giấy phép đầu tư đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật đầu tư nướcngoài;

+ Đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanhnghiệp;

+ Đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp nhà nước;

- Xem xét quyền hạn, trách nhiệm của các bên trong hợp đồng đối với doanhnghiệp liên doanh

- Các quy định về quyền hạn, trách nhiệm trong điều lệ của doanh nghiệp

- Tính pháp lý của các quy định bổ nhiệm giám đốc (tổng giám đốc), kế toántrưởng hoặc người quản lý về tài chính của doanh nghiệp

- Người đại diện pháp nhân của doanh nghiệp ( Chủ tịch Hội đồng quản trị,Tổng giám đốc)

- Thời hạn hoạt động còn lại của doanh nghiệp

Đối với khách hàng là tư nhân:

- Đủ 18 tuổi trở lên

- Có đầy đủ năng lực dân sự theo quy của Bộ luật dân sự

- Có xác nhận về nhân thân của cá nhân thông qua các giấy tờ như: hộ khẩuthường trú, giấy chứng minh thư, xác nhận của cơ quan đơn vị chính quyền địaphương…

Rủi ro về năng lực quản lý điều hành của chủ đầu tư

Thẩm định rủi ro năng lực quản lý điều hành của chủ đầu tư bao gồm:

- Những rủi ro về ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh;

- Rủi ro trong mô hình tổ chức bố trí lao động không hợp lý;

- Rủi ro trong quản trị điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp;

- Rủi ro trong tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Rủi ro về ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh:

Trang 31

Rủi ro khi có sự sai khác giữa ngành nghề kinh doanh đăng ký với ngành nghềkinh doanh hiện tại của doanh nghiệp hoặc không phù hợp với dự án đầu tư.

Rủi ro khi ngành nghề kinh doanh không phù hợp với xu hướng phát triển của ngành

Mô hình tổ chức bố trí lao động

Rủi ro về quy mô, cơ cấu tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp như mô hình quản lý điều hành thiếu tính chuyên nghiệp, không linh hoạttrong phân bổ nguồn lực, các phòng ban phối hợp không nhịp nhàng với nhau dẫnđến hiệu quả làm việc không cao, không tận dụng được hết nguồn lực và sự sángtạo của nhân viên…

Rủi ro về trình độ quản lý, tay nghề và ý thức của người lao động trong sảnxuất kinh doanh: tay nghề lao động thấp, không tương xứng với độ hiện đại củacông nghệ, hay doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nước ngoài làm tăng chi phí,không tận dụng nguồn lực trong nước…

Quản trị điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp

Rủi ro khi trình độ, năng lực lãnh đạo và chuyên môn không cao, cần lưu ý đếntrường hợp nghỉ hưu đối với doanh nghiệp nhà nước, người già yếu đối với doanhnghiệp khác; hay người quá trẻ chưa có kinh nghiệm trong điều hành, người lãnhđạo không nhạy bén trong lãnh đạo trước biến động của thị trường, không đưa rađược quyết định kịp thời và chính xác dẫn đến mất cơ hội sinh lời của doanh nghiệphay là giảm doanh thu so với trước

Rủi ro khi người lãnh đạo không quan tâm tới chính sách đối với người laođộng, không tạo động lực cho họ làm việc, không biết cách đoàn kết nội bộ, thốngnhất trong quản trị điều hành của ban lãnh đạo doanh nghiệp dẫn đến mâu thuẫn,chậm đưa ra quyết định cuối cùng làm lỡ mất thời cơ sinh lợi lớn

Rủi ro về năng lực tài chính của chủ đầu tư (khách hàng vay vốn)

Tình hình tài chính của doanh nghiệp được thể hiện thông qua: tổng tàisản/nguồn vốn; cơ cấu nguồn vốn và khả năng trả sử dụng vốn; tình trạng tồn kho ứđọng, kém, mất phẩm chất, dự phòng giảm giá hàng tồn kho; dự trữ tiền mặt và các

Trang 32

khoản có thể chuyển đổi thành tiền; tình trạng các khoản phải thu khó đòi, dự phòngkhoản phải trả khó đòi, vòng quay các khoản phải thu; tình trạng tài sản (cơ cấugiữa tài sản lưu động và tài sản cố định, thực trạng tài sản cố định, cơ cấu tài sản lưuđộng, nợ vay ngân hàng và các khoản chiếm dụng, tình trạng các khoản phải thukhó đòi, tình trạng hàng tồn kho); tình trạng nguồn vốn (nợ ngắn hạn và cơ cấu nợngắn hạn, nợ dài hạn và thời hạn các khoản nợ); các chỉ tiêu phản ánh khả năng tựchủ về tài chính, cơ cấu vốn, khả năng thanh toán, tốc độ luân chuyển…

Rủi ro về năng lực tài chính của doanh nghiệp xảy ra khi khả năng thanh toáncủa doanh nghiệp kém sẽ bất lợi cho doanh nghiệp vì khi doanh nghiệp đi vay sẽphải va với lãi suất cao hơn do rủi ro đối với ngân hàng lớn hơn Khả năng sinh lờivốn của chủ sở hữu thấp hơn lãi vay trong kỳ dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ vì lợinhuận tạo ra từ một đồng vốn chủ sở hữu không đủ bù đắp chi phí sử dụng vốn…

1.2.4.2 Thẩm định rủi ro về dự án đầu tư

Rủi ro về thị trường của dự án đầu tư

Đối với thị trường nội địa

Rủi ro đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án đầu tư có thể gặp phải trênthị trường nội địa là: hình thức, mẫu mã không bắt mắt, chất lượng sản phẩm khôngbằng các sản phẩm khác cùng loại trên thị trường hoặc không phù hợp với thị hiếu,nhu cầu của người tiêu dùng trong nước; giá cả sản phẩm quá thấp không bù đắpnổi chi phí, hoặc quá cao không tạo ra được cạnh tranh để thu hút khách hàng

Đối với thị trường ngoài nước:

Rủi ro đối với sản phẩm dịch vụ trên thị trường ngoài nước bao gồm: sảnphẩm, dịch vụ không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; quy cách, chất lượng, mẫu mã củasản phẩm thua kém các sản phẩm xuất khẩu cùng loại trên thị trường nước ngoài dođó sản phẩm sẽ không được xuất khẩu trở thành hàng lỗi và sẽ bán rẻ trong nước,nếu có nhiều sản phẩm lỗi thì doanh nghiệp sẽ bị tổn thất nặng; giá của sản phẩmkhông cạnh tranh được với giá của các sản phẩm nước ngoài khác do chi phí củanước ta lớn do nguyên vật liệu có thể phải nhập khẩu với giá cao Ngoài ra, sảnphẩm và dịch vụ đầu ra của dự án còn gặp rủi ro về hạn ngạch, tỷ giá hối đoái

Trang 33

Sự thay đổi của môi trường, luật pháp, chính trị xã hội của dự án; chính sáchkinh tế vĩ mô của Nhà nước, các chính sách thu hút đầu tư, chính sách thuế quan,chính sách tiền tệ, ngoại giap… Mặt khác sản phẩm còn chịu ảnh hưởng của cácvấn đề toàn cầu như hội nhập khu vực, thị trường tự do thuế quan khu vực… lànhững rủi ro tiềm tàng cho thị trường của dự án Sản phẩm khó bán trên thị trườngnước ngoài, từ đó cơ hội mở ra các thị trường khác nữa là rất hiếm.

Rủi ro về tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, tính khả thi của nguồn vốn

Rủi ro về tổng vốn đầu tư:

Rủi ro có thể gặp phải khi tổng vốn đầu tư thay đổi quá lớn so với dự kiến, dẫnđến không cân đối được nguồn vốn từ đó ảnh hưởng đến việc tính toán các chỉ tiêuhiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án Rủi ro này xảy ra khi chủ đầu tưchưa tính toán đầy đủ các yếu tố làm tăng chi phí trượt giá, phát sinh thêm khốilượng, dự phòng việc thay đổi tỷ giá ngoại tệ, tính toán sai lệch suất vốn đầu tư vànhững hạng mục thực sự cần thiết trong giai đoạn thực hiện dự án

Rủi ro về cơ cấu vốn đầu tư

Rủi ro xảy ra khi chủ đầu tư không đưa ra được một con số chính xác tổng vốnđầu tư, dẫn tới cơ cấu vốn đầu tư cũng sai lệch theo

Rủi ro về đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư theo tiến độ

Dự án sẽ gặp rủi ro này khi tỷ lệ các nguồn vốn tham gia vào từng dự án khôngthực sự hợp lý, vốn đầu tư không giải ngân theo đúng tiến độ đặt ra…từ đó dẫn đếnthiếu vốn thực hiện dự án, làm chậm tiến độ thi công Ngân hàng Quân đội thườngyêu cầu vốn tự có tham gia giải ngân trước và từ đó áp dụng giải ngân song song(chủ đầu ư tham gia giải ngân 50% vốn đầu tư của họ, rồi tới vốn vay từ Ngânhàng)

Rủi ro về hiệu quả tài chính và độ nhạy của dự án

Rủi ro về tính toán hiệu quả tài chính của dự án

Đánh giá rủi ro là một công việc xuyên suốt toàn bộ dự án, sai sót từ nhữngbước đầu tiên khi tiến hành thẩm định dự án sẽ dẫn đến sai sót những bước tiếp theokhi cán bộ thẩm định tính toán dòng tiền, các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án,

Trang 34

và từ đó việc tính toán khả nợ của dự án cũng bị sai lệch làm cho việc đưa ra quyếtđịnh vay vốn sai gây rủi ro tín dụng cho Ngân hàng.

Độ nhạy của dự án

Phân tích độ nhạy của dự án nhằm xem xét mức độ nhạy cảm của dự án đối với sựbiến động của các yếu tố liên quan, từ đó sẽ biết được yếu tố nào làm thay đổi nhiềunhất chỉ tiêu hiệu quả tài chính , để có xem xét xem dự án đã có sẵn các biện phápphòng ngừa Phân tích độ nhạy giúp cho Ngân hàng lựa chọn được những dự án cóđộ an toàn cao

Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro chính trong hoạt động cho vay của Ngân hàng Rủi rotrong quá trình thu hồi vốn là những rủi ro khi Ngân hàng kiểm tra luồng tiền thanhtoán như: không sử dụng được các luồng thanh toán mà khách hàng đã cam kếtthanh toán cho ngân hàng, không thu đủ nợ của các khoản vay, rủi ro Ngân hàngmất vốn…

Rủi ro không thu đủ nợ các khoản vay là rủi ro xảy ra khi khách hàng vay vốnlâm vào tình trạng khó khăn về tài chính nên không có đủ khả năng thanh toán nợcho Ngân hàng Cán bộ Ngân hàng bất cập về trình độ hoặc phạm vi đạo đức kinhdoanh, dẫn đến cho vay khống, cho vay không đúng mục đích; thẩm định dự án đầu

tư, phương án kinh doanh không chính xác, giá trị đảm bảo tiền vay không đáp ứngđược yêu cầu thu nợ của Ngân hàng

Rủi ro Ngân hàng mất vốn xảy ra khi người vay cố ý không trả nợ, hoặc lý dobất khả kháng như: khách hàng vay tiền chết hoặc mất tích…

Rủi ro không sử dụng được các luồng thanh toán (tài sản đảm bảo) mà kháchhàng đã cam kết thanh toán cho Ngân hàng

Rủi ro về tài sản đảm bảo là tất cả các rủi ro là tất cả các rủi ro liên quan đếntài sản của khách hàng khi sử dụng làm vật đảm bảo để vay tiền của Ngân hàng.Các loại tài sản đảm bảo gồm có: tài sản (giấy tờ có giá, kim khí quý, bất động sản,động sản), các quyền, bảo lãnh của bên thứ ba…

Trang 35

Rủi ro về tính hợp pháp của quyền chủ sở hữu: đối chiếu giữa các giấy chứngnhận việc sở hữu giấy tờ có giá và giấy tờ chứng nhận nhân thân người (chứng nhận

tư cách pháp lý của tư cách của tổ chức) nắm giữ các giấy tờ có giá trị đó thấy cósai lệch, không hợp lý… rủi ro gây khó khăn cho việc thu hồi tài sản đảm bảo.Rủi ro xảy ra khi tài sản đảm bảo giảm giá trị do mất mát, hư hỏng… khi Ngânhàng muốn bán, khai thác hoặc cho thuê buộc phải sửa chữa làm cho chi phí hoạtđộng của Ngân hàng tăng lên trong khi đó giá trị thu hồi từ các tài sản này chưachắc đã thu được nợ gốc

Trong trường hợp bảo đảm tiền vay bằng các quyền gồm có: quyền tác giả,quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ, quyền khai thác tài nguyên, quyền nhậnbảo hiểm, quyền được hưởng lợi tức, quyền phát sinh từ tài sản cầm cố, thế chấp…Bảo đảm tiền vay bằng bảo lãnh của bên thứ ba: thì ngoài các rủi ro như củabảo đảm bằng tài sản, đối với tài sản đảm bảo của bên thứ ba, thì còn có rủi ro vềnăng lực pháp lý, tài chính… đối với bên thứ ba

1.2.5 Các loại rủi ro xảy ra và phương pháp phòng ngừa

1.2.5.1 Rủi ro đầu tư

Các loại rủi ro xảy ra với dự án đầu tư đều có biện pháp phòng ngừa, giảmthiểu Những biện pháp này có thể do chủ đầu tư phải thực hiện đối với những vấnđề thuộc phạm vi điều chỉnh, trách nhiệm của chủ đầu tư; hoặc do Ngân hàng có thểtrực tiếp thực hiện hoặc có thể yêu cầu, can thiệp Tùy theo từng dự án cụ thể vớinhững đặc điểm khác nhau mà cán bộ thẩm định cần tập trung phân tích, đánh giávà đưa ra các điều kiện đi kèm với việc cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo khảnăng an toàn vốn vay, từ đó Ngân hàng có thể xem xét khả năng tham gia cho vayđể đầu tư dự án

Rủi ro cơ chế chính sách

Rủi ro này được xem là bao gồm tất cả những bất ổn về chính sách của nơi/địađiểm xây dựng dự án bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế về chuyển tiền, quốc hữuhóa, tư hữu hóa hay các luật, nghị định, nghị quyết và các chế tài khác có liên quantới dòng tiền của dự án đầu tư

Trang 36

- Rủi ro về thuế: đó là sự tăng lên về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanhnghiệp, thuế xuất khẩu… đã làm cho dòng tiền hàng năm của dự án thay đổi từ đólàm thay đổi các chỉ tiêu IRR và NPV.

- Rủi ro về hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác: làm giảmsản lượng hoặc làm tăng chi phí của dự án, dẫn đến dòng tiền thay đổi

- Rủi ro về chính sách tuyển dụng lao động: thay đổi về quy định mức lươngtối thiểu của Chính phủ, chính sách đối với lao động nữ… đều ảnh hưởng tới cácchỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án

- Rủi ro về hạn chế chuyển tiền ra nước ngoài ảnh hưởng đến hoạt động cungứng hoặc tiêu thụ sản phẩm của dự án cũng như quyền lợi của nhà đầu tư

- Rủi ro về lãi suất: đó là khi Chính phủ đưa ra các chính sách lãi suất để kiểmsoát lạm phát có thể làm cho hoạt động đầu tư tăng lên hoặc giảm đi

- Rủi ro về độc quyền: sự độc quyền của nhà nước ở một số lĩnh vực có thểlàm hạn chế đầu tư cho các bộ phận khác trong xã hội và thường dẫn tới sự kémhiệu quả của đầu tư

Các biện pháp giảm thiểu rủi ro cơ chế chính sách là:

- Khi thẩm định dự án, phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (thể hiện tronghồ sơ của dự án) để đảm bảo chấp hành nghiêm ngặt các luật và qui định hiện hànhcó liên quan tới dự án

- Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng qui định về cấn đề này (bấtkhả kháng do Chính phủ)

- Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế ảnh hưởngtiêu cực tới dự án

- Hỗ trợ/ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu

Rủi ro về cung cấp

Rủi ro về cung cấp bao gồm: dự án không có được nguồn nguyên liệu vật liệu(đầu vào chính/quan trọng) với số lượng, giá cả và chất lượng như dự kiến để vậnhành dự án

Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách:

Trang 37

- Trong quá trình xem xét dự án, cán bộ thẩm định phải nghiên cứu, đánh giácẩn trọng các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên vật liệu đầu vào trong hồ sơdự án, để đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính toán, xác định hiệuquả tài chính của dự án.

- Nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp vật tư

- Linh hoạt về thời gian và số lượng nguyên vật liệu đầu vào

- Những hợp đồng/thỏa thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuốicùng

- Những hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào dài hạn với nhà cung cấpcó uy tín

Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì

Đây là những rủi ro xảy ra khi dây chuyền, thiết bị, hệ thống điều hành…củadự án đầu tư không thể vận hành và bảo trì ở mức độ phù hợp với các thông số thiếtkế ban đầu Do đó ảnh hưởng đến công suất của thiết bị, máy móc ảnh hưởng đếnviệc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do ảnh hưởng đến chất lượng, số lượngsản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án và từ đó ảnh hưởng đến dòng tiền của dự án.Loại rủi ro này, chủ đầu tư có thể giảm thiểu bằng cách:

- Sử dụng công nghệ đã được kiểm tra, chứng nhận của các chuyên gia có kinhnghiệm về loại công nghệ này

- Bộ phận vận hành dự án phải được đào tạo tốt, có kinh nghiệm trong việc sửdụng dây chuyền công nghệ

- Có thể ký hợp đồng vận hành, bảo trì với những điều khoản khuyến khích vàphạt vi phạm rõ ràng

- Kiểm soát ngân sách và kế hoạch vận hành của dự án

- Quyền thay thế người vận hành do không thực hiện được đầy đủ nghĩa vụ

- Phải có bảo hiểm các sự kiện bất khả kháng tự nhiên như lụt lội, động đất,chiến tranh…

Đối với rủi ro xây dựng và thi công xây dựng

Trang 38

Rủi ro này xảy ra khi dự án hoàn tất không đúng thời hạn, không phù hợp vớicác thông số và tiêu chuẩn thực hiện, không giải tỏa được dân có thể bị thu hẹp hoặchủy bỏ dự án Loại rủi ro này nằm ngoài khả năng điều chỉnh, kiểm soát của Ngânhàng, tuy nhiên có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách đề xuất với chủ đầu tư thực hiệncác biện pháp sau:

- Lựa chọn nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh về tài chính và có kinhnghiệm lâu năm

- Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo hành chấtlượng công trình

- Giám sát chặt chẽ trong quá trình thi công xây dựng công trình

- Hỗ trợ các cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khách hàng trongtrường hợp vượt mức dự toán

- Quy định rõ trách nhiệm đền bù, giải phóng mặt bằng, di dời dân cư

- Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khóa trao tay với sự phân chia rõ ràngnghĩa vụ của các bên

Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán

Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán bao gồm: thị trường không chấp nhậnhoặc không đủ cầu đối với sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án, do sức ép cạnh tranhgiá làm cho dự án không đủ để bù đắp chi phí Loại rủi ro này có thể giảm thiểubằng cách:

- Nghiên cứu, đánh giá phân tích thị trường, thị phần phải cẩn thận

- Dự kiến cung cầu phải thận trọng (không nên có những dự báo quá lạcquan)

- Phân tích khả năng thanh toán, thiện ý, hành vi của người tiêu dùngcuối cùng (không chỉ người bao tiêu)

- Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án bằng cácbiện pháp: phân tích về việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sảnphẩm của Chính phủ (nếu có), tiết kiệm chi phí sản xuất

- Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng

Trang 39

về tài chính.

- Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra

- Giảm thiểu các điều khoản không cạnh tranh (nếu có)

Rủi ro về môi trường và xã hội

Rủi ro này bao gồm những tác động của dự án đến môi trường và người dânxung quanh địa điểm đặt dự án như việc gây ô nhiễm môi trường, gây ảnh hưởngđến cảnh quan môi trường thiên nhiên làm giảm tiềm năng của ngành du lịch, làmthay đổi điều kiện sinh thái (mất cân bằng sinh thái, gây ra tai biến: lũ lụt, hạnhán…), làm ảnh hưởng đến những giá trị truyền thống tốt đẹp Những ảnh hưởngnày xảy ra một cách trực tiếp, nếu nghiêm trọng có thể không thực hiện được bởi nókhông chỉ phát sinh chi phí cho doanh nghiệp trong quá trình đền bù thiệt hại do ảnhhưởng của dự án gây ra, nó còn gây phát sinh chi phí cho Nhà nước khi những ảnhhưởng của dự án gây ra là quá lớn so với nguồn nước bị ô nhiễm, ô chiếm khôngkhí…

Loại rủi ro này chủ đầu tư có thể giảm thiểu bằng cách:

- Báo cáo, đánh giá tác động của môi trường phải khách quan và toàn diện,được các cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản

- Nên có sự tham gia của các bên liên quan từ khi bắt đầu triển khai dự ánnhư các cơ quan quản lý môi tưởng, chính quyền địa phương sở tại…

- Tuân thủ các qui định về môi trường

Rủi ro về kinh tế vĩ mô

Rủi ro kinh tế vĩ mô là những rủi ro phát sinh từ môi trường kinh tế vĩ mô,bao gồm: rủi ro tỷ giá hối đoái, lạm phát – lãi suất…

Các biện pháp giảm thiểu rủi ro kinh tế vĩ mô là:

- Phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản để đưa ra các nhận định kháchquan về sự biến động của nền kinh tế vĩ mô

- Sử dụng các công cụ thị trường như hoán đổi và tự bảo hiểm

- Bảo vệ trong các hợp đồng (ví dụ như: chỉ số hóa, cơ chế chuyển qua, giácả leo thang, bất khả kháng )

Trang 40

- Đảm bảo/ cam kết của Nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối.

1.2.5.2 Rủi ro tín dụng

Nguyên nhân của rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là loại rủi ro liên quan trực tiếp đến khả năng trả nợ của kháchhàng nên được Ngân hàng đặc biệt quan tâm Vì vậy phải tìm hiểu được nguyênnhân để từ đó có biện pháp phòng ngừa phù hợp Rủi ro tín dụng xảy ra do nhữngnguyên nhân chính sau:

- Nguyên nhân bất khả kháng: đó là do những nguyên nhân bất khả kháng tácđộng đến người vay làm cho họ mất khả năng thanh toán cho Ngân hàng như thiêntai, chiến tranh, thay đổi của chính sách thuế, hàng rào thuế quan… vượt quá tầmkiểm soát của người vay và người cho vay Những thay đổi này thường xuyên xảy

ra gây ảnh hưởng xấu hay tốt đến người vay Tuy nhiên, thường thì những tác độngnày gây ảnh hưởng xấu đến người vay rất nặng nề, làm giảm khả năng trả nợ củakhách hàng

- Nguyên nhân thuộc về chủ quan của người vay: người vay không có khảnăng dự đoán được các vấn đề trong kinh doanh có thể xảy ra, yếu kém trong quảnlý, hoặc chủ tâm lừa đảo cán bộ Ngân hàng Nên nhiều người vay sẵn sàng mạohiểm với kỳ vọng là thu được lợi nhuận cao, vì vậy để đạt được mục đích của mìnhhọ sẵn sàng làm mọi thủ đoạn để ứng phó với Ngân hàng nhằm vay được tiền

- Nguyên nhân thuộc về Ngân hàng: Chất lượng cán bộ tín dụng không tốt,không đủ trình độ năng lực để đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, hoặc do cốtình làm sai, cấu kết với khách hàng nhằm chuộc lợi…

Các biện pháp để giảm thiểu rủi ro tín dụng là

- Các biện pháp phòng ngừa:

+ Ngân hàng cần phải đề ra một chính sách linh hoạt

+ Cần phải quy định và kiểm soát quá trình hco vay

+ Đảm bảo tín dụng: là việc hình thành cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu nợthứ hai cho khoản tín dụng của Ngân hàng

Ngày đăng: 16/04/2013, 09:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.3: Cơ cấu  tổ chức của phòng khách hàng cá nhân - Hoàn thiện công tác thẩm định rủi ro dự án xin vay vốn tại Ngân hàng TMCP Quân đội – chi nhánh Điện Biên Phủ
Sơ đồ 1.3 Cơ cấu tổ chức của phòng khách hàng cá nhân (Trang 6)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w