PHẦN I: MỞ ĐẦUI KHÁI NIỆM VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sửdùng để chỉ xã hội ở từng nấc thang lịch sử nhất định, với một
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
I KHÁI NIỆM VỀ HÌNH THÁI KINH TẾ-XÃ HỘI
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sửdùng để chỉ xã hội ở từng nấc thang lịch sử nhất định, với một kiểu quan
hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó, phù hợp với một trình độ nhất địnhcủa lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng đượcxây dựng trên quan hệ sản xuất Êy
Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội áp dụng trong mọi xã hội, songphương pháp của Mác đòi hỏi phải phân tích cụ thể khi xem xét một hìnhthái kinh tế - xã hội cụ thể Ngoài những yếu tố cơ bản nói trên thì mỗihình thái kinh tế -xã hội còn có các quan hệ phong phú khác như: quan hệ
về dân téc, quan hệ gia đình và những quan hệ xã hội khác Các quan hệtrên tuy có vai trò độc lập nhất định nhưng cũng bị chi phối bởi nhữngđiều kiện vật chất kinh tế cụ thể và những quan hệ cơ bản khác của xãhội Những yếu tố hợp thành một hình thái kinh tế-xã hội hình thành nênnhững mối quan hệ có tính quy luật như: mối quan hệ biện chứng giữalực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúcthượng tầng Chính sự liên hệ và tác động lẫn nhau giữa các yếu tố đó làđộng lực bên trong của sự phát triển xã hội, thúc đẩy tiến bộ lịch sử
II - LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Học thuyết Hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác ra đời đã vạch ra cácquy luật vận động, phát triển của xã hội tư bản và đi đến dự báo về sự rađời của hình thái kinh tế - xã hội cao hơn, đó là hình thái cộng sản chủnghĩa, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội Hình thái kinh te - xã hộináy sẽ thay thế hình thái tư bản chủ nghĩa Chính vì thế mà kẻ thù tưtưởng của chủ nghĩa Mác mà tiêu biểu nhất la chủ nghĩa đế quốc luôn tìmcách để phủ nhận những giá trị cách mạng và khoa học của chủ nghĩaMác trong đó có lý luận Hình thái kinh tế - xã hội Trước sự phát triểnmạnh mẽ khoa học và sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô
Trang 2và Đông Âu, chúng đã mở các đợt tấn công vào học thuyết Mác nóichung va lý luận hình thái kinh tế - xã hội nói riêng Song , chủ nghĩaMác, lý luận hình thái kinh tế - xã hội vẫn giữ nguyên giá trì khoa họccủa nó trong thời đại ngày nay Điều đó chã thấy đây là một học thuyết vôcùng giá trì, đúng đắn và luông có tính thời đại Việt Nam là một nướcquá độ lên chủ nghĩa xã hội mà bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa, chính
vì thế mà việc nghiên cứu và vận dụng lý luận hình thái kinh tế-xã hộivào sự nghiệp đổi mới đất nước đang là một yêu cầu bức bách Là mộtsinh viên Việt Nam, đứng vào hàng ngò trí thức thì không thể nào lạikhông nghiên cứu về chủ nghĩa Mác và lý luận hình thái kinh tế - xã hội.Còn với tư cách là một thanh niên Việt Nam, đứng vào hàng ngò lựclượng lao động trẻ, là chủ nhân tương lai của đất nước em có trách nhiêmphải nghiên cứu chủ nghia Mác, lý luận hình thái kinh tế - xã hội từ đó cóphương pháp, phương hướng để đóng góp sức lực của mình giúp cho đấtnước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội thành công Dó là lý do khiến
em chọn đề tài này
Đây là tiểu luân đầu tay của em nên trong quá trình nghiên cứu và làm
đề tài này, mặc dù đã rất cố gắng, song chắc chắn vẫn còn nhiều hạn chế
và thiếu sót Em mong nhận được sự góp ý của cô để các bài làm sau cóthể làm tốt hơn
Trang 3PHẦN II: NỘI DUNG
I - CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA HỌC THUYẾT HÌNH THÁI KINH
TẾ - XÃ HỘI
1 Những tiền đề của học thuyết hình thái kinh tế - xã hội
C.Mác đã nghiên cứu những vấn đề bản chất của xã hội bằng nhãnquan của mình, ông đã tìm ra đằng sau những sự kiện Èn dấu trên bề mặtcủa những hiện tượng xã hội là một dòng chảy tất yếu của các quá trình
và quy luật chi phối sự phát triển của tiến bộ xã hội, mà cốt lõi là sự pháttiển liên tục của các hình thái kinh tế - xã hội C.Mác đã đưa ra khái niệmhình thái kinh tế - xã hội bằng cách phân tích tất cả các quan hệ giữangười và người trong đời sống hàng ngày, đó là những quan hệ xã hội.Trong tất cả những quan hệ đó, C.Mác đã khám phá ra quan hệ nổi bật,đóng vai trò quan trọng nhất, đó là quan hệ giữa người với người trongquá trình sản xuất vật chất, coi đó là những quan hệ cơ bản, quyết định tất
cả các quan hệ khác theo C.Mác, sản xuất vật chất là nền tảng của đờisống hàng nhày, đó là những quan hệ xã hội Trong tất cả những quan hệ
đó, C.Mác đã khám phá ra quan hệ nổi bật, đóng vai trò quan trọng nhất,
đó là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất, coi
đó là những quan hệ cơ bản, quyết định tất cả các quan hệ khác TheoC.Mác, sản xuất vật chất là nền tảng của đời sống xã hội V.I.Lênin cũngnhận xét:"Mác đã xây dựng tư tưởng cơ bản đó bằng cách nào? Bằngcách là trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, ông đã làm nổibật riêng lĩnh vực kinh tế, bằng cách là trong tất cả mọi quan hệ xã hộiông đã làm nổi bật riêng những quan hệ sản xuât, coi đó là những quan hệ
cơ bản, ban đầu quyết định tất cả mọi quan hệ khác"
C.Mác không chỉ nghiên cứu quan hệ sản xuất một cách biệt lập màluôn đặt nó trong mối quan hệ với các quan hệ xã hội C.Mác còn chỉ rarằng, những quan điểm chính trị, đạo đức, pháp lý, triết học… cùng với
Trang 4những thể chế tương ứng được hình thành trên những quan hệ sản xuất
đó Những quan hệ sản xuất này được hợp thành cơ sở hạ tầng của một xãhội, tức là cơ sở hiện thực trên đó xây dựng một kiến trúc thượng tầng.Ngững quan hệ sản xuất này tồn tại trên một trình độ nhất định của lựclượng sản xuất Hai mặt này thống nhất trong một phương thức sản xuất
và chính nó là nền tảng vật chất của mọi hình thái kinh tế - xã hội
Từ những tư tưởng cơ bản của C.Mác, tiếp đó V.I.Lênin đã phát triển
và làm phong phú thêm lý luận hình thái kinh tế - xã hội, Người đặc biệtnhấn mạnh đến tư tưởng coi sự phát triển của các hình thái kinh tế - xãhội là một quá trình lịch sử - tù nhiên Đó chính là một trong những tư
tưởng cơ bản của C.Mác thể hiện trong bé Tư bản Quả thật, các thành
tựu khoa học, kỹ thuật, các giá trị văn hóa, lực lượng sản xuất, quan hệsản xuất và bản thân các thế hệ con người đều nằm trong suốt chiều dàilịch sử Trên cơ sở khẳng định tư tưởng của C.Mác là đã làm nổi bật lĩnhvực kinh tế trong số những lĩnh vực khác của đời sống xã hội, tách riêngquan hệ xản xuất trong số các quan hệ xã hội khác và coi nó là quan hệ cơbản quyết định
2 Hình thái kinh tế-xã hội
2.1 Khái quát
Hình thái kinh tế-xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sửdùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn phát triển lịch sử nhất định, vớinhững quan hệ sản xuất của nó thích ứng với lực lượng sản xuất ở mộttrình độ nhất định và với một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trênnhững quan hệ sản xuất đó
Hình thái kinh tế-xã hội đạt nguyên tắc phương pháp luận khoa học đểnghiên cứu tất cả các mặt xã hội Chẳng những nó đưa ra bản chất củamột xã hội cụ thể, phân biệt chế độ xã hội này với chế độ xã hội khác màcòn thấy được tính lặp lại, tính liên tục của mối quan hệ giữa người vớingười trong quá trình sản xuất và sinh hoạt ở những xã hội khác nhau
Trang 5Nói khác đi, phạm trù hình thái kinh tế-xã hội cho phép nghiên cứu xã hội
cả về mặt loại hình và về mặt lịch sử Xem xét đời sống xã hội ở một giaiđoạn phát triển lịch sử nhất đinh, coi như một cấu trúc thống nhất, tươngđối ổn định đang vận động trong khuôn khổ của chính hình thái đó
2.2 Kết cấu và chức năng của các yếu tố cấu thành hình thái kinh
tế-xã hội
Xã hội không phải là tổng số những hiện tượng, sự kiện rời rạc, nhữngcái nhìn riêng lẻ mà xã hội là một chỉnh thể toàn diện có cơ cấu phức tạptrong đó có những mặt cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sảnxuất, kiến trúc thượng tầng và cơ sở hạ tầng Mỗi mặt đó có vai trò nhấtđịnh và tác động lên những mặt khác tạo nên sự vận động của cả xã hội.Chính tính toàn vẹn đó được phản ánh bằng khái niệm hình thái kinh tế-
Trang 6lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người laođộng”.
Do đặc trưng sinh học- xã hội riêng có của mình, con người, trongnền sản xuất có sức mạnh và kỹ năng lao động thần kinh cơ- bắp Tronglao động sức mạnh và kỹ năng ấy đã được nhân lên gấp nhiều lần Hơn
nữa, lao động của con người ngày càng trở thành lao động có trí tuệ và
lao động trí tuệ Trí tuệ con người không phải là cái gì siêu tự nhiờn,mà làsản phẩm của tự nhiên và của lao động Nhưng trong quá trình lịch sử lâudài của xã hội loài người, trí tuệ hình thành phát triển cùng với lao độnglàm cho lao động ngày càng có hàm lượng trí tuệ cao hơn Hàm lượng trítuệ trong lao động, đặc biệt là trong điều kiện của khoa học công nghệhiện nay, đã làm cho con người trở thành một nguồn lực đặc biệt của sảnxuất, là nguồn lực cơ bản, nguồn lực vô tận
Tư liệu sản xuất bao gồm đối tượng lao động và tư liệu lao động.Trong tư liệu lao động có công cụ lao động và những tư liệu lao động khác cần thiết cho việc vận chuyển bảo quản sản phẩm
Đối tượng lao động là những vật mà lao động của con người tác động vào nhằm biến đổi nó theo mục đích của mình Đối tượng lao độngkhông phải là toàn bộ giới tự nhiên mà chỉ có một bộ phận của giới tựnhiên được đưa vào sản xuất Con người không chỉ tìm trong giới tựnhiên những đối tượng lao động sẵn có, mà còn sáng tạo ra bản thân đốitượng lao động Sự phát triển của sản xuất có liên quan đến việc đưanhững đối tượng ngày càng mới hơn vào quá trình sản xuất Điều đóhoàn toàn có tính quy luật bởi chính những vật liệu mới mở rộng khảnăng sản xuất của con người Đối tượng lao động chính là yếu tố vật chấtcủa sản phẩm tương lai Đối tượng lao động gồm các loại:
+ Loại có sẵn trong tự nhiên Loại này thường là đối tượng của cácngành công nghiệp khai thác
Trang 7+ Loại đã qua chế biến, nghĩa là đã có sự tác động của lao động gọi
là nguyên liệu Loại này thường là đối tượng của các ngành công nghiệpchế biến
Với sự phát triển của Cách mạng khoa học- kỹ thuật hiện đại, vaitrò của nhiều đối tượng lao động dần dần thay đổi, đồng thời loại đốitượng lao động có chất lượng mới được tạo ra Nhưng cơ sở của mọi đốitượng lao động vẫn là đất đai, tự nhiên: “ lao động là cha, còn đất là mẹcủa mọi của cải vật chất”
Tư liệu lao động: là một vật hay hệ thống những vật làm nhiệm vụtruyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động, nhằm biếnđổi đối tượng lao động theo mục đích của mình
Tư liệu lao động bao gồm công cụ lao động, hệ thống các yếu tốvật chất phục vụ trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình sản xuất( nhà xưởng,kho tàng, bến bãi, ống dẫn, băng chuyền, đường sỏ, cỏc phương tiện giaothông vận tải, thông tin liên lạc )
Trong các yếu tố hợp thành tư liệu lao động thì công cụ lao động
có ý nghĩa quyết định nhất, là một thành tố cơ bản của lực lượng sản xuất.Công cụ lao động, theo Ph Ăngghen là “ khí quan của bộ óc con người”,
là “ sức mạnh của tri thức đã được vật thể húa” có tác dụng “ nối dài bàntay” và nhân lên sức mạnh trí tuệ của con người Cũn Mỏc gọi là hệ thốngxương cốt và cơ bắp của nền sản xuất Công cụ lao động là vật thể hayphức hợp vật thể mà con người đặt giữa mình với đối tượng lao động.Trong quá trình sản xuất, công cụ lao động luôn luôn được cải tiến, tinhxảo hơn để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao hơn Nó là yếu tốđộng nhất và cách mạng nhất trong lực lượng sản xuất Cùng với sự biếnđổi vá phát triển của công cụ lao động thì kinh nghiệm sản xuất, kỹ năngsản xuất, kiến thức khoa học của con người cũng tiến bộ, phong phúthêm, những ngành sản xuất mới xuất hiện, sự phân công lao động pháttriển Chính sự chuyển đổi, cải tiến và hoàn thiện không ngừng của nó đã
Trang 8gây ra những biến đổi sâu sắc trong toàn bộ tư liệu sản xuất Xét cho cùngchính đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến cải xã hội Trình độ pháttriển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên củacon người, là cơ sở xác định trình dộ phát triển của sản xuất, là tiêu chuẩn
để phân biệt sự khác nhau giữa các thời đại kinh tế Đối với mỗi thế hệmới, những tư liệu lao động do thế hệ trước để lại trở thành điểm xuấtphát của sự phát triển tương lai Vì vậy những tư liệu đó là cơ sở kế tụccủa lịch sử
Tư liệu lao động chỉ trở thành lực lượng tích cực cải biến đối tượnglao động, khi chúng kết hợp với lao động sống Chính con người với trítuệ và kinh nghiệm của mình đã chế tạo ra tư liệu lao động Tư liệu laođộng dù có ý nghĩa đến đõu, nhưng nếu tách khỏi người lao động thì cũngkhông thể phát huy được tác dụng, không thể trở thành lực lượng sản xuấtcủa xã hội
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C Mác đã nêu một tưtưởng quan trọng về vai trò của lực lượng sản xuất đối với việc thay đổicác quan hệ xã hội C Mác viết: “ Những quan hệ xã hội đều gắn liền mậtthiết với những lực lượng sản xuất Do có được những lực lượng sản xuấtmới, loài người thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổiphương thức sản xuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất
cả quan hệ xã hội của mỡnh Cỏi cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội cólãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội nhà tư bản côngnghiệp”
3- Quan hệ sản xuất
Trong hệ thống các khái niệm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, kháiniệm lực lượng sản xuất biểu thị mặt thứ nhất của mối “ quan hệ songtrựng” của bản thân sự sản xuất xã hội- quan hệ của con người với tựnhiên; cũn khớa niệm quan hệ sản xuất biểu thị mặt thứ hai của quan hệđó- quan hệ của con người với con người trong sản xuất Sở dĩ qỳa trỡnh
Trang 9sản xuất xã hội có thể diễn ra bình thường, chính là vì trong sự sản xuất
đó, mối quan hệ giữa con người với con người tồn tại thống nhất với mốiquan hệ giữa con người với giới tự nhiên Trong sản xuất, mối quan hệgiữa con người với tự nhiên thể hiện thành những trình độ khác nhau củalực lượng sản xuất Tuy nhiên, mối quan hệ đó được xây dựng trong vàthông qua những quan hệ khác nhau giữa người với người, tức là những
quan hệ sản xuất Trong tác phẩm Lao động làm thuê và tư bản, C Mác
viết: “ Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên.Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo mộtcách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau.Muốn sản xuất được người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhấtđịnh với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất”
Như vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người
ta, dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan
hệ nhất định với nhau những quan hệ này mang tính tất yếu và khôngphụ thuộc vào ý muốn của ai cả Đó chính là những quan hệ sản xuất Cốnhiên, quan hệ sản xuất là do con người tạo ra, song nó tuân theo nhữngquy luật tất yếu, khách quan sự vận động của đời sống xã hội
Quan hệ sản xuất bao gồm những mặt cơ bản sau đõy:
+ Quan hệ giữa người với người đối với việc sở hữu về tư liệu sảnxuất
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc tổ chức quản lý
+ Quan hệ giữa người và người đối với việc phân phối sản phẩmlao động
Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụthuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sản xuất là những quan hệmang tính vật chất thuộc đời sống xã hội Quan hệ sản xuất là hình thức
xã hội của lực lượng sản xuất và là cơ sở sâu xa của đời sống tinh thần xãhội Ba mặt quan hệ đó trong quá trình sản xuất xã hội luôn gắn bó với
Trang 10nhau, tạo thành một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vậnđộng không ngừng của lực lượng sản xuất Các quan hệ sản xuất của mộtphương thức sản xuất là một hệ thống bao gồm nhiều mối quan hệ phongphú và đa dạng biểu hiện dưới nhiều hình thức Mỗi mặt quan hệ của hệthống quan hệ sản xuất có vai trò và ý nghĩa riêng biệt, xác định, khi nótác động tới nền sản xuất xã hội nói riêng và tới toàn bộ tiến trình lịch sửnói chung.
Tính chất của quan hệ sản xuất trước hết được quy định bởi quan
hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất- biểu hiện thành chế độ sở hữu- là đặctrưng cơ bản của phương thức sản xuất Trong hệ thống các quan hệ sảnxuất của mỗi nền kinh tế- xã hội xác định, quan hệ sở hữu về tư liệu sảnxuất luôn luôn có vai trò quyết định đối với tất cả các quan hệ xã hội khác Quan hệ sở hữu là quan hệ xuất phát, quan hệ cơ bản, quan hệ trung tâmcủa các quan hệ sản xuất Chính quan hệ sở hữu- quan hệ giữa các tậpđoàn người trong việc chiếm hữu các tư liệu sản xuất đã quy định địa vịcủa từng tập đoàn trong hệ thống sản xuất xã hội Đến lượt mình, địa vịcủa từng tập đoàn người trong hệ thống sản xuất lại quy định cách thức
mà các tập đoàn trao đổi hoạt động cho nhau, quy định cách thức mà cáctập đoàn tổ chức quản lý quá trình sản xuất Cuối cùng, chính quan hệ sởhữu là cái quyết định phương thức phân phối sản phẩm cho các tập đoànngười theo địa vị của họ đối với hệ thống sản xuất xã hội “ Định nghĩaquyền sở hữu tư sản không phải là gỡ khỏc mà là trình bày tất cả nhữngquan hệ xã hội của sản xuất tư sản”
Trong các hình thái kinh tế- xã hội mà loài người đã từng trải qua,lịch sử đã chứng kiến sự tồn tại của hai loại hình thức sở hữu cơ bản đốivới tư liệu sản xuất: sở hữ tư nhân và sở hữu công cộng Sở hữu côngcộng là loại hình mà trong đó tư liệu sản xuất thuộc về mọi thành viêncủa mỗi cộng đồng Nhờ cơ sở đó nên về mặt nguyên tắc, các thành viên
Trang 11của mỗi cộng đồng bình đẳng với nhau trong tổ chức lao động và trongphân phối sản phẩm Do tư liệu sản xuất là tài sản chung của cả cộng đống nờn cỏc quan hệ xã hội trong sản xuất vật chất và trong đời sống xãhội nói chung, trở thành quan hệ hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau.Ngược lại, trong các chế độ tư hữu, do tư liệu chỉ nằm trong tay một số ítngười nên của cải xã hội không thuộc về số đông mà thuộc về số ít người
đó Các quan hệ xã hội, do vậy, trở thành bất bình đẳng, quan hệ thống trị
và bị trị Đối kháng xã hội trong các xã hội tồn tại chế độ tư hữu tiềmtàng khả năng trở thành đối kháng gay gắt Các nhà kinh điển của chủnghĩa Mác- Lê nin đã chỉ rõ trong các chế độ sở hữu tư nhân của các xãhội điển hình trong lịch sử( sở hữu tư nhân của xã hội chiếm hữu nô lệ, sởhữu tư nhân trong chế độ phong kiến và sở hữu tư nhân trong chế độ tưbản) thì chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa là đỉnh cao của loại sởhữu này
C Mác và Ph Ăngghen đã chứng minh rằng chế đọ tư bản chủnghĩa không phải là hình thức sở hữu cuối cùng trong lịch sử xã hội loàingười Chủ nghĩa xã hội dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, dùsớm hay muộn cũng sẽ đóng vai trò phủ định đối với chế độ tư hữu
Trong hệ thống các quan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt tổ chức,quản lý sản xuất là các quan hệ có khả năng quyết định một cách trực tiếpquy mô, tốc độ, hiệu quả và xu hướng của mỗi nền sản xuất cụ thể Bằngcách nắm bắt các nhân tố xác định của một nền sản xuất, điều khiển và tổchức cách thức vận động của các nhân tố đó, các quan hệ tổ chức và quản
lý sản xuất có khả năng đẩy nhanh hoặc kìm hãm các quá trình kháchquan của sản xuất
Các quan hệ về mặt tổ chức và quản lý sản xuất luôn luôn có xuhướng thích ứng với kiểu quan hệ sở hữu thống trị của mỗi nền sản xuất
cụ thể Do vậy, việc sử dụng hợp lý các quan hệ tổ chức và quản lý sảnxuất sẽ cho phép toàn bộ hệ thống quan hệ sản xuất có khả năng vươn tới
Trang 12tối ưu Trong trường hợp ngược lại, các quan hệ quản lý và tổ chức có thểlàm biến dạng quan hệ sở hữu, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinhtế- xã hội.
Hiện nay, nhờ ứng dụng những thành tựu to lớn của khoa học quản
lý hiện đại nên vai trò của các quan hệ tổ chức và quản lý đối với sảnxuất, đặc biệt đối với việc điều hành sản xuất, đặc biệt đối với việc điềuhành sản xuất ở tầm vĩ mô, trên thực tế đã tăng lên gấp bội so với vài thập
kỷ trước đõy Đõy là điều rất đáng lưu ý trong việc phân tích và đánh giávai trò của các quan hệ sản xuất hiện đại
Bên cạnh các quan hệ về mặt tổ chức- quản lý, trong hệ thống cácquan hệ sản xuất, các quan hệ về mặt phân phối sản phẩm lao động cũng
là những nhân tố có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự vân động của toàn
bộ nền kinh tế- xã hội
Mặc dù bị phụ thuộc vào các quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ
chức quản lý sản xuất, song do có khả năng kích thích trực tiếp vào lợi
ích của con người, nờn cỏc quan hệ phân phối là “ chất xỳc tỏc” của cácquá trình kinh tế- xã hội Quan hệ phân phối có thể thúc đẩy tốc độ vànhịp điệu của sự sản xuất, làm năng động toàn bộ đời sống kinh tế- xãhội; hoặc trong trường hợp ngược lại, nó cú khả năng kìm hãm sản xuất,kìm hãm sự phát triển của xã hội
c Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng bao gồm:
- Thứ nhất, những tư tưởng xã hội (chính trị, pháp luật, đạo đức,tôn giáo, nghệ thuật, v.v )
- Thứ hai, những tổ chức và thiết chế khác nhau ( nhà nước, chínhđảng, Giáo hội, các đoàn thể, v.v )
Như vậy, kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, nhữngthiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thànhtrên một cơ sở hạ tầng nhất định
Trang 13Mỗi yếu tố của kiến trúc thượng tầng có đặc điểm riêng, có quy luậtphát triển riêng, nhưng chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên hệ, tácđộng qua lại lẫn nhau và đều nảy sinh trên cơ sở hạ tầng, phản ánh cơ sở
hạ tầng Song không phải tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng đều
có mối liên hệ như nhau đối với cơ sở hạ tầng của nó Trái lại, một số bộphận như các tổ chức chính trị, pháp luật có liên hệ trực tiếp với cơ sở hạtầng; còn các yếu tố khác như triết học, nghệ thuật, tôn giáo thì ở xa cơ sở
hạ tầng và chỉ có mối liên hệ gián tiếp với nó
Kiến trúc thượng tầng của xã hội có đối kháng giai cấp bao gồm hệ tưtưởng và thể chế của giai cấp thống trị, tàn dư của các quan điểm xã hộitrước để lại, quan điểm và tổ chức của các giai cấp mới ra đời, quan điểm
tư tưởng và tổ chức của các tầng líp trung gian, tính chất cơ bản của kiếntrúc thượng tầng trong một hình thái xã hội nhất định
d Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh
tế của một hình thái kinh tế-xã hội nhất định Cơ sở hạ tầng của một xãhội cụ thể bao gồm những quan hệ sản xuất thống trị, quan hệ sản xuấttàn dư của xã hội trước là mầm mèng của xã hội sau Trong xã hội có giaicấp đối kháng, tính giai cấp của cơ sở hạ tầng là do kiểu quan hệ sản xuấtthống trị quy định Tính chất đối kháng giai cấp và sự xung đột giai cấpbắt nguồn ngay từ trong cơ sở hạ tầng
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, cơ sở hạ tầng tồn tại những quan hệđối kháng thì kiến trúc thượng tầng cũng mang tính đối kháng và phảnánh tính đối kháng của cơ sở hạ tầng, biểu hiện sự xung đột, quan hệ tưtưởng và ở đấu tranh tư tưởng của các giai cấp đối kháng Bộ phận cóquyền lực mạnh nhất của kiến trúc thượng tầng xã hội có quyền lực mạnhnhất là nhà nước, công cụ của giai cấp thống trị tiêu biểu cho chế độ xãhội về mặt chính trị, pháp lý Chính nhờ có nhà nước mà tư tưởng củagiai cấp thống trị mới có khả năng thống trị được toàn bộ đời sống của xã
Trang 14hội Giai cấp thống trị nào thống trị về mặt kinh tế và nắm giữ chínhquyền nhà nước thì hệ tư tưởng cùng những thể chế của giai cấp đó cũnggiữ địa vị thống trị Nó quy định và tác động trực tiếp đến xu hướng củatoàn bộ đời sống tinh thần của xã hội và quyết định cả tính chất đặc trưng
cơ bản của toàn bộ kiến trúc thượng tầng xã hội
Phạm trù hình thái kinh tế-xã hội là mô hình lý luận về xã hội và như mọi
mô hình khác, nó bao quát tất cả tính đa dạng của các hiện tượng xã hội
Vì vậy, hiện thực xã hội và sơ đồ lý thyết về xã hội không đồng nhất vớinhau Trong thực tế, các sự kiện lịch sử mang tính chất không lặp lại, hếtsức phong phú, các yếu tố tinh thần và vật chất, kinh tế và chính trịthường xuyên tác động qua lại, xâm phạm và chuyển hoá lẫn nhau Hìnhthái kinh tế-xã hội chỉ phản ánh mặt bản chất, những mối liên hệ bêntrong, tất yếu, lặp lại của các hiện tượng đó Từ tính đa dạng cụ thể, lịch
sử bỏ qua những chi tiết cá biệt, dựng lại cấu trúc ổn định và lôgic, pháttriển của quá trình lịch sử Trong bất kỳ giới tự nhiên hay trong xã hộinào đều không có và không thể có hiện tượng “thuần tuý” Đó chính làđiều mà phép biện chứng của C.Mac nêu lên Hình thái kinh tế-xã hộiđem lại những nguyên tắc, phương pháp luận để nghiên cứu xã hội, loại
bỏ đi những cái bên ngoài, ngẫu nhiên, không đi vào cái chi tiết, cụ thể,vượt qua khái tri thức kinh nghiệm hoặc xã hội học mô tả, đi sâu vạch racái bản chất ổn định từ cái phong phú của hiện tượng, vạch ra cái lôgicbên trong của tính đa dạng của lịch sử
3 Sự phát triển của các hình thái kinh tế-xã hội
Xã hội đã phát triển qua nhiều giai đợn kế tiếp nhau, ứng với mỗi phaiđoạn cuẩ sự phát triển là một hnhf thái kinh tế - xã hội nhất định Cáchình thái kinh tế - xã hội vận động và phát triển do tác động của các quyluật khách quan, đó là quá trình tự nhiên của sự phát triển.C.Mac viết:
“Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trìnhlịch sử tự nhiên” Quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của xã hội có