1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại bảo việt nhân thọ hà nội

75 565 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 382 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính đa dạng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện ngay từ loại sảnphẩm, chẳng hạn như sản phẩm bảo hiểm kết hợp con người hỗn hợp có thờigian 5 năm, 10 năm…Mỗi hợp đồng lại có số tiền

Trang 1

Lời nói đầu

Bảo hiểm nhân thọ đã ra đời và phát triển trên 400 trăm năm Nhưngphải vài thập kỷ gần đây nó mới thực sự phát triển và đã, đang là công cụ hữuhiệu đảm bảo cho cuộc sống tương lai ngay ở hiện tại

Ở nước ta, khi nền kinh tế được cải thiện từng bước, nhu cầu cơ bảncủa con người ngày càng được thoả mãn thì nhu cầu an toàn đặt ra một vấn đề

xã hội Để đáp ứng nhu cầu đó, ngày 22/6/1996, Bộ tài chính đã ký quyết định

số 568 thành lập Công ty bảo hiểm nhân thọ trực thuộc Tổng công ty bảohiểm Việt Nam Đây là đơn vị đầu tiên triển khai kinh doanh loại hình này ởViệt Nam, với tên giao dịch quốc tế là BAOVIET LIFE Đến nay đã đi vàohoạt động được 7 năm, tất cả đang còn ở phía trước nhưng hứa hẹn đây là mộtthị trường đầy sôi động

Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, hệ thống phân phốiđóng một vai trò hết sức quan trọng, có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh.Thực tế cho rằng, đại lý phân phối được tuyển dụng và đào tạo một cách bàibản sẽ khai thác được nhiều hợp đồng Nhưng vấn đề đặt ra ở đây là tổ chức

nh thế nào để có hiệu quả Đây cũng là mối quan tâm hàng đầu của các cấplãnh đạo Công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội Hơn nữa, trong quá trình hoạtđộng, do ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan, giải quyết vấn đềđặt ra không Ýt khó khăn

Qua thời gian thực tập và nghiên cứu tại Bảo Việt nhân thọ Hà Nội,nhận thức được điều này nên em đã chọn đề tài:

“Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại Bảo Việt nhân thọ Hà Nội”

Với mong muốn được nâng cao kiến thức, mở rộng tầm hiểu biết củamình và hy vọng có thể góp phần nhỏ bé của mình vào công tác giải quyếtvấn đề tuyển dụng đại lý tại Công ty

Trang 2

Chuyên đề gồm 3 chương sau:

Chương I: Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ.

Chương II: Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng và kết quả kinh doanh của Bảo Việt nhân thọ Hà Nội.

Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng tại Bảo Việt nhân thọ Hà Nội

Trang 3

Chương I Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ.

I Sự cần thiết khách quan và tác dụng của bảo hiểm nhân thọ.

1 Sự cần thiết khách quan và sự ra đời của bảo hiểm nhân thọ.

a Lịch sử ra đời của bảo hiểm nhân thọ.

Trước tiên ta hiểu như thế nào là bảo hiểm nhân thọ, nó bắt nguồn từđâu và có điều kiện phát triển ra sao

Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa người bảo hiểm và người thamgua bảo hiểm, theo đó người bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc ngườithụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện bảohiểm xảy ra (người được bảo hiểm chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, sống đếnthời điểm nhất định) còn người tham gia bảo hiểm phải nép phí bảo hiểm đầy

đủ và đúng hạn Nói cách khác, bảo hiểm nhân thọ là quá trình bảo hiểm cácrủi ro có liên quan đến sinh mạng, tình hình sức khoẻ và tuổi thọ của conngười

Thật vậy, mầm mèng của bảo hiểm đã có từ lâu nhưng nó xuất hiệnkhông rõ nét, từ khi con người còn sống bầy đàn, đi săn đã biết dự trữ thức ăn

để ngày mai lỡ không săn được Đó là buổi đầu sơ khai của bảo hiểm

Đối tượng tham gia của bảo hiểm nhân thọ rất rộng, bao gồm mọingười ở các lứa tuổi khác nhau, có lịch sử ra đời khá sớm

Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên trên thế giới đươc ký kết vàonăm 1583, do ông William Gybbon tham gia, là một công dân nước Anh, vớimức phí là 32 bảng Khi ông ta chết trong năm đó, người thừa kế được hưởng

400 bảng Anh

Năm 1759, Công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ở Philadenphia.Nhưng lúc đầu chỉ bán cho các con chiên ở nhà thờ Năm 1762, Công ty bảohiểm nhân thọ Equitable ra đời ở nước Anh và bán cho tất cả mọi người

Trang 4

ậ Nhật Bản, nơi các công ty bảo hiểm nhân thọ ra đời đầu tiên ở Châu á Vàonăm 1868, công ty Meiji, năm 1888 và 1889, 2 công ty ra đời đó là Kyoei vàNippon.

Hiện nay, trên thị trường xuất hiện nhiều loại hình bảo hiểm Nhưngbảo hiểm nhân thọ là loại hình phát triển mạnh nhất Năm 1985, doanh thu phíbảo hiểm nhân thọ chỉ đạt 630,5 tỷ USD, năm 1989 đã lên tới 1.210,2 tỷ USD

và năm 1993 con số này đã lên tới 1647 tỷ USD, chiếm gần 48% tổng phí bảohiểm Thị trường bảo hiểm nhân thọ phát triển mạnh nhất ở Mỹ, Tây Âu vàNhật Bản

Sở dĩ bảo hiểm nhân thọ phát triển nhanh như vậy là vì bảo hiểm nhânthọ có vai trò rất lớn đối với cuộc sống con người Đặc biệt, trong thời đạingày nay, khi mức sống được nâng cao; không những thế, nó còn tạo ranguồn vốn lớn để phát triển đất nước

b Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm nhân thọ.

Con người luôn được coi là trung tâm của sự vận động của xã hội.Càng ngày, con người càng đòi hỏi cuộc sống cao hơn, đặc biệt quan trọng lànhu cầu an toàn Đó không chỉ đem lại niềm tin cho mỗi người mà còn làđộng lực thúc đẩy phát triển nền kinh tế

Nhưng ngày nay, cho dù xã hội có phát triển, con người có áp dụngkhoa học kỹ thuật công nghệ đi chăng nữa thì cuộc sống, lao động sản xuấtcũng gặp những rủi ro như: tai nạn, ốm đau, bệnh tật, mất việc làm…, nhữngrủi ro này luôn tồn tại và tác động đến cuộc sống và nhiều mặt khác của conngười Vì vậy,điều quan trọng đặt ra là làm sao để khắc phục những rủi rođảm bảo cuộc sống cho con người Thực tế đã có nhiều biện pháp như: đềphòng, né tránh, cứu trợ, tiết kiệm…nhưng bảo hiểm luôn được đánh giá làbiện pháp hữu hiệu nhất

Sự phát triển của con người cũng kèm theo những khó khăn mà thực tếphải đối mặt Mất hoặc giảm thu nhập của người trụ cột trong gia đình ảnhhưởng đến cuộc sống con cái và người thân Mặt khác càng khó khăn hơn khi

Trang 5

càng ngày càng cần phải chi tiêu nhiều hơn, trong lóc thu nhập từ các nguồnkhác rất Ýt Có lẽ không một người nào muốn những người đang sống phụthuộc vào thu nhập của mình một ngày nào đó họ lại bị khó khăn về tài chính,không những thế nó còn làm suy giảm tinh thần, nhất là khi con cái chưatrưởng thành, cần có chi phí học hành cho con, phụng dưỡng bố mẹ già Vìvậy, đối với cá nhân và gia đình, việc tiết kiệm chi tiêu hiện tại để chuẩn bịcho tương lai, để cho việc giáo dục con cái là một việc làm có ý nghĩa và thiếtthực.

Bên cạnh đó, người già ngày càng trở thành vấn đề bức xúc cho xá hội

Xã hội càng phát triển thì con cái càng có xu thế độc lập tách khỏi bố mẹ càngsớm, hơn nữa, công việc bận rộn lại không có thời gian chăm sóc bố mẹ Do

đó làm cho số lượng người già cô đơn ngày một tăng Vì thế, xu hướng tấtyếu khi còn trẻ, còn kiếm được tiền là cần dành một khoản tiền khi về giàcàng được ý thức cao Đặc biệt là những người chưa tham gia loại hình bảohiểm nào cả, thậm chí có chế độ bảo hiểm xã hội rồi nhưng cũng muốn thamgia để có khoản chi tiêu thêm Bảo hiểm nhân thọ sẽ đáp ứng nhu cầu đó

Mặt khác, không ai chắc chắn rằng mình có thể làm việc bình thường,liên tục trong suốt thời gian làm việc Rủi ro ốm đau, tai nạn lao động…không những làm cho người lao động mất đi thu nhập mà còn làm tăng cáckhoản chi phí như: thuốc men, bồi dưỡng, viện phí…Do đó, tham gia bảohiểm, đến khi không may gặp rủi ro thì người bệnh yên tâm hơn, vì một số chiphí đã được bảo hiểm trang trải

Mỗi một công việc hay việc làm thì chúng ta đều có mục đích Vởymục đích lớn nhất của các bậc phụ huynh là tương lai của con trẻ Mà tươnglai của con trẻ là trình độ học vấn, hơn nữa ngày nay chi phí học hành rất lớn,

xã hội càng phát triển việc bồi dưỡng kiến thức là điều tối quan trọng Vì vậy,mỗi bậc cha mẹ đều quan tâm đến học vấn của con cái Do đó, đối mỗi cánhân, gia đình việc tiết kiệm chi tiêu để chuẩn bị cho học vấn con cái là mộtviệc làm thiết thực, không những thế nó còn góp phần vào công tác giáo dục

Trang 6

con cái biết quý trọng đồng tiền, tiết kiệm và thấy được sự chăm lo của cha

mẹ đối với con cái Việc tham gia bảo hiểm sẽ giúp cho trẻ đến tuổi trưởngthành có một khoản tiền để lập nghiệp hoặc phục vụ cho quá trình học tập

Bên cạnh đó, bảo hiểm nhân thọ còn mang yếu tố tiết kiệm Kháchhàng khi tham gia bảo hiểm đến khi đáo hạn hợp đồng, số tiền mà khách hàngnhận được chắc chắn sẽ lớn hơn số phí mà khách hàng đóng Đó là do lãi đầu

tư do quỹ tập trung, công ty bảo hiểm đem đi đầu tư, phần lãi được chia thêmcho khách hàng

Nói tóm lại, bảo hiểm nhân thọ ra đời là điều cần thiết đối với conngười, nó như “tấm lá chắn” cuối cùng hay là “giá đỡ” khi ta gặp rủi ro Nóthực sự phát huy tác dụng khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro Xã hộingày càng phát triển, nhu cầu tham gia bảo hiểm nhân thọ ngày càng tăng,thậm chí là không thể thiếu được trong cuộc sống của con người

2 Vai trò của bảo hiểm nhân thọ.

Ngày nay, bảo hiểm nhân thọ phát triển rất nhanh Sở dĩ bảo hiểm nhânthọ phát triển được như vậy là vì nó có những tác dụng to lớn

a Đối với người tham gia bảo hiểm.

- Trong phạm vi cá nhân và gia đình

Tham gia bảo hiểm nhân thọ thể hiẹn sự quan tâm, chăm sóc của cácthành viên trong gia đình với nhau Nó góp phần vào nếp sống lành mạnh, tiếtkiệm và có kỷ luật

Tham gia bảo hiểm nhân thọ còn giúp đỡ người tham gia thực hiệnnhiều mục tiêu, đến thời điểm nào đó cần một khoản tiền bao nhiêu thì có thểchuẩn vị trước 5 năm hay 10 năm, để đáp ứng quỹ tài chính, tạo quỹ giáo dụccon cái, lập nghiệp…Không những thế, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn cóthể thế chấp vay trên hợp đồng

- Trong phạm vi doanh nghiệp

Tham gia bảo hiểm nhân thọ góp phần ổn định sản xuất cho doanhnghiệp nếu không may bị rủi ro, vì có bảo hiểm khắc phục tài chính đảm bảo

Trang 7

cho sản xuất kinh doanh được tiếp tục Nếu người chủ chốt gặp rủi ro thìdoanh nghiệp cung không có những biến động lớn do đã có bảo hiểm trả tiềnthuê người thay thế, đào tạo, bù đắp gián đoạn kinh doanh.

b Đối với xã hội.

- Vấn đề việc làm:

Từ khi bảo hiểm ra đời đến nay nó đã góp phần giải quyết việc làm chomột lực lượng lớn lao động Theo Tạp chí bảo hiểm số 4/2002, số lượng đại lýbảo hiểm ở nước ta khoảng 80.000 người, đó là chưa kể một lượng lớn cán bộlàm công tác quản lý, cán bộ hành chính Điều này rất có ý nghĩa trong xã hộingày nay khi mà việc làm và thất nghiệp trở thành một vấn đề nổi cộm ậ Mỹ,

có gần 2 triệu lao động làm trong ngành bảo hiểm, ở Hồng Kông có 20.000lao động hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm

- Về giáo dục

Đây là vấn đề được tất cả mọi xã hội cũng như mọi cá nhân quan tâm

Vì ngày nay tri thức là vấn đề then chốt để phát triển, là chìa khoá dẫn đếnthành công cho sự phát triển Sản phẩm An sinh giáo dục là giải pháp huyđộng vốn dài hạn đầu tư cho giáo dục, từ việc tiết kiệm thường xuyên đều đặncủa gia đình Đây là mục tiêu thiết thực và ý nghĩa góp phần vào việc thựchiện chính sách của Đảng và Nhà nước, xã hội hoá giáo dục

- Đối với người cao tuổi

Khi họ tham gia bảo hiểm nhân thọ khi về hưu, họ sẽ nhận được khoảntiền để đảm bảo chi tiêu, khi không còn lam việc nữa Điều này đặc biệt có ý

Trang 8

nghĩa đối với người có thu nhập thấp và những người chưa tham gia loại hìnhbảo hiểm nào Sản phẩm An hưởng hưu trí và An bình hưu trí sẽ bổ sungnguồn tài chính trang trải chi tiêu cho họ, giảm gánh nặng cho con cái Nhưvậy, mở rộng thị trường bảo hiểm nhân thọ, huy động tầng líp dân cư thamgia là biện pháp tốt để hỗ trợ nhà nước trong việc đảm bảo cuộc sống chongười cao tuổi.

c Đối với phát triển kinh tế.

Bảo hiểm nhân thọ góp phần tăng tích luỹ, tiết kiệm cho ngân sách.Mỗi một cá nhân mua bảo hiểm nhân thọ là cách tốt nhất để bảo vệ mình,đồng thời thể hiện tính cộng đồng trong việc tạo nguồn quỹ chung Nguồnquỹ này là quỹ dài hạn Đây chính là biện pháp để huy động nguồn tiền nhànrỗi trong dân, thực hành tiết kiệm, chống lạm phát Bảo hiểm nhân thọ còngóp phần nâng cao nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua hình thứcđóng thuế

Đời sống được nâng cao, tích luỹ của người dân ngày càng lớn Vì vậy, nhucầu đầu tư, tiết kiệm luôn hiện hữu trong mỗi người, mà ở các nước đang pháttriển, vấn đề này còn hạn chế, do dó người dân tham gia bảo hiểm là thực hiệnnhu cầu có hiệu quả

Đối tượng rộng, vừa mang tính rủi ro vừa mang tính tiết kiệm, nhu cầu

an toàn cũng được đề cao, cơ chế và cách thức tiến hành tham gia thuận lợi,

do đó bảo hiểm nhân thọ có ưu việt hơn gửi tiền tiết kiệm Theo số liệunghiên cứu tại Anh, hàng năm bảo hiểm nhân thọ huy động khoảng 60 tỷUSD để đầu tư vào nền kinh tế, chiếm khoảng 7% GDP ậ Mỹ, số vốn do cáccông ty bảo hiểm nhân thọ đầu tư là 90,2 tỷ USD, nhiều hơn hệ thống ngânhàng

ở Việt Nam, theo số liệu của Tổng cục thống kê thì lượng tiền nhàn rỗi trongdân cư khoảng 3 tỷ USD, chiếm khoảng 13,2% GDP năm 1995, năm 1996khoảng 5 tỷ USD (15% GDP), năm 1998 khoảng 8 tỷ USD, trong khi đóchúng ta mới chỉ huy động được một lượng rất nhỏ

Trang 9

3 Đặc điểm cơ bản của bảo hiểm nhân thọ.

a Vừa mang tính rủi ro, vừa mang tính tiết kiệm.

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính rủi ro vừa mang tính tiếtkiệm Đây là đặc trưng cơ bản nhất của bảo hiểm nhân thọ Thật vậy, mỗi cánhân tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ nép một số tiền định kỳ, có thể theotháng, quý, năm tuỳ theo khả năng tài chính của người tham gia Điều nàykhông ảnh hưởng nhiều tới mặt chi tiêu của gia đình, hơn nữa đến kỳ thu phí

có đại lý tới tận nhà thu, theo đó khả năng tiết kiệm ở đây là có kỷ luật Mặtkhác, người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được khoản tiền lớn hơn khoản phí

mà khách hàng đã nép đến khi đáo hạn hợp đồng, ngoài ra còn có lãi chiathêm do khả năng đầu tư của công ty Điều này thể hiện tính tiết kiệm của bảohiểm nhân thọ

Tính rủi ro thể hiện ở chỗ, khi người tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, nhàbảo hiểm sẽ chi trả đúng bằng số tiền bảo hiểm đã ký nhận trong hợp đồng,cho dù người tham gia mới đóng một khoản tiền rất nhỏ Hơn nữa, khi ốmđau bảo hiểm sẽ trả một phần chi phí thuốc men, phục hồi sức khoẻ Vì vậy,bảo hiểm nhân thọ vừa mang tính rui ro, vừa mang tính tiết kiệm

b Bảo hiểm nhân thọ đáp ứng nhiều mục đích.

Không như bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được mục đích là gópphần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp rủi ro, từ đógóp phần ổn định tài chính cho người tham gia Ngược lại, bảo hiểm nhân thọđáp ứng nhiều mục đích, các mục đích này tuỳ thuộc vào nhu cầu của kháchhàng Từ đó giúp họ chuẩn bị tốt hơn cho kế hoạch của họ Chẳng hạn nhưsản phẩm An sinh giáo dục: ngay từ bây giê họ có thể tiết kiệm đều đặn mộtkhoản tiền để khi con cái họ trưởng thành có một số tiền cho việc học hành,lập nghiệp hay vốn kinh doanh

Đôi khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn là vật thế chấp để người thamgia có thể vay ngân hàng Ngày nay, các công ty bảo hiểm cũng cho kháchhàng cho vay trên hợp đồng Chính vì đáp ứng được nhiều nhu cầu khác nhau

Trang 10

nên loại hình này có thị trường ngày càng rộng và được nhiều người quantâm.

c Các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ rất đa dạng và phức tạp.

Tính đa dạng của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thể hiện ngay từ loại sảnphẩm, chẳng hạn như sản phẩm bảo hiểm kết hợp con người hỗn hợp có thờigian 5 năm, 10 năm…Mỗi hợp đồng lại có số tiền bảo hiểm khác nhau, ngườitham gia bảo hiểm ở những độ tuổi khác nhau và tình trạng sức khoẻ cũngkhác nhau Một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có thể có 4 bên tham gia: ngườibảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởngquyền lợi bảo hiểm Rõ ràng hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là rất phức tạp,không như bảo hiểm phi nhân thọ

d Phí bảo hiểm nhân thọ chịu tác động của nhiều yếu tố.

Loại hình bảo hiểm nhân thọ đã phức tạp là vậy thì việc tính phí bảohiểm còn phức tạp hơn, do nó chịu nhiều yếu tố tác động Trong qua trình đưa

ra sản phẩm ra thị trường, nhà bảo hiểm chịu rất nhiều chi phí như: chi quản

- Sè tiền bảo hiểm

- Thời hạn tham gia

- Phương thức thanh toán

Trang 11

hao mòn máy móc, nép thuế và một tỷ suất lợi nhuận hợp lý thì có thể xácđịnh giá sản phẩm (xe máy) khi xuất xưởng Trong khi đó, sản phẩm bảohiểm, các yếu tố đầu vào chỉ dùa trên cơ sở giả định, dùa vào thống kê và xácsuất, ví như: tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ huỷ hợp đồng…Vì thế, công tác định phí rấtphức tạp, đòi hỏi phải nắm vững từng loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ,phân tích được chiều hướng phát triển của sản phẩm Vì thế, sản phẩm bảohiểm được coi là sản phẩm có “chu trình sản xuất ngược”.

e Bảo hiểm nhân thọ ra đời và phát triển trong điều kiện nhất định.

Ở những nước phát triển, bảo hiểm nhân thọ đã ra đời hàng trăm nay,nhưng ở một số quốc gia chậm phát triển thì đến nay cũng chưa triển khaiđược loại hình này, mặc dù họ biết rất rõ vai trò to lớn của nó Giải thích vấn

đề này, các nhà kinh tế đều cho rằng, để phát triển bảo hiểm nhân thọ phải cónhững điều kiện nhất định:

Điều kiện kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GDP

- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân đầu người

- Mức thu nhập của dân cư

- Tỷ lệ lạm phát

- Tỷ giá hối đoái

Điều kiện xã hội:

- Điều kiện về dân số

Trang 12

4 Những nguyên tắc trong bảo hiểm nhân thọ.

4.1 Nguyên tắc số đông.

Về nguyên tắc, nhà bảo hiểm đứng ra nhận một khoản tiền có khả năngchi trả để hình thành quỹ tập trung cho người tham gia bảo hiểm Theonguyên tắc này, bảo hiểm thể hiện tính nhân đạo, nhân văn cao cả, thể hiện ởchỗ người này chia sẻ rủi ro cho người khác Đây là nguyên tắc xuyên suốt,không thể thiếu được trong bất kỳ nghiệp vụ nào, càng nhiều người tham giathì quỹ sẽ càng lớn, khả năng chi trả sẽ càng cao

4.2 Nguyên tắc lùa chọn rủi ro.

Trong bảo hiểm nhân thọ – cũng như những loại hình bảo hiểm khác –chỉ bảo hiểm cho những rủi ro mang tính bất ngờ, không lường trước được.Điều này được thể hiện trong được thể hiện ở những điều khoản loại trừ trongcác hợp đồng, còn các rủi ro được bảo hiểm được sắp xếp để phân loại Chẳnghạn những người bị bệnh cao huyết áp phải đóng phí cao hơn những người cósức khoẻ bình thường Nguyên tắc này được thực hiện xuyên suốt, nhằm:

Thứ nhất, tránh bị người tham gia lợi dụng trục lợi bảo hiểm, hưởngkhoản chi trả đáng ra họ không được hưởng

Thứ hai, thực hiện nguyên tắc này đảm bảo khả năng thanh toán chocông ty, đảm bảo công bằng giữa những người tham gia

4.3 Nguyên tắc phân tán rủi ro.

Công ty bảo hiểm là người kinh doanh rủi ro, nhận rủi ro của kháchhàng Đến lượt mình, nhà bảo hiểm lại phải phân tán rủi ro để phòng tránh rủi

ro dồn dập xảy ra Do đó thực hiện nguyên tắc này để đảm bảo khả năngthanh toán, đảm bảo công bằng và quyền lợi cho khách hàng

Mét kinh nghiệm của các nhà bảo hiểm thương mại là tránh nhậnnhững rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty Chính vì vậy,phân tán rủi ro đã nhận là điều quan trọng giúp các nhà bảo hiểm có thể đảmnhận những rủi ro lớn, tránh được việc từ chối bảo hiểm cho khách hàng Đểthực hiện nguyên tắc này, các nhà bảo hiểm thực hiện theo 2 phương thức:

Trang 13

đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm Đồng bảo hiểm là phương thức nhiều nhà bảohiểm cùng nhận một rủi ro lớn Còn tái bảo hiểm là phương thức trong đó mộtnhà bảo hiểm nhận một rủi ro lớn, sau đó mới chuyển cho các nhà bảo hiểmkhác.

4.4 Nguyên tắc trung thực tuyệt đối:

Nguyên tắc này thể hiện ngay từ đầu trong khi nhà bảo hiểm soạn thảohợp đồng Nó thể hiện sự cam kết trong hợp đồng, người bảo hiểm đòi hỏiphải thực hiện đầy đủ như đã ghi trong hợp đồng Sản phẩm cung cấp của nhàbảo hiểm là sản phẩm dịch vụ nên người mua không thể cầm nắm hình dạngcủa nó mà chỉ được cảm nhận khi người mua hiểu về nó Đặc biệt, sản phẩmbảo hiểm chỉ được thể hiện khi rủi ro xảy ra, thể hiện quyền lợi của ngườitham gia Nếu làm tốt công tác giải quyết quyền lợi bảo hiểm sẽ củng cố lòngtin cho người tham gia, kích thích nhu cầu của họ

Ngược lại, nguyên tắc này cũng đặt ra những yêu cầu đối với ngườitham gia phải kê khai đầy đủ và trung thực để nhà bảo hiểm xác định loại rủi

ro có thể chấp nhận hay từ chối bảo hiểm, đồng thời có thể xác định mức phíphù hợp với rủi ro mà công ty nhận Thêm vào đó, các hành vi gian lận nhằmtrục lợi bảo hiểm khi khai báo thiệt hại (khai báo lớn hơn thực tế, sửa chữangày tháng của hợp đồng… ) sẽ được xử lý theo pháp luật

4.5 Nguyên tắc trả tiền khoán.

Theo nguyên tắc này, người tham gia bảo hiểm sẽ lùa chọn số tiền bảohiểm phù hợp với khả năng tài chính của mình để đăng ký tham gia, số tiềnbảo hiểm cao thì mức phí cao Vì vậy, thực chất, người tham gia bảo hiểm đãkhoán trước cho người bảo hiểm phải chi trả cho anh ta một số tiền nhất địnhkhi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra, đổi lại người bảo hiểm sẽ nhận được một

số phí nhất định tương ứng với số tiền bảo hiểm đã đăng ký

Trang 14

II Bản chất của bảo hiểm nhân thọ.

Bảo hiểm là tổng thể các mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa người thamgia và người bảo hiểm nhằm mục đích ổn định cuộc sống và sản xuất chongười tham gia khi họ không may gặp những rủi ro bất ngờ gây hậu quả thiệthại và đáp ứng một số nhu cầu khác của họ

2 Bản chất.

Dù được định nghĩa như thế nào thi bản chất của bảo hiểm cũng đượcthể hiện ở những nội dung sau:

- Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính chứ không phải là dịch

vụ tài chính, cũng không phải là hoạt động sản xuất Thể hiện đảm bảo cuộcsống sản xuất bằng nguồn tài chính bù đắp những rủi ro mà họ gặp phải

- Hoạt động bảo hiểm dùa trên nguyên tắc “số đông bù số Ýt”

- Bảo hiểm thông thường chỉ bảo hiểm cho những rủi ro nhất định,những rủi ro này xảy ra bất thường, không lường trước được, không mangtính thảm khốc

- Mục đích tham gia bảo hiểm là ổn định tài chính cho người tham gia,đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển kinh tế – xã hội của đất nước Ngoài racòn đáp ứng một số nhu cầu khác của người tham gia

- Hoạt động bảo hiểm còn liên kết, gắn bó các thành viên trong xã hộicùng vì lợi Ých chung của cộng đồng, vì sự ổn định, phồn vinh của đất nước.Với nguyên tắc “số đông bù số Ýt”, bảo hiểm thể hiện rõ tính tương trợ, tính

xã hội, nhân văn sâu sắc của xã hội trước rủi ro của mỗi thành viên

Trang 15

- Mối quan hệ của người tham gia và người bảo hiểm phải thông quamột bản cam kết Bản cam kết này thực chất là một hợp đồng kinh tế, nó rằngbuộc trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia.

III Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.

1 Đặc trưng cơ bản của bảo hiểm nhân thọ.

- Bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm vô hình, nó chỉ là sự cam kết giữangười tham gia và người bảo hiểm

- Bảo hiểm nhân thọ có chu trình sản xuất ngược, có nghĩa là khi kếtthúc hợp đồng mới xác định được chi phí của sản phẩm Còn khi tiến hànhtính phí phải dùa trên những giả định

- Bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc bồi thường mà áp dụngnguyên tắc khoán, là do:

Tính mạng của con người là vô giá nên trong trường hợp tử vong, nhàbảo hiểm không thể trả tiền bồi thường theo giá trị con người

Người tham gia bảo hiểm có quyền Ên định khoản tiền chi trả vào thờiđiểm ký kết hợp đồng với nhà bảo hiểm tuỳ thuộc vào thu nhập, khả năng tiếtkiệm và tình hình tài chính của mỗi cá nhân

- Khi hợp đồng bảo hiểm được ký kết, nhà bảo hiểm phải gắn bó vớihợp đồng, không được từ bỏ hợp đồng trước thời hạn Còn người tham giakhông phải bắt buộc như vậy, bởi vì đối với mỗi cá nhân có tiếp tục tham giađược hay không tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là khảnăng tài chính, trong khi thời hạn bảo hiểm rất dài

- Bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền

Trong bảo hiểm nhân thọ không có sự thế quyền cho dù ai có gây rủi rocho người được bảo hiểm thì công ty vẫn phải chi trả chứ không được phépđòi người người thứ ba – người gây ra thiệt hại cho người được bảo hiểm

- Cùng một lúc, khách hàng có thể tham gia nhiều hợp đồng bảo hiểm.Nếu có rủi ro xảy ra thì khách hàng sẽ nhận được số tiền chi trả trong tất cả

Trang 16

các hợp đồng đó, có nghĩa là trong bảo hiểm nhân thọ cho phép bảo hiểmtrùng.

- Bảo hiểm nhân thọ không áp dụng nguyên tắc đóng góp

- Bảo hiểm nhân thọ là bảo hiểm duy nhất bảo hiểm trong trường hợpsống và chết

2 Sự khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ.

Để nhận thấy đặc trưng của bảo hiểm nhân thọ ta so sánh bảo hiểmnhân thọ với bảo hiểm phi nhân thọ

Chỉ tiêu Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm phi nhân thọPhạm vi bảo

Thường là 1 năm

Nhân tố ảnh

hưởng tới phí

Thời gian tham gia

Số tiền bảo hiểm

Lãi suất kỹ thuật

Tỷ lệ tử vong

Xác suất rủi ro

Số tiền bảo hiểm

Các chế độ bảo hiểm

Số lần nép

phí

Định kỳ: tháng, quý, 6 tháng, 1năm

Thường là đóng phí 1 lầnsau khi ký kết

Quyền lợi

bảo hiểm

Người tham gia bảo hiểm đượcchi trả tiền bảo hiểm trongtrường hợp chết, thương tậttoàn bộ vĩnh viễn, hết hạn hợpđồng

Chỉ được bồi thường thiệthại trong giới hạn hợp đồngkhi xảy ra rủi ro đã đượcquy định trước

Tính chất Vừa mang tính tiết kiệm, vừa

mang tính rủi ro

Chỉ thuần tuý mang tính rủiro

3 Các loại hình bảo hiểm nhân thọ.

3.1 Bảo hiểm trong trường hợp tử vong.

Loại này được chia ra làm 2 loại:

Trang 17

3.1.1.Bảo hiểm tử kỳ (bảo hiểm sinh mạng có thời hạn).

Đây là loại hình được ký kết bảo hiểm cho cái chết xảy ra trong thờigian đã quy định của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đóthì người được bảo hiểm không được nhận bất kỳ một khoản chi trả nào từphía nhà bảo hiểm Ngược lại, nếu cái chết xảy ra trong thời gian hợp đồng cóhiệu lực thì người bảo hiểm có trách nhiệm thanh toán số tiền bảo hiểm chongười thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm

Đặc điểm cơ bản:

Chỉ mang tính rủi ro

Số tiền bảo hiểm được trả một lần khi người được bảo hiểm chết trongthời hạn bảo hiểm

Thời hạn bảo hiểm xác định theo năm hoặc tuổi

Mục đích:

Đảm bảo các chi phí mai táng chốn cất

Bảo trợ cho gia đình, người thân trong thời gian ngắn

Thanh toán các khoản nợ hoặc thế chấp của người được bảo hiểm.Loại hình bảo hiểm này phù hợp với những người có thu nhập thấpnhưng cần đảm bảo trách nhiệm lớn Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoáthành các loại hình:

Bảo hiểm tử kỳ cố định: có mức phí và số tiền bảo hiểm cố định, khôngthay đổi trong suốt thời gian có hiệu lực của hợp đồng

Bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục: loại này có thể tái tục vào ngày kết thúchợp đồng và khồn yêu cầu có thêm bằng chứng nào về tình trạng sức khoẻnhưng thường có sự giới hạn về độ tuổi

Bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi: chi phép người tham gia có sự lùachọn chuyển đổi một phần hay toàn bộ hợp đồng thành một hợp đồng bảohiểm nhân thọ trọn đời hay hỗn hợp

Trang 18

Bảo hiểm tử kỳ giảm dần: đây là loại hình bảo hiểm mà có một bộ phậncủa số tiền bảo hiểm giảm hàng năm theo một mức cố định, bộ phận này giảmtới 0 vào cuối kỳ hạn của hợp đồng.

Bảo hiểm tử kỳ tăng dần: loại hình này được triển khai giúp người thamgia chống lại yếu tố lạm phát

Bảo hiểm thu nhập gia đình: loại hình này nhằm đảm bảo thu nhập chomét gia đình khi không may người trụ cột trong gia đình bị chết

Bảo hiểm thu nhập gia đình tăng lên: đảm bảo chống lại lạm phát và sựtăng lên trong chi tiêu của gia đình

Bảo hiểm tử kỳ có điều kiện: điều kiện ở đây do 2 bên thoả thuận (điềukiện về người thụ hưởng, điều kiện về phương thức chi trả, điều kiện chuyểnđổi…)

3.1.2 Bảo hiểm nhân thọ trọn đời.

Loại hình bảo hiểm này cam kết chi trả cho người thụ hưởng quyền lợibảo hiểm một số tiền bảo hiểm đã được Ên định trên hợp đồng khi ngườiđược bảo hiểm chết vào bất cứ lúc nào kể từ ngày ký hợp đồng

Đặc điểm cơ bản:

Thời hạn bảo hiểm không xác định, người được bảo hiểm được bảođảm trong suốt cuộc đời

Số tiền bảo hiểm được trả một lần khi người được bảo hiểm chết

Phí bảo hiểm đóng định kỳ và không thay đổi trong suốt thời hạn bảohiểm

Loại hình này mang cả hai đặc tính: tiết kiệm và rủi ro

Mục đích:

Đảm bảo các chi phí mai táng, chôn cất

Bảo đảm thu nhập để ổn định cuộc sống gia đình

Hiện nay, loại hình bảo hiểm này được đa dạng hoá thành các loại hợpđồng sau:

Trang 19

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời phi lợi nhuận: có mức phí và số tiền bảohiểm cố định suốt cuộc đời.

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời có tham gia chia lợi nhuận: khi thanh toán

số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng, họ sẽ được chia một phần lợi nhuậnnhư đã thoả thuận trong hợp đồng

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời đóng phí liên tục: loại này yêu cầu ngườiđược bảo hiểm phải đóng phí liên tục cho đến khi chết

Bảo hiểm nhân thọ trọn đời quy định số lần đóng phí: loại này quy định

rõ số năm đóng phí bảo hiểm

3.2 Bảo hiểm trong trường hợp sống (bảo hiểm sinh kỳ).

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là người bảo hiểm cam kết chi trảnhững khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trongsuốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm

Đảm bảo cuộc sống khi về già

Giảm nhẹ gánh nặng cho con cái và phóc lợi xã hội

Các khoản trợ cấp định kỳ chỉ bắt đầu được thanh toán vào một ngày

Ên định và chỉ được trả khi người được bảo hiểm còn sống Loại hình bảohiểm này rất phù hợp với những người khi về hưu hoặc những người khôngđược hưởng trợ cấp hưu trí

3.3 Bảo hiểm nhân thọ hỗn hợp.

Thực chất của loại hình bảo hiểm này là bảo hiểm cả trong trường hợpngười được bảo hiểm tử vong hay còn sống Cả hai đặc tính: tiết kiệm và rủi

Trang 20

ro được thể hiện rõ nhất trong nhóm sản phẩm này, vì thế đây là nhóm sảnphẩm chủ yếu của các công ty.

Đặc điểm:

Thời hạn bảo hiểm luôn xác định

Số tiền bảo hiểm được trả một lần khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra(chết, hết hạn hợp đồng)

Phí bảo hiểm nép định kỳ nhiều lần và không thay đổi trong suốt thờigian hợp đồng có hiệu lực

Có thể được chia lãi thông qua đầu tư phí bảo hiểm hay hoàn phí (trảgiá trị giải ước) khi không có điều kiện tiếp tục tham gia

1 Sự cần thiết và vai trò của đại lý.

Mạng lưới đại lý là người trực tiếp phân phối sản phẩm của công ty đếnkhách hàng Đại lý được coi là trung gian giữa khách hàng và công ty trongphân phối và phục vụ Sở dĩ đại lý đóng vai trò quan trọng như vậy là vì đại lýquyết định trong vai trò phân phối Theo thống kê, có không quá 3% số sảnphẩm thông qua kênh phân phối khác Điều này cho thấy vai trò của đại lý làhết sức quan trọng vì đại lý có thể hướng dẫn, giải thích giúp khách hànghiểu được tác dụng của sản phẩm, cũng như hiểu biết về quyền lợi và nghĩa

vụ của người tham gia Vì sản phâm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm vô hình,khác với các sản phẩm khác, nhu cầu về sản phẩm là không mong đợi vàthường được thể hiện rõ qua đại lý, thông qua quan hệ trực tiếp với kháchhàng, đóng vai trò quan trọng trong việc giới thiệu sản phẩm với khách hàng,

Trang 21

gợi mở nhu cầu và dẫn dụ khách hàng đi đến mua sản phẩm Bên cạnh đó, đại

lý còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hợp đồng, thông qua cử chỉ,hành động chăm sóc khách hàng, cũng nhờ khách hàng mà họ có thêm nhiềukhách hàng tiềm năng

Sản phẩm bảo hiểm nhân thọ là sản phẩm không được bảo hộ bảnquyền do việc bắt chước rất dễ dàng, các sản phẩm của các công ty chi khácnhau về tên gọi, còn về bản chất đều giống nhau Vì vậy mà sự cạnh tranh ởđây là rất quyết liệt

Các công ty bảo hiểm đều hiểu rằng cạnh tranh về giá là rất bất lợi, ảnhhưởng tới lợi nhuận và mục tiêu hoạt động của công ty, các thông tin quảngcáo trên các phương tiện truyền thông cũng khó đưa họ lên cao hẳn so với cácđối thủ cạnh tranh Bởi họ hiểu rằng kênh phân phối trực tiếp thông qua đại lý

là cực kỳ quan trọng trong việc duy trì thị phần, mà cũng là yếu tố khó bắtchước nhất Vì mỗi công ty đều có những lợi thế riêng, công ty nào có kênhphân phối hiệu quả thì sẽ là người chiến thắng trong cuộc chạy đua giành lấythị trường sản phẩm đặc biệt này

Các quyền lợi thể hiện trong sản phẩm bảo hiểm nhân thọ thường tươngđối phức tạp và khác nhau giữa các công ty, đại lý phải trực tiếp quan hệ vớikhách hàng và giải thích một cách rõ ràng các quyền lợi bảo hiểm Đồng thờilàm rõ những mặt mạnh của sản phẩm công ty mình so với những đối thủkhác, từ đó định hướng mua sản phẩm cho khách hàng

Đại lý bảo hiểm nhân thọ góp phần nâng cao ảnh hưởng, uy tín củacông ty trên thị trường Với hệ thống đều khắp các khu vực sẽ góp phần giớithiệu cho khách hàng biết được về công ty cũng như những sản phẩm màcông ty cung cấp trên thị trường Đặc biệt, đối với những địa phương mà công

ty chưa có chi nhánh thì vai trò của đại lý lại càng quan trọng Ngoài ra, đại lýcòn góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh, tạo hình ảnh đẹp về công ty

Đại lý bảo hiểm nhân thọ là những người trực tiếp là người cung cấpsản phẩm dịch vụ cho xã hội Thay vì mọi người phải tự tìm hiểu về bảo hiểm

Trang 22

nhân thọ thì đại lý làm thay họ công việc này Vì vậy, hoạt động của địa lýgóp phần nâng cao nhận thức của người dân, hướng họ tới mục đích côngbằng xã hội, góp phần vào việc thực hiện nhân đạo và nhân văn cao cả thôngqua việc san sẻ rủi ro giữa những thành viên trong xã hội.

Đại lý là người mang lại sự bảo đảm đến cho các gia đình, mang lại sựyên tâm cho những người có trách nhiệm với người thân và gia đình

Đại lý cũng là người trực tiếp tiếp nhận những thông tin phản hồi từkhách hàng về sản phẩm, các chính sách của công ty, từ đó giúp công ty cónhững điều chỉnh kịp thời, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường

Đại lý thường được tổ chức gọn nhẹ, hoạt động linh hoạt, vì thế có thểhoạt động bất cứ nơi nào Đại lý có thể lam việc ở nơi có thể đón tiếp kháchhàng hoặc đến từng nhà để thuyết phục họ, bằng cách thức nào tuỳ thuộc vàokhả năng của từng đại lý, miễn là bán được sản phẩm

Chi phí thiết lập mạng lưới đại lý thường thấp hơn nhiều so với nhữngcác đại diện phòng bảo hiểm khác,ngược lại hiệu quả mà nó mang lại rất cao

Và tinh thần làm việc của các đại lý rất nghiêm túc và khẩn trương vì quyềnlợi của họ gắn liền với kết quả khai thác

Trong điều kiện hiện nay, đại lý có vai trò rất lớn, là người đứng ra thuphí tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng khi mà việc thanh toán qua ngânhàng chưa phát triển

Chính vì những tác dụng to lớn của đại lý đối với hoạt động của mộtcông ty bảo hiểm nhân thọ mà đại lý luôn được đặt vào trung tâm, đại lý đượccoi là “tài sản quan trọng nhất của công ty”

2 Khái niệm và đặc điểm cơ bản của đại lý.

2.1 Khái niệm.

Trong thuật ngữ pháp lý: đại lý bảo hiểm là một cá nhân hay tổ chứcđại diện cho mét doanh nghiệp bảo hiểm, hoạt động vì quyền lợi của doanhnghiệp bảo hiểm, thay mặt cho doanh nghiệp bảo hiểm để bán các sản phẩm

và dịch vụ của công ty cho khách hàng

Trang 23

Đại lý bảo hiểm cũng là người được uỷ quyền hành động thay công tybảo hiểm trên cơ sở hợp đồng đại lý.

2.2 Phân loại:

Hiện nay, trên thị trường, các công ty bảo hiểm nhân thọ sử dụng cácđại lý là lực lượng chủ yếu để phân phối sản phẩm Chính vì vậy, các loạihình được tổ chức rất đa dạng và thường được phân loại theo các hình thứcsau:

Phân loại theo phạm vi quyền hạn:

Đại lý toàn quyền: là đại lý có quyền tham gia về chính sách sản phẩmcủa công ty và có tác động ảnh hưởng tới giá bán của sản phẩm

Tổng đại lý: là đại lý nắm quyền quản lý, điều hành một số lượng đại lýnhất định

Đại lý uỷ quyền: là đại lý hoạt động dưới sự uỷ quyền của công ty.Phân loại theo quan hệ kinh tế:

Đại lý hoa hồng: là đại lý hoạt động dưới sự uỷ quyền của công ty vàđược hưởng hoa hồng theo doanh thu phí

Đại lý độc quyền: là đại lý duy nhất cho sản phẩm của một công ty màkhông bán sản phẩm cho công ty khác

Phân loại theo thời gian hoạt động:

Đại lý chuyên nghiệp: là loại hình đại lý chuyên làm việc cho công tybảo hiểm nhân thọ và ngoài hoạt động đại ra họ không tiến hành hoạt độngkinh doanh nào khác Đại lý này chịu sự kiểm tra, quản lý chặt chẽ của tổtrưởng tổ đại lý và trưởng phòng khai thác

Đại lý bán chuyên nghiệp: là những người làm bán thời gian, họ khôngthuộc vào phòng khai thác nào Các đại lý bán chuyên nghiệp không phải gặpnhau hàng ngày tại một địa điểm để họp, điểm danh như đại lý chuyênnghiệp Các cuộc họp của họ được tổ chức tại văn phòng công ty

Cộng tác viên: là người công ty không trực tiếp tổ chức và quản lý nhân

sù Mà công tác này do cộng tác viên tự chịu trách nhiệm Cộng tác viên Ýt

Trang 24

chịu sự quản lý của công ty, chế độ thưởng phạt không áp dụng đối với đốitượng này.

Phân loại theo công việc:

Đại lý khai thác: là những đại lý chuyên khai thác, kí kết hợp đồng, họ

có thể thu phí một số hợp đồng nhất định

Đại lý chuyên thu: là những đại lý chỉ làm công tác thu phí đối với hợpđồng do đại lý khai thác chuyển giao lại, họ không có quyền khai thác hợpđồng bảo hiểm nhân thọ

2.3 Đặc điểm của đại lý bảo hiểm nhân thọ.

Hợp đồng đại lý giữa công ty bảo hiểm nhân thọ và đại lý xác định mức

độ kiểm soát mà công ty bảo hiểm nhân thọ có thể thực hiện đối với đại lý Công ty bảo hiểm nhân thọ có thể thực hiện quyền kiểm soát của mình đối vớiđại lý theo thông lệ kinh doanh và nguyên tắc chung, nếu các đại lý độc lậpthì công ty không thể và không có quyền áp đặt các hình thức quản lý củamình đối với các phương thức mà họ áp dụng để thực hiện các mục tiêu củamình Đại lý độc lập có quyền sử dụng bất kỳ hình thức nào mà họ cho là phùhợp với quy định của pháp luật nhằm đạt được mục tiêu ghi trong hợp đồngđại lý

Nếu đại lý là nhân viên của công ty thì công ty là chủ thể thực hiện các biệnpháp quản lý và kiểm soát các phương thức mà đại lý áp dụng để khai thác,cũng như bắt buộc đại lý thực hiện mục tiêu mà công ty đưa ra

Một số công ty bảo hiểm nhân thọ ghi rõ trong hợp đồng đại lý là cácđại lý của họ không được phép làm đại lý cho các công ty khác

Trang 25

Cỏc đại lý độc lập mà chỉ làm đại diện cho một cụng ty thỡ nhận thự lao dướidạng hoa hồng phớ Ngoài ra, cỏc cụng ty bảo hiểm nhõn thọ cũng thườngcung cấp cho những đại lý này mức thu nhập tối thiểu để họ cú khả năng duytrỡ hoạt động trong giai đoạn đầu Cỏc đại lý được nhận hoa hồng theo mộttrong hai hỡnh thức sau:

Thứ nhất: nhận hoa hồng phớ theo một tỷ lệ % cố định Đõy là nguồn thunhập chớnh của cỏc đại lý này ở nước ta, Bộ tài chớnh quy định tỷ lệ hoa hồngtối đa là 10%, nhưng trong những năm đầu cú thể lờn tới 12 – 35% Cỏc dịch

vụ mới và dịch vụ tỏi tục cú thể cú tỷ lệ hoa hồng khỏc nhau, song thường tỷ

lệ của cỏc hợp đồng tỏi tục thấp hơn Lý do chớnh là để kinh doanh một dịch

vụ mới thường tốn kộm và đũi hỏi cỏc đại lý phải bỏ ra cụng sức nhiều hơn sovới một hợp đồng tỏi tục Thứ nhất: nhận hoa hồng phí theo một tỷ lệ % cố

định Đây là nguồn thu nhập chính của các đại lý này ở nớc ta, Bộ tàichính quy định tỷ lệ hoa hồng tối đa là 10%, nhng trong những năm đầu

có thể lên tới 12 – 35% Các dịch vụ mới và dịch vụ tái tục có thể có tỷ lệhoa hồng khác nhau, song thờng tỷ lệ của các hợp đồng tái tục thấp hơn Lý

do chính là để kinh doanh một dịch vụ mới thờng tốn kém và đòi hỏi các

đại lý phải bỏ ra công sức nhiều hơn so với một hợp đồng tái tục

Thứ hai: đại lý cú thể nhận được một khoản hoa hồng khụng cố định,đụi khi nú được coi là hoa hồng theo lói hoặc hoa hồng thưởng thờm Khoảnhoa hồng này phụ thuộc vào tỷ lệ tổn thất của cỏc dịch vụ mà đại lý khai thỏc,nhiều khi mức hoa hồng này phụ thuộc vào tỷ lệ và mức tăng doanh thu màđại lý mang lại cho cụng ty Cỏc khoản hoa hồng khụng cố định được cỏccụng ty bảo hiểm nhõn thọ sử dụng để kớch thớch đại lý hoạt động hieẹu quảhơn

- Thẩm quyền của đại lý đối với đơn bảo hiểm

Đơn bảo hiểm là cơ sở phỏp lý chứng nhận sự bảo hiểm của cụng tybảo hiểm đối với đối tượng bảo hiểm của khỏch hàng Trong đú cú quy định

Trang 26

đại lý có những thẩm quyền gì, cũng như của khách hàng và được quy địnhnhư sau:

Nếu đại lý có thẩm quyền đối với các đơn bảo hiểm mà họ bán cho kháchhàng – công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ không tái tục các đơn bảo hiểm một cáchtrực tiếp hoặc thông qua các đại lý khác Hơn nữa, thẩm quyền này không chocác công ty bảo hiểm nhân thọ tự ý lấy các đơn bảo hiểm đó của đại lý hoặcchuyển chúng cho đại lý khác

Thẩm quyền của đại lý đối với các đơn bảo hiểm có ý nghĩa rất quantrọng đối với cả đại lý và công ty bảo hiểm nhân thọ Thẩm quyền đối với cácđơn bảo hiểm cũng cho phép các công ty bảo hiểm quản lý và kiểm soát tốthơn các dịch vụ của họ Vì các đại lý này không thể chuyển dịch vụ này chocác công ty bảo hiểm nhân thọ khác, khi hợp đồng đại lý vẫn còn hiệu lực vàngay cả khi đã hết hiệu lực (vì thời hạn của hợp đồng đaị lý có thể chưa hết)

2.4 Các chức năng của đại lý khai thác.

Mục đích của hoạt động khai thác là mục tiêu quan trọng nhất, điều nàycùng có lợi cho công ty, đại lý khai thác và cả khách hàng Tuy nhiên, mỗiphương thức hoạt động của đại lý có thể có những cách khác nhau Nhưngnhìn chung phải qua các bước sau:

- Dẫn dụ khách hàng

Hầu như tất cả các đại lý khai thác đều phải dẫn dụ khách hàng, cónghĩa là phải có khách hàng để có cơ hội giới thiệu sản phẩm, từ đó có thểđưa sản phẩm tới người tiêu dùng Khách hàng có thể là cá nhân hoặc tổ chức.Việc lôi kéo khách hàng có thể được thực hiện bởi cách thức tiếp cận sau:

Nhờ khách hàng hiện tại của đại lý giới thiệu

Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng

Sử dụng điện thoại

Sử dụng các hình thức thông qua vận động, khuyếch trương

Gửi thư chào hàng

Hội nghị khách hàng

Trang 27

Giới thiệu bằng slide.

Cỏc khỏch hàng cú ảnh hưởng lớn đến cụng chỳng

Hầu hết cỏc đại lý tự chịu trỏch nhiệm về hoạt động của mỡnh, bờn cạnh

đú cụng ty hỗ trợ một phần, nhằm nõng cao hiệu quả khai thỏc

- Bỏn bảo hiểm

Đõy là chức năng chủ yếu của một đại lý Hoa hồng thu được dựa trờnphớ thực thu của dịch vụ mà đại lý bỏn được, đú là nguồn thu nhập chớnh củacỏc đại lý và thẩm quyền đối với cỏc đơn bảo hiểm mà đại lý kinh doanh được

là nguồn tài sản chớnh của một đại lý

Cỏc bước trong quỏ trỡnh bỏn: tỡm kiếm khỏch hàng tiềm năng cú nghĩa là tỡmnhững người cú nhu cầu bảo hiểm, cú khả năng tài chớnh, cú đối tượng để bảohiểm, cú khả năng tiếp xỳc được; thiết lập cuộc hẹn; tiếp xỳc, liờn hệ vớikhỏch hàng; chuẩn bị Giấy yờu cầu bảo hiểm cho khỏch hàng và kết thỳc việcbỏn hàng Các bớc trong quá trình bán: tìm kiếm khách hàng tiềm năng cónghĩa là tìm những ngời có nhu cầu bảo hiểm, có khả năng tài chính, có

đối tợng để bảo hiểm, có khả năng tiếp xúc đợc; thiết lập cuộc hẹn; tiếpxúc, liên hệ với khách hàng; chuẩn bị Giấy yêu cầu bảo hiểm cho kháchhàng và kết thúc việc bán hàng

- Phõn tớch rủi ro

Xỏc định nhu cầu của khỏch hàng là rất quan trọng Muốn nắm đượcnhu cầu này phải tỡm hiểu xem mục đớch dài hạn của khỏch hàng là gỡ? Kếhoạch gỡ trong tương lai? Khả năng tài chớnh của khỏch hàng trong tương lai

ra sao để đưa ra sản phẩm và số tiền bảo hiểm phự hợp Trong quỏ trỡnh tiếpxỳc giới thiệu, chỉ nờn đưa ra một hoặc hai sản phẩm để khỏch hàng dễ hỡnhdung và chấp nhận Rồi sau đú phõn tớch rủi ro, quyền lợi cũng như nghĩa vụcủa khỏch hàng

- Cấp đơn bảo hiểm

Đơn bảo hiểm là một loại giấy tờ in sẵn của cụng ty bảo hiểm nhõn thọ

đó cú, đại lý chỉ việc hướng dẫn khỏch hàng

Trang 28

Trong những năm gần đây, một số công ty bảo hiểm nhân thọ có xuhướng tự soạn đơn và sau đó trực tiếp gửi đơn tới khách hàng Sở dĩ cóphương pháp này là do các công ty muốn giảm chi phí Các công ty bảo hiểmnhân thọ tin rằng họ có thể soạn và cấp với chi phí thấp nhất, đặc biệt gần đâycác hệ thống soạn thảo được vi tính hoá bằng các thiết bị điện tử.

- Thu phí

Các đại lý khai thác có thể thu phí sau khi kê khai đầy đủ trong Giấyyêu cầu bảo hiểm, sau đó đại lý cấp hoá đơn tạm thời, rồi công ty sẽ cấp hợpđồng và hoá đơn thu phí

Nếu công ty bảo hiểm nhân thọ cấp đơn, người được bảo hiểm thườnggửi hoặc thanh toán phí trực tiếp cho công ty bảo hiểm mà không cần thôngqua đại lý Trong hình thức thanh toán không qua trực tiếp này, công ty bảohiểm gửi hoá đơn thu phí đến khách hàng, sau đó thu phí và gửi hoa hồng chođại lý

Đối với dịch cụ mà đại lý thu phí, có 3 phương thức sau:

- Dùa trên cơ sở từng dịch vụ

- Thông báo

- Dùa trên tài khoản vãng lai

Theo phương thức dùa trên cơ sở từng dịch vụ: phí bảo hiểm được gửiđến cho công ty bảo hiểm khi đại lý thu được phí từ khách hàng hoặc khi khoảnphí đó đã đến hạn thanh toán Đây là phương thức thanh toán chủ yếu nhất

Theo phương thức thông báo: công ty bảo hiểm nhân thọ gửi cho đại lýmột bản thông báo thể hiện các khảon phí đã đến hạn thanh toán, đại lý cónghĩa vụ thanh toán các khoản phí đến hạn hoặc chứng minh cho công ty bảohiểm rằng thông báo của họ có sai sót

Thu phí trên cơ sở tài khoản vãng lai: đại lý một bản báo cáo định kỳthể hiện khoản phí đến hạn thanh toán cho công ty bảo hiểm, sau khi đã khấutrừ các khoản hoa hồng , đại lý sẽ gửi phí cho công ty bảo hiểm Trong hợp

Trang 29

đồng đai lý quy định thời gian thường là 1 tháng, đại lý phải nép bản báo cáođịnh kỳ.

Cho dù thực hiện theo phương thức nào đi chăng nữa thì đại lý cũngphải thanh toán phí thu được của khách hàng cho công ty bảo hiểm

- Giải quyết khiếu nại

Tất cả đại lý khai thác bảo hiểm nhân thọ đều có thể tham gia trong mộtchõng mực nhất định vào việc giải quyết khiếu nại phát sinh từ đơn bảo hiểm

do họ bán ra Vì đại lý là người trực tiếp thay mặt cho khách hàng để liên hệvới công ty nên thông thường có việc gì xảy ra, người đầu tiên mà họ tìm đến

là đại lý Việc công ty bảo hiểm cho phép đại lý có chuyên môn vào công tácgiải quyết khiếu nại có thể mang lại nhiều lợi Ých Vì họ tiếp xúc với kháchhàng nên nắm được tâm tư nguyện vọng của họ, cũng như nắm được tâm lýcủa họ Bên cạnh đó, công ty có thêm một đội ngò giải quyết khiếu nại, đểgiải quyết nhanh chóng kịp thời, giúp cho việc khuyếch trương hình ảnh củacông ty Tuy nhiên, trong công việc này đòi hỏi phải tìm cho được những đại

lý có trình độ, tư cách đạo đức nghề nghiệp tốt

- Tư vấn:

Đại lý có thể được gọi là cán bộ tư vấn, ở đây là tư vấn về tài chính chokhách hàng Họ có thể nhận được thù lao từ dịch vụ tư vấn ậ nước ngoài, cóthê phí tư vấn là nguồn thu nhập chính của họ

- Các dịch vụ khác

Đại lý khai thác có thể cung cấp các dịch vụ khác cho khách hàng,chẳng hạn như đối tượng bảo hiểm có rủi ro thay đổi thì cán bộ tư vấn có thểkhuyên họ chuyển đổi hợp đồng khác cho phù hợp Ngoài ra, họ còn có thểgiải đáp thắc mắc của khách hàng

3 Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của đại lý.

3.1 Nhiệm vụ.

Trong hoạt động của công ty bảo hiểm nhân thọ thì hoạt động của đại

lý được coi là quan trọng nhất Vì sản phẩm của công ty đến được với công

Trang 30

chúng cũng chính là đại lý, giúp cho khách hàng hiểu về bảo hiểm nhân thọcũng chính là đại lý, kết quả hoạt động tốt cũng do đại lý, hoạt động của họlàm tăng doanh số bán, tăng khả năng duy trì hợp đồng Đồng thời họ cũng làngười trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, do đó họ có thể tư vấn cho bộ phậnmarketing phát triển cho phù hợp với nhu cầu của thị trường.

Trong quá trình khai thác, Luật kinh doanh bảo hiểm quy định rõ:

Giải thích rõ quyền lợi và nghĩa vụ của họ khi tham gia bảo hiểm nhân thọ vàthuyết phục họ tham gia bảo hiểm nhân thọ

- Hướng dẫn người tham gia kê khai đầy đủ, trung thực Giấy yêu cầubảo hiểm

- Trên cơ sở các thông tin trong Giấy yêu cầu bảo hiểm kiểm tra tìnhhình thực tế sức khoẻ và khả năng tài chính của người tham gia Tiến hànhđánh giá rủi ro ban đầu, ký xác nhận Giấy yêu cầu bảo hiểm và nép Giấy yêucầu bảo hiểm kịp thời cho công ty

- Thu phí bảo hiểm đầu tiên sau khi thực hiện đầy đủ quy trình khaithác do công ty quy định

- Chuyển hợp đồng bảo hiểm đã được ký kết tới tận tay người tham giabảo hiểm

- Sau khi đưa hợp đồng tận tay khách hàng, đại lý vẫn tiếp tục chămsóc khách hàng, như hỏi thăm nhân dịp ma chay, hiếu hỉ, ngày sinh nhật

- Chuyển đến tay khách hàng những thông tin về tình hình hợp đồng,tình hình hoạt động của công ty Đồng thời giải đáp thắc mắc của khách hàng.Tạo điều kiện thuận lợi cho công ty tiếp xúc với người tham gia và ngườiđược bảo hiểm

- Sau khi thu phí bảo hiểm phải nép tiền và hoá đơn thu phí cho côngty

- Quản lý hoá đơn thu phí bảo hiểm và chịu trách nhiệm bồi thường vậtchất do hậu quả của việc mất hoá đơn thu phí bảo hiểm

- Giữ bí mật những thông tin của công ty và khách hàng

Trang 31

- Tham gia đầy đủ các buổi tập huấn và sinh hoạt để nâng cao trình độnghiệp vụ do công ty tổ chức.

- Tham gia tích cực vào các hoạt động của công ty, kiến nghị đề xuấtvới công ty những khiếm khuyết và những yếu tố cần bổ sung, sửa đổi củasản phẩm

- Thực hiện các chế độ báo cáo theo quy định của công ty

3.2 Trách nhiệm và quyền hạn của đại lý.

Trách nhiệm:

- Tuyệt đối tuân thủ các quy định về quy trình khai thác và đánh giá rủi

ro bảo hiểm của công ty Hoàn thành khối lượng công việc đã cam kết tronghợp đồng đại lý bảo hiểm nhân thọ

- Tham gia vào các buổi sinh hoạt của phòng khai thác, tổ đại lý vàthực hiện việc báo cáo công việc cho tổ trưởng đại lý và trưởng phòng khaithác khu vực theo quy định của công ty

- Khi thay đổi địa chỉ cư trú phải thông báo cho công ty biết địa chỉ cụthể, khi nghỉ việc phải báo cáo và xin phép công ty

- Phải ký quỹ công ty một số tiền nhất định theo quy định của công ty

Số tiền này sẽ được công ty hoàn lại sau khi hoàn thành xong việc thanh toán

và công ty được phép khấu trừ những khoản mà đại lý nợ công ty

- Trong trường hợp huỷ bỏ hợp đồng đại lý, đại lý phải hoàn tất việclập báo cáo chi tiết, nép báo cáo và nép phí đã thu từ hợp đồng bảo hiểm domình quản lý và tiến hành bàn giao lại cho công ty theo quy định, sau đó mớiđược thanh toán theo hợp đồng

- Không được tự ý tiến hành giải quyết những công việc đã được liệt kêdưới đây:

+ Chấp nhận rủi ro khi chưa có ý kiến của công ty

+ Thay mặt công ty ký kết, sửa đổi hay huỷ bỏ các hợp đồng bảo hiểmnhân thọ

+ Kéo dài thời gian đóng phí cho người tham gia bảo hiểm

Trang 32

+ Tuyên bố hứa hẹn bất cứ điều gì trái với quy định của công ty.

+ Nhân danh công ty phát hành các biên lai khác với hoá đơn của công

- Được hưởng các chế độ, chinh sách đãi ngộ khác do công ty quy định

- Được bổ nhiệm giữ các chức vụ lãnh đạo trong hệ thống quản lý đại

lý của công ty

Chương II đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng và kết quả kinh doanh của bvnt

Năm 1987,tổng công ty BHVN đã tổ chức nghiên cứu đề tài “BHNT vàoviệt vận dụng thực tế Việt Nam.Đề tài này đã tổng hợp những lý thuyết cơbản về BHNT,trong tình hình kinh tế xã hội những năm 80.Tuy nhiên trongthời gian này,chúng ta chưa lạm phát cao và không ổn định ,và đại đa số bộphận dân cư thu nhập Do dó việc triển khai BHNT là điều chưa thể,bởi họ

Trang 33

chưa cú khả năng tớch luỹ cao,mụi trường đầu tư chưa phỏt triển,chưa đủnhững tiờu chuẩn phỏp lý để BHNT cú điều kiệu tốt nhất để phỏt triển

Năm 1996,sau thời gian tỡm hiểu nghiờn cứu Bộ Tài Chớnh và tổng cụng

ty BHVN nhận thấy đó đến lỳc phải đưa BHNT vào thị trường Việt ,để phầnnào đỏp ứng nhu cầu chớnh đỏng của người dõn.Ngày 20/3/1996,Bộ Tài Chớnh

đó can quyết định số 281/QĐCT cho phộp triển khai BHNT và đếnngày22/6/1996 Bụ Tài Chớnh đó ký quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB chophộp thành lập cụng ty BHNT Hà Nội trực thuộc tổng cụng ty BHVN là đơn

vị đầu tiờn triển khai BHNT tại Việt Nam

Theo điều 2 của quyết định 568/TC/QD/TCCB thỡ đõy là doanh nghiệpthành viờn hoạch toỏn phụ thuộc vào Bảo Việt, cú nhiệm vụ kinh doanh bảohiểm, tỏi bảo hiểm đối với cỏc nghiệp vụ BHNT đầu tư vốn theo qui định củaphỏp luật và phõn của cụng ty

Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 01/08/1996 cụng ty BHNT Hà Nội chớnhthức đi vào hoạt động, can số vốn phỏp định là 20 tỷ và cú trụ sở đặt tại HàNội Đõy là lần đầu tiờn kinh doanh loại hỡnh bảo hiểm này tạo bước ngoặttrong nghành bảo hiểm Việt Nam Cho đến nay thị trường này khụng ngừnglớn mạnh Cụng ty khẳng định hướng đi đỳng đắn trong sự nghiệp xõy dựng

và phỏt triển đất nước

Cho đến nay cụng ty đó hoạt động được gần 7 năm Trong 7 năm ấy cụng

ty đó vượt lờn khú khăn để khăng định vị trớ ngày hụm nay.Hiện nay cụng tyBHNT Hà Nội là đơn vị dẫn đầu trong cả về doanh thu và thị phần Doanh thunăm 2002 đạt khoảng 179 tỷ VNĐ chiếm 10% trong hệ thống doanh thu củaBảo Việt

2 Cơ cấu tổ chức của cụng ty.

33

Ban giám đốc

Phòng tài chính kế toán

Phòng phát hành hợp đồng

Phòng quản lý

đại lý

Phòng dịch vụ khách hàng

Phòng marketing

Phòng

tổng

hợp

Phòng tin học

Các phòng khai thác bảo hiểm nhân thọ khu vực(22 phòng)

Tổ đại lý

Trang 34

3 Chức năng.

+ Phòng tổng hợp

Phòng này có nhiệm vụ về sản phẩm, cách phát triển về sản phẩm, tiếpđón, lễ tân đối với những người đến liên hệ công tác ở công ty Ngoài raphòng này còn có chức năng đối nội, đối ngoại

+ Phòng marketing: Nghiên cứu thị trường, đưa ra những sản phẩm đápứng nhu cầu thị trường, thông qua việc nghiên cứu thị trường, thực hiện chiếndịch quảng cáo chào hàng nâng cao hình ảnh của công ty, so sánh sản phẩmcông ty khác, từ đó rót ra ưu điểm và nhược điểm sản phẩm công ty mình

+ Phòng phát hành hợp đồng: Sau khi cán bộ khai thác hướng dẫnkhách hàng kê khai giấy yêu cầu Phòng tiến hành đánh giá rủi ro đưa ra

Trang 35

quyết dịnh chấp nhận bảo hiểm hay không Sau đó nếu chấp nhận mới pháthành hợp đồng Ngoài ra có nhiệm vụ rất quan trọng xác minh chi trả cácquyền lợi bảo hiểm có sự kiện bảo hiểm xảy ra.

+ Phòng dịch vụ khách hàng: Chuyên quản lý hợp đồng, giả quyếtkhiếu nại của khách hàng, đảm bảo quyền lợi cho người tham gia, đáp ứng đềnghị của khách hàng như: nép phí,thay đổi địa chỉ liên hệ, giải quyết quyềnlợi bảo hiểm, chăm sóc khách hàng các dịp lễ tết, trước và sau khi ký hợpđồng

+ Phòng tài chính kế toán: Nhiệm vụ thu chi

Thu phí nép của khách hàng

Chi hoa hồng

Chi quản lý

Các khoản chi khác

+ Phòng tin học: Dữ liệu thông tin, xử lý thông tin

II.Thực tế tuyển dụng đại lý tại công tyBHNT Hà Nội.

1 Sù cần thiết

Khai thác là khâu quan trọng và quyết định đối với hoạt động kinhdoanh bảo hiểm, BHNT cũng như BH phi nhân thọ, họ là người trực tiếp bắcgiữa người sản xuất và người tiêu dụng Do đó khâu phân phối tỏ ra đặc biệtquan trọng,trong loại hình kinh doanh dịch vụ này đại lý khai thác nào cũng

có nhiệm vụ như nhau Song việc thành công hay thất bại phụ thuộc vào khảnăng thực hiện công việc của mỗi người, vào sự sắp đặt, lòng quyết tâm củamỗi người, phảI biết nắm bắt tâm lý của khách hàng cũng như sự nhanh nhạycủa họ Như vậy để thành công trong công việc phải cómột phẩm chất tốt,một kiến thức nhất định Điều quan trọng cần phải biết kiến thức về kinh tế,cũng như xã hội nói chung Để lùa chọn được con người như vậy điều đầutiên vô cùng quan trọng là phải qua tuyển dụng

Trang 36

2 Kế hoạch tuyển dụng

Hoạch định chính sách nhân sự là một tiến trình triển khai và thực hiệncác kế hoạch, chương trình nhằm đảm bảo rằng cơ quan có đúng số lượng,chất lượng, đúng lúc, đúng chỗ

Các bước hoạch định chính sách tuyển dụng:

Bước 1: Đề ra nhu cầu

Nhìn chung khi lập chính sách về nhân sự chúng ta phải đề ra được nhucầu về nguồn nhân lực công ty, điều này dùa vào chỉ tiêu kế hoạch của công

ty Từ đó giúp ta nhận định được nhu cầu ngắn hạn và dài hạn, tuy nhiên mặtnày cũng có nhiều yếu tố tác động Theo quan điểm thực tế, suy xét kỹ về nhucầu sản phẩm dịch vụ của công ty là hết sức quan trọng Trong một tổ chứchoạt động kinh doanh thì doanh thu cần được dự báo đầu tiên, sau đó ngiêncứu khối lượng sản phẩm để có được doanh thu này Cuối cùng mới ước tínhlực lượng lao động cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh

Ngoài ra cần phải tính đến các yếu tố sau:

+ Sè người thay thế(số người bù đắp số người nghỉ việc, thôi việc) + Sè người mới vào nghề theo được nghề, tỷ lệ bao nhiêu

+ Chất lượng của người lao động

+ Xu hướng phát triển thị trường( gồm có xâm nhập sản phẩm mới haychiếm rộng thị trường)

+ Những thay đổi về khoa học kỹ thuật

Bước 2: Đề ra chính sách:

Trang 37

Sau khi phân tích và cân đối giữa nhu cầu và khả năng của công ty, bộphận tuyển dụng nhân sự sẽ đề ra một số chính sách và kế hoạch cụ thể sau:

Nguồn nhân lực được xem như là trung tâm của mọi sự hoạt động Do

đó cần phảI nắm vững nhu cầu thực tế để sắp xếp cho phù hợp, trên cơ sở đórót ra được nhu cầu thực tế của công ty, bộ phận nào thừa, bộ phận nào thiếu,

để giải quyết vấn đề này giám đốc nhân sự cần phải cân nhắc và tính toán chophù hợp với khả năng của công ty và thực tế sau đó trình giám đốc phê duyệt

Bước 3: Thực hiện kế hoạch:

Sau khi có chính sách và kế hoạch, nhà quản trị sẽ phối hợp trưởng các

bộ phận liên quan để thực hiện chug trình nhân sự theo nhu cầu có 2 trườnghợp sau:

.Thiếu nhân viên: trong trường hợp thiếu nhân viên,công ty tổ chứctuyển dụng theo đúng khả năng và tiềm năng của họ Việc có thể thực hiệnthông qua phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức tiếp nhận hồ sơ, sau đóxét duyệt hồ sơ , tiếp theo là thời gian thử việc

.Thừa nhân viên: trong trường hợp này có thể nhà tuyển dụng sử dụngcác biện pháp sau:

.Hạn chế tuyển nhân viên, cho về nghỉ hưu đối với người yếu kém,hoặc cho nghỉ kịp thời, hoặc chuyển sang công việc khác

Bước 4: Kiểm tra và đánh giá:

Trong quá trình thực hiện nhà quản trị phải xem xét, quá trình mìnhthực hiện Đây là một trong bốn chức năng quan trọng của nhà quản trị Xem

nó có phù hợp với phương hướng đề ra của công ty hay không Cần phải rót

ra những thành công và hạn chế, nhằm rót ra kinh nghiệm để thực hiện tốthơn

3 Yêu cầu đối với tuyển viên.

Những người có tiêu chuẩn sau, có thể được tuyển dụng làm đại lýBHNT:

Ngày đăng: 22/08/2015, 12:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2 Tình hình khai thác của đại lý phân theo cấp đào tạo - Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại bảo việt nhân thọ hà nội
Bảng 2 Tình hình khai thác của đại lý phân theo cấp đào tạo (Trang 42)
Bảng 3:  Các chỉ tiêu của công ty qua các năm 1998-2002 - Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại bảo việt nhân thọ hà nội
Bảng 3 Các chỉ tiêu của công ty qua các năm 1998-2002 (Trang 47)
Bảng 5: Tình hình chi phí của công ty qua một số năm được thể hiện - Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại bảo việt nhân thọ hà nội
Bảng 5 Tình hình chi phí của công ty qua một số năm được thể hiện (Trang 54)
Bảng 7:    Đánh giá hiệu quả kinh doanh và hiệu quả của đại  lý. - Đánh giá hiệu quả công tác tuyển dụng đại lý tại bảo việt nhân thọ hà nội
Bảng 7 Đánh giá hiệu quả kinh doanh và hiệu quả của đại lý (Trang 57)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w