1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Phân tích mô hình kinh doanh ngân hàng bằng business model canvas

69 2,6K 16
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhắc đến ngân hàng, chúng ta thường nghĩ đơn giản đây là một định chế tài chính kiếm tiền và tạo ra lợi nhuận bằng cách cho vay và huy động vốn. Tuy nhiên, để hiểu sâu xa hơn về ngân hàng, chúng ta vẫn có thể áp dụng business model canvas để hiểu thêm về mô hình hoạt động kinh doanh của một ngân hàng. Trong bài viết này, FGate sẽ áp dụng business model canvas cho trường hợp Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) để các bạn có thể ứng dụng business model canvas vào việc phân tích mô hình kinh doanh của một ngân hàng

Trang 2

Phân tích mô hình kinh doanh ngân hàng bằng business model canvas 1

Đánh giá chất lượng tài sản ngân hàng 11

Đánh giá chất lượng lợi nhuận & mức hấp dẫn về khả năng sinh lời của ngân hàng 23

Đánh giá chất lượng vốn ngân hàng 38

Đánh giá tính thanh khoản của ngân hàng 50

Đánh giá khả năng quản trị ngân hàng 61

Trang 3

Phân tích mô hình kinh doanh ngân hàng bằng business model canvas

Nhắc đến ngân hàng, chúng ta thường nghĩ đơn giản đây là một định chế tài chính kiếm tiền và tạo ra lợi nhuận bằng cách cho vay

và huy động vốn Tuy nhiên, để hiểu sâu xa hơn về ngân hàng, chúng ta vẫn có thể áp dụng business model canvas để hiểu thêm

về mô hình hoạt động kinh doanh của một ngân hàng Trong bài viết này, FGate sẽ áp dụng business model canvas cho trường hợp Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) để các bạn có thể ứng dụng business model canvas vào việc phân tích mô hình kinh doanh của một ngân hàng

Trang 4

1 Phân khúc khách hàng phục vụ

Thông thường, một ngân hàng có thể cho vay và huy động khách hàng cá nhân (mảng bán lẻ), cho vay các tổ chức doanh nghiệp (mảng bán sỉ), hoặc các định chế tài chính như thị trường liên ngân hàng

Nếu phân theo ngành, ngân hàng có thể cho vay, huy động vốn khách hàng ở các nhóm ngành khác nhau như nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, bất động sản, v.v Nếu phân theo khu vực địa lý, ngân hàng có thể cho vay, huy động ở các khu vực khác nhau như miền Bắc, Trung, hoặc miền Nam, cho vay ở nước ngoài v.v…

Cá nhân Khác

Trang 5

+ Về loại hình kinh doanh ngành nghề cho vay:

Có thể nhận thấy, danh mục khách hàng cho vay của Vietcombank khá đa dạng, trong đó tổng tỷ trọng cho vay khách hàng doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, cá nhân dao động trong khoảng từ 60-70% Về loại hình ngành nghề kinh doanh, khách hàng thuộc lĩnh vực chế xuất và thương mại, dịch vụ chiếm

tỷ trọng cho vay lớn nhất Tỷ trọng cho vay khách hàng chế xuất có xu hướng giảm, trong khi lĩnh vực thương mại và dịch vụ tăng (xấp xỉ trên dưới 60%), cho thấy đây

là thế manh cho vay của ngân hàng này Xu hướng cho vay đang có sự dịch chuyển dần từ nhà nước sang tư nhân, từ chế xuất sang thương mại và dịch vụ

Tình hình tăng trưởng cho vay trung bình giai đoạn 2009-2013 là 19,6%, khá hợp lý đối với một nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, đặc biệt, Vietcombank là một ngân hàng đầu ngành (tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở ngành ngân hàng các nước đang phát triển được coi là hợp lý nếu dao động ở mức từ 10-15%, còn ở các nước phát triển là 5-10%, trong trường hợp nền kinh tế tăng ở mức bình thường) Tăng trưởng cho vay khách hàng doanh nghiệp nhà nước giảm giảm, chỉ khoảng 8,8% trong giai đoạn trên, trong khi tăng trưởng cho vay khối khách hàng doanh nghiệp tư nhân và

cá nhân cao, ổn định, với con số tăng trưởng lần lượt là 31% và 28,3% Tăng trưởng cho vay doanh nghiệp chế xuất và thương mại, dịch vụ đều tăng cao, lần lượt là 16%

và 27,5%, bất chấp giai đoạn suy thoái kinh tế

Xây dựng Tiện ích: điện, gas, …

Chế biến Khai thác khoáng sản

Nông nghiệp, trồng rừng, đánh bắt Kho vận, viễn thông

Thương mại, dịch vụ Du lịch

Khác

Trang 6

*Phân khúc huy động tiền gửi của Vietcombank theo báo cáo tài chính của ngân

hàng này qua các năm như sau:

Có thể thấy 2 nguồn đóng góp chính vào lượng tiền gửi ở ngân hàng Vietcombank

qua các năm là khối khách hàng tổ chức kinh tế và cá nhân Tỷ trọng tiền gửi từ các

tổ chức kinh tế có xu hướng giảm dần trong giai đoạn 2008-2013, trong khi tỷ trọng

tiền gửi từ cá nhân lại tăng lên trong cùng kz Đến cuối năm 2013, lượng tiền gửi từ

2 nhóm khách hàng này khá cân bằng, tương ứng 48% và 52%

2 Quan hệ khách hàng

Trong báo cáo thường niên năm 2013 của ngân hàng Vietcombank, ngân hàng này

cho biết luôn tích cực triển khai các chương trình thúc đẩy bán hàng thông qua các

hình thức khuyến mại, thi đua bán hàng; hỗ trợ bán hàng đối với các chi nhánh;

thực hiện giải quyết yêu cầu của khách hàng, hướng dẫn và tư vấn khách hàng

thông qua Trung tâm dịch vụ khách hàng; triển khi đường dây nóng miễn phí phục

vụ khách hàng thẻ VIP Vietcombank đã ban hàng các chính sách phù hợp với từng

phân đoạn khách hàng, mở nhiều lớp đào tạo về kỹ năng chăm sóc khách hàng, tập

trung giữ khách hàng truyền thống và mở rộng khách hàng tiềm năng

Trang 7

Có thể thấy những vấn đề nêu trên đây là xu thế chung của quan hệ khách hàng ở các ngân hàng thương mại hiện nay Các ngân hàng hiện nay thu hút, xây dựng mối quan hệ với khách hàng bằng sự uy tín, cạnh tranh bằng các dịch vụ chăm sóc đi kèm

3 Kênh bán hàng

Theo báo cáo thường niên năm 2012 của Vietcombank, tính đến hết năm này, bên cạnh Hội sở chính, Vietcombank hiện có 1 Sở giao dịch và 78 chi nhánh, với 311 phòng giao dịch hoạt động tại 47/63 tỉnh thành phố trong cả nước Mạng lưới hoạt động phân bổ tập trung 26% ở vùng Đông Nam Bộ, 20,5% ở Đồng bằng sông Hồng, 20,5% ở vùng Nam Trung Bộ, 17,9% ở đồng bằng sông Cửu Long, 9,6% ở vùng Bắc Trung Bộ, 5,5% ở vùng Đông Bắc, chưa có nhi nhánh nào ở Tây Bắc Ngoài ra, Vietcombank còn có trên 1.700 ngân hàng đại lý tại hơn 120 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới

Bên cạnh đó, theo số liệu mới nhất, số máy ATM trên cả nước vào cuối năm 2013 của Vietcombank là 2.035, chiếm khoảng 14-15% tổng số máy ATM cả nước Còn số điểm POS đi kèm với các dịch vụ thẻ là 31.278, chiếm khoảng 30% điểm POS cả nước

Như vậy, kênh “bán hàng” vật chất của Vietcombank có thể nói đi đầu trong ngành ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, hiện diện ở khắp các vùng địa lý, không chỉ trong nước mà còn ở quốc tế Đặc thù của ngành ngân hàng là thu hút tiền gửi

và cho vay, do đó, hoạt động xây dựng các chi nhánh và phòng giao dịch được kiểm soát và có mặt ở những vùng kinh tế khác nhau là cần thiết Điều này có { nghĩa cả

về phía ngân hàng ở mặt phát triển kinh doanh, và cả về phía khách hàng khi sử dụng các dịch vụ đi kèm từ việc sử dụng dịch vụ ngân hàng như gửi, rút tiền, sử dụng thẻ, đi vay v.v…

4 Giá trị dịch vụ mang lại

Cũng như các ngân hàng thương mại khác, Vietcombank mang lại các giá trị cho khách hàng khi sử dụng dịch vụ của ngân hàng ở các mảng lớn sau:

+ Ngân hàng “bán sỉ” & doanh nghiệp: huy động, cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn, các hoạt động đi kèm (thanh toán, bảo lãnh, tài trợ thương mại, thuê tài chính, đại lý xuất nhập khẩu, thư tín dụng v.v…)

+ Ngân hàng “bán lẻ” & tiêu dùng: huy động và cho vay khách hàng cá nhân

và các hộ kinh doanh gia đình vừa và nhỏ, phát hành thẻ

Trang 8

+ Ngân quỹ: quản lý thanh khoản tài sản-nợ cho ngân hàng; mua bán các loại tài sản: các giấy tờ có giá trên thị trường tiền tệ, thị trường trái phiếu (chính phủ,

doanh nghiệp) và ngoại hối

+ Quản lý tài sản: chủ yếu quản lý tài sản tự doanh

Trong 4 mảng nói trên, Vietcombank có thế mạnh về nghiệp vụ ngân hàng “bán sỉ”

và cả “bán lẻ” Đặc biệt, xu hướng chuyển dịch sang mảng ngân hàng bán lẻ đang

được ngân hàng này chú trọng đẩy mạnh phát triển Nghiệp vụ ngân quỹ và quản lý

tài sản đóng góp vào việc đa dạng hóa dịch vụ cho ngân hàng, từ đó đa dạng hóa

doanh thu, tránh phụ thuộc vào một mảng bất kz nào Xu thế ở ngành ngân hàng

các nước phát triển, phần giá trị dịch vụ mang lại từ ngân quỹ và quản lý tài sản có

thể vượt trội hai mảng truyền thống là ngân hàng bán sỉ và bán lẻ, tuy nhiên, cuộc

khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 cho thấy giá trị bền vững nhất vẫn nằm ở

hoạt động kinh doanh lõi truyền thống của ngân hàng là huy động và cho vay, từ

nhu cầu cụ thể mà phân thành mảng bán sỉ và bán lẻ nói trên

5 Các nguồn doanh thu

Thu nhập lãi ròng 3,695,245 6,498,666 8,195,264 12,421,680 10,954,093 10,792,500

Thu nhập ròng không phải lãi vay, trong đó: 1,799,922 2,723,264 3,335,554 2,449,091 4,154,404 4,710,121

Thu từ dịch vụ thanh toán ròng 214,425 413,996 645,619 587,462 499,566 602,170 Thu từ dịch vụ ngân quỹ ròng 31,339 4,176 96,243 109,734 109,271 117,502 Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh ròng 44,202 97,233 154,831 174,162 168,846 230,883 Thu từ nghiệp vụ tín thác và đại l{ ròng (2,192) 6,796 (4,768) 2,086 1,208 1,249 Thu từ dịch vụ khác ròng 180,283 402,138 523,321 636,289 609,708 659,130 Lãi/(lỗ) ròng từ kinh doanh ngoại hối 591,402 918,309 561,680 1,179,584 1,487,751 1,425,656 Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán thương mại 67,891 183,297 18,149 (5,896) 76,742 22,172 Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán đầu tư (83,583) 172,876 268,381 24,012 207,631 156,219 Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán giữ đến đáo hạn 544,970 396,437 492,026 1,002,574 468,583 561,804 Thu nhập ròng khác 211,185 128,006 580,072 (1,260,916) 525,098 933,336

Thu nhập hoạt động 5,495,167 9,221,930 11,530,818 14,870,771 15,108,497 15,502,621

Doanh thu của một ngân hàng đến từ hai nguồn chính: lãi ròng từ hoạt động cho

vay, sau khi trừ đi chi phí huy động vốn (lãi suất trả cho người gửi tiền), và thu nhập

từ hoạt động không phải cho vay, bao gồm các dịch vụ thanh toán, ngân quỹ, bảo

lãnh, đại lý xuất nhập khẩu, đầu tư chứng khoán các loại, ngoại hối v.v… Hoạt động

truyền thống cho vay và huy động vốn là nguồn thu chính của ngân hàng trước đây,

bên cạnh việc đẩy mạnh sang lĩnh vực phi truyền thống như kinh doanh ngoại hối,

bảo lãnh tín dụng, kinh doanh chứng khoán v.v… Cơ cấu doanh thu của

Vietcombank đều tăng trưởng ở thu nhập lãi ròng và thu nhập không phải từ lãi

ròng, trong đó cơ cấu thu nhập lãi ròng đến từ hoạt động cho vay, huy động vốn

vẫn chiếm tỷ trọng chính, trên 70% nguồn thu nhập qua các năm Nguồn thu không

Trang 9

phải lãi vay có xu hướng chiếm tỷ trọng thấp lại, dưới 30%, và nhà đầu tư vẫn thích

sự ổn định từ doanh thu lãi vay ròng so với nguồn thu không phải lãi vay, bởi tính biến động từ các hoạt động cụ thể trong mảng này như kinh doanh ngoại hối, chứng khoán Cơ cấu doanh thu của Vietcombank qua các năm khá thận trọng, thể hiện cụ thể ở tỷ trọng theo bảng sau:

Thu nhập ròng không phải lãi vay, trong đó: 33% 30% 29% 16% 27% 25%

Thu từ dịch vụ thanh toán ròng 3.9% 4.5% 5.6% 4.0% 3.3% 3.9%

Thu từ dịch vụ ngân quỹ ròng 0.6% 0.0% 0.8% 0.7% 0.7% 0.8%

Thu từ nghiệp vụ bảo lãnh ròng 0.8% 1.1% 1.3% 1.2% 1.1% 1.5%

Thu từ nghiệp vụ tín thác và đại l{ ròng 0.0% 0.1% 0.0% 0.0% 0.0% 0.0%

Thu từ dịch vụ khác ròng 3.3% 4.4% 4.5% 4.3% 4.0% 4.3%

Lãi/(lỗ) ròng từ kinh doanh ngoại hối 10.8% 10.0% 4.9% 7.9% 9.8% 1.0%

Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán thương mại 1.2% 2.0% 0.2% 0.0% 0.5% 0.1%

Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán đầu tư -1.5% 1.9% 2.3% 0.2% 1.4% 1.0%

Lãi/(lỗ) ròng từ chứng khoán giữ đến đáo hạn 9.9% 4.3% 4.3% 6.7% 3.1% 6.0%

+ Mở rộng mạng lưới giao dịch bán buôn và bán lẻ

+ Phát triển thương hiệu, xây dựng và duy trì mối quan hệ với các khách hàng

+ Phát triển hệ thống IT ngân hàng, khi xu hướng Internet Banking ngày càng trở nên phổ biến hiện nay và tiếp tục trong tương lai

+ Tham gia vào thị trường liên ngân hàng: mua bán các giấy tờ có giá, chứng khoán kinh doanh, đầu tư và giữ đến ngày đáo hạn

+ Tham gia nghiệp vụ ngoại hối

+ Quản lý tài sản vốn

+ Phát triển con người: chất lượng, nghiệp vụ nhân viên

+ Quản lý rủi ro thanh khoán, rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng v.v…

Tất cả các hoạt động nói trên đều quan trọng đến sự phát triển về lâu dài của bất kz một ngân hàng nào

Trang 10

7 Các tài sản chính

+ Về tài sản hữu hình: tổng tài sản của Vietcombank tính đến ngày 31/12/2013 là 467.459 tỷ đồng, trong đó tiền gửi của khách hàng là 330.306 tỷ đồng, thể hiện thông qua mạng lưới giao dịch, chi nhánh rộng khắp trên cả nước (xem thêm ở phần Kênh phân phối)

+ Về tài sản vô hình: Tài sản vô hình của Vietcombank còn nằm ở quy trình quản trị ngân hàng qua các hoạt động thường ngày và quản trị rủi ro Thương hiệu và độ uy tín trong quản l{ huy động và cho vay (thể hiện ở lượng tiền gửi tăng qua các năm – xem ở bảng dưới, trong khi tỷ lệ nợ xấu thấp) Điều này thể hiện khả năng và năng lực về mặt con người và lãnh đạo của ngân hàng Vietcombank đang sở hữu

Trang 11

8 Đối tác chính

Bên cạnh việc tham gia vào thị trường liên ngân hàng và xây dựng mạng lưới hơn 1.200 đại lý ở 120 quốc gia, đối tác cung cấp “đầu vào” cho khách hàng chính là ở lượng người gửi tiền dồi dào (khách hàng tổ chức kinh tế và cá nhân), các đối tác chính của Vietcombank còn nằm ở cổ đông cung cấp vốn cho hoạt động của ngân hàng, cụ thể:

cổ đông

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

(đại diện sở hữu vốn Nhà nước) 1,787,023,116 77.11% 1

Cổ đông chiến lược nước ngoài

Ngu n B o c o thường niên Vietcombank, 2013

Cổ đông chính – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đại diện sở hữu phần vốn nhà nước hiện nắm đến 77,11% tỷ lệ sở hữu Vietcombank, do đó, giúp cho ngân hàng này có lợi thế trên thị trường liên ngân hàng Tuy nhiên, việc nắm sở hữu chính bởi Ngân hàng Nhà nước cũng quyết định đến phương hướng hoạt động của ngân hàng, bởi

lẽ quyền lợi của nhà nước cần được đảm bảo đầu tiên Cổ đông chiến lược nước ngoài Mizuho Corporate Bank chiếm 15% tỷ lệ sở hữu Trong tương lai, nếu có sự chuyển biến cho phép tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài bằng cách bán cổ phần mà nhà nước sở hữu, chiến lược và hoạt động của Vietcombank có thể khác so với hiện tại

Trang 12

9 Cơ cấu chi phí

Thu nhập trước dự phòng cho vay 70% 62% 60% 62% 60% 60%

Thu nhập dành cho cổ đông thiểu

Thu nhập dành cho cổ đông 27% 42% 37% 28% 29% 28%

Theo báo cáo thu nhập theo tỷ trọng thu nhập hoạt động (common-size income statement) do FGate tổng hợp, cơ cấu chi phí của Vietcombank bao gồm chi phí nhân sự, chi phí liên quan đến tài sản, chi phí quản lý, chi phí khác và chi phí dự phòng cho vay (loan loss provision) 4 loại chi phí đầu tiên cấu thành tổng chi phí không phải chi phí lãi vay (chi phí lãi vay đã được trừ đi để ra thu nhập hoạt động, trong đó có thu nhập từ hoạt động cho vay) Tỷ trọng tổng chi phí không phải chi phí lãi vay khá ổn định từ năm 2009 đến năm 2013, sau khi đã tăng mạnh trong năm 2009 so với năm 2008 (do tăng mạnh chi phí nhân sự) Chi phí dự phòng cho vay khá biến động, tuy nhiên, từ năm 2011 đến nay, chi phí này nằm ở tầm 23% mỗi năm so với thu nhập hoạt dộng, tăng cao hơn so với các năm trước đó (2009-2010) Trên đây là 9 nhân tố cấu thành nên business model canvas của một ngân hàng, cụ thể là ngân hàng Vietcombank Các bạn có thể ứng dụng cách tiếp cận nói trên với các ngân hàng khác bất kz, khi đã biết cách thu thập các dữ liệu tài chính cần thiết

để tìm hiểu sơ lược về mô hình kinh doanh của một ngân hàng Trong các phần sau, FGate sẽ giới thiệu cách phân tích chi tiết và cụ thể hơn về tình hình tài chính ngân hàng qua mô hình CAMEL, tiếp tục với ví dụ Vietcombank, mời các bạn cùng theo dõi

Trang 13

Đánh giá chất lượng

tài sản ngân hàng

Trang 14

1 Vì sao phải đánh giá chất lượng tài sản ngân hàng

Tài sản của một ngân hàng được thể hiện trên bản cân đối kế toán, trong đó hai khoản mục: cho vay khách hàng, đi kèm với nợ xấu phát sinh ảnh hưởng rõ rệt nhất đến lợi nhuận của ngân hàng (do phải trích lập dự phòng nợ xấu) Khi lợi nhuận suy giảm, có vấn đề, bởi tính liên thông của hệ thống ngân hàng, việc cho vay, gửi tiền lẫn nhau giữa các ngân hàng sẽ gặp vấn đề, ảnh hưởng đến tài trợ vốn của ngân hàng Và tính chất tác động qua lại giữa chất lượng tài sản sẽ làm thanh khoản của ngân hàng yếu đi (do người gửi tiền, từ tổ chức kinh tế, định chế tài chính cho đến

cá nhân rút tiền hàng loạt), làm giảm vốn chủ sở hữu, thậm chí có thể âm vốn chủ

sở hữu (do phải trích lập nợ xấu vượt mức cho phép do cho vay không chú trọng đến chất lượng tín dụng), và có thể khiến một ngân hàng phá sản Do đó: Chất lượng tài sản quyết định nhiều đến yếu tố lợi nhuận, tài trợ vốn, thanh khoản của ngân hàng

Khi xem xét và đánh giá chất lượng tài sản của một ngân hàng, các khoản mục cần được quan tâm cụ thể là: cho vay khách hàng, tiền gửi các loại (ví dụ tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi ở các định chế tài chính), chứng khoán đầu tư, tài sản

cố định (thông thường tài sản cố định chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trên bảng cân đối

kế toán, trong khi tiền gửi, tài sản cho vay khách hàng chiếm cơ cấu lớn nhất, do đặc thù kinh doanh tiền tệ của ngân hàng) Ngoài ra, các khoản ngoại bảng cũng cần được quan tâm, bởi các ngân hàng có thể quá chú trọng đến các nghiệp vụ bảo lãnh như bảo lãnh thư tín dụng, bảo lãnh thanh toán v.v… làm ảnh hưởng đến chất lượng tài sản ngân hàng do gia tăng nghĩa vụ nợ tiềm ẩn phát sinh

2 Tài sản cho vay khách hàng, nợ xấu và các vấn đề liên quan

Khi cho vay khách hàng, trừ trường hợp khách hàng trả nợ đúng hạn cả vốn gốc và lãi vay, còn lại sẽ phát sinh các cách phân loại nợ vay khách hàng Theo chuẩn kế toán ngân hàng Việt Nam, nợ được phân loại thành 5 nhóm như sau:

+ Nhóm 1 - Nợ đủ tiêu chuẩn (Current debt): là nợ trong hạn, hoặc quá hạn dưới 10 ngày

+ Nhóm 2 – Nợ cần chú ý (Special-mentioned debt): là nợ quá hạn từ 10-30 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu

+ Nhóm 3 – Nợ dư i tiêu chuẩn (Sub-standard debt): là các khoản nợ quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 30 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Trang 15

+ Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ mất vốn (Doubtful debt): là các khoản nợ quá hạn

từ 90 ngày đến dưới 180 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 30 ngày đến dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ đã được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai

+ Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn (Bad debt): bao gồm các khoản nợ quá hạn từ 180 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ

90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn

Trong 5 nhóm nợ nói trên, 3 nhóm dưới cùng (Nợ nhóm 3, 4 và 5) được xếp vào nợ xấu ngân hàng (Non-performing loans – NPLs), và việc phân loại nợ sẽ buộc các ngân hàng đi kèm với việc trích lập dự phòng nợ xấu, từ đó ảnh hưởng lên chất lượng tài sản (khoản mục tài sản cho vay khách hàng) và lợi nhuận trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (do tăng chi phí dự phòng nợ xấu) Việc thay đổi phân loại nợ sẽ ảnh hưởng đến việc tăng/giảm chi phí dự phòng nợ xấu, do đó, người phân tích cần hiểu rõ cách phân loại nợ như nói trên, và cách ghi nhận chi phí dự phòng tương ứng đối với từng loại nợ xấu NPL Ở đây, chúng ta cần lưu { đến tính chủ quan trong việc ghi nhận nợ xấu, bởi các ngân hàng có thể đảo nợ, tái cơ cấu nợ

để thay đổi việc ghi nhận nợ xấu, từ đó thay đổi chi phí dự phòng tương ứng

Theo kế toán ngân hàng Việt Nam, các loại nợ được ghi nhận tỷ lệ dự phòng tương ứng như sau:

+ Nhóm 1 – Nợ đủ tiêu chuẩn (Current debt): 0%

+ Nhóm 2 – Nợ cần chú ý (Special-mentioned debt): 2%

+ Nhóm 3 – Nọ dưới tiêu chuẩn (Sub-standard debt): 25%

+ Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ mất vốn (Doubtful debt): 50%

+ Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn (Bad debt): 100%

Bên cạnh việc ghi nhận dự phòng cụ thể cho các nhóm nợ riêng nói trên, các tổ chức tài chính còn phải ghi nhận dự phòng chung, là các khoản tiền được trích lập

để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ

và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các

tổ chức tài chính khi chất lượng các khoản nợ suy giảm Tỷ lệ dự phòng chung là 0,75% dư nợ gốc của toàn bộ các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4

Trên bảng cân đối kế toán, khoản mục dự phòng nợ xấu (Loan loss reserve) là kết quả của việc tăng/giảm trích lập dự phòng trong mỗi kz kế toán, thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (Loan loss provision) Các thuật ngữ cần lưu { khác liên quan đến dự phòng và hoàn nhập dự phòng nợ xấu là gỡ bỏ nợ xấu (charge-off/write-off) – là khoản chấm dứt ghi nhận nợ cho vay khách hàng trước

Trang 16

đó do không thu hồi được (nợ loại 5) và khoản thu từ nợ xấu khó đòi (recoveries) –

là khoản thu lại bất thường từ nợ xấu đã gỡ bỏ khỏi bảng cân đối kế toán

Giả sử đầu kz, dự phòng nợ xấu trên bảng cân đối kế toán là 100 (Beginning loan loss reserve) Trong kz kế toán, doanh nghiệp trích lập thêm dự phòng nợ xấu là 5 đồng (Loan loss provision), nhưng gỡ bỏ nợ xấu là 3 đồng (write-off), đồng thời ghi nhận khoản thu từ nợ xấu đã gở bỏ khỏi bảng cân đối kế toán là 2 đồng Như vậy, khoản gỡ bỏ nợ xấu ghi nhận trong kz là 1 đồng (3 đồng – 2 đồng), và khoản này cùng 5 đồng trích lập thêm dự phòng nợ xấu trong kz hình thành 6 đồng để di chuyển vào mục trích lập dự phòng nợ xấu (loan loss reserve) trên bảng cân đối kế toán là 106 đồng, trong khi chỉ 5 đồng dự phòng nợ xấu (loan loss provision) thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đối với các khoản lãi vay dồn tích (accrual interest), ngân hàng có thể ghi nhận theo

2 phương pháp, hoặc ghi nhận nhưng ở một tài khoản riêng trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, hoặc ghi nhận nhưng trích lập thêm dự phòng cho phần này trong dự phòng nợ xấu trong kz báo cáo trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

Đối với nợ xấu, ngân hàng có thể có các cách xử l{ như sau:

+ Gỡ bỏ nợ xấu ra khỏi trực tiếp bảng cân đối kế toán (write-off/ charge-off) + Tịch biên tài sản (foreclosure)

+ Tái cơ cấu nợ xấu (workout/ restructuring) bằng cách đảo nợ, giãn nợ + Bán nợ xấu cho công ty thu hồi nợ, gọi là bad bank Ở Việt Nam hiện nay

có Công ty Mua bán nợ xấu VAMC Ở các quốc gia, trước đây cũng đã từng tồn tại các công ty thu hồi nợ xấu này như Nhật Bản, Thụy Sỹ…

Một vấn đề đặt ra là tại sao ở một số ngân hàng thương mại, các khoản nợ xấu NPLs lại vượt quá mức cho phép? Điều này chỉ có thể lý giải bằng nguyên nhân ngân hàng quản lý tín dụng yếu kém, cho vay vượt khả năng trả nợ của khách hàng, hoặc ngân hàng không thể thoát khỏi chu kz tín dụng của nền kinh tế, khiến việc tăng trưởng cho vay quá nóng

Nguyên tắc đối với tăng trưởng tín dụng ở các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam và thế giới như sau:

+ Tăng trưởng âm: do cú sốc kinh tế, kinh tế suy thoái

+ Tăng trưởng dương, bé hơn 5%: ở nền kinh tế đã phát triển, hoặc giai đoạn yếu kém trong chu kz tín dụng ở các nền kinh tế đang phát triển + Tăng trưởng từ 5-10%: tốt ở các nền kinh tế đã phát triển

+ Tăng trưởng từ 10-15%: tích cực ở một nền kinh tế bình thường

+ Tăng trưởng từ 20-25% trở lên: tăng trưởng quá nóng, có vấn đề

Với trường hợp ngân hàng Vietcombank, tăng trưởng tín dụng chung giai đoạn 2008-2013 là 19,6%, thuộc mức cao Tăng trưởng theo loại hình doanh nghiệp

Trang 17

chứng kiến sự ổn định của khối công ty trách nhiệm hữu hạn, và tăng trưởng cao, trên dưới 30%/năm cho khách hàng cá nhân (chủ yếu là kinh doanh hộ gia đình), phù hợp với xu hướng của nền kinh tế Về loại ngành cho vay, cho thấy thế mạnh cho vay của Vietcombank ở lĩnh vực thương mại, dịch vụ, chế xuất, du lịch

Tăng trưởng tín dụng theo loại hình DN

Doanh nghiệp nhà nước 8.8% 6.3% 8.9% -8.9% 5.0% 32.6%

Công ty trách nhiệm hữu hạn 31.0% 39.4% 49.4% 17.0% 26.5% 22.4%

Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 8.8% 19.2% -15.2% 32.3% 3.1% 4.5%

Hợp tác xã, công ty tư nhân 13.0% 68.5% 5.2% -32.2% 21.4% 2.2%

Nông nghiệp, trồng rừng, thủy sản 25.9% -19.4% 6.5% 18.1% 94.9% 29.5%

Kho vận & viễn thông 8.3% 40.1% 16.8% -3.0% 5.0% -17.6%

Du lịch 20.7% 7.0% 30.5% 36.9% 10.9% 18.5%

Khác 34.2% -22.4% 162.9% 17.3% 27.7% -14.5%

Một vấn đề khác FGate cũng muốn lưu { đến các bạn đó chính là tỷ lệ nợ xấu

mức bao nhiêu là hợp lý? Ở đây, tỷ lệ nợ xấu được tính bằng cách lấy tổng dư nợ

nhóm 3, 4, 5 đem chia cho tổng cho vay khách hàng (từ nợ nhóm 1 đến nợ nhóm 5),

và nguyên tắc để xác định tỷ lệ nợ xấu hợp l{ hay không được thể hiện ở bảng dưới đây:

Trang 18

Tỷ lệ nợ xấu Thị trư ng phát tri n Thị trư ng mới nổi

so với toàn ngành, khi có những thời điểm, các số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy tỷ lệ nợ xấu của ngành đã từng ở mức trên 8% (và có những báo cáo độc lập cho rằng con số này thậm chí có thể lên đến mức trên dưới 15%) Nếu nhìn từ những gì được báo cáo từ phía ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu tuy biến động, nhưng luôn ở dưới mức 5% là một con số cực kz tốt đối với Vietcombank, nhưng ở đây cũng cần phải lưu { rằng, trước qu{ 2 năm 2010, tỷ lệ nợ nhóm 2 trên tổng dư nợ đều ở mức dưới 5%, nhưng sau thời điểm này, nợ nhóm 2 trên tổng dự nợ đã tăng lên đột biến trên mức 10%, tính trung bình cho toàn giai đoạn từ qu{ 2 năm 2010 đến hết quý 2 năm 2013, và chỉ mới giảm xuống mức còn tầm 7-8% trong qu{ 3, qu{ 4 năm 2013 Nếu phân loại một phần nợ nhóm 2 này có thể rơi vào nợ nhóm 3 do thủ thuật báo cáo nợ xấu của ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank có thể có những thời điểm

ở trên mức 10%, tức là có vấn đề Điều này có thể lý giải một phần là do chu kz tín dụng của nền kinh tế Việt Nam, khiến tỷ lệ nợ nhóm 2 tăng cao như trong giai đoạn báo cáo nói trên Tuy nhiên, ngân hàng này đã tăng trích lập dự phòng trong thời gian gần đây, khiến tỷ lệ nợ xấu hiện đang thấp trở lại

Ngu n: FGate tính toán từ các báo cáo tài chính theo quý của Vietcombank

Trang 19

Nếu lấy thước đo tỷ lệ dự phòng nợ xấu trên tổng nợ xấu (NPL Coverage ratio),

bằng cách đem tổng dự phòng nợ xấu đã trích lập trên bảng cân đối kế toán chia cho tổng nợ xấu, nguyên tắc ghi nhận như sau:

25-50% Vùng nguy hiểm Vùng nguy hiểm

<25% Không chấp nhận được Không chấp nhận được

thì tỷ lệ dự phòng nợ xấu trên tổng dư nợ của Vietcombank dao động từ mức 80% trở lên trong giai đoạn năm 2008-2013, và có những thời điểm cao trên 100% như trong các năm 2009-2011 theo báo cáo của ngân hàng này Nếu nhìn từ số liệu báo cáo, có thể thấy Vietcombank đã trích lập dự phòng đầy đủ cho số liệu báo cáo nợ xấu khách hàng cho vay Nếu xem xét tỷ lệ nợ nhóm 2 bất thường từ qu{ 2 năm

2010 đến hết qu{ 2 năm 2013, trên tổng dư nợ tương ứng các kz, thì tỷ lệ dự phòng

nợ xấu trên tổng dư nợ có thể rơi vào vùng nguy hiểm trong một số năm Tuy nhiên,

dự báo tình hình kinh tế tăng trưởng trở lại, lãi suất cho vay hạ thấp sẽ là điều kiện cần để đưa tỷ lệ nợ xấu giảm do khách hàng tăng khả năng trả nợ, từ đó khiến tỷ lệ trích lập dự phòng nợ xấu trên tổng nợ xấu sẽ giảm trong thời gian tới, ở mức ổn đối với một ngân hàng như Vietcombank Một điểm cần lưu { đối với người phân tích là chúng ta cần chú { đến các kz báo cáo kế toán, mà ở đó ngân hàng tăng giảm bất thường các khoản trích lập dự phòng Nếu tình trạng này diễn ra thường xuyên, đây có thể là một dấu hiệu cho thấy việc đánh giá tín dụng cho vay của ngân hàng

và ban quản trị có vấn đề

Một cách khác để đánh giá nợ xấu và việc trích lập dự phòng có đầy đủ hay không,

có khả năng hoạt động nếu các khoản cho vay không thể thu hồi lại được là dùng tỷ

s Debt Bank Ratio Tỷ số này được tính toán bằng cách lấy tổng của dự phòng nợ

xấu trên bảng cân đối kế toán và vốn chủ sở hữu ngân hàng, đem chia cho tổng nợ xấu Tỷ lệ này tối thiểu phải bằng 1 thì ngân hàng mới có khả năng hấp thu được nợ xấu trong các tình huống tiêu cực

Theo các dữ liệu tài chính từ Vietcombank, tỷ lệ debt bank ratio của ngân hàng này luôn cao vượt trội so với mức 1 cho giai đoạn 2008-2013 Hiện tại, năm 2013, tỷ lệ này là 8,5, sau khi đã tăng mạnh lên mức 8,1 trong năm 2012

Khi đánh giá khoản mục tài sản cho vay khách hàng, chúng ta cũng nên chú { đến

danh mục cho vay của ngân hàng Danh mục cho vay có thể phân loại theo thời hạn

Trang 20

cho vay (Maturity/ Tenor), hoặc phân theo các loại hình khách hàng và nhóm ngành

Nếu phân theo thời hạn vay, có thể phân ra làm 3 hạn mức:

+ Cho vay ngắn hạn: nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm

+ Cho vay trung hạn: từ 1 đến 5 năm

+ Cho vay dài hạn: lớn hơn 5 năm

Nếu tỷ trọng cho vay trung hạn và dài hạn trên tổng dư nợ lớn hơn nhiều so với ngành, hoặc so với chính dữ liệu quá khứ của chính ngân hàng đó, vấn đề đặt ra có thể ngân hàng đang quá tích cực cho vay thiếu bền vững, rủi ro tín dụng tăng cao, bởi bản chất hoạt động của ngân hàng là huy động vốn trong ngắn hạn từ khách hàng gửi tiền để đem cho vay dài hạn, làm phát sinh rủi ro thanh khoản cho ngân hàng

Với trường hợp Vietcombank, tỷ trọng từng nhóm thời hạn cho vay của ngân hàng này qua các năm như sau:

Cho vay ngắn hạn 53% 52% 54% 59% 62% 64%

Cho vay trung hạn 12% 13% 12% 11% 10% 11%

Cho vay dài hạn 35% 35% 35% 30% 28% 25%

Tỷ trọng cho vay khách hàng phân loại theo thời hạn cho vay

của Vietcombank qua c c năm

Trang 21

Danh mục cho vay khách hàng của Vietcombank chú trọng đến cho vay ngắn hạn, và

tỷ lệ cho vay trung hạn duy trì ổn định trong thời kz 2008-2013, trong khi tỷ lệ cho vay dài hạn có xu hướng giảm, nhường chỗ cho việc gia tăng cho vay ngắn hạn trong cùng thời kz Đây là một dấu hiệu tích cực

2008A 2009A 2010A 2011A 2012A 2013A

Cho vay theo loại hình doanh nghiệp

(%)

Công ty trách nhiệm hữu hạn 14% 16% 19% 18% 20% 22%

Công ty có vốn đầu tư nước ngoài 9% 8% 6% 6% 6% 5%

Hợp tác xã, công ty tư nhân 3% 4% 4% 2% 2% 2%

Nông nghiệp, trồng rừng, thủy sản 2% 1% 1% 1% 2% 2%

Kho vận & Viễn thông 7% 7% 7% 6% 5% 4%

Riêng về cho vay theo ngành, có thể thấy các ngành chế biến, thương mại, dịch vụ

có tỷ trọng lớn nhất trong danh mục cho vay của Vietcombank, chiếm ở mức trên dưới 60%, cho thấy đây có thể là thế mạnh ngành nghề cho vay của ngân hàng

Trang 22

Dù đánh giá danh mục cho vay của ngân hàng ở quan điểm thời hạn vay hay phân theo loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, nguyên tắc là cần xem xét cẩn thận liệu ngân hàng có đang quá tập trung cho vay ở một nhóm, đối tượng cụ thể nào hay không, bởi khi có sự tập trung, không đa dạng cho vay, rủi ro tín dụng có thể tồn tại, ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng Một ngân hàng đa dạng cho vay là ngân hàng không quá tập trung vào:

+ Các ngành dễ bị tác động bởi chu kz kinh tế, như bất động sản

+ Một/vài khu vực địa lý, bởi sự phụ thuộc vào rủi ro ngoại tệ nếu cho vay nước ngoài nhiều, hoặc các vùng có rủi ro kinh tế lớn

+ Cho vay với hạn mức lớn trong tổng dư nợ cho vay

+ Một/vài khách hàng duy nhất

3 Đánh giá các khoản mục tài sản khác

Để đánh giá nhanh các khoản mục tài sản khác trên bảng cân đối kế toán, FGate sử dụng bảng cân đối kế toán theo tỷ trọng tổng tài sản cho các khoản mục khác (lấy giá trị khoản mục tài sản tương ứng chia cho tổng tài sản để ra tỷ trọng) Ở bảng trên, các khoản mục chiếm tỷ trọng nổi bật là tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước, tiền gửi/Cho vay ở các tổ chức tài chính khác, cho vay khách hàng và chứng khoán đầu

tư Tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản của ngân hàng rất thấp, bởi đặc thù của ngân hàng là kinh doanh “hàng hóa” tiền tệ, không phải tập trung phần lớn tài sản vào tài sản cố định để sản xuất hàng hóa vật chất như các công ty sản xuất Sau khi

đã xem xét kĩ khoản mục cho vay khách hàng ở mục 2, từ bảng cân đối kế toán theo

tỷ trọng, chúng ta có thể thấy tỷ trọng của khoản mục cho vay khách hàng luôn chiếm ở mức từ 50-60% tổng tài sản của Vietcombank cho giai đoạn từ quý 4 2008 đến qu{ 4 năm 2012 Điều này càng khẳng định lý do vì sao FGate muốn các bạn tìm

Cho vay khách hàng Tiền gửi ở tổ chức tài chính khác

Chứng khoán đầu tư Tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước

Khác

Trang 23

hiểu và đánh giá kỹ về khoản mục này khi đánh giá chất lượng tài sản của một ngân hàng

Đi qua các khoản mục tài sản khác, trước tiên là Tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước

Trong tài sản này, có một lượng tiền gửi là theo quy định của Ngân hàng Nhà nước tương ứng với quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu của ngân hàng, nhằm bảo đảm hoạt động chung cho toàn hệ thống ngân hàng được bảo đảm, mà các ngân hàng thương mại như Vietcombank phải tuân thủ Lượng tiền gửi có thể cao hay thấp tùy thời điểm kinh tế vĩ mô biến động như thế nào, ví dụ: khi lạm phát cao, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu tăng tỷ lệ tiền gửi của các ngân hàng thương mại vào Ngân hàng Nhà nước để kiềm chế lạm phát Chính vì vậy, tỷ lệ này biến động nhiều trên bảng cân đối kế toán, phản ánh phần nào thực tế những gì đang diễn ra trong nền kinh tế và chính sách điều hành vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước Vietcombank cũng không là một trường hợp ngoại lệ

Bản chất của ngân hàng là kinh doanh tiền: huy động vốn với giá rẻ để cho vay với giá cao, thể hiện ở sự chênh lệch giữa lãi suất huy động (chi phí đầu vào) và lãi suất cho vay (doanh thu) Trừ trường hợp do Ngân hàng Nhà nước quy định, các ngân hàng thương mại sẽ hạn chế gửi tiền ở Ngân hàng Nhà nước, bởi lãi suất thấp, và tiền thay vì gửi ở đây sẽ chảy vào các kênh khác, nhằm tìm kiếm lợi nhuận cao hơn như gửi tiền ở các định chế tài chính khác, hoặc cho vay các định chế này, hoặc cho vay khách hàng, hoặc đem đi mua bán chứng khoán để đầu tư, nhằm sinh lời cao nhất Chính vì thế, chúng ta sẽ có thể thấy được mối quan hệ đánh đổi giữa việc tăng giảm tỷ trọng tài sản phân bổ vào các khoản mục tương ứng này, tùy theo diễn biến kinh tế, thị trường vĩ mô Có những thời điểm tỷ lệ tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước giảm, trong khi tiền gửi/ cho vay ở các tổ chức tài chính lại tăng, hoặc cho vay khách hàng tăng lên, hoặc chứng khoán đầu tư tăng, và ngược lại Nhìn chung, tỷ trọng tiền gửi ở Ngân hàng Nhà nước chưa bao giờ chiếm trên 20% tổng tài sản Vietcombank, và tỷ lệ tiền gửi/cho vay ở các tổ chức tài chính khác không quá 30%, chứng khoán đầu tư ròng là không quá 20%, còn cho vay khách hàng luôn duy trì ổn định ở mức 50-60% đối với Vietcombank

Đi sâu chi tiết hơn, trong khoản mục tiền gửi/cho vay ở các tổ chức tài chính khác, tiền gửi luôn chiếm tỷ trọng áp đảo, đánh đổi với cho vay ở các tổ chức tài chính khác trên thị trường liên ngân hàng Ví dụ, thời kz năm 2011, tỷ trọng tiền gửi ở các

tổ chức tài chính giảm mạnh, nhường chỗ cho vay ở các tổ chức tài chính có tỷ trọng tăng lên bởi diễn biến lãi suất năm này phức tạp, các ngân hàng sẵn sàng huy động và trả lãi suất cao trên thị trường liên ngân hàng do khát vốn Trừ trường hợp

đó, tiền gửi ở các tổ chức tài chính vẫn an toàn hơn cho vay, bởi rủi ro thấp hơn và linh hoạt hơn để phân bổ vốn đi kinh doanh ở các kênh khác như cho khách hàng vay hay đầu tư chứng khoán

Trang 24

Trong khoản mục chứng khoán đầu tư, chúng ta thử đánh giá chất lượng đầu tư vào các loại tài sản chứng khoán khác nhau của Vietcombank qua các thời kz ở bảng dưới đây:

vĩ mô của chính phủ bằng kênh phát hành trái phiếu hấp dẫn, giải thích vì sao các ngân hàng thương mại như Vietcombank tìm cách đầu tư vào kênh này, vốn an toàn, lại cho lãi suất cao để tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời có tính thanh khoản cao Ngoài ra, người phân tích cũng cần để { đến các khoản ngoại bảng (off-balance sheet items), bởi chúng không phải báo cáo trực tiếp và thuyết minh trong báo cáo thuyết minh tài chính của ngân hàng theo quy định hiện nay, nhưng chúng có thể là rủi ro tiềm tàng ảnh hưởng đến chất lượng tài sản của ngân hàng và làm phát sinh các vấn đề liên quan như lợi nhuận bị ảnh hưởng nếu việc ghi nhận tác động của các khoản ngoại bảng là có Rủi ro khủng hoảng một phần phát sinh từ các khoản ngoại bảng trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 ở các ngân hàng lớn trên thế giới,

và đó là lí do chính đáng để xem xét chi tiết hơn sự biến động thất thường (nếu có) của chúng Các khoản ngoại bảng có thể gồm: các khoản bảo lãnh cho vay, bảo lãnh thanh toán, các hợp đồng giao dịch ngoại tệ, lãi suất, v.v…

Đối với Vietcombank, các khoản ngoại bảng có tỷ trọng trên tổng tài sản đang giảm dần về mức 11% trong 2 năm liên tiếp 2012 và 2013, so với mức 16-18% trong quá khứ ở các năm 2008-2010, và chiếm tỷ trọng lớn nhất vẫn là các khoản bảo lãnh tín dụng và bảo lãnh khác

Khi có báo cáo các khoản khác, dù là bất kz chữ “khác” nào, chúng ta cũng cần tìm

lý do vì sao các khoản khác đó lớn cả về mặt tuyệt đối lẫn tương đối, và đột biến, nhưng lại không được báo cáo chi tiết và thuyết minh, mà trong đó các khoản ngoại bảng là một vấn đề cần lưu {

Trang 25

Đánh giá chất lượng lợi nhuận & mức hấp dẫn về khả năng sinh lời

của ngân hàng

Trang 26

1 Vì sao phải đánh giá chất lượng lợi nhuận của ngân hàng?

Ở một công ty sản xuất, việc đánh giá chất lượng lợi nhuận luôn là một đòi hỏi, tùy theo tính chất công việc như đánh giá khả năng sinh lời và tạo ra lợi nhuận để cho vay, đầu tư, quản trị doanh nghiệp Tương tự, các ngân hàng cũng cần được đánh giá chất lượng lợi nhuận Bên cạnh những điểm tương đồng như những lo ngại về các chính sách kế toán của ngân hàng có thể bóp méo bản chất của lợi nhuận, việc đánh giá khả năng sinh lời và chất lượng của ngân hàng còn cần thiết với chính ngân hàng, bởi khi chất lượng lợi nhuận và sinh lời có vấn đề sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thông qua việc tài trợ vốn (chi phí đi vay trên thị trường liên ngân hàng có thể cao hơn, hoặc khách hàng đòi hỏi lãi suất huy động gửi tiền cao hơn do lo ngại rủi ro nếu ngân hàng có vấn đề với lợi nhuận so với các ngân hàng khác) Ngoài ra, chất lượng lợi nhuận có vấn đề còn ảnh hưởng đến việc định giá ngân hàng trong đầu tư, giống như các công ty sản xuất thông thường khác Còn đối với nhà đầu tư, đánh giá chất lượng lợi nhuận của ngân hàng giúp việc phân tích tài chính và đầu tư sáng suốt hơn Trên thị trường liên ngân hàng, các định chế tài chính đánh giá chất lượng lợi nhuận của ngân hàng, cũng như các yếu tố khác để xem xét có nên cho vay , đi vay ở ngân hàng khác hay không, v.v…

Chất lượng lợi nhuận và khả năng sinh lời của ngân hàng có thể bị ảnh hưởng bởi những lý do phổ biến sau: cho vay ồ ạt, không chú trọng đến khả năng trả nợ và lãi vay của khách hàng làm các khoản trích lập chi phí dự phòng nợ xấu tăng, làm lợi nhuận giảm, ngân hàng có khả năng mất vốn; hoặc ngân hàng đầu tư chứng khoán quá nhiều để giao dịch, đầu tư trong bối cảnh thị trường biến động, hoặc việc đầu

tư không hiệu quả; hoặc đẩy mạnh giao dịch ngoại hối kém hiệu quả làm ngân hàng

lỗ nặng; hoặc có thể ngân hàng không kiểm soát hiệu quả chi phí hoạt động cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận và khả năng sinh lời của ngân hàng Đây là những vấn đề chính mà một nhà phân tích tài chính ngân hàng cần quan tâm, bởi tính đánh đổi giữa chất lượng lợi nhuận và chất lượng tài sản của ngân hàng Dưới đây là bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của Vietcombank mà FGate

đã sắp xếp lại một số khoản mục làm cơ sở minh họa cho ví dụ về việc phân tích chất lượng lợi nhuận ngân hàng để các bạn dễ hình dung:

Trang 27

Vietcombank – áo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

ơn vị triệu đ ng

2008A 2009A 2010A 2011A 2012A 2013A Thu nhập ròng t lãi vay 3,695,245 6,498,666 8,195,264 12,421,680 10,954,093 10,792,500 Thu nhập ròng không t lãi vay 1,043,767 2,263,695 2,263,456 2,707,433 3,160,723 3,214,891

Thu r ng từ dịch vụ 468,057 989,213 1,415,246 1,509,733 1,388,599 1,610,934

Thu r ng giao dịch ngoại hối 591,402 918,309 561,680 1,179,584 1,487,751 1,425,656

Thu r ng từ chứng kho n giao dịch 67,891 183,297 18,149 (5,896) 76,742 22,172

Thu r ng từ chứng kho n đầu tư (83,583) 172,876 268,381 24,012 207,631 156,129

Lợi ích cổ đông thiểu số 8,721 23,398 21,248 20,521 23,500 19,534

ợi nhuận ròng dành cho cổ đông 1,497,382 3,921,355 4,281,794 4,196,811 4,403,706 4,351,740

Vietcombank – áo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo tỷ trọng

ơn vị %

Thu nhập ròng t lãi vay 67.25% 69.98% 71.07% 83.53% 72.50% 69.62% Thu nhập ròng không t lãi vay 18.99% 24.38% 19.63% 18.21% 20.92% 20.74%

Thu r ng giao dịch ngoại hối 10.76% 9.89% 4.87% 7.93% 9.85% 9.20%

Thu r ng từ chứng kho n giao dịch 1.24% 1.97% 0.16% -0.04% 0.51% 0.14%

Thu r ng từ chứng kho n đầu tư -1.52% 1.86% 2.33% 0.16% 1.37% 1.01%

Lợi ích cổ đông thiểu số 0.16% 0.25% 0.18% 0.14% 0.16% 0.13%

ợi nhuận ròng dành cho cổ đông 27.25% 42.23% 37.13% 28.22% 29.15% 28.07%

Trang 28

2 Đánh giá tăng trưởng lợi nhuận và chi phí

Vietcombank – áo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

ơn vị triệu đ ng

Thu r ng từ chứng kho n giao

Lợi ích cổ đông thiểu số 168% -9% -3% 15% -17%

ợi nhuận ròng dành cho cổ

Tình hình tăng trưởng lợi nhuận và chi phí giai đoạn 2008-2013 của Vietcombank

Điều đầu tiên cần quan tâm khi đánh giá chất lượng lợi nhuận là xem xét tình hình tăng trưởng lợi nhuận và chi phí của một ngân hàng ở một thời kz nào đó để xem xét sự thay đổi của chính bản thân ngân hàng ở các khoản này, song song với việc

so sánh với các ngân hàng trong ngành Đánh giá tăng trưởng cần chú { đến:

+ Tăng trưởng thu ròng từ lãi vay

+ Tăng trưởng thu ròng không phải từ lãi vay (dịch vụ, giao dịch ngoại hối, chứng khoán các loại v.v…)

+ Tăng trưởng chi phí hoạt động

+ Tăng trưởng dự phòng nợ xấu

Trường hợp của Vietcombank, ngân hàng có tăng trưởng (kép) thu nhập ròng t lãi vay giai đoạn 2008-2013 là 24%, tuy nhiên có dấu hiệu chững lại trong năm 2012 và

2013 do khó khăn từ sự tăng trưởng thấp của nền kinh tế Việt Nam, làm ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng của toàn ngành

Trang 29

Tăng trưởng thu nhập ròng không phải t lãi vay cùng thời kz là 25% Đối với các khoản chi tiết trong thu nhập ròng không phải từ lãi vay, thu từ dịch vụ và giao dịch ngoại hối chiếm tỷ trọng nhiều nhất (thường xấp xỉ trên dưới 90%, bởi dây là 2 thế mạnh của Vietcombank, nhất là ở mảng thanh toán quốc tế và giao dịch ngoại hối),

do đó, cần xem xét sự biến động ở các khoản thu này Nhìn chung, thu ròng từ dịch

vụ và thu ròng từ giao dịch ngoại hối đều tăng trưởng lần lượt là 28% và 19% trong cùng kz So với các ngân hàng thương mại cùng hoạt động ở thị trường Việt Nam đã niêm yết, tăng trưởng từ thu ròng lãi vay và thu ròng không phải từ lãi vay cao hơn

so với ngân hàng có quy mô lớn về vốn và tài sản tương tự là Vietinbank (mã cổ phiếu: CTG), và ở mức giữa so với các ngân hàng khác như Ngân hàng Quân đội (MBB), Ngân hàng Á Châu (ACB), ngân hàng Sacombank (STB) hay Ngân hàng Eximbank (EIB)

Cần lưu { cơ cấu đóng góp vào thu nhập hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam vẫn chủ yếu từ nghiệp vụ ngân hàng truyền thống: huy động vốn và cho vay, và mảng này thể hiện ở thu nhập ròng từ lãi vay đã đóng góp từ 70% đến 90% trong tổng thu nhập hoạt động của một ngân hàng, tùy vào chiến lược của ngân hàng đó

Tỷ trọng thu nhập ròng từ lãi vay và không phải từ lãi vay ở các ngân hàng hoạt động tại các thị trường tài chính đã phát triển thông thường là ngang ngửa, và thu nhập ròng từ lãi vay có thể chiếm tỷ lệ trội hơn (ví dụ: 60%:40%), do các thị trường này đã phát triển, nhu cầu về các dịch vụ tài chính đa dạng, không còn sơ khai, chỉ dừng lại ở việc cho vay, huy động vốn như thị trường tài chính Việt Nam Ở các thị trường tài chính phát triển này, các nghiệp vụ ngân hàng rất phong phú, bao gồm các nghiệp vụ nâng cao như nghiệp vụ quản lý tài sản, ngân hàng đầu tư, dịch vụ thẻ các loại v.v… Do đặc thù thị trường ngân hàng Việt Nam, nhà phân tích vẫn nên chú trọng đến thu nhập ròng từ lãi vay đóng góp vào cơ cấu thu nhập hoạt động của một ngân hàng ở mảng này, tình hình tăng trưởng của nó Tỷ trọng thu nhập ròng

từ lãi vay đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank khá ổn định, duy trì ở mức 70% hằng năm, cho thấy ngân hàng này vẫn trung thành với hoạt động truyền thống cho vay và huy động vốn

Dù ở thị trường nào, thì thu nhập ròng không phải lãi vay thường biến động bất thường, khó dự báo, so với hoạt động truyền thống là huy động và cho vay Các khoản biến động tăng trưởng khác hoặc lãi/lỗ từ hoạt động đầu tư vào các công ty khác (liên doanh, liên kết) cũng cần được theo dõi lý do biến động và khả năng ảnh hưởng trong tương lai

Về chi phí hoạt động, bao gồm chi phí lao động, chi phí liên quan đến tài sản (khấu hao, mua sắm tài sản các loại), chi phí quản l{ v.v…, tăng trưởng giai đoạn 2008-

2013 về chi phí này đối với Vietcombank trung bình 31%, cao hơn so với các ngân hàng thương mại khác, gấp đôi tăng trưởng chi phí hoạt động ở Vietinbank Trong chi phí hoạt động của các ngân hàng, chi phí dành cho lao động (lương bổng nhân

Trang 30

viên) thường chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 50-60%), và chi phí này trong chi phí hoạt động của Vietcombank xấp xỉ trên dưới 50%, với tổng số nhân viên tăng lên từ 9.212 người năm 2008 lên 13.864 người năm 2013 (trung bình tăng xấp xỉ 9%/năm) Chi phí hoạt động, đặc biệt là chi phí lương dành cho nhân viên là một trong những khoản ngân hàng có thể linh hoạt để điều chỉnh biên lợi nhuận Trong thời kz tăng trưởng tín dụng nóng, ngân hàng tích cực tuyển dụng nhân viên, và chi phí này có thể tăng lên về con số tuyệt đối lẫn tương đối (so với thu nhập hoạt động), và ngân hàng cũng có thể dễ dàng giảm biên chế để duy trì chi phí nhân viên thấp trong thời

kz tăng trưởng tín dụng thấp như thời gian qua để làm đẹp và duy trì biên lợi nhuận Tuy tăng trưởng chi phí hoạt động của Vietcombank tăng cao trong kz, nhưng tỷ trọng chi phí hoạt động trên tổng thu nhập hoạt động hiện tại của Vietcombank vẫn thuộc vào thấp nhất ngành (chỉ cao hơn so với tỷ lệ tương ứng của MBB), trong khoảng xấp xỉ 40% Tỷ lệ này ở các ngân hàng khác thông thường dao động ở mức 50%-60% (cá biệt như ngân hàng ACB, tỷ lệ này lên đến trên 70% trong 2 năm 2012-2013, một phần lý giải do thu nhập hoạt động của ngân hàng này giảm mạnh, nhưng chi phí hoạt động không thể giảm theo với tốc độ tương ứng) Một loại chi phí khác đặc thù của ngành ngân hàng là chi phí dự phòng nợ xấu

trong kz thể hiện trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Đây là một trong những chi phí không phải tiền mặt, thể hiện sự chủ quan trong đánh giá của ngân hàng đối với hoạt động cho vay, ảnh hưởng trực tiếp đến báo cáo lợi nhuận của ngân hàng trong kz Việc tăng ghi nhận chi phí dự phòng nợ xấu thể hiện hoặc ngân hàng cho vay quá nhiều trong các kz kế toán trước đó, không đánh giá cẩn thận chất lượng khoản vay và khả năng trả nợ của khách hàng, làm tăng khả năng mất vốn của ngân hàng và buộc phải tăng trích lập dự phòng nợ xấu Trường hợp của Vietcombank, tăng trưởng trích lập dự phóng nợ xấu trong mỗi kz báo cáo (năm) kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2008-2013 xấp xỉ 12%, thấp hơn mức trung bình so với các ngân hàng khác như MBB (54%), ACB (40%), STB (42%)… Các ngân hàng đã bắt đầu tăng trích lập dự phòng nợ xấu ở các năm trở lại đây, tùy ngân hàng nào đã sớm hay muộn trong việc ghi nhận và ghi nhận đều đặn hay không trong thời kz này Tuy nhiên, do ảnh hưởng chung của tăng trưởng trì trệ trong nền kinh tế, các khoản vay có khả năng bị xếp loại vào nợ xấu nhiều hơn, và nếu xảy ra, buộc các ngân hàng phải trích lập dự phòng nợ xấu nhiều hơn, vì thế, các ngân hàng trích lập dự phòng nợ xấu thấp có thể phải tăng trích lập dự phòng nợ xấu cao và nhiều hơn trong thời gian tới, và các số liệu báo cáo lợi nhuận vì thế có thể bị ảnh hưởng và không còn “màu hồng” trong những năm tới như những báo cáo những năm trước đó Khả năng mất vốn của các ngân hàng có khả năng là đã xảy ra, chứ không phải đợi đến khi các ngân hàng trích lập dự phòng đầy đủ cho các khoản nợ xấu thì vốn mới mất đi ủi ro mất vốn lên hoạt động và thanh khoản của ngân hàng

sẽ được FGate bàn đến trong bài viết sau

Trang 31

Các khoản trích lập dự phòng nợ xấu trong kz còn đi vào khoản (dồn tích) dự phòng

nợ xấu trên bảng cân đối kế toán (Loan loss reserves, hay còn có tên gọi khác là Allowance for bad debts)

Tỷ lệ dự phòng nợ xấu tr n tổng dư nợ ở một ngân hàng

kz để hiểu rõ hơn bản chất tăng trưởng dự phòng nợ xấu, bởi hai khoản mục này ảnh hưởng với nhau Theo đó, tăng trưởng tín dụng của Vietcombank thấp nhất so với các ngân hàng được chọn ở bảng dưới đây, và tăng trưởng dự phòng nợ xấu cũng thấp hơn tương ứng, thể hiện sự thận trọng trong cho vay của Vietcombank ở giai đoạn 2008-2013 so với các ngân hàng khác Các ngân hàng kia cho vay tăng trưởng nóng hơn, và trích lập dự phòng cũng cao hơn nhiều

Tăng trưởng cho vay khách khàng

Trang 32

Tăng trưởng dự phòng nợ xấu

3 Dùng chỉ số ROE, ROA để đánh giá lợi nhuận ngân hàng

Suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE – Return on Equity) là chỉ số lợi nhuận, được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho bình quân vốn chủ sở hữu trong kz Suất sinh lời trên tài sản (ROA – Return on Asset) là chỉ số lợi nhuận cho biết lợi nhuận ròng công ty đạt được từ một đồng đầu tư vào tổng tài sản, tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng trong kz chia cho bình quân tổng tài sản trong kz

h số ợi nhuận trên tài sản ( ) i r ng

Trang 33

Chỉ số ROE = Lãi ròng

Trung bình tổng vốn chủ sở hữu=

Lãi ròng Trung bình tổng tài sản∗

Trung bình tổng tài sản Trung bình vốn chủ sở hữu

Ch số ROE, ROA trung bình của các ngành kinh tế Việt Nam - Ảnh: Vietnam report

Khi tính ROE, ROA, công thức tính đều có tử số giống nhau, tuy nhiên, vì mẫu số khác nhau nên kết quả cũng khác nhau Chỉ số ROA trong một số trường hợp sẽ được khuyến nghị sử dụng nhiều hơn là chỉ số ROE, bởi chỉ số này xem xét đến cơ cấu sử dụng vốn, giữa vốn chủ sở hữu và vay nợ Có những doanh nghiệp có chỉ số ROE cao (so với ngành), tuy nhiên, doanh nghiệp có thể dựa nhiều vào vay nợ, do

đó, hiệu quả sử dụng vốn không thật sự hiệu quả Nhà phân tích có thể áp dụng công thức đơn giản phân tích Dupont để tìm hiểu căn nguyên của bản chất ROE vì sao cao bằng cách tìm hiểu cơ cấu tài sản trên vốn chủ sở hữu, để thấy được tình hình sử dụng đòn bẩy (vay nợ) của doanh nghiệp:

Một lưu { khác là ở hầu hết các thị trường, chỉ số ROE nằm ở ngưỡng từ 10%-20%

là chấp nhận được Tuy nhiên, khi xem xét chung đến cùng một yếu tố lạm phát và lãi suất theo cùng một đồng nội tệ, ngưỡng này có thể thay đổi Ở thời kz kinh tế tăng trưởng, chỉ số ROE trung bình của tất cả các công ty trong cùng một thị trường

có thể cao đến 20%, và những thời điểm kinh tế suy thoái, ROE trung bình có thể giảm mạnh chỉ còn dưới 10% Do đó, OE, OA ở các thời kz kinh tế khác nhau sẽ khác nhau, mặc dù trong cùng một ngành Lấy ví dụ: theo World Bank, dù hệ thống tài chính Việt Nam đã trụ qua giai đoạn khủng hoảng toàn cầu, song các chỉ số lợi nhuận đang giảm đáng kể Tỷ lệ ROA (tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản) toàn hệ thống giảm từ 1,8% năm 2007 xuống còn 0,5% năm 2012

Hóa chất

Vận tải - Bán lẻ

Khoáng sản - xăng dầu

Thủy sản

Điện

ROE trung bình ROA trung bình

Trang 34

Đối với ngành ngân hàng, chỉ số ROE nằm ở ngưỡng:

+ Nhỏ hơn 10%: khả năng tạo lợi nhuận hiệu quả của ngân hàng đó kém + Từ 10%-20%: ngân hàng hoạt động cho lợi nhuận bình thường

+ Lớn hơn 20%: ngân hàng tạo ra lợi nhuận cao khi sử dụng vốn chủ sở hữu Cần lưu { vốn chủ sở hữu có thể được tính trên vốn chủ sở hữu đã bao gồm cả vốn chủ sở hữu phổ thông và vốn chủ sở hữu (cổ phần) ưu đãi, hoặc chỉ tính đến vốn chủ sở hữu phổ thông Nên lấy số bình quân vốn chủ sở hữu để thể hiện đúng hơn

về bản chất sử dụng vốn trong một kz báo cáo năm của ngân hàng Vốn chủ sở hữu còn có thể chỉ tính đến vốn chủ sở hữu hữu hình, sau khi đã loại các khoản tài sản

“vô hình” khác như lợi thế thương mại đến từ các thương vụ M&A ngân hàng, tài sản thuế thu nhập hoãn lại v.v…

iêng đối với chỉ số ROA, một ngân hàng lành mạnh thông thường chỉ có khả năng tạo ra chỉ số ROA nằm trong ngưỡng từ 1%-2%, và còn phụ thuộc vào các thị trường, quốc gia khác nhau Các yếu tố từ vĩ mô như lãi suất các loại (cho vay, huy động), luật pháp, cạnh tranh cũng đóng góp không nhỏ vào việc lý giải sự khác nhau của chỉ số ROA ở các thị trường khác nhau, mặc dù cùng hoạt động trong ngành ngân hàng

Cụ thể, chỉ số ROA của ngành ngân hàng nếu nằm ở ngưỡng:

+ Nhỏ hơn 0,5%: tạo lợi nhuận kém, thường chỉ các ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng vay nợ nhiều trong phần nợ trên bảng cân đối, hoặc trích lập dự phòng nhiều khi cho vay mới có ROA thấp như thế này

+ Từ 0.5%-1%: hầu hết các thị trường ngân hàng đều nằm ở nhóm này + Từ 1%-2%: lợi nhuận khỏe mạnh

+ Từ 2%-2,5%: lợi nhuận tốt, nhưng cần lưu { đến những mô hình bất thường trong hoạt động (do độc quyền ngân hàng), hoặc ngân hàng tham gia vào các nghiệp vụ cho lợi nhuận cao, đi kèm với rủi ro cao

+ Lớn hơn 2,5%: bất thường, cần thận trọng và xem xét kĩ bởi các hoạt động rủi ro của ngân hàng

Ngày đăng: 22/08/2015, 11:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  khuyến  mại,  thi  đua  bán  hàng;  hỗ  trợ  bán  hàng  đối  với  các  chi  nhánh; - Phân tích mô hình kinh doanh ngân hàng bằng business model canvas
nh thức khuyến mại, thi đua bán hàng; hỗ trợ bán hàng đối với các chi nhánh; (Trang 6)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w