Ở Việt Nam, trong thời gian qua, việc nghiên cứu về hoạt động thanh tra xây dựng và pháp luật về thanh tra xây dựng nhìn chung còn mới mẻ, chưa được quan tâm đầy đủ, do trên thực tế những công trình khoa học nghiên cứu hoạt động thanh tra xây dựng còn rất ít.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Xây dựng là ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, làm tiền đề cho việcxây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Trong những năm đổimới, ngành xây dựng đó hoàn thành nhiều công trình trọng điểm do Nhà nướcđầu tư xây dựng, cải tạo, như quốc lộ 1A; đường Hồ Chí Minh; Thủy điệnSơn La; Khu lọc dầu Dung Quất; các công trình phục vụ SEA Games 22;công trình Trung tâm Hội nghị quốc gia Những công trình nói trên cùng vớihàng trăm công trình khác đã làm thay đổi diện mạo đất nước, góp phần quantrọng bảo đảm cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống vật chất, tinhthần của toàn xã hội
Tuy nhiên, cùng với những thành tựu to lớn đã đạt được thì tình hình
vi phạm pháp luật trong đầu tư xây dựng xảy ra ngày càng nhiều, phươngthức thủ đoạn ngày càng tinh vi, gây thất thoát nghiêm trọng cho ngân sáchnhà nước; nhiều vụ tham nhòng lớn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, gâythiệt hại đặc biệt nghiêm trọng tài sản của Nhà nước đó bị phát hiện, xử lýnghiêm theo pháp luật (Ví dụ như: vụ xây dựng khu vui chơi giải trí Thủycung Thăng Long - Hà Nội; vụ Lã Thị Kim Oanh; vụ Công ty Dịch vụ kỹthuật dầu khí Vietsovpetro; vụ thi công xây dựng Kho cảng Thị Vải; vụRusalka - Nha Trang do Nguyễn Đức Chi cầm đầu ) Qua công tác kiểmtra, thanh tra, giám sát các dự án xây dựng lớn cũng cho thấy có nhiều dự án
vi phạm quy định về thẩm định dự án; vi phạm quy chế đấu thầu; thi côngsai thiết kế, sai chủng loại vật tư, thiết bị, không phê duyệt khối lượng phátsinh, vi phạm các quy định về trình tự thủ tục trong quản lý đầu tư xây dựng,
về quản lý chất lượng, nghiệm thu, thanh toán công trình; vi phạm về thiết
kế, khảo sát; vi phạm quy định trong giai đoạn đưa công trình vào khai thác,
sử dụng Hơn nữa, tiêu cực, tham nhòng trong đầu tư xây dựng cơ bản xảy ra
Trang 2ở hầu hết các khâu, từ lập dự án, khảo sát, thiết kế, đầu tư đến thi công, nghiệmthu, quyết toán công trình, diễn biến rất phức tạp và ngày càng nghiêm trọng.Công tác cấp phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng vẫn còn nhiều tồn tại,một số địa phương tự đặt thêm các thủ tục ngoài quy định, việc kiểm tra thựchiện xây dựng theo giấy phép và quản lý trật tự xây dựng còn bị buông lỏng,
xử lý chưa kịp thời, chưa nghiêm minh; tình trạng xây dưng sai phép, khôngphép vẫn diễn ra phức tạp và có chiều hướng gia tăng cả về số lượng và quy
mô xây dựng gây ảnh hưởng tới cảnh quan, môi trường đô thị, thậm chí đó xảy
ra các sự cố nghiêm trọng gây thiệt hại cả về người và của nhưng kết quả pháthiện, điều tra, xử lý của các cơ quan chức năng cònn thấp
Tình hình nêu trên do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó cónguyên nhân do tác động từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, sự yếu kémtrong quản lý kinh tế, sự bất cập, thiếu đồng bộ của hệ thống các quy địnhpháp luật về quản lý, kiểm tra, thanh tra, giám sát trong đầu tư xây dựng, vaitrò của cơ quan chủ quản trong việc tuân thủ pháp luật, năng lực quản lý yếukém và việc chấp hành kỷ cương, pháp luật của Nhà nước chưa nghiêm vàmột phần trách nhiệm, đạo đức nghề nghiệp của những người làm công tácthanh tra xây dựng
Để khắc phục tình trạng trên, việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tratrong lĩnh vực xây dựng là một yêu cầu rất cấp thiết và phải tiến tới đưa nhữngviệc này trở thành nề nếp thường xuyên Từ đó, việc nghiên cứu những vấn đề lýluận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về thanh tra xâydựng cú ý nghĩa cấp thiết cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về thanh tra nóichung và thanh tra xây dựng ở nước ta hiện nay Bởi vậy, việc nghiên cứu đề tài
"Hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng ở Việt Nam hiện nay" có ý nghĩa
lý luận, thực tiễn quan trọng đáp ứng yêu cầu bức xúc hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, trong thời gian qua, việc nghiên cứu về hoạt động thanhtra xây dựng và pháp luật về thanh tra xây dựng nhìn chung còn mới mẻ, chưa
Trang 3được quan tâm đầy đủ, do trên thực tế những công trình khoa học nghiên cứuhoạt động thanh tra xây dựng còn rất ít
Nghiên cứu các tài liệu hiện hành cho thấy, các công trình khoa họcnghiên cứu chủ yếu tập trung vào hai nhúm:
- Nhóm nghiên cứu về thanh tra và thanh tra chuyên ngành có một số
công trình tiêu biểu như: Luận văn tiến sĩ Luật học: “Những vấn đề pháp lý
cơ bản của việc đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra nhà nước Việt Nam”
của tác giả Phạm Tuấn Khải; Luận văn thạc sĩ Luật học: “Vai trò của Các cơ
quan thanh tra nhà nước trong giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Văn Kim (năm 2004); Đề tài khoa học cấp bộ: “Thực
trạng tổ chức và hoạt động thanh tra bộ, ngành, chuyên ngành ở nước ta những vấn đề đặt ra và giải pháp” của tác giả Phạm Văn Khanh năm 1997”;
-Đề tài khoa học "Xác định mức độ thất thoát trong đầu tư xây dựng" của Tổng
Hội xây dựng Việt Nam (năm 2005); “Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng cơ bản” của tác giả Lê Thế Tiệm
- Nhóm nghiên cứu về phát triển thanh tra, thanh tra xây dựng hiện naycòn rất ít công trình khoa học nghiên cứu Nhóm này có một số công trình
như: Thanh tra Nhà nước (2007): "Những nội dung cơ bản của Luật thanh tra"
- Sách hướng dẫn nghiệp vụ Nguyễn Ngọc Tản "Một số vấn đề hoàn thiện hệ
thống pháp luật về thanh tra” - Tạp chí Thanh tra số 1 - 2007
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phântích lý giải nhiều vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động thanh tra và thựctrạng của thanh tra và pháp luật về thanh tra nói chung Tuy nhiên, các côngtrình đó chưa đề cập cụ thể đến những vấn đề của hoạt động thanh tra chuyênngành trong lĩnh vực xây dựng vốn được coi là một trong những vấn đề bứcxúc của công tác thanh tra hiện nay Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kếtquả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu
Trang 4những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về thanh traxây dựng ở nước ta hiện nay để từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện phápluật và thanh tra xây dựng, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhànước trong lĩnh vực thanh tra xây dựng.
Mặc dù vậy, những công trình khoa học đó được công bố nêu trên là tàiliệu tham khảo có giá trị cho việc nghiên cứu và hoàn thiện đề tài của luận văn
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Thanh tra xây dựng không chỉ là hoạt động có tính chất chuyên môn,nghiệp vụ đơn thuần, mà còn mang ý nghĩa quan trọng trong quản lý nhànước về xây dựng và phát triển đô thị hiện nay Việc nghiên cứu toàn diện cơ
sở lý luận và thực tiễn của hoạt động thanh tra xây dựng là vấn đề phức tạp,liên quan đến nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước khác như về đất đai, môitrường, giao thông Chính vì vậy, luận văn tập trung làm rõ cơ sở lý luận vàthực tiễn về thanh tra xây dựng, làm sáng tỏ khái niệm, bản chất, đặc trưngcủa thanh tra xây dựng; khái niệm, đặc điểm pháp luật về thanh tra xây dựng,những yêu cầu đặt ra đối với hoàn thiện pháp luật thanh tra xây dựng; kiếnnghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng, nâng caohiệu quả của hoạt động thanh tra xây dựng Việc nghiên cứu luận văn căn cứvào thực tiễn tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng, đặc biệt là từ sau thời
kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay)
4 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
4.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở phân tích, làm rõ nhữngvấn đề lý luận và thực tiễn, pháp luật về thanh tra xây dựng, luận văn đưa ra cácgiải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng ở Việt Nam hiện nay
4.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ sau đây:
Trang 5- Nghiên cứu, làm rõ khái niệm, bản chất, đặc trưng; nguyên tắc, vai tròcủa thanh tra xây dựng; khái niệm, đặc điểm và nội dung của pháp luật thanh traxây dựng, tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện pháp luật thanh tra xây dựng.
- Đánh giá khái quát sự hình thành và phát triển của thanh tra xây dựng,thực trạng pháp luật về thanh tra xây dựng, thực tiễn tổ chức thực hiện phápluật về thanh tra xây dựng, làm rõ những vướng mắc, bất cập trong pháp luật
về thanh tra xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật thanh tra xây dựng
- Luận giải yêu cầu khách quan, quan điểm và giải pháp hoàn thiệnpháp luật thanh tra xây dựng ở Việt Nam hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn là học thuyết Mác-Lênin về Nhà nước vàpháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nướcpháp quyền, cải cách hành chính
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vậtbiện chứng của triết học Mác - Lênin với những phương pháp nghiên cứunhư: lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp; kết hợp với các phương phápnghiên cứu khác như: thống kê, so sánh, tổng kết thực tiễn
6 Những điểm mới của luận văn
Luận văn là cụng trình đầu tiên nghiên cứu tương đối toàn diện, hệthống về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật thanh tra xâydựng, vỡ vậy luận văn có một số điểm mới sau:
- Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thanh tra xây dựng;đưa ra khái niệm, chỉ rõ đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật về thanh traxây dựng và xác lập Các tiêu chớ hoàn thiện pháp luật thanh tra xây dựng
- Chỉ ra những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất cập của pháp luật vềthanh tra xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật về thanh tra xây dựng
Trang 6- Xác lập các quan điểm và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềthanh tra xây dựng trong thời gian tới.
7 Ýnghĩa của luận văn
- Các kết quả nghiên cứu của luận văn gúp phần làm phong phú thêm lýluận về thanh tra nói chung và thanh tra xây dựng nói riêng
- Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị cho các nhà hoạch định chínhsách, xây dựng pháp luật và những ai quan tâm đến nội dung nghiên cứu của
đề tài luận văn
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm có 3 chương, 8 tiết
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ Lí LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ THANH TRA XÂY DỰNG
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ VAI TRề CỦA THANH TRA XÂY DỰNG
1.1.1 Khỏi niệm, đặc điểm của thanh tra xây dựng
1.1.1.1 Khỏi niệm thanh tra xây dựng
Thanh tra, theo Đại từ điển tiếng Việt là điều tra, xem xét để làm rừ sựviệc Thanh tra cũng cú nghĩa là chỉ người làm nhiệm vụ thanh tra Người làmnhiệm vụ thanh tra phải điều tra, xem xét để làm rừ vụ việc
Theo Từ điển tiếng Việt, “Thanh tra là kiểm soát xem xét tại chỗ việclàm của địa phương, cơ quan, xớ nghiệp” Theo nghĩa này, Thanh tra bao hàm
cả nghĩa kiểm soát: xem xét và phát hiện ngăn chặn những gỡ trỏi với quyđịnh Thanh tra thường đi kèm với một chủ thể nhất định: người làm nhiệm
vụ thanh tra, đoàn thanh tra của Bộ và có quyền hạn, nhiệm vụ của chủ thểnhất định
Hoạt động thanh tra thường được tiến hành bởi các cơ quan chuyêntrách (điều này khác với kiểm tra do cơ quan tự tiến hành trong nội bộ) Cơquan thanh tra tiến hành xem xét, đánh giá sự việc một cách khách quan, đánhgiá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của nhà nước, tổchức và cá nhân Chính vì vậy, để đảm bảo sự công minh trong hoạt độngthanh tra, thanh tra cũng phải tuân thủ pháp luật, việc thanh tra phải đúngthẩm quyền, ra quyết định và kiến nghị thanh tra phải đúng quy định của phápluật, chịu trách nhiệm về quyết định thanh tra của mình, cú quyền bảo lưu vàbáo cáo cấp có thẩm quyền Tính độc lập tương đối của thanh tra được thểhiện thông qua những thẩm quyền, nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra
Trang 8Ở một góc độ khác, thanh tra được hiểu là chức năng của quản lý nhànước, là hoạt động kiểm tra, xem xét việc làm của các cơ quan, tổ chức, đơn
vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên trách theo mộttrình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm xác định tính đúng, sai của sựviệc, những các vi phạm để từ đó đưa ra những kiến nghị góp phần hoàn thiệnchính sách, pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, cácquyền và lợi ích hợp pháp của cỏ nhõn
Ngoài ra, thanh tra cũn được hiểu là hoạt động chuyên trách do bộ máythanh tra đảm nhiệm nhằm thực hiện việc kiểm tra, đánh giá, kết luận chínhthức về việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch của các cơquan, tổ chức, cá nhân trong quản lý hành chớnh nhà nước với mục đíchphòng ngừa, xử lý Các vi phạm pháp luật, bảo vệ lợi ớch của nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân, góp phần nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý hành chớnh nhà nước
Từ một số quan niệm trờn, cho thấy: Thanh tra là một loại hình đặc biệtcủa hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước, mục đích củathanh tra là nhằm phục vụ cho quản lý nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệuquả của quản lý nhà nước Chủ thể của thanh tra là các cơ quan quản lý nhànước, các cuộc thanh tra được tiến hành thông qua Đoàn thanh tra và Thanhtra viên Đối tượng thanh tra là những việc làm cụ thể được tiến hành theo cácquy định của pháp luật, thực hiện quyền, nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước,
Trang 9thể là nhà nước, có thể là chủ thể phi nhà nước như các đoàn thể, tổ chức.Kiểm tra được xem là hoạt động thường xuyên của từng cơ quan, tổ chứcbởi vỡ thụng qua kiểm tra, các cơ quan, tổ chức tự đánh giá về việc triểnkhai công việc của cơ quan mình như thế nào, kết quả ra sao, đó đáp ứngyêu cầu đặt ra hay chưa, có những khuyết điểm gỡ, cú những vấn đề gỡtrong nội bộ cũn cú bất cập, vướng mắc cần phải có sự điều chỉnh phù hợpbằng các biện pháp, chủ trương, phương hướng hợp lý trong thời gian tiếpsau để đạt được kết quả tốt hơn.
Kiểm tra cũn được hiểu là hoạt động của thủ trưởng đơn vị cấp trên đốivới các hoạt động của cơ quan, tổ chức cấp dưới thuộc quyền quản lý củamình nhằm đánh giá một cách tổng thể mọi hoạt động hay trong một lĩnh vực
cụ thể Qua kiểm tra, thủ trưởng đơn vị cấp trên có quyền áp dụng các biệnpháp cần thiết để chấn chỉnh, điều chỉnh những thiếu sót của các đơn vị thuộcquyền quản lý Chớnh vỡ vậy, kiểm tra là một hoạt động thường xuyên trongquá trình quản lý của một cơ quan, tổ chức Kiểm tra mang tính hoạt động nội
bộ, chỉ mang tính quyền lực nhà nước đối với các cơ quan nhà nước, nhất làđối với cơ quan quản lý nhà nước
Kiểm sỏt, theo Đại từ điển tiếng Việt là Các hoạt động kiểm tra vàgiám sát và là công tác điều tra tố tụng trong các vụ án theo pháp luật Chứcnăng kiểm sát thuộc về các cơ quan kiểm sát là Viện Kiểm sỏt nhõn dõn Cáccấp Kiểm sát là hoạt động đặc biệt của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp ởnước ta theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ pháp chế xó hội chủ nghĩa.Tuy nhiên, khi thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát, Viện Kiểm sát các cấpkhông có chức năng hành pháp
Theo Đại từ điển tiếng Việt thỡ “Giỏm sỏt là theo dừi, kiểm tra việcthực thi nhiệm vụ” Theo khỏi niệm này thỡ cú thể hiểu giỏm sỏt là sự theodừi, xem xột làm đúng hoặc sai những điều đó quy định của pháp luật hoặc
Trang 10có thể hiểu là theo dừi và kiểm tra xem cú thực hiện đúng những điều quyđịnh không.
Trong thực tế, giỏm sỏt cú thể hiểu theo các nghĩa khác nhau, nhưngnhỡn chung cú một số đặc điểm là giám sát luôn gắn với chủ thể nhất định: aigiỏm sỏt, giỏm sỏt ai, giỏm sỏt việc gỡ Do đó, giám sát là hoạt động củachủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống khác, cơ quan giámsát và cơ quan chịu sự giám sát không nằm trong một hệ thống phụ thuộcnhau và giám sát được tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, trên cơ sởcác quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát, đối tượng bị giám sát Trong hoạtđộng giám sát, cả chủ thể giỏm sỏt và chủ thể bị giỏm sỏt cũng như tính chất,nội dung hoạt động giám sát đều rất đa dạng: giám sát hoạt động của bộ máynhà nước, việc thực hiện giám sát của Ban thanh tra nhân dân, giám sát thiđấu thể thao, giám sát hoạt động tư pháp
Từ những khỏi niệm trờn cho thể thấy rằng Thanh tra, Kiểm tra, Kiểmsỏt và Giám sát là những khái niệm được sử dụng nhiều trong hoạt động quản
lý nói chung, quản lý nhà nước nói riêng, các hoạt động này vừa có nét tươngđồng, vừa có những đặc trưng riêng Giữa thanh tra và kiểm tra có một mảnggiao thoa về chủ thể, đó là nhà nước; Kiểm tra cũng là chức năng của nhànước, kiểm tra nếu theo nghĩa rộng thỡ bao hàm cả thanh tra, hay nói Cáchkhác: thanh tra là một loại hình đặc biệt của kiểm tra mà ở đó luôn luôn domột loại chủ thể là Nhà nước tiến hành và thực hiện quyền lực nhà nước Cáchoạt động, các thao tác nghiệp vụ trong các cuộc thanh tra chính là thực hiệnkiểm tra trong quy trình thanh tra, vớ dụ như kiểm tra sổ sách, kiểm tra hồ sơ,
so sánh đối chiếu các số liệu thu thập được trong quá trình thanh tra Phânbiệt thanh tra và kiểm tra ở đây chủ yếu dựa vào mục đích và phương pháp.Hoạt động thanh tra tác động lên đối tượng bị quản lý, kiểm tra là xem xột sựviệc xảy ra cú đúng với các quy tắc đó xác lập và những mệnh lệnh quản lý
Trang 11hay khụng Thanh tra và kiểm tra có mối quan hệ gần gũi, bổ sung cho nhau.Thực tế ở nước ta, khái niệm thanh tra, kiểm tra và giám sát chưa được phânbiệt rừ ràng, cụ thể trong khoa học pháp lý, trong pháp luật và trong khoa họcquản lý
Từ những phân tích nờu trờn, cú thể thấy: thanh tra, kiểm tra, kiểm sỏt
và giỏm sỏt là Các loại hoạt động trong quản lý nhà nước, là Các chứcnăng của quản lý nhà nước; mục đích của thanh tra, kiểm tra, giám sát làphục vụ quản lý nhà nước và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước;chủ thể của thanh tra, kiểm tra và giám sát thuộc về nhà nước, việc tổ chứccác hoạt động này thường do các cơ quan chuyên trách thực hiện; nội dungthanh tra, kiểm tra và giám sát chủ yếu là việc chấp hành chính sách, phápluật của nhà nước, việc thực hiện kế hoạch của đơn vị được nhà nước giao;việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, công chức nhà nước, riêng thanh tranhà nước cũn thực hiện việc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cỏo theo quyđịnh của pháp luật, góp phần chống tiêu cực, tham nhòng ở các cơ quan,đơn vị Về mục đích, các cơ quan thanh tra, kiểm tra và giám sát cùng cóchung mục đích và cùng thực hiện chức năng quản lý nhà nước Về đốitượng, do vị trí, thẩm quyền của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sátkhác nhau nên đối tượng cũng khác nhau Về phương thức thanh tra, kiểmtra, giám sát, do vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mỗi cơ quankhác nhau nên phương thức, hình thức hoạt động cũng khác nhau Như vậy,
có thể thấy thanh tra nhà nước giữ vị trớ trung tõm và cú vai trò cầu nốigiữa kiểm tra và giỏm sỏt Bởi vỡ, thanh tra là chức năng thiết yếu của cơquan quản lý nhà nước, hoạt động thanh tra gắn với hoạt động quản lý nhànước, do đó, đối tượng thanh tra rộng hơn, trực tiếp hơn so với đối tượngcủa từng chủ thể kiểm tra, giám sát
Hoạt động thanh tra của cơ quan thanh tra nhà nước hỗ trợ đắc lựccho hoạt động kiểm tra, giám sát (qua thanh tra nếu phát hiện có dấu hiệu
Trang 12vi phạm pháp luật thỡ chuyển hồ sơ cho các cơ quan có thẩm quyền xử lý
kỷ luật hoặc xử lý hình sự) Qua thanh tra, cơ quan thanh tra cũng nhậnđược thông tin phản hồi để đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra.Vai trò cầu nối, trung tõm của thanh tra cũn thể hiện mối quan hệ qua lạigiữa kiểm tra và thanh tra, giỏm sỏt, kiểm tra của nhõn dõn và Các tổ chức
xó hội phục vụ cho cụng tác thanh tra và ngược lại Thanh tra gắn với hệthống cơ quan hành chính nhà nước, vỡ thế thanh tra cú điều kiện phát hiện
vi phạm, phát hiện những bất hợp lý, thậm chí cả sơ hở, bất cập trongđường lối, chính sách, pháp luật một cách toàn diện, trực tiếp, cụ thể đểtrên cơ sở đó có những kiến nghị đổi mới
Hoạt động thanh tra thường xuyên diễn ra ngay trong quá trình tổchức, thực hiện Các nhiệm vụ quản lý cũng như thực hiện đường lối, chínhsách pháp luật Mặt khác, hoạt động của thanh tra nhà nước cũn thực hiện ởlĩnh vực chấp hành, điều hành trong hoạt động quản lý, đánh giá việc thựchiện đúng sai của đối tượng thanh tra trong việc chấp hành đường lối, chủtrương, chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện kế hoạch của đơn vị;phân tích và đánh giá đúng thực chất tổ chức, bộ máy, cán bộ, cơ sở vậtchất bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quản lý; xột giải quyết khiếu nại, tố cỏotheo thẩm quyền; tham mưu cho lónh đạo cùng cấp giải quyết khiếu nại, tốcáo theo quy định của pháp luật Do đó, có thể nói, thanh tra nhà nước baohàm cả hoạt động giám sát hành chính
Xột về vị trớ, vai trò, đặc điểm và nội dung của hoạt động thanh tratrong quản lý nhà nước, có thể thấy thanh tra là một trong ba khõu của chutrình quản lý nhà nước, là phương thức và nội dung quan trọng để nâng caohiệu quả quản lý nhà nước; là một trong những phương tiện phòng ngừa cúhiệu quả những vi phạm pháp luật và phòng chống tội phạm Hoạt độngcủa các cơ quan thanh tra trong thực thi nhiệm vụ của mình theo quy địnhcủa pháp luật góp phần đảm bảo việc tuân thủ pháp luật trong hoạt động
Trang 13quản lý nhà nước; phỏt huy dân chủ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợiích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức nhằm gúp phần vào cụng cuộcxây dựng và phát triển đất nước, cải cách hành chính nhà nước, nâng caophòng ngừa cú hiệu quả đấu tranh chống tham nhòng hiện nay Bởi vỡ,trong việc thực hiện nhiệm vụ của bất kỳ cơ quan quản lý nhà nước nào,trên bất kỳ lĩnh vực nào, với bất kỳ quy mô nào, các cơ quan quản lý nhànước đều phải thực hiện đồng thời cả ba cụng tác: Đề ra chiến lược, chủtrương, chính sách nhiệm vụ, kế hoạch trong phạm vi thẩm quyền quản lýcủa cơ quan mình; Tổ chức chỉ đạo thực hiện chủ trương, chính sách,nhiệm vụ, kế hoạch đó được xây dựng và được cấp có thẩm quyền phêduyệt; Tổ chức tiến hành thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện cácnhiệm vụ trên của các đối tượng quản lý thuộc quyền quản lý của mình.
Mục đích của thanh tra là đánh giá chính xác những mặt làm đúng,những mặt làm sai trong việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,pháp luật, kế hoạch của Nhà nước, phát hiện những đơn vị và cá nhân cóthành tích xuất sắc để biểu dương, khen thưởng, phát huy, phát hiện vàngăn ngừa những đơn vị và cá nhân mắc khuyết điểm, giúp đỡ sửa chữa vàkiên quyết xử lý nghiêm đối với những trường hợp cố tình vi phạm
Về mặt tổ chức, các cơ quan thanh tra của nước ta hiện nay nằmtrong cơ cấu của cơ quan hành pháp (Chính phủ), là bộ phận không thểthiếu của bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước và như Chủ tịch Hồ ChíMinh đó nói: Thanh tra là tai mắt của trên là bạn của dưới, cán bộ thanh tranhư cái gương cho người soi mặt, gương mờ thỡ khụng soi được Các tổchức thanh tra là công cụ đắc lực của Đảng, của chính quyền trong việcthanh tra, kiểm tra sự chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luậtcủa nhà nước cũng như việc thực hiện kế hoạch nhà nước giao cho đơn vị,cho nên các cấp uỷ Đảng và các cấp chính quyền cũng như Thủ trưởng của
Trang 14các ngành cần nhận thức đúng đắn vị trí của tổ chức thanh tra trong bộ máynhà nước và hoạt động thanh tra trong quá trình quản lý nhà nước.
Từ những phân tích trờn cho thấy: thanh tra là hoạt động kiểm tra,xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước, nhiệm vụ đượcgiao của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra
có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân
Do thanh tra luụn luôn gắn liền với hoạt động của các cơ quan quản
lý nhà nước và phục vụ cho quản lý nhà nước, là một trong ba khâu khôngthể thiếu được của chu trình quản lý nhà nước nên tuỳ vào mỗi lĩnh vực,hoạt động thanh tra có những yêu cầu, mục đích, nội dung hoạt động riêngphù hợp với từng lĩnh vực quản lý nhà nước Vỡ vậy, trong lĩnh vực xâydựng cú thể hiểu khỏi niệm: Thanh tra xây dựng là hoạt động thanh trachuyên ngành do các cơ quan và cỏ nhõn thanh tra xây dựng cú thẩm quyềntiến hành nhằm đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh các quy định pháp luậttrong lĩnh vực quản lý nhà nước về xây dựng, bảo vệ quyền và lợi ớch hợppháp của cơ quan, tổ chức và cỏ nhõn
1.1.1.2 Đặc điểm của thanh tra xây dựng
Là một loại hoạt động thanh tra có tính chuyên ngành, hoạt độngthanh tra xây dựng có một số đặc điểm cơ bản sau:
- Hoạt động thanh tra xây dựng được tiến hành trong phạm vi quản lýnhà nước về: xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc, quyhoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạtầng kỹ thuật đô thị theo quy định của pháp luật
- Hoạt động thanh tra xây dựng luôn gắn với hoạt động của cơ quanquản lý nhà nước và phục vụ cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng;
- Hoạt động thanh tra xây dựng do các cơ quan thanh tra chuyên ngànhxây dựng tiến hành, thực hiện quyền lực nhà nước trong các hoạt động thanh tra
Trang 15- Đối tượng của thanh tra xây dựng là Các tổ chức, cỏ nhõn thuộc thẩmquyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và Các tổchức, cỏ nhõn tham gia hoạt động xây dựng.
1.1.2 Nội dung và hình thức của thanh tra xây dựng
1.1.2.1 Nội dung của thanh tra xây dựng
Theo quy định của pháp luật hiện hành, nội dung của thanh tra xâydựng, bao gồm:
Thứ nhất, thanh tra hành chớnh Thực hiện Các nhiệm vụ thanh tra
hành chớnh, cơ quan thanh tra xây dựng được tiến hành thanh tra đối với tổchức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lýnhà nước cùng cấp trong việc chấp hành chính sách, pháp luật, nhiệm vụđược giao; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo các quyđịnh của Luật khiếu nại, tố cỏo
Thứ hai, thanh tra chuyờn ngành xây dựng Theo nội dung này, cơ
quan thanh tra xây dựng có thẩm quyền tiến hành thanh tra đối với tổ chức,
cá nhân trong việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước về hoạtđộng xây dựng Cụ thể là:
+ Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng côngtrình, tổng mức đầu tư;
+ Công tác giải phóng mặt bằng xây dựng; điều kiện khởi công xâydựng công trình;
+ Trình tự lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật - tổng dự toỏn,
dự toỏn cụng trình; cụng tác khảo sỏt xây dựng;
+ Công tác lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng;
+ Cụng tác quản lý chất lượng công trình xây dựng; nghiệm thu bàngiao đưa công trình vào sử dụng; thanh, quyết toỏn cụng trình;
+ Điều kiện, năng lực hoạt động xây dựng của Ban quản lý dự án đầu
tư xây dựng công trình, nhà thầu tư vấn xây dựng và nhà thầu thi công xâydựng công trình và Các tổ chức, cỏ nhõn khác theo quy định của pháp luật;
Trang 16+ Việc thực hiện an toàn lao động, bảo vệ tính mạng con người và tàisản; phòng chống chỏy, nổ, vệ sinh mụi trường trong công trường xây dựng;
+ Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc lập nhiệm vụ quyhoạch xây dựng; nội dung quy hoạch xây dựng, thẩm quyền lập, thẩm định
và phê duyệt, điều chỉnh và thực hiện, quản lý xây dựng theo quy hoạch;
+ Việc lập và tổ chức thực hiện các định hướng phát triển nhà; cácchương trình, dự ỏn phỏt triển Các khu đô thị mới; việc cấp giấy chứngnhận quyền sở hữu, sử dụng nhà và việc quản lý sử dụng cụng sở;
+ Việc lập và tổ chức thực hiện định hướng, quy hoạch, kế hoạchchương trình, dự ỏn phỏt triển hạ tầng kỹ thuật đô thị, tình hình khai thác,quản lý, sử dụng Các cụng trình gồm: hố, đường đô thị, cấp nước, thoátnước, vệ sinh môi trường, rác thải đô thị, nghĩa trang, chiếu sỏng, cụngviên cõy xanh, bói đỗ xe trong đô thị, công trình ngầm và Các cụng trình
kỹ thuật hạ tầng khác trong đô thị;
+ Việc thực hiện quy hoạch phỏt triển vật liệu xây dựng và việc quản
lý chất lượng vật liệu xây dựng đưa vào công trình;
+ Việc thực hiện các quy định khác của pháp luật về hoạt động xây dựng
1.1.2.2 Hình thức thanh tra xây dựng
Để thực hiện các nội dung nêu trên, hoạt động thanh tra xây dựngđược tiền hành dưới các hình thức là: Thanh tra theo chương trình, kếhoạch và thanh tra đột xuất Thanh tra theo chương trình kế hoạch đượctiến hành theo chương trình kế hoạch đó được phê duyệt Chương trình, kếhoạch thanh tra thường được phê duyệt hàng năm với mục đích như hoạtđộng thường xuyên, định kỳ nhằm tập trung vào các lĩnh vực, vấn đề mangtrọng tâm nhằm đảm bảo thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra và kịp thời ngănngừa những vi phạm có thể xảy ra Thanh tra đột xuất được tiến hành khiphát hiện tổ chức, cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật, theo yêu cầu của
Trang 17việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc do Thủ trưởng cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền giao.
Để thực hiện các nội dung thanh tra xây dựng, các cơ quan thanh traxây dựng thường tiến hành theo phương thức chung của hoạt động thanhtra, đó là Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên độc lập Đoàn thanh tra vàThanh tra viên hoạt động theo quy định của Luật Thanh tra Khi tiến hànhthanh tra phải có quyết định của Thủ trưởng cơ quan thanh tra xây dựnghoặc cơ quan quản lý nhà nước Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên phảichịu trách nhiệm trước pháp luật và người ra quyết định thanh tra về quyếtđịnh và biện pháp xử lý của mình Khi xử lý vi phạm, Trưởng đoàn thanh tra,Thanh tra viên phải thực hiện đầy đủ trình tự theo quy định của pháp luật
1.1.3 Vai trò của thanh tra xây dựng
Với vị trí, đặc điểm và nội dung hoạt động nêu trên, thanh tra xâydựng có một số vai trò quan trọng sau đây:
Thứ nhất, thanh tra xây dựng góp phần đảm bảo thi hành nghiêm
chỉnh các quy định pháp luật và chính sách của nhà nước trong hoạt độngxây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở và công sở, kiến trúc, quy hoạch xâydựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, hạ tầng kỹ thuật
đô thị góp phần giữ gỡn trật tự, kỷ cương, tăng cường pháp chế xó hội chủ nghĩa
Trong hoạt động Nhà nước, cụng tác thanh tra nói chung và thanh traxây dựng nói riêng cú một ý nghĩa rất quan trọng Thụng qua hoạt độngthanh tra xây dựng, những quy định pháp luật về xây dựng được trở thànhhiện thực, đảm bảo trật tự văn minh đô thị Thông qua các quy định cụ thể,chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ của Các chủ thể trong quỏ trình thực hiệnCác quy định về thanh tra xây dựng, pháp luật về thanh tra xây dựng tạo rahành lang pháp lý bảo đảm cho cơ quan thanh tra xây dựng và Thanh tra
Trang 18viên xây dựng thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình, Các tổ chức,
cỏ nhõn liên quan thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ được quy địnhlàm cho các quy định về xây dựng được thực thi trên thực tế Nếu công tácthanh tra xây dựng không được quan tâm đầy đủ và không có hiệu quả thỡ
sẽ ảnh hưởng tiêu cực, tác động đến toàn bộ hoạt động quản lý nhà nướctrong lĩnh vực xây dựng, đô thị của các cơ quan có thẩm quyền; trật tự kỷcương xó hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nước bị xem thường, quyền và lợiích hợp pháp của công dân bị xâm phạm Kể từ khi Nhà nước ta thực hiệnchủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xóhội chủ nghĩa, bộ mặt kinh tế - xó hội của đất nước ta đó cú những chuyểnbiến đáng kể, nhất là sự phát triển hạn tầng kỹ thuật đô thị, kiến trúc đang
có những đóng góp lớn vào sự đổi thay của đất nước Song bên cạnh đó,cũng có những cảnh báo về sự phức tạp, mất cân đối và không đồng bộtrong quá trình xây dựng cơ sở vật chất cho sự phát triển đời sống kinh tế,văn hoá, xó hội Đó là sự đô thị hóa không đúng quy hoạch, thiếu tổng thể,
sự vi phạm các quy định về trật tự quản lý đô thị đang là những vấn đềbức xúc trong nhân dân Chính vỡ vậy, để đảm bảo sự phát triển bền vững,hài hoà và đúng pháp luật, thanh tra xây dựng góp phần đảm bảo trật tựpháp luật trong lĩnh vực xây dựng và văn minh đô thị, ngăn ngừa các viphạm pháp luật và tăng cường pháp chế trong lĩnh vực xây dựng và quản lý
đô thị, mang lại niềm tin cho nhân dân đối với tính nghiêm minh của pháp luật
Thứ hai, thanh tra xây dựng gúp phần nõng cao ý thức pháp luật của
nhõn dõn
Đặc thù của thanh tra xây dựng - một lĩnh vực nóng của đất nướcthời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá - là sự kết hợp chặt chẽgiữa vai trò chủ động, phát huy trách nhiệm của Thanh tra viên xây dựng,
Trang 19cơ quan thanh tra xây dựng và sự chỉ đạo của chính quyền địa phương, sựphối hợp của các cơ quan tổ chức có liên quan, sự đồng tình của quầnchỳng, tạo ra sức mạnh tổng hợp, nõng cao ý thức trách nhiệm của cộngđồng trong việc đảm bảo trật tự xây dựng đô thị, nhất là những nơi đangtrong quá trình đô thị hoá Thanh tra xây dựng không chỉ là hoạt độngnghiệp vụ riêng của cơ quan thanh tra xây dựng, Thanh tra viên xây dựng
mà cũn là trách nhiệm của Các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương, đoànthể xó hội và mọi thành viên trong cộng đồng Thông qua các quy định củapháp luật về thanh tra xây dựng và áp dụng trong việc xử lý Các hành vi viphạm trật tự xây dựng, quản lý đô thị, mọi người dõn thấy được thái độ cụthể của pháp luật đối với những người cố ý vi phạm từ đó nhận thức phápluật được nâng lên, ý thức pháp luật của nhõn dõn, vai trò, trách nhiệm củaCác cơ quan, tổ chức được nâng cao, niềm tin của mọi tầng lớp nhân dânvào tính nghiêm minh của pháp luật và sức mạnh của Nhà nước ngày càngđược củng cố vững chắc
Thứ ba, thanh tra xây dựng gúp phần nõng cao hiệu lực, hiệu quả
quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng
Những chính sách, quy định của pháp luật về xây dựng mới chỉ lànhững quy định đũi hỏi sự tuõn thủ của Các cơ quan, tổ chức Tuy nhiên,nếu không có hoạt động thanh tra xây dựng thỡ những quy định đó khó cóthể được tuân thủ trên thực tế bởi vỡ lĩnh vực xây dựng liên quan nhiều vấn
đề quản lý nhà nước khác như đất đai, giao thông, cảnh quan môitrường Thông qua hoạt động thanh tra xây dựng, các quy định pháp luật
về thanh tra xây dựng mới có thể tạo sự đồng bộ, thống nhất có hiệu lựctrên thực tế Với ý nghĩa đó, thanh tra xây dựng là một hoạt động không thểthiếu được của quá trình quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng Thôngqua thanh tra xây dựng, hiệu lực quản lý nhà nước được tăng cường, các
Trang 20quy định pháp luật về xây dựng được bảo đảm, đồng thời thanh tra xâydựng cũn là sự kiểm nghiệm thực tiễn những quy định pháp luật về xâydựng có thực sự phù hợp với thực tiễn hay không để trên cơ sở đó có sựđiều chỉnh, sửa đổi phù hợp.
1.2 KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, NỘI DUNG VÀ VAI TRề CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA XÂY DỰNG
1.2.1 Khái niệm và đặc trưng của pháp luật về thanh tra xây dựng
- Khỏi niệm pháp luật về thanh tra xây dựng:
Pháp luật là cụng cụ quản lý nhà nước và điều chỉnh các quan hệ xóhội Vai trò điều chỉnh đó trước hết và chủ yếu thể hiện ở quy phạm phápluật Quy phạm pháp luật về thanh tra xây dựng được ban hành nhằm điềuchỉnh các quan hệ xó hội phỏt sinh trong lĩnh vực tổ chức và hoạt độngthanh tra xây dựng Quy phạm pháp luật về thanh tra xây dựng cũng nhưcác quy phạm pháp luật khác đều có tính bắt buộc chung, là khuôn mẫu đểmọi chủ thể tuân thủ và là tiêu chí để đánh giá hành vi của con người, do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và được áp dụng nhiều lần trongcuộc sống đến khi bị thay đổi hoặc huỷ bỏ Tuy nhiên, điểm khác là quyphạm pháp luật về thanh tra xây dựng chỉ điều chỉnh các quan hệ xó hộiphỏt sinh trong quỏ trình tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng Quyphạm pháp luật về thanh tra xây dựng hiện nay được thể hiện ở các văn bảnluật (Luật Xây dựng, Luật Thanh tra, Luật Nhà ở, Luật Đăng ký bất độngsản), văn bản dưới luật (nghị định, thông tư, quyết định), nhưng dù dướihình thức văn bản nào thỡ pháp luật về thanh tra xây dựng chứa đựng cácquy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổchức và hoạt động thanh tra xây dựng của cơ quan thanh tra có thẩm quyền
Từ đó cú thể hiểu: Pháp luật về thanh tra xây dựng Việt Nam là tổng thể
Các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xó hội phỏt sinh trong lĩnh
Trang 21vực thanh tra xây dựng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức thanh tra xây dựng; nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra viên xây dựng, trình tự, thủ tục trong quỏ trình thanh tra xây dựng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, công dân, gúp phần đảm bảo trật tự xây dựng, phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xó hội chủ nghĩa.
- Đặc trưng của pháp luật thanh tra xây dựng:
+ Pháp luật về thanh tra xây dựng là tổng thể các quy phạm pháp luậtphản ánh đặc thù của thanh tra xây dựng, vừa cú những quy phạm mangtớnh hành chớnh, vừa cú những quy phạm mang tớnh thủ tục Nhúm quyphạm pháp luật mang tớnh chất hành chính thể hiện chủ yếu trong lĩnh vựcquy định chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước
về thanh tra xây dựng và cơ quan thanh tra xây dựng; mối quan hệ phốihợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan với cơ quan thanh tra xây dựngtrong quỏ trình thanh tra; nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra viên xâydựng Nhóm quy phạm pháp luật mang tính chất thủ tục chủ yếu thể hiệntrong các quy định về trình tự, thủ tục, nội dung kiểm tra, thanh tra, vớ dụnhư các quy định về việc cấp giấy phép xây dựng, quy định về xử phạt viphạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý cụng trình hạ tầng đụthị và quản lý sử dụng nhà
+ Pháp luật về thanh tra xây dựng quy định hoạt động thực hiệnquyền lực nhà nước trong việc bảo đảm hiệu lực thực tế của Các quy địnhpháp luật về thanh tra xây dựng bằng Các biện pháp pháp luật, đảm bảocho các quy định này được thực thi trên thực tế Sự vi phạm các nguyêntắc, quy định pháp luật trong hoạt động thanh tra xây dựng trong đa số cáctrường hợp đều có nguy cơ dẫn đến hậu quả không khắc phục được, gâythiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức và công dân
Trang 22(ví dụ: do khụng phỏt hiện, xử lý nghiêm vi phạm pháp luật trong xây dựngdẫn đến việc "cắt ngọn” cụng trình, xử lý nhà siêu mỏng, siêu mộo sẽ gâytốn kém cho nhà nước, tổ chức, công dân).
+ Nguồn pháp luật cho hoạt động thanh tra rất phong phú, đa dạng,Các quy định của pháp luật về thanh tra xây dựng khụng chỉ thể hiện ở cácvăn bản pháp luật chuyên ngành liên quan đến thanh tra xây dựng (nhưLuật Thanh tra, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, các nghị định, thông tư hướngdẫn thi hành luật) mà cũn thể hiện ngay trong Các văn bản pháp luật khác
có liên quan như: Luật Đất đai, Luật Nhà ở và nhiều văn bản quy phạmpháp luật khác
1.2.2 Nội dung của pháp luật về thanh tra xây dựng
Xuất phát từ khái niệm, đặc điểm của pháp luật về thanh tra xâydựng như nêu trên, nội dung pháp luật về thanh tra xây dựng phải thể hiện
sự điều chỉnh đầy đủ, toàn diện đối với các quan hệ phỏt sinh trong quỏtrình tiến hành các hoạt động thanh tra xây dựng
Thanh tra xây dựng là một loại hình hoạt động nhà nước nên thườnglàm phát sinh nhiều loại quan hệ xó hội khác nhau, bao gồm Các mối quan
hệ bờn trong và Các mối quan hệ bờn ngoài của hoạt động thanh tra xâydựng Các mối quan hệ bờn trong của thanh tra xây dựng thể hiện mối quan
hệ tổ chức, hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về thanh tra xâydựng; Mối quan hệ trong tổ chức và hoạt động của bản thân các cơ quanthanh tra xây dựng; mối quan hệ giữa cơ quan quản lý thanh tra xây dựng
và cơ quan thanh tra xây dựng; mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra xâydựng và Thanh tra viên xây dựng Các mối quan hệ bờn ngoài của thanh traxây dựng thể hiện mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra xây dựng và chínhquyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thanh traxây dựng
Trang 23Các mối quan hệ bờn trong và bờn ngoài của thanh tra xây dựngphản ánh tính đa dạng và phức tạp của hoạt động thanh tra xây dựng Trongquỏ trình thực hiện chức năng thanh tra xây dựng, Các mối quan hệ này cú
sự chi phối lẫn nhau và tạo nờn trật tự pháp luật về thanh tra xây dựng Tuynhiên, dựa vào tớnh chất của Các mối quan hệ, chỳng ta cú thể phân chiachỳng thành ba nhúm quan hệ chủ yếu là: nhúm quan hệ mang tớnh chấtnội dung; nhúm quan hệ mang tớnh chất tổ chức và quản lý; nhúm quan hệmang tớnh chất thủ tục
- Nhúm quan hệ mang tớnh chất nội dung: Đây là những quan hệ
phản ánh nội dung việc thi hành và chấp hành các quy định pháp luật vềthanh tra xây dựng (cấp giấy phộp xây dựng, lập dự án đầu tư ), các quyếtđịnh về thanh tra xây dựng (quyết định xử phạt hành chính, quyết địnhthanh tra) Các quy định, quyết định đó là căn cứ để xác định quyền vànghĩa vụ của các cơ quan thanh tra xây dựng cũng như quyền, nghĩa vụ màcác đối tượng liên quan đến hoạt động xây dựng cú trách nhiệm chấp hành
Những quan hệ mang tớnh nội dung chủ yếu là quan hệ giữa cơ quanthanh tra xây dựng và những đối tượng liên quan thuộc phạm vi của hoạtđộng thanh tra xây dựng Từ những quan hệ chủ yếu này sẽ phỏt sinh nhiềumối quan hệ khác trong quỏ trình thanh tra xây dựng nhằm bảo đảm việcthực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trìnhthực thi Các quy định pháp luật về xây dựng và các quy định có liên quan.Trong nhúm quan hệ mang tớnh nội dung, cũn cú thể xuất hiện mối quan
hệ giữa cơ quan thanh tra xây dựng với các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cánhân có liên quan đến việc thanh tra và thực hiện các quy định về xâydựng Túm lại, Các mối quan hệ này phản ỏnh nội dung thanh tra xây dựng,xác định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong việc thi hành và chấphành các quy định pháp luật về xây dựng Cụ thể là các quyền và nghĩa vụ
Trang 24của đối tượng thanh tra: ví dụ như quyền được giải trình về những vấn đề
có liên quan đến nội dung thanh tra, từ chối cung cấp thông tin, tài liệuthuộc bí mật nhà nước khi pháp luật có quy định và các thông tin, tài liệukhông liên quan đến nội dung thanh tra (Điều 20 Nghị định số46/2005/NĐ-CP của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động củaThanh tra xây dựng)
- Nhúm quan hệ mang tớnh tổ chức - quản lý liên quan đến việc hình thành cơ chế, hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan thanh tra xây dựng: Đây là nhóm các quan hệ phỏt sinh trong quỏ trình hình thành tổ
chức, hoạt động và cơ chế quản lý Các cơ quan thanh tra xây dựng Cácquan hệ này liên quan đến việc hình thành cơ cấu tổ chức; quy định thẩmquyền và quy chế hoạt động của cơ quan thanh tra xây dựng Những mốiquan hệ này được thể hiện cụ thể trong thực tiễn như: mối quan hệ giữa cơquan quản lý nhà nước về thanh tra xây dựng với cơ quan thanh tra xâydựng; cơ cấu tổ chức, hoạt động trong hệ thống các cơ quan thanh tra xâydựng; giữa cơ quan thanh tra xây dựng cấp trên và cơ quan thanh tra xâydựng cấp dưới về mặt tổ chức
Trong thực tiễn, việc xử lý Các mối quan hệ này thường rất phức tạp,
có nhiều vướng mắc, bất cập Do đó, nếu xác định đúng đắn các mối quan
hệ trong quá trình tổ chức và quản lý thanh tra xây dựng, xây dựng cơ chếquản lý, mụ hình tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng phù hợp sẽ gópphần tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của thanh tra xây dựng
- Nhúm quan hệ mang tớnh chất thủ tục, trình tự thanh tra xây dựng:
Một trong những đặc trưng cơ bản của thanh tra xây dựng là được tiếnhành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ mang tính hành chính, chịu sự điềuchỉnh của pháp luật về thanh tra xây dựng và một số các quy định của phápluật liên quan Chớnh vỡ vậy, trình tự, thủ tục thanh tra xây dựng làm xuất
Trang 25hiện hàng loạt Các mối quan hệ giữa Các chủ thể trong quỏ trình thanh traxây dựng Cụ thể như những quan hệ phát sinh trong việc ra quyết địnhthanh tra, cưỡng chế; các mối quan hệ phát sinh liên quan đến thủ tục khiếunại tố cáo của các chủ thể trong quá trình thanh tra xây dựng
Sự thể hiện đầy đủ Các nhúm quan hệ trờn đây trong pháp luật thanhtra xây dựng sẽ tạo ra khung pháp lý tổ chức, hoạt động thanh tra xây dựngngày càng cú hiệu quả
1.2.3 Vai trò của pháp luật về thanh tra xây dựng
- Pháp luật thanh tra nói chung, pháp luật về thanh tra xây dựng nói riêng là phương tiện thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về cụng tác thanh tra Nhận thức được tầm quan trọng của cụng tác
thanh tra, Đảng Cộng sản Việt Nam, trong nhiều văn kiện Đại hội Đảng,Hội nghị Trung ương và Bộ Chính trị luôn dành sự quan tõm lớn cho cụngtác thanh tra, lần lượt đưa ra các chủ trương lớn cho công tác thanh tra,điều kiện, cơ sở vật chất, trang thiết bị, chính sách, chế độ đối với nhữngngười làm công tác thanh tra, đặc biệt chú ý đến cơ chế tổ chức và hoạtđộng thanh tra, đồng thời cũng nhấn mạnh phải kịp thời ban hành các vănbản pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cụng tác tổ chức và hoạtđộng của thanh tra nói chung, pháp luật về thanh tra xây dựng nói riêng
Đường lối, chính sách của Đảng chỉ đạo phương hướng xây dựngpháp luật, chỉ đạo nội dung pháp luật và chỉ đạo việc tổ chức thực hiệnpháp luật Do vậy, pháp luật về thanh tra xây dựng cú vai trò quan trọngtrong việc thể chế hoỏ đúng đắn, kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sáchcủa Đảng về cụng tác thanh tra, làm cho nó đi vào cuộc sống
- Pháp luật về thanh tra xây dựng là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường tổ chức bộ máy các cơ quan thanh tra xây dựng Để bộ máy
các cơ quan thanh tra xây dựng hoạt động hiệu quả đũi hỏi phải xác định
Trang 26đúng cơ chế quản lý, mụ hình tổ chức hợp lý, khoa học, xác định đúngchức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan thanh tra xây dựng;xác lập Các mối quan hệ đúng đắn, hợp lý giữa cơ quan thanh tra xây dựng
và các cơ quan hữu quan; phải có những phương pháp tổ chức và hoạt độngphù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ, đồng thời nâng cao được tráchnhiệm của cơ quan thanh tra xây dựng Tất cả những điều này chỉ có thểthực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quyđịnh cụ thể của pháp luật về thanh tra xây dựng
Tương tự như vậy, pháp luật về thanh tra xây dựng cú vai trò quantrọng trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi loạicán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan thanh tra xây dựng, đặc biệt
là Chỏnh thanh tra xây dựng; Thanh tra viên xây dựng; quy định những cơchế hữu hiệu nhằm phát hiện, loại trừ các hiện tượng lạm quyền, bao biện,
vô trách nhiệm của đội ngũ cỏn bộ, cụng chức Các cơ quan thanh tra xây dựng
- Pháp luật về thanh tra xây dựng là cơ sở để tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong công tác thanh tra xây dựng.
Thanh tra xây dựng là hoạt động phức tạp, hiệu quả của nó không chỉ đượcquyết định bởi năng lực, sự cố gắng của cơ quan thanh tra xây dựng mà cũntuỳ thuộc vào sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quannhà nước khác, các tổ chức xó hội và của mọi cụng dõn Nói Cách khác,cụng tác thanh tra xây dựng khụng chỉ là hoạt động chuyên môn thuần tuýcủa cơ quan thanh tra xây dựng, mà cũn là trách nhiệm của Các cấp chớnhquyền và toàn xó hội Do vậy, pháp luật về thanh tra xây dựngphải cónhững quy định cụ thể, chặt chẽ về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng
cơ quan hữu quan này với cơ quan thanh tra xây dựng trong quỏ trình thựchiện Các nhiệm vụ, kế hoạch thanh tra, vớ dụ như trách nhiệm của chính
Trang 27quyền địa phương trong việc phối hợp với Các Thanh tra viên xây dựngtrong việc tham gia việc cưỡng chế, hỗ trợ lực lượng, phương tiện đểcưỡng chế dỡ bỏ Các cụng trình vi phạm Như vậy, có thể nói pháp luật
về thanh tra xây dựng chính là cơ sở để tăng cường cơ chế phối hợp giữacác cơ quan, tổ chức hữu quan trong công tác thanh tra xây dựng
- Pháp luật về thanh tra xây dựng là cơ sở pháp lý cho việc phỏt hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, gúp
phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực thanh tra xây dựng
- Hệ thống pháp luật về thanh tra xây dựng góp phần tạo nên sự thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật ở nước ta Hệ thống pháp luật
gồm nhiều bộ phận nhưng luôn có sự liên quan và thống nhất với nhau.Không thể có một hệ thống pháp luật thống nhất và đồng bộ nếu như cómột bộ phận nào đó kém phát triển, không đầy đủ hoặc chồng chéo, mâuthuẫn với các bộ phận khác trong cùng hệ thống Do vậy, việc hoàn thiệnpháp luật về thanh tra xây dựng với mức độ pháp điển cao sẽ góp phần xâydựng và củng cố hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ ở nước ta
1.3 CÁC TIấU CHÍ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA XÂY DỰNG
Để có cơ sở đánh giá, xác định mức độ hoàn thiện của pháp luậtthanh tra xây dựng, cần phải dựa vào những tiêu chí xác định về mặt lýthuyết để từ đó đối chiếu với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của từng giaiđoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan để rỳt ra những kết luận, làm rừnhững ưu điểm cũng như những vướng mắc, bất cập của pháp luật về thanhtra xây dựng Về nguyờn tắc chung, cú thể phân chia thành ba loại tiêu chớ
cơ bản sau đây:
1.3.1 Tiêu chớ về mặt nội dung
Pháp luật về thanh tra xây dựngđược coi là hoàn thiện phải đáp ứngđược các tiêu chuẩn về mặt nội dung cơ bản sau đây:
Trang 28- Cú nội dung phù hợp với quan điểm, đường lối, chính sách củaĐảng về cụng tác thanh tra thể hiện trong Các nghị quyết của Đảng, trong
đó có chủ trương:
+ Hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra,bảo đảm mọi hoạt động quản lý nhà nước đều chịu sự thanh tra, kiểm tracủa Chính phủ, đồng thời khắc phục tình trạng cụng tác thanh tra, kiểm tragõy khú khăn, phiền hà cho hoạt động của các cơ quan hành chớnh vàdoanh nghiệp [8]
+ Kiện toàn tổ chức thanh tra, bảo đảm thực hiện tốt Các nhiệm vụthanh tra theo quy định
+ Cần sớm xây dựng, hoàn thiện cơ chế chính sách và nâng cao tráchnhiệm của các cơ quan thanh tra xây dựng, bảo đảm cho thanh tra xây dựngthực sự là công cụ hữu hiệu cho việc đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh cácquy định pháp luật về xây dựng
- Phù hợp với các điều kiện chính trị, kinh tế, xó hội tồn tại một Cáchkhách quan Tớnh phự hợp của pháp luật về thanh tra xây dựng thể hiện sựtương quan giữa trình độ của pháp luật về thanh tra xây dựng với sự phỏttriển của nền kinh tế, chớnh trị, văn hoá, xó hội ở mỗi thời kỳ phỏt triểncũng như hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về thanh tra xây dựngphải phản ánh đúng trình độ phát triển của nền kinh tế xó hội của đất nước,không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển của nó
- Các nguyờn tắc, trình tự, thủ tục thanh tra xây dựng thể hiện trongCác quy phạm pháp luật về thanh tra xây dựng phải đầy đủ, rừ ràng, minhbạch, cụ thể, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếpcận và thực hiện để bảo vệ các quyền và lợi ớch hợp pháp của mình
- Phù hợp với điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên [2, tr.65].Tiêu chí này đũi hỏi pháp luật về thanh tra xây dựng phải có sự kế thừa,
có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong việc điều chỉnh bằng pháp
Trang 29luật các quan hệ xó hội phỏt sinh trong tổ chức và hoạt động thanh tra xâydựng, đảm bảo cho hệ thống pháp luật về thanh tra xây dựng không có sựmâu thuẫn, chồng chéo với điều ước quốc tế mà Việt Nam đó ký kết vàgia nhập.
1.3.2 Tiêu chớ về mặt hình thức
- Tớnh toàn diện: Tính toàn diện là tiêu chuẩn cơ bản thể hiện mức
độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Đây cũng là tiêu chí hàng đầu đểđánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về thanh tra xây dựng Cũng nhưđối với hệ thống pháp luật, tính toàn diện là tiêu chuẩn để “định lượng”pháp luật về thanh tra xây dựng, cú ý nghĩa quan trọng nhằm tiếp tụcnghiên cứu để “định tính” chúng Tính toàn diện của pháp luật về thanh traxây dựng đũi hỏi pháp luật về thanh tra xây dựng phải có đầy đủ các chếđịnh pháp luật phù hợp với đặc trưng của lĩnh vực thanh tra xây dựng vàthể hiện thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tương ứng,đồng thời trong từng chế định pháp luật đó phải có đầy đủ các quy phạmpháp luật cần thiết
- Tính đồng bộ: Tính đồng bộ của pháp luật về thanh tra xây dựng thể
hiện sự thống nhất của nó, đũi hỏi giữa Các bộ phận của pháp luật về thanhtra xây dựng không được trùng lặp, chồng chéo hoặc mâu thuẫn với nhau.Tính đồng bộ của pháp luật về thanh tra xây dựng thể hiện ở hai mức độ:
+ Ở cấp độ chung, đó là sự đồng bộ giữa các chế định pháp luậttương ứng với các loại hình thanh tra cụ thể với nhau (Vớ dụ: Thanh traxây dựng, Thanh tra nhà đất, Thanh tra môi trường )
+ Ở cấp độ cụ thể, tính đồng bộ thể hiện sự thống nhất, không mâuthuẫn, không trùng lặp, chồng chộo trong mỗi quy định pháp luật về thanh traxây dựng và giữa Các quy phạm pháp luật về thanh tra xây dựng với nhau
- Hình thức văn bản: Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức pháp
luật tiến bộ nhất, trong đó được phân ra theo thứ bậc cao thấp khác nhau là
Trang 30Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm pháp luật dưới luật Pháp luật vềthanh tra xây dựng được coi là hoàn thiện phải được ban hành dưới hìnhthức cao là đạo luật, mang tính pháp điển cao Ngoài ra, các văn bản quyphạm pháp luật về thanh tra xây dựng phải được ban hành đúng thẩmquyền có hình thức kết cấu, bố cục chặt chẽ, hợp lý.
- Kỹ thuật lập pháp: Một hệ thống pháp luật hoàn thiện phải được
xây dựng ở trình độ kỹ thuật lập pháp cao, yêu cầu này cũng đúng đối vớipháp luật về thanh tra xây dựng Điều này đũi hỏi quỏ trình xây dựng vàhoàn thiện pháp luật về thanh tra xây dựng phải được tiến hành theo nhữngnguyên tắc tối ưu, xác định chính xác cơ cấu nội tại của pháp luật về thanhtra xây dựng, được biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý rừ ràng, cô đọng, lôgíc,chính xác và một nghĩa, đồng thời "mang tính phổ thông và ổn định cao".Bởi vỡ, quy phạm pháp luật khụng quy định rừ ràng, thậm chớ một từkhụng rừ ràng cũng cú thể gõy ra nhiều sai lầm pháp luật và dẫn đến nhữnghậu quả chính trị, xó hội nghiêm trọng [2, tr.72]
1.3.3 Tiêu chớ về tổ chức thực hiện
- Tuyờn truyền, giỏo dục pháp luật về thanh tra xây dựng: Pháp luật
về thanh tra xây dựng được coi là hoàn thiện không chỉ được thể hiện ở chỗđược ban hành dưới hình thức một hình thức văn bản pháp luật cú hiệu lựcpháp lý mang tính pháp điển cao, mà quan trọng hơn là đạo luật đó phải đivào cuộc sống, phải làm cho nhân dân nắm được một cách đầy đủ và hiểuđược nội dung của các văn bản pháp luật về thanh tra xây dựng được banhành qua Các giai đoạn Muốn vậy, cần phải coi trọng cụng tác giỏo dục,tuyờn truyền, giải thớch pháp luật và sử dụng nhiều hình thức và biện pháp
để giáo dục và nâng cao ý thức pháp luật cho nhõn dõn
- Đào tạo đội ngũ cỏn bộ, cụng chức và Thanh tra viên xây dựng:
Pháp luật về thanh tra xây dựng được coi là hoàn thiện cũn phải được thểhiện thông qua hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật, trong đó đội ngũ
Trang 31Thanh tra viên xây dựng đóng vai trò cực kỳ quan trọng, do vậy phải nõngcao trình độ, năng lực, phẩm chất cho đội ngũ cỏn bộ, cụng chức thanh traxây dựng, trước hết là Thanh tra viên xây dựng Các Thanh tra viên xâydựng phải cú bản lĩnh, nắm vững và ỏp dụng đúng đắn các quy định phápluật về thanh tra xây dựng và các quy định pháp luật cú liên quan Muốnvậy, Các cơ quan quản lý cần phải có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thườngxuyên về chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ thanh tra xây dựng,kết hợp với việc đẩy mạnh tiêu chuẩn hoá đội ngũ Thanh tra viên xây dựng,trong đó xác định rừ cả về tiêu chuẩn chuyờn mụn, nghiệp vụ và tiêu chuẩn
về tác phong, đạo đức, lối sống
- Kiểm tra, xử lý trong quỏ trình thanh tra xây dựng: Pháp luật về
thanh tra xây dựng được coi là hoàn thiện cũn được thể hiện thông qua hiệuquả việc kiểm tra, giỏm sỏt thực hiện pháp luật thanh tra xây dựng, xử lý viphạm pháp luật Do đó, cần phân định rừ chức năng, thẩm quyền của các
cơ quan làm cụng tác kiểm tra, giỏm sỏt thực hiện pháp luật thanh tra xâydựng; nâng cao năng lực và phẩm chất cho những người làm công tác này,
mở rộng dân chủ, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát của các tổ chức chínhtrị - xó hội và nhõn dõn, phỏt hiện kịp thời những vướng mắc, bất cập, và
xử lý nghiêm mọi vi phạm pháp luật, trước hết là những vi phạm pháp luậttrong hoạt động thanh tra xây dựng
Trang 32Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA XÂY DỰNG
2.1 KHÁI QUÁT VỀ SỰ HèNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA XÂY DỰNG
Ngày 23/11/1945, Chủ Tịch Hồ Chớ Minh ký Sắc lệnh số 64 - SLthành lập Ban Thanh tra đặc biệt, tổ chức tiền thân của ngành Thanh trahiện nay Ra đời trong hoàn cảnh đất nước vừa giành được chính quyền,phải đương đầu với muôn vàn khó khăn thử thách “ thù trong giặc ngoài”,Ban Thanh tra đặc biệt đó chủ động kiểm tra hoạt động của Uỷ ban hànhchính các địa phương và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của nhân dân Kếtquả công tác thanh tra góp phần củng cố chính quyền, giữ nguyên kỷ cươngphép nước, củng cố lũng tin của nhõn dõn vào chớnh quyền Cách mạng
Hơn 60 năm qua, kể từ khi Ban thanh tra đặc biệt được thành lập chođến nay, theo từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam, tên gọi của các tổchức thanh tra nhà nước được thay đổi cho phù hợp với đường lối, chủtrương của cách mạng trong từng thời kỳ nhưng mục tiêu, bản chất, mụcđích, chức năng, nhiệm vụ về cơ bản của công tác thanh tra không thay đổi.Công tác thanh tra của Thanh tra nhà nước và từng loại hình thanh tra luụnđược xác định là không thể thiếu được của quá trình quản lý nhà nước,phục vụ thiết thực và hiệu quả cho quản lý nhà nước Công tác thanh tra đógúp phần làm an dõn, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân trong nhữngnăm đầu tiên của chính quyền non trẻ, động viên nhân dân và quân đội đểđưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Ở mỗi thời kỳ, nhằm phục vụ cho quản lý nhà nước, hoạt động thanhtra, pháp luật thanh tra có những trọng tâm, ưu tiên nhất định Nghiên cứuquỏ trình phỏt triển của pháp luật thanh tra cú thể thấy, cơ sở pháp lý quantrọng cho việc tổ chức và hoạt động của thanh tra xây dựng từ khi bắt đầu
Trang 33công cuộc đổi mới đất nước là Pháp lệnh Thanh tra ngày 1/6/1990 Pháplệnh Thanh tra năm 1990 đó khẳng định vị trí của các cơ quan thanh tratrong hệ thống quản lý nhà nước, trong đó đó xác định rừ quyền năng pháp
lý của các tổ chức thanh tra, Thanh tra viên, tiêu chuẩn và chức danhThanh tra viên, tạo cơ sở quan trọng cho việc xây dựng đội ngũ cán bộthanh tra đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng các yêu cầu của nhiệm vụ.Song điểm quan trọng là Pháp lệnh Thanh tra quy định: Thanh tra nhà nước
là cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về công tác thanh tra và thựchiện quyền thanh tra trong cả nước Các tổ chức thanh tra nhà nước có chứcnăng quản lý cụng tác thanh tra và thực hiện quyền thanh tra trong phạm viquản lý nhà nước của ngành, cấp đó với các nhiệm vụ, quyền hạn chungnhư: thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, kế hoạch nhànước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân; xem xét, kiến nghị cấp có thẩmquyền giải quyết theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo, trong phạm vi chứcnăng của mình, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động thanh tra đối với các cơquan, tổ chức hữu quan; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyềnnhững vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành cácquy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước Pháp lệnh Thanh tra cũng
đó quy định hệ thống thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Bộ, Thanh tratỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Thanh tra sở, Thanh tra huyện Như vậy, có thể nói trên cơ sở pháp lý quan trọng này, tuy các cơ quanthanh tra xây dựng chưa được chính thức hình thành với tư cách là cơ quanthanh tra chuyên ngành nhưng các nội dung hoạt động thanh tra xây dựng
đó cú những cơ sở pháp lý cần thiết Cụ thể là theo Điều 14, Pháp lệnhThanh tra 1990 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ thỡThanh tra Bộ Xây dựng cú thẩm quyền: Chỉ đạo công tác, tổ chức nghiệp
vụ thanh tra đối với cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ
Trang 34trưởng cùng cấp, hướng dẫn nghiệp vụ thanh tra chuyờn ngành cho thanhtra sở Như vậy, quy định này thừa nhận gián tiếp về hoạt động thanh trachuyên ngành dưới góc độ nghiệp vụ Tiếp đó, việc hình thành Các quyđịnh của pháp luật về hoạt động thanh tra chuyên ngành được xuất hiện ởcác quy định trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1995 Tuycũng không trực tiếp nhưng các quy định của Pháp lệnh xử phạt vi phạmhành chớnh đó gián tiếp đề cập đến tổ chức và hoạt động của thanh trachuyên ngành trong việc quy định thẩm quyền áp dụng xử phạt vi phạmhành chớnh trong Các lĩnh vực Việc gián tiếp quy định như vậy, thêm mộtbước khẳng định sự cần thiết phải có hoạt động của thanh tra chuyên ngànhnhư là yếu tố khách quan, việc ban hành các quy định pháp luật về hoạtđộng thanh tra chuyên ngành là yêu cầu trước tiên và tiếp đó ban hành cácquy định về tổ chức của các cơ quan thanh tra chuyên ngành.
Đối với thanh tra chuyên ngành xây dựng, các quy định pháp luậtliên quan đó xác định thẩm quyền của thanh tra xây dựng đối với các viphạm hành chớnh trong lĩnh vực xây dựng Đây có thể nói là nét đặc thùcủa thanh tra chuyên ngành so với các tổ chức thanh tra khác hiện nay.Việc quy định tổ chức thanh tra chuyên ngành nói chung, thanh tra xâydựng nói riêng nằm ở nhiều văn bản pháp luật, nhưng chưa có sự thốngnhất, đồng bộ Thanh tra xây dựng với nghĩa là cơ quan thuộc Bộ xâydựng - Bộ đơn ngành thỡ gọi là thanh tra chuyờn ngành (Thanh tra xâydựng) Do Pháp lệnh thanh tra chưa quy định rừ về tổ chức Các cơ quanthanh tra chuyên ngành nên cũng có những khó khăn trong việc thực hiện.Việc phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và địa vị pháp lý vàphạm vi hoạt động giữa thanh tra chuyên ngành và thanh tra Bộ có nhữngvấn đề chồng chéo, chưa phù hợp Do không có văn bản nào quy địnhthống nhất chung về thanh tra chuyên ngành nên tên gọi cũng không có sự
Trang 35đồng nhất, có nơi gọi là Thanh tra chuyên ngành, có nơi gọi là Thanh tranhà nước chuyên ngành.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Uỷ ban thường vụ Quốc hội đó ban hànhPháp lệnh xử lý vi phạm hành chớnh ngày 2/7/2002, trong đó có các quyđịnh về thẩm quyền xử phạt của thanh tra chuyờn ngành ở hai cấp là thanhtra Bộ và thanh tra sở nhằm kịp thời ngăn chặn, xử lý các vi phạm theo quyđịnh của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chớnh Tiếp đó, Luật Thanh tranăm 2004 đó quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyênngành Điều 10 của Luật thanh tra quy định về tổ chức thanh tra chuyênngành nằm trong hệ thống thanh tra nhà nước và là hoạt động của cơ quanquản lý theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việcchấp hành pháp luật, những quy định về chuyên môn, kỹ thuật, quy tắcquản lý của ngành, lĩnh vực Đây là điểm mới rất cơ bản về hoạt độngthanh tra chuyờn ngành trong Luật Thanh tra
Theo nội dung của Luật Thanh tra, Thanh tra chuyên ngành ở bộ,ngành là cơ quan của bộ ngành đó và là công cụ hữu hiệu để thực hiệnquản lý nhà nước theo chuyờn ngành hẹp Tuy nhiên, do mỗi bộ, ngành cúlĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành khác nhau và có những mục tiêu,yêu cầu quản lý khác nhau nờn việc quy định về nhiệm vụ, quyền hạn củathanh tra chuyên ngành cũng khác nhau Cụ thể là Các nhiệm vụ, quyềnhạn:
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về quản
lý ngành, lĩnh vực, chủ yếu là quy trình, quy phạm kỹ thuật của chuyờnngành hẹp;
- Trong hoạt động luôn có sự phối hợp với Thanh tra nhà nước các
bộ, ngành hoặc với cơ quan bảo vệ pháp luật để thực thi nhiệm vụ;
Trang 36- Được quy định một số quyền hạn tương tự như quyền hạn của thanhtra nhà nước như: quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ hoạt động của đốitượng thanh tra khi có vi phạm pháp luật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền
xử lý, yờu cầu đối tượng cung cấp tài liệu có liên quan đến thanh tra;
- Xử lý vi phạm hành chớnh đối với các hành vi vi phạm hành chínhtheo thẩm quyền, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và kiến nghịvới cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp xử lý Các viphạm pháp luật
Về phương thức hoạt động, có Bộ thỡ giữa Thanh tra nhà nước vàthanh tra chuyên ngành hoạt động độc lập, không có quan hệ về tổ chức vàchỉ đạo, điều hành, có Bộ lại có mối quan hệ về chỉ đạo nghiệp vụ
Nhỡn chung Các tổ chức thanh tra chuyên ngành có đủ các chứcnăng, nhiệm vụ như thanh tra nhà nước của Bộ, có chức năng giúp bộ,ngành thực hiện chức năng quản lý Tuy nhiên, thanh tra chuyờn ngành chủyếu tập trung vào thanh tra việc thực hiện Các quy định về quy trình, quyphạm liên quan đến chuyên môn, kỹ thuật của ngành, lĩnh vực, thanh traviệc thực hiện các quy định pháp luật chuyên ngành Thanh tra chuyênngành không có chức năng thanh tra kinh tế, xó hội và giải quyết khiếu nại,
tố cỏo hoặc giỳp lónh đạo đơn vị giải quyết khiếu nại tố cỏo Thanh trachuyờn ngành cú thẩm quyền xử phạt hành chớnh những vi phạm pháp luật
về quản lý chuyờn ngành Hoạt động của thanh tra chuyên ngành cũng là hoạtđộng của thanh tra nhà nước nên cũng có những nét chung của hoạt độngthanh tra hành chính và có những đặc điểm riêng theo quy định của Luậtthanh tra
Như vậy, có thể nói trước tháng 9/2000, các hoạt động thanh tratrong lĩnh vực xây dựng được thực hiện theo Pháp lệnh Thanh tra năm
1990 Trên cơ sở thực tế của yờu cầu quản lý trật tự đô thị, để thực hiện
Trang 37chức năng thanh tra chuyên ngành, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyếtđịnh số 100/2002/QĐ-TTg ngày 24/7/2002 về việc thí điểm thành lậpThanh tra chuyên ngành xây dựng thành phố Hà Nội Theo quyết định nàycủa Thanh tra chuyên ngành xây dựng thành phố Hà Nội được tổ chức theo
mô hình hai cấp: cấp thành phố và cấp quận, huyện trờn cơ sở tổ chức sắpxếp lại lực lượng quản lý trật tự xây dựng đô thị để thực hiện chức năngthanh tra chuyờn ngành xây dựng, xử phạt vi phạm hành chớnh trong lĩnhvực quản lý xây dựng, quản lý nhà ở và cụng trình kỹ thuật hạ tầng đô thị.Trên cơ sở Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Uỷ ban nhân dân thànhphố Hà Nội đó ra Quyết định ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động củalực lượng thanh tra xây dựng thành phố, thanh tra xây dựng quận, huyện vàcỏn bộ chuyờn trách quản lý trật tự xây dựng ở xó, phường, thị trấn tạithành phố Hà Nội Đồng thời, Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội cũng banhành những quy định về quản lý trật tự xây dựng trờn địa bàn thành phố HàNội Như vậy, có thể nói Hà Nội được chọn là nơi thí điểm để thành lập lựclượng thanh tra chuyên ngành xây dựng được tổ chức ở cả 3 cấp: thànhphố, cấp quận, huyện và cấp xó, phường và việc thanh tra xây dựng cóthẩm quyền thực hiện các quy định về quản lý trật tự xây dựng đó tạo cơ sởcho việc lập lại trật tự xây dựng trên địa bàn và góp phần đảm bảo cho sựphát triển của đô thị thành phố Hà Nội
Để đảm bảo xử lý các vi phạm trong hoạt động xây dựng, Chính phủ
đó ban hành Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004 về xử phạt viphạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý cụng trình hạ tầng đôthị và quản lý sử dụng nhà Nghị định này đó quy định cụ thể về nhữnghành vi bị xử phạt hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý cụng trình
hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà, mức phạt, thủ tục phạt, chủ thể cúthẩm quyền phạt
Trang 38Trên cơ sở tổng kết việc thí điểm thành lập thanh tra chuyên ngànhxây dựng ở thành phố Hà Nội, Chính phủ đó ban hành Nghị định số46/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra xâydựng Nghị định này có thể nói là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc tổchức lực lượng thanh tra xây dựng, theo đó xác định rừ chức năng, đốitượng của thanh tra xây dựng, nguyên tắc hoạt động của thanh tra xâydựng, hệ thống tổ chức các cơ quan thanh tra xây dựng Tuy nhiên, trướcđũi hỏi mới của quỏ trình phỏt triển đô thị, sự đa dạng của các hoạt độngxây dựng ở những thành phố lớn nên Thủ tướng Chính phủ đó ban hànhQuyết định số 89/2007/QĐ-TTg ngày 18/6/2007 về việc thí điểm thành lậpThanh tra xây dựng quận, huyện và Thanh tra xây dựng xó, phường, thịtrấn tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh (Quyết định này thaythế Quyết định số 100/2002/QĐ-TTg ngày 24/7/2002 của Thủ tướng Chínhphủ về việc thí điểm thành lập Thanh tra chuyờn ngành xây dựng thành phố
Hà Nội)
Như vậy, có thể nói rằng Nghị định số 46/2005/NĐ-CP và Quyếtđịnh số 89/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chớnh phủ đó tạo cơ sở pháp lýquan trọng cho việc tổ chức Các cơ quan thanh tra xây dựng một Cáchtương đối độc lập, từ trung ương đến cấp huyện; riêng đối với thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, lực lượng Thanh tra xây dựng đó được
tổ chức tới cấp xó, phường, thị trấn Các văn bản này cũng gúp phần đưacụng tác thanh tra xây dựng sang một giai đoạn phát triển mới, đáp ứng yêucầu của đất nước trong thời kỳ đổi mới Từ ngày Nghị định số46/2005/NĐ-CP có hiệu lực, tổ chức và hoạt động Thanh tra xây dựngchính thức được thực hiện theo cơ chế mới Các cơ quan quản lý nhà nước
về công tác thanh tra xây dựng, các cơ quan thanh tra xây dựng được hìnhthành từ Trung ương đến các cấp quận, huyện; riêng đối với thành phố Hà
Trang 39Nội và thành phố Hồ Chí Minh, do những yêu cầu đặc thù của phát triển đôthị, thanh tra xây dựng đó được thành lập tới cấp xó, phường, thị trấn Sovới trước đây, công tác Thanh tra xây dựng đó được đổi mới căn bản từ tổchức bộ máy và cơ chế hoạt động Các văn bản pháp luật đó quy định cụthể về trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Xây dựng trong việc chỉ đạo cụng tácthanh tra xây dựng; trách nhiệm của Thanh tra Nhà nước, Uỷ ban nhân dâncác cấp, Thanh tra Sở trong việc kiện toàn tổ chức, trang bị cơ sở vật chất,thiết bị kỹ thuật, trang phục và tạo điều kiện cho hoạt động của Thanh traxây dựng Pháp luật về thanh tra xây dựng cũng quy định tiêu chuẩn bổnhiệm Thanh tra viên xây dựng; trách nhiệm, quyền hạn của Thanh tra viênxây dựng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; trách nhiệmcủa các cá nhân, tổ chức không được can thiệp trỏi pháp luật vào quỏ trìnhthực thi nhiệm vụ của các cơ quan thanh tra xây dựng
Từ những phân tích trên đây có thể rút ra một số nhận xét về quátrình hình thành và phỏt triển của pháp luật về thanh tra xây dựng như sau:
Một, quỏ trình hình thành và phỏt triển của pháp luật về thanh tra xây
dựng gắn bú chặt chẽ với sự hình thành và phỏt triển của pháp luật thanh tra
Hai, pháp luật về thanh tra xây dựng không ngừng được bổ sung,
hoàn thiện cả về nội dung và hình thức văn bản, nhất là từ sau khi Đảng ta
đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước
+ Về nội dung, từ chỗ chỉ có một số quy phạm điều chỉnh trực tiếp vềhoạt động thanh tra xây dựng đến nay đó cú hệ thống quy phạm điều chỉnhriêng về tổ chức và hoạt động của thanh tra xây dựng
+ Về hình thức, Các quy định về tổ chức và hoạt động của thanh traxây dựng từ chỗ được quy định mang tính nguyên tắc trong pháp luật thanhtra nói chung, trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ, đến nay đó đượcquy định trong Nghị định của Chính phủ, Luật Xây dựng
Trang 40+ Ba, mặc dù pháp luật về thanh tra xây dựng đó được hoàn thiện
một bước nhưng nói chung vẫn cũn những bất cập, thiếu đồng bộ và chưađáp ứng được những yêu cầu điều chỉnh đối với hoạt động thanh tra xâydựng trong điều kiện phát triển đô thị, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước hiện nay
2.2 PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA XÂY DỰNG HIỆN HÀNH - ƯU ĐIỂM, HẠN CHẾ, BẤT CẬP VÀ NGUYấN NHÂN
2.2.1 Về ưu điểm
Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả cụng tác thanh tra xây dựng, hiện naychúng ta đó cú nhiều văn bản quy định về cơ cấu tổ chức, hoạt động củacác cơ quan quản lý thanh tra xây dựng, cơ quan thanh tra xây dựng Cụ thểlà: Nghị định số 46/2005/NĐ-CP ngày 06/4/2005 của Chính phủ về tổ chức
và hoạt động của Thanh tra xây dựng; Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày26/5/2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt độngxây dựng, quản lý cụng trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà; Thông
tư số 10/2005/TTLT/BXD-BNV ngày 22/6/2005 của Bộ Xây dựng và BộNội vụ hướng dẫn về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức và biên chế của Thanhtra xây dựng ở địa phương; Quyết định số 89/2007/QĐ-TTg ngày18/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm thành lập Thanh traxây dựng quận, huyện và Thanh tra xây dựng xó, phường, thị trấn tại thànhphố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; Quyết định số 25/2005/QĐ-BXDngày 08/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng về việc quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Bộ Xây dựng; Quyếtđịnh số 36/2005/QĐ-BXD ngày 24/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng vềviệc ban hành “Quy định về tiêu chuẩn Thanh tra viên xây dựng, cỏn bộ,cụng chức làm việc trong cơ quan Thanh tra xây dựng; trang phục, phùhiệu, cấp hiệu, biển hiệu; phương tiện, thiết bị kỹ thuật của Thanh tra xây