1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án khảo sát dịch thuật trung việt (trên các bản dịch văn bản thương mại trung việt)

16 1,2K 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN BÍCH LAN CHEN BILAN KHẢO SÁT DỊCH THUẬT TRUNG – VIỆT TRÊN CÁC BẢN DỊCH VĂN BẢN THƯƠNG MẠI TRUNG – VIỆT Chuyên ngà

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN BÍCH LAN (CHEN BILAN)

KHẢO SÁT DỊCH THUẬT TRUNG – VIỆT

(TRÊN CÁC BẢN DỊCH VĂN BẢN THƯƠNG MẠI

TRUNG – VIỆT)

Chuyên ngành: Việt ngữ học

Mã số: 62.22.01.20

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại Khoa Ngôn ngữ học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn

Đại học Quốc gia Hà Nội Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Hồng Cổn

TS Nguyễn Thị Tân

Phản biện 1: ……….

Phản biện 2: ……….

Phản biện 3: ……….

Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp cơ sở tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Vào lúc: giờ ngày tháng năm 2015

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Cùng với sự phát triển trong quan hệ kinh tế giữa hai nước Trung Việt, văn bản thương mại đóng một vai trò quan trọng và việc dịch VBTM Trung – Việt cũng nên được quan tâm đúng mức

và nghiên cứu có hệ thống Trong bối cảnh đó, luận án này sẽ góp phần vào việc nghiên cứu dịch thuật Trung – Việt nói chung và nghiên cứu dịch thuật VBTM Trung – Việt nói riêng cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn

2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng của luận án này là khảo sát chuyển dịch các VBTM Trung – Việt, tập trung chủ yếu vào các loại văn bản giao dịch thương mại như thư tín thương mại và các loại văn bản giao dịch tương tự Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn ở các bản dịch VBTM từ tiếng Trung sang tiếng Việt (được gọi tắt là VBTM Trung – Việt)

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu chính sau đây:

- Tổng quan tình hình và lí luận nghiên cứu dịch thuật nói chung và dịch thuật Trung – Việt nói riêng để vân dụng vào khảo sát việc chuyển dịch các VBTM Trung – Việt

- Xác định đặc trưng của văn bản thương mại, phân tích đối chiếu để chỉ ra những tương đồng và khác biệt của VBTM Trung – Việt

- Khảo sát phương thức chuyển dịchVBTM Trung – Việt, tập trung vào cách chuyển dịch các nhóm từ ngữ và phát ngôn đặc trưng của VBTM Trung – Việt

- Khảo sát các lỗi thường gặp, các nguyên nhân gây lỗi trong dịch VBTM Trung – Việt và đề xuất giải pháp khắc lỗi

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ TƯ LIỆU

Luận án vận dụng phương pháp mô tả, so sánh đối chiếu, đối chiếu dịch thuật, phân tích lỗi Nguồn tư liệu chủ yếu gồm có:

-Văn bản giao dịch thương mại song ngữ của một số công ty thương mại ở Trung Quốc và Việt Nam do tác giả thu thập được

-Các văn bản thương mại trong các giáo trình thương mại đã được biên soạn và xuất bản chính thức

-Bài luyện dịch của sinh viên Trung Quốc chuyên ngành tiếng Việt Chúng tôi sẽ lấy những bài luyện dịch đó để khảo sát và phân tích những lỗi mà người dịch dễ mắc phải

-Một số tư liệu tham khảo trên Internet

5 ĐÓNG GÓP VÀ Ý NGHĨA CỦA LUẬN ÁN

Về mặt lí thuyết:

- Luận án sẽ đóng góp được mốt số kết luận hữu ích cho vấn đề nghiên cứu các thao tác chuyển dịch văn bản thương mại từ tiếng Trung sang tiếng Việt

- Luận án góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lí thuyết (như tương đương dịch thuật, phương pháp, thủ pháp chuyển dịch, nhận diện và khắc phục lỗi) liên quan đến việc chuyển dịch Trung – Việt nói chung và dịch VBTM Trung – Việt nói riêng

Về mặt thực tiễn:

- Giúp cho người dịch và sinh viên học dịch hiểu được bản chất của dịch thuật, nắm được một

số thao tác và kĩ năng trong việc dịch văn bản Trung – Việt

-Nội dung sẽ góp phần vào công tác đào tạo biên phiên dịch Trung – Việt đặc biệt trong việc đào tạo biên phiên dịch viên tương lai cho lĩnh vực kinh tế đối ngoại

-Luận án sẽ có đóng góp cho lí luận dạy học phiên dịch Trung – Việt, đặc biệt trong lĩnh vực dịch văn bản kinh tế thương mại

6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

Trang 4

Luận án bao gồm 3 phần chính: Mở đầu, nội dung và kết luận Trong đó phần nội dung được chia làm 4 chương như sau:

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

CHƯƠNG 2 KhẢO SÁT CHUYỂN DỊCH TỪ NGỮ TRONG VBTM TRUNG – VIỆT

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT CHUYỂN DỊCH PHÁT NGÔN TRONG VBTM TRUNG – VIỆT CHƯƠNG 4 KHẢO SÁT LỖI THƯỜNG GẶP VÀ CÁCH KHẮC PHỤC LỖI TRONG

CHUYỂN DỊCH VBTM TRUNG – VIỆT

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 VĂN BẢN VÀ VĂN BẢN THƯƠNG MẠI

1.1.1 Văn bản và đặc điểm của văn bản

1.1.1.1 Về khái niệm văn bản

Thuật ngữ “văn bản” trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh “textus” Trong ngôn ngữ học, “văn bản” được định nghĩa theo những cách khác nhau Nhà ngôn ngữ học M A K Halliday xem xét văn bản từ góc độ tín hiệu học xã hội: “Văn bản là ngôn ngữ hoạt động trong ngữ cảnh nhất định.” [Halliday & Hasan 1989, tr 10] Trong tiếng Việt, Đinh Trọng Lạc [1996] quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những quy tắc nhất định” Hiện nay, trong tiếng Việt, “văn bản” được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ Đó là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ với nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung

1.1.1.2 Các đặc trưng của văn bản

Beaugrande và Dressler [1981] nêu ra bảy đặc trưng của văn bản: (1) tính liên kết (cohesion); (2) tính mạch lạc (coherence); (3) tính chủ định (intentionality); (4) tính chấp nhận được (acceptability); (5) tính tình huống (situationality); (6) tính thông tin (informativity) và (7) tính liên văn bản (intertextuality) Với tư cách là một loại “hoạt động giao tiếp” (communicative occurrence), tác giả cho rằng văn bản phải đáp ứng được hết bảy tiêu chuẩn này, “nếu thiếu bất kì một tiêu chuẩn nào trong số đó, thì văn bản sẽ mất đi tính giao tiếp.”

1.1.1.3 Các loại văn bản

Trong tiếng Việt và tiếng Trung, văn bản có thể phân loại theo những cách khác nhau, cụ thể như sau:

Xét về dạng thức tồn tại: văn bản nói và văn bản viết

Xét về kiểu cấu tạo: văn bản ổn định, văn bản thông dụng và văn bản tự do.

Xét về phong cách chức năng: văn bản hành chính, văn bản báo chí-chính luận, văn bản khoa

học và văn bản văn chương

1.1.2 Văn bản thương mại

1.1.2.1 Về khái niệm văn bản thương mại

Hiểu theo nghĩa rộng, văn bản thương mại bao gồm những văn bản được sử dụng trong mọi hoạt động giao dịch thương mại như hiệp định kinh tế, hợp đồng mua bán, văn bản quảng cáo sản phẩm, các văn chương bình luận kinh tế,v.v… Hiểu theo nghĩa hẹp, văn bản thương mại chỉ các văn bản thương mại chuyên nghiệp, được gọi chung là thư tín giao dịch thương mại chuyên ngành (business correspondence) Đây là loại văn bản chuyên dùng để những người làm ngoại thương bàn bạc giao dịch, liên hệ nghiệp vụ xuất nhập khẩu với các đối tác trên thế giới

1.1.2.2 Đặc điểm văn bản thương mại

Trang 5

Theo Hữu Đạt [2000], VBTM thuộc phong cách hành chính – công vụ.

Về mặt chức năng, VBTM chủ yếu giúp cho hoạt động thương mại tiến hành một cách thuận lợi

và có hiệu quả Về mặt nội dung, VBTM bao giờ cũng có mục đích giao tiếp rất rõ ràng và liên quan đến công việc cụ thể trong các cuộc giao dịch Mối quan hệ liên nhân được thể hiện trong VBTM rất phong phúc Về mặt ngôn ngữ, tính rõ ràng và dễ hiểu là đặc trưng ngôn ngữ hàng đầu Tiếp theo là tính ngắn gọn và chính xác trong chừng mực tốt nhất Cuối cùng là tính lịch sự và trang trọng

1.1.2.3 Các loại văn bản thương mại

Căn cứ trên thể loại phong cách và chức năng của văn bản, nhằm thuận tiện cho công việc khảo sát, VBTM được chia ra thành bốn tiểu loại, gồm có: (1) thể loại công văn như những thư tín giao dịch thương mại; (2) thể loại ứng dụng như bản hướng dẫn sử dụng; (3) thể loại quảng cáo như văn bản quảng cáo sản phẩm; và (4) thể loại hiệp ước như hợp đồng và hiệp định

1.2 DỊCH THUẬT VÀ NGHIÊN CỨU DỊCH THUẬT

1.2.1 Bản chất của dịch thuật

Có nhiều cách lí giải về bản chất của dịch thuật Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu dịch thuật đi đến một nhận xét chung và cho rằng bản chất dịch thuật là một hoạt động giao tiếp xuyên ngôn ngữ, xuyên văn hóa của nhân loại [Beaugrande 1978; Hatim & Mason 1990; Snell-Hornby 1995] Dịch thuật không đơn thuần chỉ là hành vi ngôn ngữ Hoạt động dịch thuật được thể hiện qua các tín hiệu

có tính quy ước và đặc thù văn hóa

1.2.1.1 Các quan niệm về dịch thuật

Thuật ngữ dịch thuật (translation) có nội hàm ý nghĩa rất phong phú Dựa trên quan niệm của Catford [1994], dịch thuật là một quá trình giao tiếp ngôn ngữ, bắt đầu từ ngôn ngữ nguồn (source language SL) và tái hiện trong ngôn ngữ đích (target language TL) E A Nida đưa ra định nghĩa:

“Dịch là dùng ngôn ngữ gần gũi nhất và tự nhiên nhất trong ngữ đích để tái hiện những thông tin trong ngữ nguồn, trước hết là ý nghĩa và sau đó là phong cách thể loại” [Nida & Taber, 2004, tr.12]

1.2.1.2 Các loại dịch thuật

Jakobson [1959, tr 14] từng chỉ ra ba loại hình dịch thuật: (1) Dịch nội ngôn (2) Dịch liên ngôn (3) Dịch liên kí hiệu Dịch liên ngôn là dịch thuật “chính danh” được chúng ta dùng để chỉ công việc biên phiên dịch

1.2.2 Các khuynh hướng trong nghiên cứu dịch thuật

(1) Khuynh hướng ngữ văn học là giai đoạn nghiên cứu dịch thuật còn tồn tại dưới ảnh hưởng của ngôn ngữ học và văn học so sánh, chưa trở thành một phân ngành khoa học độc lập (2) Khuynh hướng ngôn ngữ học chủ yếu dựa vào thành tựu của lí luận ngôn ngữ học hiện đại, được gọi là trường phái ngôn ngữ học (3) Khuynh hướng văn hóa đã vượt qua được lí thuyết trung thực trong nghiên cứu dịch thuật truyền thống và lí thuyết tương đương trong nghiên cứu dịch thuật hiện đại

1.2.2.1 Cách tiếp cận hình thức

Nhiều nhà nghiên cứu dịch thuật coi dịch thuật như một hoạt động ngôn ngữ, trong đó nhân vật tiêu biểu có J C Catford Catford [1965] định nghĩa dịch thuật là “ngôn liệu văn bản (textural materials) của ngôn ngữ nguồn được thay thế (replacement) bằng ngôn liệu tương đương của ngôn ngữ đích.” Khái niệm tương đương là một khái niệm cốt lõi của lí thuyết dịch thuật của Catford

1.2.2.2 Cách tiếp cận chức năng

Trong nghiên cứu dịch thuật, cách tiếp cận chức năng chủ yếu hình thành học phái dịch thuật

Trang 6

chức năng, nổi tiếng nhất là lí thuyết dịch thuật chức năng của Đức C Nord, nhà dịch thuật học

Đức, lần đầu tiên đưa ra khái niệm chức năng cộng trung thành (Function plus Loyalty) Theo Nord,

“dịch giả nên có trách nhiệm với bản gốc và môi trường bản dịch, có trách nhiệm với người đưa thông tin của bản gốc (hoặc người ủy thác phiên dịch) và độc giả ngữ đích” Nord gọi trách nhiệm này là trung thành (Loyalty) Lí thuyết chức năng cộng trung thành là lí thuyết dịch thuật độc đáo của Nord

1.2.3 Vấn đề tương đương dịch thuật (Translation equivalence)

1.2.3.1 Khái niệm tương đương dịch thuật

Lí thuyết tương đương có sự ảnh hưởng sâu sắc với nghiên cứu dịch thuật Người đầu tiên ở

đương thời đề xuất khái niệm tương đương dịch thuật là A V Fedorov trong chuyên khảo Sơ lược

lí luận dịch thuật: “Dịch thuật là biểu đạt chính xác và hoàn chỉnh những gì được thể hiện trong nội

dung và hình thức của ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.” [dẫn theo 谭载喜, 1991]Theo Fedorov, tương đương dịch thuật thực ra là chính xác và hoàn chỉnh diễn đạt lại nội dung tư tưởng của bản gốc, còn phải nhất trí với bản gốc về mặt phong cách và tu từ

1.2.3.2 Các kiểu tương đương dịch thuật

Tương đương dịch thuật bao gồm bốn kiểu: (1) Tương đương nghĩa hẹp (2) Tương đương nghĩa rộng (3) Tương đương hình thức (4) Tương đương phong cách

1.3 VẤN ĐỀ DỊCH VĂN BẢN THƯƠNG MẠI TRUNG – VIỆT

1.3.1 Lí thuyết dịch văn bản

Nhiệm vụ chính của người dịch là xác lập được mối quan hệ tương đương giữa bản nguồn với bản dịch Dựa vào lí thuyết chức năng ngôn ngữ của K Bühler, Reiss chia văn bản thành ba loại hình chủ yếu: loại hình thông tin (informative), loại hình biểu cảm (expressive) và loại hình thao tác (operative) Reiss [1989, tr 108-109] quy nạp mối quan hệ giữa đặc trưng của các loại hình văn bản

và sách lược dịch thuật tương ứng Reiss cho rằng chức năng chủ yếu của nguyên văn quyết định phương pháp dịch thuật

1.3.2 Đặc điểm dịch VBTM Trung – Việt

Đặc trưng và mục đích giao tiếp của VBTM Trung – Việt yêu cầu người dịch phải cân nhắc nhiều hơn đến hiệu quả đưa thông tin và sự hiểu biết của độc giả Đặc trưng thể loại của VBTM quyết định hình thức của văn bản có tính khuôn mẫu cao trong mọi ngôn ngữ khác nhau, nghĩa là văn bản ngữ đích đều có “chuẩn mực văn phong” [Nord, 2001, tr 55, 62] Mục đích của dịch thuật VBTM không phải là “theo đuổi bất đồng” mà lại là “theo đuổi tương đồng” để giảm thiểu những trở ngại trong việc truyền đạt thông tin một cách tối đa, thực hiện được chức năng và mục đích của bản dịch

1.3.2.1 Thuận lợi

Dịch song ngữ Việt Trung có những thuận lời như sau: (1)Tiếng Việt và tiếng Trung đều thuộc ngôn ngữ đơn lập Từ Hán – Việt tạo nhiều thuận lợi cho việc dịch Trung – Việt (2) Ngôn ngữ Trung – Việt đều có thể loại VBTM được sử dụng trong công việc giao dịch

1.3.2.2 Khó khăn

Nhiều từ Hán – Việt đã hoàn toàn không giữ nội hàm ý nghĩa như trước Từ Hán – Việt là một dao hai lưỡi, vận dụng đúng sẽ tạo thuận lợi cho việt dịch, nhưng vận dụng sai thì sẽ dẫn đến hệ quả xấu Văn bản thương mại có nhiều từ vựng chuyên môn, từ viết tắt cũng có thể trở thành điểm khó

Trang 7

khăn Sự khác biệt về văn hóa Trung Việt cũng tăng sự khó khăn cho việc dịch văn bản

1.3.3 Đơn vị khảo sát dịch văn bản thương mại Trung – Việt

Newmark [1981] cho rằng: “Từ là đơn vị dịch thuật lí tưởng.” Khi dịch VBTM Trung – Việt, đơn vị dịch thuật hợp lí là từ ngữ và câu, vì từ ngữ và câu là đơn vị cơ bản mà người dịch phải trực diện khi dịch VBTM

1.3.4 Các phương pháp/thủ pháp dịch văn bản

1.3.4 1 Khái niệm phương pháp và thủ pháp dịch

Newmark [1988, tr 81] phân biệt phương pháp dịch thuật với thủ pháp dịch thuật: “phương pháp dịch thuật liên quan đến toàn bộ văn bản, còn phủ pháp dịch thuật chỉ dùng cho câu và các đơn

vị nhỏ hơn của ngôn ngữ”

1.3.4.2 Các thủ pháp dịch VBTM Trung – Việt

Trong VBTM Trung – Việt, người dịch phải lấy độc giả ngữ đích làm trung tâm, coi trọng chức năng của văn bản đích mà coi nhẹ hình thức của văn bản nguồn, vận dụng chiến lược dịch thuật một cách linh hoạt, có thể sử dụng cách dịch tư liệu và cách dịch công cụ do Nord đưa ra, cũng có thể dùng cách dịch ngữ nghĩa và cách dịch thông báo do Newmark đề xuất, còn có thể vận dụng các thủ pháp do Nguyễn Hồng Cổn đưa ra để xác lập tương đương trong bản dịch

1.4 TIỂU KẾT

văn bản thương mại là một loại văn bản ứng dụng, có đặc trưng ngôn ngữ đặt thù, nên các tiêu chí và thủ pháp dịch thuật khác với dịch thuật văn học và thơ ca

CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT DỊCH TỪ NGỮ TRONG VBTM

TRUNG – VIỆT

DẪN NHẬP

2.1 KHẢO SÁT DỊCH CÁC THUẬT NGỮ TRONG VBTM TRUNG – VIỆT

2.1.1 Thuật ngữ trong văn bản thương mại

Đặc trưng nổi bật của VBTM là sử dụng thuật ngữ và từ vựng chuyên ngành với số lượng lớn Người dịch VBTM nên nhận thức rằng việc nắm vững chiến lược dịch thuật từ ngữ chuyên ngành thương mại là hết sức quan trọng đối với chất lượng của văn bản

2.1.2 Nguyên tắc dịch thuật ngữ trong VBTM Trung – Việt

2.1.2.1 Nguyên tắc trung thành

Trung thành ở đây không yêu cầu cấu trúc phải nhất trí giữa ngữ nguồn với ngữ đích mà lại yêu cầu nội dung thông tin của bản dịch phải nhất trí với bản gốc Tương đương về nội dung thông báo

là mục tiêu chính mà người dịch luôn luôn phải theo đuổi

2.1.2.2 Nguyên tắc chính xác

Chính xác có nghĩa là bản dịch phải diễn đạt ý nghĩa rõ rệt, không đa nghĩa, không sai về ngữ nghĩa - ngữ pháp, nhất là khi dịch thư tín thương mại, hợp đồng mua bán

2.1.2.3 Nguyên tắc thống nhất

Thống nhất ở đây có nghĩa là khái niệm, định nghĩa và từ vựng chuyên môn phải nhất quán, không được thay đổi tùy tiện

Trang 8

2.1.2.4 Nguyên tắc ngắn gọn

Nguyên tắc ngắn gọn yêu cầu các thuật ngữ nên minh bạch, dễ hiểu, không dài dòng và quá phức tạp Văn bản dịch phải tuân thủ chuẩn mực văn hóa ngữ đích, vừa chính xác vừa trang nhã 2.2 KHẢO SÁT DỊCH CÁC TỪ NGỮ LỊCH SỰ TRONG VBTM TRUNG – VIỆT

2.2.1 Từ ngữ xưng hô trong VBTM Trung – Việt

Từ ngữ xưng hô đóng vai trò rất quan trọng trong VBTM vì chức năng của các văn bản này thể hiện mối quan hệ giữa hai bên hợp tác với nhau (interpersonal relationship) Trong bản gốc lẫn bản dịch, dùng từ ngữ xưng hô một cách chính xác sẽ có ích cho sự hợp tác của đôi bên mậu dịch

2.2.2 Khảo sát dịch từ ngữ xưng hô trong VBTM Trung – Việt

2.2.2.1 Dịch theo ngữ cảnh

khi dịch các từ ngữ xưng hô trong VBTM từ tiếng Trung sang tiếng Việt, người dịch trước hết phải phân tích ngữ cảnh rồi lựa chọn từ ngữ phù hợp với ngữ cảnh đó nhằm mục đích xác lập được tương đương cả về ngữ nghĩa lẫn chức năng văn bản Từ “贵” (quý) là một từ được phối hợp sử” dụng nhiều với các danh từ chỉ cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để diễn đạt ý nghĩa kính trọng với đối phương Ngượi lại, từ “敝” (bỉ) lại được sử dụng để tự xưng hô Nét văn hóa Trung Hoa được” thể hiện rõ nét trong hai từ này

2.2.2.2 Dịch tương đương văn hóa

Chẳng hạn trong văn bản tiếng Trung, người viết dùng từ xưng hô ngôi thứ hai như “贵”方” , để” xưng hô đối tắc, trực dịch hoặc dịch theo âm Hán – Việt là “quý phương” Trong văn hóa thương mại Việt Nam, thương nhân và xí nghiệp Việt Nam lại không dùng từ xưng hô “quý phương” Nhằm mục đích xác lập tương đương văn hóa, từ xưng hô “贵”方” nên dịch thành “quý công ty”” hoặc “phía ngài”, “quý ngài” Trong tiếng Trung hiện đại, đại từ xưng hô ngôi thứ nhất “我” , “我””

们” không có tình thái mầu sắc, trung tính Trong VBTM tiếng Việt, có thể tương đương dịch thành

“tôi”, “chúng tôi” để phù hợp với ngữ cảnh giao tiếp trong ngữ đích

2.2.2.3 Một số từ ngữ xưng hô cần lưu ý

Trong VBTM về lời chào đón và từ biệt, việc dịch chính xác từ ngữ xưng hô rất có ích cho quan

hệ đôi bên Ở Trung Quốc, cả giao tiếp hàng ngày lẫn trường hợp sang trọng, người ta quen đặt hết tất cả danh từ chỉ chức vụ, chức danh vào trước họ tên, điều này là vì người Trung Quốc coi trọng địa vị xã hội của đối tác giao tiếp

2.2.3 Khảo sát dịch từ ngữ xã giao

Chức năng giao tiếp của từ ngữ xã giao hoàn toàn dựa vào bối cảnh văn hóa và tình huống giao tiếp

2.2.3.1 Dịch tương đương chức năng

Từ ngữ xã giao có mầu sắc lịch sự được vận dụng trong VBTM tiếng Trung có nguồn gốc văn ngôn VBTM vận dụng loại từ này khá phổ biến vì từ ngữ lịch sự mang tính xã giao và được coi như “trang điểm” của VBTM, có tính văn hóa dân tộc Muốn có bản dịch thích đáng, người dịch phải không ngừng nâng cao tu dưỡng về song ngữ, hiểu được chức năng mà chúng đảm nhiệm trong văn bản, không dừng lại ở thủ pháp dịch từ đối từ

2.2.3.2 Dịch tương đương văn hóa

Ngôn ngữ trong những văn bản chào mừng khách hoặc tiễn khách đậm mầu sắc văn hóa Trung

Trang 9

Hoa Người viết phát huy năng khiếu văn chương đến mức tối đa, thường dẫn thơ ca cổ điển để tăng sắc thái tình cảm và tu dương văn học Khi dịch những văn bản này, thủ pháp trực dịch có thể khó gây đồng cảm với độc giả ngữ đích Như vậy, người dịch nên phân tích kĩ ngữ nghĩa của từ và câu,

cố gắng xác lập được sự tương đương văn hóa giữa hai văn bản

2.3 KHẢO SÁT DỊCH CÁC CỤM TỪ CỐ ĐỊNH TRONG VBTM TRUNG – VIỆT

2.3.1 Cụm từ cố định trong VBTM Trung – Việt

Cụm từ cố định ở đây mà chúng tôi khảo sát có nghĩa là những thành ngữ trong tiếng Trung, hoặc những cụm từ bốn chữ Thành ngữ cấu trúc cân đối, âm vận êm tai, dùng từ tinh giản và khúc chiết, tăng sắc thái lịch sự cho văn bản Hơn nữa, thành ngữ trong tiếng Trung có tính ổn định, đơn nghĩa, ngắn gọn và đậm mậu sắc văn hóa Vì vậy, khi dịch VBTM Trung - Việt, hiểu và dịch đúng thành ngữ là một khâu hết sức quan trọng

2.3.2 Thủ pháp dịch cụm từ cố định

2.3.2.1 Trực dịch

Trực dịch ở đây không có nghĩa là đơn thuần dịch kiểu 1-1 mà không chú ý đến ý nghĩa nội hàm của thành ngữ Trực dịch phải đảm bảo được tương đương về mặt ngữ nghĩa giữa ngữ nguồn và ngữ đích, tuân thủ cách diễn đạt trong ngữ đích

2.3.2.2 Dịch nghĩa

Trong thực tế, còn nhiều trường hợp phải vận dụng kĩ xảo khác một cách linh hoạt Ví dụ:本品 都是经精心挑选 , 品质优良 , 包装精美 , 食用方”便 , 在东南亚市场是热门货。(Sản phẩm của chúng tôi đều được chọn lựa rất kĩ, chất lượng rất tốt, bao bì đẹp, rất tiện khi dùng đến Sản phẩm của chúng tôi hiện đang là những mặt hàng bán chạy tại thị trường Đông Nam Á.) Trong bản dịch, người dịch hy sinh tính thẩm mỹ về âm vạn mà chỉ dịch ra nghĩa thông báo của cụm từ Sau khi đọc bản dịch, độc giả ngữ đích hiểu được mục đích giao tiếp của người viết, bản dịch thực hiện được chức năng đưa thông tin, tuy một số nét đặc trưng ngôn ngữ trong bản gốc không dữ được

2.4 TIỂU KẾT

Từ ngữ xưng hô, từ ngữ lịch sự, thuật ngữ, thành ngữ và cụm từ cố định trong VBTM tiếng Trung khiến đặc trưng văn bản càng nổi bật Thủ pháp chuyển dịch từ ngữ nên linh hoạt, phải đảm bảo được tương đương về thông tin miêu tả, về mục đích giao tiếp và phong cách phẩm mỹ

CHƯƠNG 3 KHẢO SÁT DỊCH PHÁT NGÔN TRONG VBTM TRUNG – VIỆT

DẪN NHẬP

Lí thuyết hành động ngôn từ có thể vận dụng vào việc dịch VBTM Trung – Việt để xem xét bản dịch có thực hiện được mục đích giao tiếp của văn bản nguồn hay không Chương 3 khảo sát việc dịch 5 nhóm hành động ngôn từ xuất hiện với tần số cao trong VBTM Trung – Việt, tức phát ngôn cầu khiến, phát ngôn hỏi, phát ngôn thông báo, phát ngôn cam kết và phát ngôn biểu cảm

3.1 KHẢO SÁT DỊCH PHÁT NGÔN CẦU KHIẾN

3.1.1 Phát ngôn cầu khiến trong VBTM Trung – Việt

Về mặt từ vựng, người viết dùng những từ ngữ mang tính lịch sự, kính trọng như “敬请” (kính” mời),“希” 希” (hy vọng) để đi song song với những từ ngữ chỉ cầu khiến Nếu biểu đạt ý nghĩa khẩn“希” ” cầu thì phải dùng các từ ngữ như “恭” (cung),“ ”” 拜” (bái) để có tính lịch sự Về mặt cấu trúc, câu

Trang 10

điều kiện là cấu trúc được ưu tiên hàng đầu để diễn đạt ý nghĩa cầu khiến, khiến cho người đọc có cảm giác mình có quyền lựa chọn và nhận được sự kính trọng từ đối tác

3.1.2 Dịch phát ngôn cầu khiến

Để đạt được mục đích giao tiếp trọn vẹn, người dịch nên dùng những từ ngữ có ý nghĩa tương đương như “xin đề nghị”, “xin yêu cầu”, “sẽ yêu cầu” trong văn bản tiếng Việt để diễn đạt phát ngôn cầu khiến, thực hiện lực ngôn trung Khi bên giao dịch có ý muốn mạnh thúc đẩy quan hệ mậu dịch đôi bên, người viết cũng có thể dùng động từ như “提议” (đề nghị), “” 建议” (góp ý) “希”” ,“希” 肯请” (” khẳn cầu) để đưa ra đề nghị của bên mình Cho nên, yêu cầu cốt lõi là hiểu rõ mục đích giao tiếp của người viết và dịch chính xác, tương đương

3.2 KHẢO SÁT DỊCH PHÁT NGÔN HỎI

3.2.1 Phát ngôn hỏi trong VBTM Trung – Việt

Phát ngông hỏi trong VBTM có chức năng hỏi thông tin, khiến phát ngôn uyển chuyển, tăng tính lịch sự, giảm thiểu sự đe dọa thể diện Với những phát ngôn hỏi chính danh, người dịch dễ phân biệt đước chúng về mặt hình thức ngôn ngữ, nhưng khi dịch, người dịch có thể hiểu rõ và tái hiện được ý nghĩa hàm ẩm sau câu hay không, điều đó chính là bản lĩnh siêu ngôn ngữ của người dịch

3.2.2 Dịch phát ngôn hỏi trong VBTM Trung – Việt

Chức năng chủ yếu của phát ngôn hỏi là trao đổi thông tin giữa hai bên giao dịch Trong tiếng Trung, những phát ngôn hỏi kiểu này đều có dấu hiệu chỉ nghi vấn rõ ràng, người dịch thường vận

dụng thủ pháp trực dịch là có thể đạt được yêu cầu Phát ngôn hỏi trong VBTM còn được dùng để

diễn đạt ý nghĩa chất vấn, hoặc uyển chuyển, hoặc kiên quyết theo tình hình thực tế

3.3 KHẢO SÁT DỊCH PHÁT NGÔN THÔNG BÁO

3.3.1 Phát ngôn thông báo trong VBTM Trung – Việt

Phát ngôn thông báo trong các VBTM Trung – Việt có chức năng đưa thông tin cho đối tác Trong văn bản tiếng Trung, người viết thường dùng từ ngữ như “承蒙” , “” 承问” , “” 惠告” để nói đến” thông tin của đối tác đã cho biết, và dùng “谨告” , “” 禀告” , “” 奉告” , “” 敬告” , “ ”” 兹” để dẫn ra thông tin của bên mình

3.3.2 Dịch phát ngôn thông báo trong VBTM Trung – Việt

Chính xác là yêu cầu tất yếu với việc dịch phát ngôn thông báo trong VBTM Như trong thư tín thiếp lập mối quan hệ giao dịch, người viết phải giới thiệu rõ ràng phạm vi kinh doanh của mình Ví dụ: 本公司经营土畜产品加工出口业务。(Công ty chúng tôi chuyên kinh doanh nghiệp vụ gia công, xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi.) Từ ngữ như “特写信” , “” 赐告” , có sắc thái kính trọng và” được dùng để đưa thông tin, tương đương trong tiếng Việt là “cho biết”, “thông báo”

3.4 KHẢO SÁT DỊCH PHÁT NGÔN CAM KẾT

3.4.1 Phát ngôn cam kết trong VBTM Trung – Việt

Trong VBTM, các thông tin về tình thái đạo nghĩa gắn bó với quyền lợi, nghịa vụ và trách nhiệm của các bên Điều này kớp với chức năng của VBTM có tính hành động cao và tính pháp lí Trong VBTM Trung – Việt, người viết nhiều khi phải đảm bảo hoặc hứa hẹn với đối tác một hành động nhất định Những phát ngôn cam kết được thể hiện qua phương tiện ngôn ngữ như động từ

“保证” (đảm bảo), “” 希”望” (hy vọng), và phó từ “” 将会” (sẽ), “” 一定” (chắc chắn).”

Ngày đăng: 22/08/2015, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w