1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

QUẢN lý dược BỆNH VIỆN NHỮNG tác ĐỘNG vĩ mô và VI mô

3 367 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 916,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngành Dược Việt Nam đó đặt ra những vấn đề cấp thiết khi Nghị quyết 46 của Bộ Chớnh trị đặt mục tiờu xõy dựng Ngành Dược thành một ngành kinh tế kỹ thuật mũi nhọn trong bối cảnh nước ta

Trang 1

Y học thực hành (806) – số 2/2012 26

Quản lý Dược bệnh viện: Những tác động vĩ mô và vi mô

Vũ Xuân Phú

Bệnh viện Phổi Trung ương

Ngành Dược Việt Nam đó đặt ra những vấn đề cấp

thiết khi Nghị quyết 46 của Bộ Chớnh trị đặt mục tiờu xõy

dựng Ngành Dược thành một ngành kinh tế kỹ thuật mũi

nhọn trong bối cảnh nước ta đang hội nhập nền kinh tế

toàn cầu Chớnh phủ, Ngành Y tế đó đỏnh giỏ những cố

gắng lớn của Ngành Dược, nhất là trong việc hoàn thiện

hệ thống văn bản phỏp lý và tham mưu cho Chớnh phủ

trong cụng tỏc quản lý Ngành Tại Hội nghị Ngành Dược

ngày 25/4/2008, Phú Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhõn

trực tiếp chủ trỡ và chỉ đạo, Phú Thủ tướng chỳ ý hai vấn

đề: (1) Y tế và thuốc phũng chữa bệnh là ngành hàng cú

điều kiện trong đú bỏc sĩ và dược sĩ là những người cú

vị trớ, trỏch nhiệm quan trọng Việc sử dụng thuốc là do

bỏc sĩ chỉ định và sự hướng dẫn của người dược sĩ

Vậy cần làm gỡ để người dõn sử dụng thuốc khụng

những đạt được mục đớch phũng chữa bệnh mà cũn

hiệu quả, tiết kiệm tiền cho người dõn (2) Nghiờn cứu

để phỏt triển sản phẩm quốc gia của Ngành Dược

Trong thời kỳ hội nhập, nhiều ngành đó và đang cú

những cố gắng trong việc xõy dựng những sản phẩm

quốc gia Vậy Ngành Dược cần làm gỡ?

Thuốc chữa bệnh là loại hàng húa đặc biệt, khụng

thể mua bỏn trao đổi tựy tiện, nhưng ở nước ta thứ hàng

húa đặc biệt này được mua bỏn dễ dàng Khỏch hàng,

người bệnh cú rất ớt hoặc khụng cú thụng tin về sản

phẩm mà mỡnh mua, sử dụng – đõy là đặc điểm rừ nột

về “sự chờnh lệch thụng tin” giữa người cung cấp và sử

dụng/ tiờu dựng trong “thị trường” y tế Trong thị trường

này, nhiều khi giỏ bỏn lẻ rất sỏt giỏ bỏn buụn Nguyờn

nhõn là do sự cạnh tranh, hơn nữa, nguồn thuốc được

chứng nhận là chớnh gốc, cú húa đơn theo qui định luụn

đắt hơn so với thuốc mua lại từ nguồn thương buụn

Thật khú giải thớch cho điều này, tuy là sự thật Cú thể

qua cỏc con đường tiểu ngạch vào nội địa, nguồn hàng

trụi nổi, qua nhiều khõu vận chuyển trong điều kiện

khụng dành cho dược phẩm , khụng thể bảo đảm chất

lượng, hạn dựng Khụng điều kiện bảo quản, bỏn thuốc

theo thúi quen Thuốc liờn quan đặc biệt đến sức khỏe

và tớnh mạng con người Thầy thuốc giỏi cũng khụng thể

nhớ hết hàng ngàn loại thuốc cú mặt trờn thị trường,

huống hồ là người dõn bỡnh thường Với người dõn,

người bệnh, thuốc là dựng để phũng hoặc điều trị bệnh

Tuy nhiờn, khi dựng phải theo chỉ định của bỏc sĩ, uống

phải đỳng liều lượng, đỳng bệnh… mới phỏt huy tỏc

dụng, nếu khụng sẽ trở nờn rất nguy hiểm Đó đến lỳc

phải cảnh bỏo về ý thức của người dõn trong việc tự

bảo vệ sức khỏe bản thõn và trỏch nhiệm của ngành

chức năng trong việc quản lý ngành dược Thực trạng

này sẽ dẫn đến hậu quả nghiờm trọng Cỏc ngành chức

năng phải chấn chỉnh, chấm dứt tỡnh trạng buụng lỏng,

để thuốc trụi nổi trờn thị trường

Thế giới đó gặp phải cuộc khủng hoảng kinh tế khốc

liệt và để lại những hậu quả nặng nề cho xó hội, trong

đú cú sức khỏe của người dõn ở mọi quốc gia Cỏc

chuyờn gia đầu Ngành Dược đó phõn tớch, từ năm 2008,

ngay trong lũng nước Mỹ, một trụ cột của nền kinh tế thế

giới, cuộc khủng hoảng đang lõy lan như một bệnh dịch

với tốc độ chúng mặt trờn toàn cầu Cỏc chuyờn gia kinh

tế hàng đầu bi quan cho rằng đõy là cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ nhất bắt nguồn từ những chớnh sỏch tài chớnh sai lầm của nước Mỹ, làm cho cuộc khủng hoảng lần này cũn tệ hơn cuộc khủng hoảng vào thập niờn 30 của thế kỷ trước Khỏc với khủng hoảng tài chớnh Chõu

Á 1998, khi đú nước Mỹ dường như đứng ngoài cuộc và cỏc chuyờn gia kinh tế Mỹ “kờ đơn, bốc thuốc” cho nền kinh tế Chõu Á, thỡ lần này, chớnh cỏc nhà kinh tế Mỹ loay hoay với chớnh tỡnh hỡnh nền kinh tế quốc gia mỡnh Khủng hoảng kinh tế sẽ dẫn đến hậu quả đối với sức khỏe nhõn dõn Quỏ trỡnh toàn cầu húa kinh tế mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chớnh Chõu Á đó làm cho cuộc khủng hoảng kinh tế lần này lan nhanh như một thứ bệnh truyền nhiễm trong cơn đại dịch và chắc chắn sẽ

để lại những hậu quả nặng nề cho sức khỏe của người dõn ở mọi quốc gia trờn thế giới, đặc biệt là cỏc nước đang phỏt triển Thất nghiệp tăng, bảo hiểm xó hội và y

tế giảm, thu nhập giảm, và chi tiờu cho chăm súc sức khỏe giảm Suy dinh dưỡng xảy ra ở bà mẹ và trẻ em, những bộ phận dõn cư dễ bị tổn thương nhất Thu nhập giảm, đa số người dõn tập trung vào cỏc cơ sở y tế cụng làm cho hệ thống này quỏ tải Một bộ phận người nghốo khụng cú khả năng thanh toỏn chi phớ khỏm chữa bệnh đành để bệnh tật trầm trọng hơn Sự lo õu và stress làm người ta hỳt thuốc, uống rượu nhiều hơn và

tỷ lệ người cú triệu chứng bệnh lý thần kinh tăng lờn Người dõn ớt quan tõm hơn đến phũng bệnh do phải chi tiờu cho cỏc nhu cầu y tế cấp bỏch hơn làm cho cỏc bệnh dịch cú nguy cơ bựng phỏt Hơn 3 triệu người nhiễm HIV/AIDS trờn toàn cầu đang được nhận thuốc ARV cú khả năng mất cơ hội sống cũn do nguồn kinh phớ thiếu hụt Tỡnh hỡnh cũng như thế với bệnh lao, sốt rột Thiếu kinh phớ và thiếu thuốc, nhất là khỏng sinh, sẽ làm cỏc chủng vi khuẩn khỏng khỏng sinh lan tràn, đặc biệt là trực khuẩn Lao Năm 2003, thế giới đó đương đầu với dịch SARS, là vụ dịch đầu tiờn lớn nhất của thế

kỷ 21 lan truyền rất nhanh theo đường hàng khụng quốc

tế, cỏc hoạt động thương mại và du lịch Thương mại đỡnh trệ, một bộ phận dõn cư hoang mang sợ hói, sõn bay, trường học và biờn giới đúng cửa rất may, vụ dịch

đó được chặn lại trong vũng 4 thỏng

Cỏc cụng ty đa quốc gia coi thị trường dược phẩm Chõu Á là một thị trường đầy hứa hẹn do cỏc yếu tố: dõn số đụng; tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao liờn tục nhiều năm; mụ hỡnh bệnh tật phức tạp, đan xen giữa mụ hỡnh cỏc nước cụng nghiệp và cỏc nước đang phỏt triển; hệ thống y tế đang được cải cỏch với sự phỏt triển mạnh

mẽ khu vực y tế tư nhõn

Theo Bộ Y tế, năm 2009 thị phần của cỏc cơ sở sản xuất, kinh doanh thuốc Việt Nam so với thuốc ngoại là 50/50 Đến 2010, tỷ lệ này chỉ cũn là 46/54 Theo thống

kờ của Cục Quản lý Dược, ngành cụng nghiệp dược đó phỏt triển hơn trước (180 nhà mỏy), thị trường dược Việt Nam cú trờn 22.000 mặt hàng thuốc đó được cấp

số lưu hành Tuy nhiờn, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu tới 90% nguyờn liệu sản xuất thuốc và trờn 50% thuốc

Trang 2

Y häc thùc hµnh (806) – sè 2/2012 27

thành phẩm Các công ty dược Việt Nam chủ yếu thực

hiện bào chế gia công, còn hầu như các nguyên liệu hóa

dược đều phải nhập khẩu

Tại các nhà thuốc nhỏ lẻ, người dân lao động phần

lớn chỉ dùng thuốc nội khi mắc phải các bệnh thông

thường Tại các nhà thuốc ở gần bệnh viện, các phòng

khám tỷ lệ người mua thuốc nội thấp Người dân mang

tâm lý thuốc ngoại tốt hơn thuốc nội Tâm lý này của

người dân làm cho công nghiệp dược nội địa gặp khó

khăn hơn Dân số nước ta hiện nay đã hơn 86 triệu

người, với tốc độ tăng trung bình những năm gần đây vào

khoảng hơn 1%/ năm Nếu như năm 2001, mức chi cho y

tế chỉ 6 USD/người, đến năm 2007 đã lên 13 USD/người

và ngày càng có xu hướng gia tăng Có thể nói, nhu cầu

sử dụng các sản phẩm thuốc chữa bệnh và chăm sóc

sức khỏe là bền vững ngay cả trong thời kỳ kinh tế khủng

khoảng Hiện tại, sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng

được khoảng 50% nhu cầu thực tế Triển vọng Ngành

Dược Việt Nam vẫn được đánh giá cao Dù có lợi thế sân

nhà, chưa bị tác động nhiều ngay trong vài năm tới,

nhưng các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trong

nước cũng phải chuẩn bị nâng cao năng lực cạnh tranh

trong môi trường hội nhập ngày càng sâu rộng

Nền kinh tế khủng hoảng, nhiều ngành nghề rơi vào

tình hình khó khăn, lợi nhuận sụt giảm Trong khi đó, kết

quả kinh doanh công bố của các doanh nghiệp thuộc

Ngành Dược vẫn được đánh giá là khá khả quan so với

tình hình chung Ngành công nghiệp dược Việt Nam là

một ngành công nghiệp hội tụ nhiều tiềm năng tăng

trưởng, nhu cầu về dược phẩm ngày càng tăng cao và

đa dạng

Hiện nay, Chính phủ chủ trương phát triển ngành

dược thành một ngành kinh tế mũi nhọn Tuy nhiên,

theo hệ thống cấp bậc phát triển ngành dược phẩm của

Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thì Việt Nam chỉ được

đánh giá ở cấp độ từ 2,5 - 3 Khó khăn lớn của Ngành

Dược Việt Nam hiện nay là chưa tự chủ được nguồn

nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, với trung

bình hơn 90% nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu Để giải

quyết vấn đề về nguyên liệu, cần một sự phát triển đồng

đều hơn các ngành liên quan, mà chủ yếu là ngành nuôi

trồng và chế biến dược liệu và ngành hóa dược, hiện tại

chỉ cung cấp đủ cho một phần nhỏ nhu cầu nội địa

Ngoài ra, cơ cấu sản xuất thuốc nội địa tập trung vào

các sản phẩm thuốc generic thông thường có giá trị

không cao, phần lớn các loại thuốc đặc trị đều phải nhập

khẩu Đây là một khó khăn chung cho các nước đang

phát triển như Việt Nam, ngoài khó khăn về vốn và khả

năng tiếp cận những công nghệ tiên tiến, yếu tố con

người cũng là một rào cản không nhỏ

Năm 2011 là một năm có nhiều khó khăn cho các

doanh nghiệp trong ngành, chủ yếu do bối cảnh khó

khăn của nền kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói

riêng Chi phí tiền thuốc bình quân trên đầu người dự

kiến tiếp tục giữ mức tăng trung bình 16% của các năm

trước, lên 26 USD/người/năm so với mức 22

USD/người trong năm 2010 Trong khi đó, do là mặt

hàng thiết yếu đối với đời sống của người dân, giá thuốc

niêm yết của các doanh nghiệp sản xuất đều bị quản lý

khá chặt chẽ bởi các bộ, ngành liên quan Phần lớn sản

phẩm thuốc đã tăng giá từ đầu năm đều đến từ việc

luân chuyển lòng vòng giữa các đơn vị trong hệ thống

phân phối

Những ảnh hưởng vi mô, bởi hành vi, tâm lý của cả người cung cấp và sử dụng Những thầy thuốc có lương tâm luôn kê đơn và khuyên người bệnh, sử dụng thuốc nội hay ngoại cũng như nhau mà thôi, chủ yếu là tác dụng chữa bệnh Quan trọng hơn là tâm lý tiêu dùng và lương tâm thầy thuốc, người bán thuốc Điều nguy hiểm

là nhiều người khi ốm đau, không đi khám mà tự mua thuốc điều trị, dược sĩ kiêm luôn bác sĩ

Vấn nạn sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan như hiện nay phải chăng do cơ chế quản lý việc bán thuốc quá lỏng lẻo, còn trong công tác điều trị, bác sĩ lại thích dùng kháng sinh? Mặc dù Bộ Y tế đã có quy định thuốc chỉ bán theo đơn của bác sĩ nhưng tình trạng mua bán thuốc dễ dãi như hiện nay đã khiến tình trạng lạm dụng thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh trở thành vấn nạn Thực tế cho thấy, người bệnh, người dân sử dụng nhiều loại kháng sinh khác nhau, nên đã dẫn đến hiện tượng nhờn thuốc, buộc bác sĩ phải kê mạnh tay hơn Về phía bác sĩ, đúng là có hiện tượng lạm dụng kháng sinh Ngoài ra, cũng có trường hợp bác sĩ chiều theo ý bệnh nhân, trong khi chưa xác định được loại vi khuẩn nào và nên dùng loại gì là thích hợp, nhưng theo yêu cầu của người bệnh, họ vẫn chỉ định kháng sinh Đó cũng là một cách lạm dụng kháng sinh

Vấn đề quảng cáo, tiếp thị nhằm tiêu thụ kháng sinh của các công ty dược cũng khiến tình trạng lạm dụng thuốc gia tăng trong bệnh viện và cơ sở bán thuốc Và hậu quả của việc sử dụng thuốc, đặc biệt là thuốc kháng sinh bừa bãi - đó là thảm hoạ Việc lạm dụng kháng sinh đang đẩy nhiều bệnh nhân nhiễm khuẩn đến tình trạng

vô phương cứu chữa vì không đáp ứng phác đồ điều trị đặc hiệu

Hậu quả có thể thấy rõ là sự lãng phí, khả năng không khỏi bệnh, làm chậm và sai lạc chẩn đoán, tác dụng độc hại, dị ứng, suy tủy, sự đề kháng của vi trùng đối với kháng sinh gây hậu quả rộng lớn và lâu dài cho toàn xã hội Với bệnh viện, tỷ lệ chi cho thuốc quá cao, chênh lệch thu - chi giảm, bệnh viện không có khả năng phục hồi chi phí, tích lũy và tái đầu tư, mở rộng và nâng cao chất lượng dịch vụ, trong bối cảnh chi phí cho các yếu tố đầu vào tăng, lạm phát tăng, giá thu một phần viện phí không thay đổi

Với đặc điểm dịch tễ học bệnh lao hiện nay, tình hình lao kháng thuốc (MDR-TB: multidrug - resistant tuberculosis) có thể chi phí đến 250 ngàn USD/ ca, thậm chí không chữa khỏi, và lao siêu kháng thuốc (XDR-TB: extensively drug - resistant tuberculosis) sẽ làm cho công tác điều trị lao trở nên khó khăn, phức tạp và tốn kém kinh phí, thời gian cho người bệnh và cộng đồng Nhưng chiến lược DOTS được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo thực hiện từ 1993, là một trong những can thiệp mang tính chi phí – hiệu quả nhất của Chương trình Một ca bệnh được điều trị khỏi theo chiến lược này chi phí thuốc trung bình từ 20 – 30 USD, hàng năm

có đến 90% bệnh nhân lao được điều trị, phòng tránh được 3 triệu ca tử vong do lao trong những năm thập kỷ tới Chi tiết hơn, mỗi đô la Mỹ đầu tư cho phòng chống lao, sẽ tránh được tổn thất cho quốc gia đó 3 – 4 USD sau này (tỷ suất chi phí – lợi ích là 1: 3 hoặc 1: 4), phòng tránh được nguy cơ lây nhiễm, vì một người bệnh mang trực khuẩn lao sẽ truyền bệnh cho 10 – 15 người trong một năm

Muốn cải thiện tình trạng sử dụng thuốc bừa bãi hiện

Trang 3

Y häc thùc hµnh (806) – sè 2/2012 28

nay thì điều quan trọng nhất chính là nhận thức từ cộng

đồng Hai là, các thầy thuốc phải có trách nhiệm và nêu

cao vai trò của người thầy thuốc để hạn chế việc lạm

dụng kháng sinh

Vai trò của Hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện

cũng cần tăng cường kiểm tra, giám sát kê đơn hợp lý,

phân tích sử dụng thuốc trong các phác đồ điều trị cho

từng ca bệnh hàng tuần hàng tháng tại khoa điều trị, có

chế tài, biện pháp xử lý hiệu quả

Ở mức độ vĩ mô, cần giải quyết bất cập trong quản lý

bệnh viện và quản lý dược là việc phân bổ ngân sách

dựa trên số giường kế hoạch mà không phải trên nhu

cầu thực tế và kết quả hoạt động của cơ sở Tỷ lệ phân

bổ ngân sách cho dự phòng và chi cho đầu tư phát triển

còn thấp, nhiều cơ sở y tế nhà nước đang hoạt động

trong tình trạng xuống cấp, thiếu thốn nghiêm trọng máy móc, trang thiết bị y tế Phương thức thanh toán (viện phí hiện nay) không khuyến khích việc sử dụng hiệu quả nguồn tài chính Viện phí chưa được tính đúng, tính đủ với các chi phí cho dịch vụ Còn thiếu một cơ chế quản

lý giá thuốc và sử dụng thuốc hợp lý

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Báo cáo Hội nghị Ngành Dược, 2008

2 Báo cáo Chương trình Chống Lao Quốc gia, 2007

- 2010

3 Princeton Project 55, Inc Tuberculosis Initiative

4 The Stop TB Partnership Geneva: World Health Organization; 2006 The global plan to stop TB 2006–

2015

MéT Sè NHËN XÐT KÕT QU¶ KH¸M SµNG LäC PH¸T HIÖN SíM UNG THU Vó,

UNG TH¦ Cæ Tö CUNG T¹I HUYÖN NAM TRùC TØNH NAM §ÞNH, N¡M 2010

NguyÔn TuÊn H­ng - Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Y tế,

TrÇn V¨n ThuÊn - Bệnh viện K

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú (UTV) và ung thư cổ tử cung (UTCTC) là

2 bệnh ung thư ở phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh đứng hàng

đầu ở nhiều nước trên thế giới

Bệnh ung thư vú có tỷ lệ mắc cao nhất ở Bắc Âu, tỷ

lệ mắc trung bình ở Nam Âu, Tây Âu và thấp nhất ở

Châu Á, UTV có xu hướng tăng lên Tỷ lệ tử vong thay

đổi nhiều, từ 25- 35/100000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà

Lan và Canada đến 1-5/100 000dân tại Nhật Bản,

Mexico và Venezuela Ở Việt Nam theo ghi nhận ung

thư Hà Nội giai đoạn (2006-2007) tỷ lệ mắc chuẩn theo

tuổi của UTV là 40,2/100.000 dân, Cần Thơ tỷ lệ mắc

chuẩn theo tuổi của UTV là 24,62/100.000 dân đứng

đầu trong các loại ung thư ở nữ Tỷ lệ chết do UTV tăng

lên theo tỷ lệ mắc

Đối với UTCTC đứng hàng thứ 2 trong các ung thư

ở nữ giới sau ung thư vú Hàng năm, toàn thế giới có

khoảng 470000 trường hợp mới mắc, trong đó 80% là ở

các nước đang phát triển Tỷ lệ mắc UTCTC cao nhất là

vùng Nam Mỹ và vùng Caribe; Tỷ lệ mắc UTCTC được

ghi nhận tại Trung Quốc và vùng Tây Á rất thấp Tại các

nước phát triển, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của bệnh này

thấp hơn 15/100000 dân Tỷ lệ mắc và tử vong do

UTCTC có xu hướng giảm dần ở các nước phát triển,

nhưng có xu hướng gia tăng ở nhiều nước đang phát

triển Ở Việt Nam theo thống kê mới nhất, tại Cần Thơ,

UTCTC đứng hàng thứ 2 trong các ung thư ở nữ giới

với tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi (ASR) là 21,6/100000 dân

Kết quả nghiên cứu tại Thừa Thiên Huế UTCTC đứng

thứ 4, tại Hải Phòng đứng thứ 5, tại Hà Nội (2006 -

2007) là 10,7 đứng thứ 6

Ở Việt Nam số bệnh nhân mắc UTV và UTCTC tăng

nhanh hằng năm Bệnh nhân UTV và UTCTC thường

đến khám và điều trị ở giai đoạn muộn (50-60% đến ở

giai đoạn III, IV) Do đó có chương trình sàng lọc phát

hiện sớm UTV triển khai tại cộng đồng được khám bằng

lâm sàng cho hiệu quả tốt

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Một số nhận

xét kết quả khám sàng lọc phát hiệm sớm ung thư vú,

ung thư cổ tử cung tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định năm 2010” nhằm mục tiêu cụ thể:

1 Mô tả thực trạng tình hình ung thư vú, ung thư cổ

tử cung tại tại huyện Nam Trực tỉnh Nam Định

2 Đề xuất một số khuyến nghị liên quan tới phát hiện sớm ung thư vú, ung thư cổ tử cung tại cộng đồng

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng, địa điểm, thời gian nghiên cứu

1.1 Địa điểm nghiên cứu

Chúng tôi nghiên cứu đề tài này tại 13 xã của huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định bao gồm xã: Nam Mỹ, Đồng Sơn, Nam Giang, Nghĩa An, Điền Xã, Hồng Quang, Nam Hùng, Nam lợi, Nam Tiến, Tân Thịnh, Nam Thắng, Nam Hồng, Nam Cường

1.2 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là phụ nữ từ 40 đến 54 tuổi sống tại 13 xã đã được chọn Hiện không mang thai, không có các vấn đề về tâm thần ngôn ngữ đều được mời tham gia vào chương trình

1.3 Thời gian nghiên cứu và tổ chức thực hiện

Thời gian nghiên cứu từ 8/2010 - 10/2010

2 Phương pháp nghiên cứu

2.1 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng phương pháp dịch tễ học mô tả cắt ngang

2.2 Cỡ mẫu: 5000 2.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn ngẫu nhiên huyện Nam Trực sau đó tiến hành khám làm theo 2 bước

Bước 1: Chọn ngẫu nhiên 13 xã trong tổng số 20 xã của huyện

Bước 2: Lập danh sách chọn các phụ nữ sinh từ năm 1955 đến 1969 theo sổ dân số của từng thôn

2.4 Công cụ thu thập thông tin

Phiếu khám lâm sàng Phiếu xét nghiệm

2.5 Phương pháp thu thập thông tin

Khám vú: Sử dụng phương pháp thăm khám lâm sàng Nếu phát hiện khối u bệnh nhân được các chuyên gia tế bào chọc hút tại chỗ để làm xét nghiệm Các kết

Ngày đăng: 22/08/2015, 09:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w