ứNG DụNG Kỹ THUậT SINH THIếT Và CHẩN ĐOáN MộT Số BấT THƯờNG Số LƯợNG NHIễM SắC THể CủA PHÔI SAU Rã ĐÔNG TRONG QUY TRìNH THụ TINH TRONG ốNG NGHIệM Vũ Bích Thụy, Hoàng thị Diễm Tuyết, Ng
Trang 1ứNG DụNG Kỹ THUậT SINH THIếT Và CHẩN ĐOáN MộT Số BấT THƯờNG Số LƯợNG NHIễM SắC THể CủA PHÔI SAU Rã ĐÔNG
TRONG QUY TRìNH THụ TINH TRONG ốNG NGHIệM
Vũ Bích Thụy, Hoàng thị Diễm Tuyết, Nguyễn Khắc Hân Hoan, Phạm Việt Thanh, Dương Quốc Trọng Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ phôi sống sau sinh thiết và
tỉ lệ bất thường số lượng nhiễm sắc thể ở phôi sau rã
đông tạo ra từ phương pháp bơm tinh trùng vào bào
tương trứng, chủ yếu là các bất thường NST 13, 18, 21,
X, Y Thiết lập quy trình hoàn chỉnh về chẩn đoán bất
thường số lượng nhiễm sắc thể của phôi TTTON tại
Khoa Hiếm Muộn và Khoa Di truyền Bệnh viện Từ Dũ
Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu tiền cứu
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Hiếm muộn và khoa Di
truyền Bệnh Viện Từ Dũ
Đối tượng nghiên cứu: Các phôi thụ tinh trong ống
nghiệm bằng phương pháp ICSI và được trữ bằng
phương pháp trữ chậm vào ngày 2 của giai đoạn phát
triển tại BV Từ Dũ (Phôi được bệnh nhân đồng ý tham
gia vào nghiên cứu)
Kết quả: Có 48/155 (31%) phôi sau rã đông thỏa
điều kiện chọn vào mẫu nghiên cứu Sau khi sinh thiết,
có 91% (41/44) phôi bào được thực hiện lai huỳnh
quang tại chỗ FISH Phôi sau sinh thiết được nuôi cấy
và đánh giá hình thái sau 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ Có
95.83% (46/48) phôi sống sau sinh thiết và 56,52%
(26/46) phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang và
thoát màng Kết quả lai huỳnh quang tại chỗ
(Fluorescence in situ hybridization, FISH) cho thấy có
21,05% (4/19) phôi bình thường về 5 NST 13, 18, 21,
X, Y Tỉ lệ phôi có số lượng bình thường NST 13, 18, 21
lần lượt là 74,29% (26/35), 81,08% (30/37) và 80%
(28/35)
Kết luận:Quy trình thực hiện chẩn đoán di truyền
phôi trước làm tổ tại BV Từ Dũ bước đầu mang lại kết
quả Tỉ lệ phôi sau rã đông có số lượng NST 13, 18,
21, X, Y được ghi nhận là 21.05% Mặc dù một số khâu
trong quy trình cần được hoàn thiện để nâng cao hiệu
quả chẩn đoán, bước đầu quy trình thực hiện PGD ở
phôi giai đoạn phân cắt (ngày 3) được thiết lập và
mang lại giá trị chẩn đoán bất thường di truyền cho
phôi TTTON
Từ khóa: phôi sống sau sinh thiết, bất thường số
lượng nhiễm sắc thể, phôi sau rã đông
summary
Objective: To evaluate survival rate of biopsied
embryos and aneuploidy rate of the chromosome 13,
18, 21, X, Y of the blastomeres of the frozen embryos,
which were created by intracytoplasmic sperm injection
(ICSI) And to establish preimplantation genetic
diagnosis process in IVF Department and Genetics
Department of TuDu Hospital
Design: Prospective study
Materials and Methods:
Frozen day-2-embryos using a slow cooling
procedure were consent to research Following
thawing, embryos were cultured for 24 hours The
embryos which further divided and had more than 6 blastomeres with less than 20% of fragmentation were selected to the study One blastomere of each selected embryo was biopsied for FISH analysis Laser was used to open an approximately 30m window on the zona pellucida Biopsied embryos were further cultured
to the blastocyst stage (72h later) The quality of embryos post biopsy was monitored by standard morphological observations The blastomeres were fixed by Carnoy’s fixative, then MultiVysion PGT and Vysis HYBrite™ denaturation/hybridization system (ABBOTT, Germany) were uses in FISH examinations Results:Of 155 frozen-thawed embryos, 48 embryos met the selection criteria for further analysis There were 95.83% (46/48) embryos survived after the biopsy procedure, of these 46 embryos, 56.52% (26/46) embryos developed to hatching/hatched embryos Of the 91% (41/44) blastomeres were examined by FISH, 21.05% (4/19) embryos were euploid of all chromosome 13, 18, 21, X, Y The percentage of euploid embryos of each pair of the chromosome 13, 18, 21, X, Y were 74.29% (26/35), 81.08% (30/37) and 80% (28/35) respectively
Conclusion:Freezing and thawing of embryos followed by blastomere biopsy did not appear to affect subsequent embryo development or embryo quality The percentage of frozen-thawed euploid embryos of all chromosomes 13, 18, 21, X, Y were 21.05% Further optimisation of the FISH technique on a larger number of embryos is necessary before clinical implementation of preimplantation genetic screening into our IVF program can be approved
Đặt vấn đề
Chương trình thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON)
được triển khai tại Việt Nam từ năm 1998 đến nay cả nước đã có hơn 9.000 đứa trẻ ra đời với tỉ lệ thành công dao động từ 26,9% đến 45% (Khoa Hiếm Muộn, BV Từ
Dũ 2009-2011) Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công trong TTTON như chất lượng của môi trường và các thành phần trong tử cung người phụ nữ, hay chất lượng của phôi được tạo nên trong môi trường TTTON Đánh giá chất lượng phôi TTTON qua hình thái phôi là phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong quy trình này nhằm chọn lựa phôi đạt chất lượng tốt để chuyển vào buồng tử cung của người phụ nữ Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào các tiêu chuẩn đánh giá hình thái thì không thể phát hiện phôi mang bất thường
về số lượng hay cấu trúc nhiễm sắc thể Do vậy, làm sao để tối ưu hóa việc chọn lọc phôi TTTON là một trong những chiến lược được quan tâm nhiều nhất hiện nay
Kỹ thuật chẩn đoán di truyền phôi trước làm tổ (Preimplantation Genetic Diagnosis, PGD) lần đầu tiên
Trang 2được thực hiện vào năm 1988 bởi Handyside va cộng
sự bằng cách dùng phản ứng kéo dài chuỗi DNA
(Polymerase Chain Reaction, PCR) để khuếch đại một
trình tự nucleotide trên nhiễm sắc thể Y để phân biệt
giới tính phôi thai cho bệnh nhân mang bệnh liên kết
với NST X PGD giúp xác định tình trạng bất thường
NST hoặc đột biến gen của phôi trước khi quyết định
chuyển phôi vào buồng tử cung Bệnh nhân cần được
thực hiện quy trình TTTON để có phôi sử dụng trong
chẩn đoán di truyền Mẫu sinh thiết có thể là thể cực
của trứng, phôi bào của phôi ở giai đoạn phân cắt hay
các tế bào nuôi của phôi nang Mẫu vật được lai huỳnh
quang tại chỗ (Fluorescence in situ hybridization,
FISH) để phân tích số lượng và cấu trúc NST hay mẫu
vật có thể được phản ứng kéo dài chuỗi DNA
(Polymerase Chain Reaction, PCR) để phát hiện các
bất thường đơn gen Phôi mang kết quả di truyền bình
thường sau đó sẽ được chuyển vào buồng tử cung của
bệnh nhân
PGD thường được áp dụng trên nhóm bệnh nhân
lớn tuổi, điều trị TTTON thất bại nhiều lần, sẩy thai liên
tiếp, BN mang bất thường cấu trúc NST dạng khảm
hay chuyển đoạn, hay mang đột biến đơn gen Các bất
thường di truyền này có thể làm cho phôi không làm tổ
được, sẩy thai hoặc hình thành thai mang bệnh di
truyền hoặc dị tật bẩm sinh Ngày nay, việc chọn phôi
có số lượng NST bình thường bằng PGD để chuyển
vào buồng tử cung đã trở nên phổ biến tại nhiều trung
tâm trên thế giới giúp cải thiện tỉ lệ làm tổ, tăng tỉ lệ có
thai, và giảm số lượng phôi cần phải chuyển dẫn đến
giảm tỉ lệ đa thai
Tuy nhiên, đến nay quy trình thực hiện PGD vẫn
chưa được triển khai tại Việt Nam ứng dụng PGD để
tầm soát các bất thường di truyền là một trong
những trọng tâm phát triển của Bệnh viện Từ Dũ
Đây là đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, do Tổng
Cục Dân Số- Kế Hoạch hóa gia đình quản lý và
được thực hiện bởi Khoa hiếm Muộn và Khoa Di
truyền Bệnh viện Từ Dũ Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu này nhằm đánh giá ảnh hưởng của PGD trong
khảo sát bất thường số lượng NST 13, 18, 21, X, Y
lên khả năng phát triển phôi và góp phần hoàn chỉnh
qui trình PGD tại Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu:
Xác định tỉ lệ phôi sống sau sinh thiết và tỉ lệ bất
thường số lượng nhiễm sắc thể ở phôi sau rã đông tạo
ra từ phương pháp bơm tinh trùng vào bào tương trứng,
chủ yếu là các bất thường NST 13, 18, 21, X, Y
đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu tiền
cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc ứng dụng kỹ
thuật mới trong quy trình TTTON, được thực hiện từ
tháng 02/2010 đến tháng 06/2011
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện
trên các phôi trữ lạnh của các cặp vợ chồng tiến hành
thụ tinh trong ống nghiệm bằng phương pháp bơm tinh
trùng vào bào tương trứng tại Khoa Hiếm Muộn Từ Dũ
(2002-2010) và đồng ý hiến phôi cho mục đích nghiên
cứu khoa học
Cỡ mẫu: Tỉ lệ bất thường số lượng NST ở phôi dao
động từ 32.1-70.7% Do vậy, ước tính tỷ lệ bất thường NST của phôi ước tính tối đa là 71% Chọn tỷ lệ bất thường NST của phôi mong muốn là 50% Độ tin cậy 95% và độ chính xác mong muốn không quá 10% áp dụng công thức tính cỡ mẫu và xác định được n = 45
Phương pháp tiến hành
Đối tượng nghiên cứu được chọn là các phôi trữ lạnh của các cặp vợ chồng điều trị bằng phương pháp TTTON IVF/ICSI trong khoảng thời gian từ năm 2002
đến năm 2010 tại BV Từ Dũ Toàn bộ số phôi này đã
được trữ bằng phương pháp trữ chậm với môi trường 1,2-propanediol ở giai đoạn phôi phân cắt ngày 2 (4-6 phôi bào) Sau khi rã đông, phôi sống được xác định khi có trên 75% phôi bào sống Sau đó các phôi này
được cấy trong môi trường nuôi cấy phôi G-1 Plus (Vitrolife, Sweden) ở 37oC, 6% CO2, 5% O2 Sau 24 giờ nuôi cấy, hình thái phôi được đánh giá lại dựa theo tiêu chuẩn của Gerris et al trong đánh giá phôi giai đoạn phân cắt vào ngày 3 Phôi được chọn vào nghiên cứu khi thỏa điều kiện tăng ít nhất 1 phôi bào sau 24 giờ nuôi cấy, có ≥ 6 phôi bào và tỉ lệ phân mảnh dưới 20% Trước khi sinh thiết, phôi được ủ trong môi trường không có canxi/magné (G-PGDTM, Vitrolife Sweden) trong 10 phút ở 37oC Quy trình sinh thiết được thực hiện trên kính hiển vi đảo ngược (Nikon, US) và hệ thống vi thao tác Hệ thống laser ZILOS-tk (Hamilton Thorne, UK) và phần mềm ZILOS-tk được sử dụng để
mở cửa sổ màng zona có kích thước 30-40m Kim sinh thiết (Conception Technologies-CA) được dung để lấy 1 phôi bào ra từ mỗi phôi Phôi sau sinh thiết sẽ
được nuôi cấy trong môi trường G-2 Plus (Vitrolife, Sweden) ở 37o
C, 6% CO2, 5% O2 vàđược đánh giá hình thái sau 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ (ngày 4, 5, 6) dựa trên tiêu chuẩn của Gardner và Schoolcraft Phôi bào sau đó được cố định trên lam bằng dung dịch Carnoy’s (3 methanol:1 acid acetic) Lam sau đó được thực hiện
lai huỳnh quang tại chỗ (Fluorescence in situ
hybridization, Vysis MultiVysion PGT, Abbott, Đức) để chẩn đoán bất thường di truyền về số lượng NST 13,
18, 21, X, Y Quy trình thực hiện gồm các bước chính sau: (1) Xử lý lam trước khi lai bằng dung dịch ethanol 70%, 90% và 100% trong 2 phút, (2) xử lý đoạn dò (probe) và lai ở 37o
C trong tối thiều 4 giờ, (3) Rửa lai trong dung dịch SSC và quan sát dưới kính hiển vi Carl Zeiss, Meta system (UK) Số lượng NST của phôi bào
được xác định bởi số lượng tín hiệu màu sắc sau: NST
13, cho tín hiệu màu đỏ, NST 18 cho tín hiệu màu xanh biển, NST 21 cho tín hiệu màu xanh lục, NST X cho tín hiệu màu xanh dương, NST Y cho tín hiệu màu vàng Hiệu quả của quy trình lai được kiểm chứng bởi lam chứng (MultiVysion, CEP probes (Abbott) ở mỗi chu
kỳ lai huỳnh quang tại chỗ
Kết quả Có 24 cặp vợ chồng đồng ý hiến 155 phôi trữ lạnh cho nghiên cứu Sau khi rã đông, có 85/155 (54.83%) phôi sống và được nuôi cấy trong 24 giờ Trong đó chỉ có 48/85 (56.47%) phôi được chọn vào nghiên cứu vì thỏa điều kiện chọn vào mẫu nghiên cứu Kết quả sinh thiết phôi và nuôi cấy phôi
Trang 3Đặc điểm phôi sinh thiết được tóm tắt ở Bảng 1
Trong đó có 12.50% (6/48) phôi có trên 8 phôi bào và
29.17% (14/48) phôi được sinh thiết có tỉ lệ phân mảnh
< 5% Sau khi sinh thiết, có 91% (41/44) phôi bào được
thực hiện lai FISH, do có 1 phôi bào vỡ sau sinh thiết
và 3 phôi bào mất trong quá trình cố định Thời gian
sinh thiết 1 phôi trung bình là 192 giây trung bình là
139.30 giây/phôi (R 101-182, SD ± 25.50) Đường kính
trong của cửa sổ màng zona trung bình là 25.25m
(R20.50-30, SD ±6.71) và đường kính ngoài trung bình
là 29.53m (R21.36-37.7 SD ±11.55)
Sau sinh thiết, toàn bộ số phôi được nuôi cấy và
đánh giá hình thái sau 24 giờ, 48 giờ và 72 giờ Kết quả
được tóm tắt trong Bảng 3 Kết quả cho thấy 95.83%
(46/48) phôi sống sau sinh thiết (phôi sống khi 24 giờ
sau sinh thiết, phôi tăng ít nhất 1 phôi bào), trong đó
56.52% (26/46) phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang
và thoát màng
Bảng 1: Đặc điểm phôi sinh thiết
Số lượng Tỉ lệ %
Số phôi
bào (pb)
Số lượng Tỉ lệ %
Tỉ lệ phân
mảnh của
phôi (%)
Bảng 2: Đặc điểm nhân phôi bào sau cố định
Số lượng Tỉ lệ %
Rõ Cô đặc Rõ Cô đặc Nhân pb quan
sát được 31/44 13/44 70.45 29.55
Rõ Không rõ Rõ Không rõ
Quan sát
nhân phôi
bào (pb)
trước lai
Viền pb quan
sát được 20/44 24/44 45.45 54.55
Có Không Có Không Quan sát
nhân phôi
bào sau lai
Tín hiệu quan
sát được 41/44 3/44 85.42 6.25
Bảng 3: Đánh giá phôi phát triển sau 24 giờ, 48 giờ
và 72 giờ sau sinh thiết
Số lượng Tỉ lệ %
Phôi nang thoát màng zona 26/46 56.52
Phôi ngừng phát triển ở giai đoạn phân cắt 9/46 19.57
Phôi ngừng phát triển ở giai đoạn nén 6/46 13.04
Phôi ngừng phát triển ở giai đoạn phôi nang 5/46 10.87
Kết quả lai huỳnh quang và chẩn đoán di truyền
Hiệu quả của quy trình lai được kiểm chứng bởi lam
chứng (MultiVysion, CEP probes (Abbott) Kết quả cho
thấy 100% chu trình lai cho kết quả tín hiệu với toàn bộ
5 NST 13, 18, 21, X, Y Tổng hợp kết quả cho thấy có
53.66% (19/41) phôi không có kết quả di truyền ít nhất
1 cặp NST 13, 18, 21, hay X, Y, còn lại là 21.05%
(4/19) phôi bình thường về 5 NST 13, 18, 21, X, Y
(Bảng 4)
Bảng 4: Kết quả phân tích di truyền về số lượng
NST
Số lượng Tỉ lệ % Không có kết quả (-,-) Jun-41 14.63
Đơn bội (13,-) Mar-35 8.57 Tam bội (13, 2x 13) Apr-35 11.43 NST 13
Bình thường (13,13) 28/35 80 Không có kết quả (-,-) Apr-41 9.76
Đơn bội (18,-) Apr-37 10.81 Tam bội (18, 2x18) Mar-37 8.11 NST 18
Bình thường(18,18) 30/37 81.08 Không có kết quả (-,-) Jun-41 14.63
Đơn bội (21,-)
May-35 14.29 Tam bội (21, 2x 21) Apr-35 11.43 NST 21
Bình thường (21,21) 26/35 74.29 Không có kết quả (-,-) 19/41 46.34
Có 2 NST giới tính (X,X) (X,Y) 16/22 72.73
Có 1 NST giới tính (X,-) (Y,-) May 22- 22.73
NST giới tính (X, Y)
Có 3 NST giới tính (XXY) (XYY) (XXX) (YYY) 22-Jan 4.55
Bàn luận Quy trình sinh thiết và nuôi cấy phôi
Quá trình sinh thiết để chẩn đoán di truyền trước làm tổ trong nghiên cứu này được thực hiện ở giai
đoạn phân cắt của phôi (ngày thứ 3 sau thụ tinh) Quy trình sinh thiết chung bao gồm việc sử dụng kính hiển
vi đảo ngược được gắn hệ thống vi thao tác để cố
định mẫu vật, mở cửa sổ màng zona pellucida, dùng kim sinh thiết để lấy mẫu vật ra khỏi trứng hay phôi Sau đó trứng hay phôi sẽ tiếp tục được nuôi cấy, mẫu vật được cố định để chẩn đoán di truyền Trước khi sinh thiết, phôi được ủ trong môi trường không có canxi/magné (G-PGDTM, Vitrolife Sweden) trong 10 phút ở 37oC Kết quả nghiên cứu của Dumoulin và cs (1998) cho thấy thời gian ủ phôi trong môi trường này quá lâu sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển tiếp theo của phôi Thời gian ủ phôi trong nghiên cứu này được giới hạn (dưới 10 phút) và phôi được rửa sạch nhiều lần trước sinh thiết
Sau đó phôi được chuyển qua đĩa sinh thiết để mở cửa sổ màn zona pellucida Đây là phương pháp tạo một lỗ ở màng bao ngoài của phôi (zona pellucida) và
từ vị trí ấy, kim sinh thiết được đưa vào bên trong phôi
để lấy mẫu vật ra ngoài Nghiên cứu này dùng tia laser
để mở cửa sổ màng zona, đây được xem là phương pháp đơn giản dễ sử dụng nhất Tuy nhiên, hiệu quả lâm sàng cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển của phôi khi dùng tia laser so với dùng phương pháp cơ học hay acid tyrode phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm, kỹ năng cũng như sự khéo léo của người thực hiện Đường kính trong trung bình và đường kính ngoài trung bình của cửa sổ màng zona trong nghiên cứu của chúng tôi là 25.25 m (R 20,50-30, SD ±6,71) và 29,53
m (R 21,36-37,7 SD ±11,55) Nếu cửa sổ màng zona
mở quá to, toàn bộ phôi sẽ có nguy cơ thoát ra ngoài
Trang 4khi thao tác trên phôi hay chuyển phôi Ngược lại, nếu
cửa sổ quá nhỏ, nguy cơ song thai cùng trứng sẽ tăng
Alikani và cs (2003) báo cáo tỷ lệ song thai cùng trứng
ở những ca thực hiện phương pháp hỗ trợ phôi thoát
màng là 0,55% (P < 0,05) Tuy nhiên, số liệu thống kê
của Cochrane 2003 từ 23 thử nghiệm lâm sàng ngẫu
nhiên có đối chứng cho thấy chưa có mối tương quan
rõ ràng giữa song thai cùng trứng và kỹ thuật hỗ trợ
phôi thoát màng Do vậy, nguyên nhân của sự gia tăng
tỷ lệ có thai là do bản thân quá trình TTTON (kích thích
buồng trứng, môi trường nuôi cấy phôi…) hay do tác
động lên màng zona cần được xác định qua nhiều thực
nghiệm lâm sàng hơn
Nhiều nghiên cứu trong vòng 20 năm qua cho thấy
quá trình sinh thiết 1 phôi bào không làm ảnh hưởng
đến khả năng làm tổ cũng như sự phát triển của các
em bé sinh ra từ phương pháp TTTON Nghiên cứu
chúng tôi thực hiện sinh thiết 1 phôi bào/phôi và có tỉ lệ
phôi bào sống và tiếp tục phân cắt sau sinh thiết là
95,83% (46/48), 2 phôi bào chết sau sinh thiết do là
phôi có chất lượng xấu, có 6 phôi bào/phôi và có tỷ lệ
phân mảnh 20% Trong 46 phôi sống này, có 56,52%
(26/46) phôi phát triển đến giai đoạn phôi nang và
thoát màng khi đánh giá hình thái phôi sau 72 giờ sinh
thiết, có 19,57% (9/46 phôi ngừng phát triển ở gia đoạn
phân cắt, 13,04% (6/46) phôi ngừng phát triển ở gia
đoạn nén và 10,87% (5/46) phôi không thoát màng
Kết quả của chúng tôi tương đối phù hợp khi so sánh
với kết quả trong nghiên cứu của Goossen và cs
(2008) công bố tỷ lệ hình thành phôi nang sau sinh
thiết 1 phôi bào/phôi là 51,6% (829/1608 phôi)
Tỉ lệ bất thường NST
Theo nghiên cứu của Magli và cs (2007) khi sinh
thiết 4665 phôi để thực hiện PGD-FISH, phôi có 8 phôi
bào vào ngày sinh thiết (ngày 3) cho tỉ lệ bất thường số
lượng NST thấp nhất (48%), so với tỉ lệ bất thường số
lượng NST của phôi có 7 phôi bào là 56% và phôi có 6
phôi bào là 71% (Hình 1) Kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy có 21.05% (4/19) phôi bình thường
về 5 NST 13, 18, 21, X, Y (Bảng 4) ở cả 3 nhóm phôi
có 6,7, hay 8 phôi bào vào ngày sinh thiết Kết quả
nghiên cứu của chúng tôi tương đối phù hợp với nghiên
cứu trên, tuy nhiên số lượng mẫu phôi bào chẩn đoán
di truyền còn quá ít và cần được thực hiện nghiên cứu
thêm trong tương lai nhằm xác định tỉ lệ bất thường 5
NST 13, 18, 21, X, Y ở phôi TTTON
Hình 1: Bất thường số lượng NST tương ứng với các giai đoạn phát
triển của phôi có ≥ 5 phôi bào quan sát lúc 62 giờ sau thụ tinh
Nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả phôi mang
số lượng bình thường NST 13, 18, 21 lần lượt là 74,29% (26/35), 81,08% (30/37) và 80% (28/35) Kết quả này phù hợp với nghiên cứu PGD của Jennifer và
cs (2009) tại Boston IVF thực hiện trên 703 phôi TTTON của 99 bệnh nhân báo cáo tỉ lệ phôi có số lượng NST 13 bình thường dao động từ 76-79%, tỉ lệ phôi có số lượng NST 18 bình thường là 70-81% và tỉ lệ phôi có số lượng NST 21 bình thường là 22-23% Hạn chế của nghiên cứu chúng tôi là lượng mẫu thu thập còn quá ít (48 phôi bào được sinh thiết) Vấn đề thuyết phục bệnh nhân đồng ý hiến phôi cho nghiên cứu thực sự rất khó khăn và phải thông qua nhiều bước thủ tục hành chính Đồng thời, toàn bộ các phôi bệnh nhân hiến là những phôi được trữ lạnh bằng phương pháp trữ chậm trong thời gian từ 2-10 năm cũng là yếu
tố cản trở làm giảm đi nguồn phôi bệnh nhân hiến tặng
và phôi thỏa điều kiện được chọn vào nghiên cứu Bên cạnh đó, kỹ thuật FISH trong PGD thực hiện chỉ trên một phôi bào duy nhất Đây là một kỹ thuật cao, đòi hòi người thực hiện di truyền có nhiều kinh nghiệm chuyên môn trong quy trình thực hiện và phân tích kết quả Trong bước đầu thực hiện này, tỉ lệ phôi bào không có kết quả di truyền của chúng tôi còn tương đối cao, dao
động từ 9,76-14,63% cho các NST 13, 18, 21 Tuy nhiên, với điều kiện con người và cơ sở vật chất hiện tại của khoa Hiếm Muộn và Khoa Di truyền BV Từ Dũ, những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn và chẩn đoán nhiều NST hơn sẽ được thực hiện trong tương lai không
xa nhằm có được kết quả chẩn đoán PGD chính xác hơn cho bệnh nhân
Kết luận
Phương pháp chẩn đoán di truyền trước làm tổ nhằm giúp lựa chọn phôi không mang một số bất thường di truyền xác định Sinh thiết và chẩn đoán di truyền là hai quá trình quan trong trong chẩn đoán di truyền trước làm tổ Nghiên cứu của chúng tôi chứng minh được quá trình sinh thiết phôi không ảnh hưởng
đến sự phát triển tiếp theo của phôi 56.52% phôi sau sinh thiết vẫn phát triển tiếp đến giai đoạn phôi nang
và có thể sử dụng để chuyển vào buồng tử cung sau khi được chẩn đoán không mang bất thường di truyền xác định Nghiên cứu này cũng xác đinh được tỉ lệ phôi trữ-rã TTTON có số lượng NST 13,18, 21, X, Y bình thường là 21.05% Quy trình chẩn đoán PGD tại khoa Hiếm Muộn và khoa Di Truyền BV Từ Dũ được xây dựng hoàn chỉnh và mang lại ý nghĩa thiết thực cho nhóm bệnh nhân lớn tuổi, điều trị TTTON thất bại nhiều lần, sẩy thai liên tiếp, BN mang bất thường cấu trúc NST dạng khảm hay chuyển đoạn, hay mang đột biến đơn gen
Triển khai thành công qui trình PGD sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực hỗ trợ sinh sản tại Việt Nam, nắm bắt được sự tiến bộ khoa học trên thế giới, đưa các kỹ thuật chẩn đoán di truyền hiện đại ứng dụng trong y học, chủ động loại bỏ các bất thường về
di truyền Điều này mang ý nghĩa rất lớn trong việc loại
bỏ các gen xấu trong cộng đồng và nâng cao chất lượng dân số của Việt Nam
Trang 5TàI LIệU THAM KHảO
1 Blake D, Proctor M, Johnson N and Olive D (2005)
Cleavage stage versus blastocyst stage embryo transfer
in assisted conception Cochrane Database Syst Rev 2:
CD002118
2 Sandalinas M, Sadowy S, Alikani M, et al
Developmental ability of chromosomally abnormal human
embryos to develop to the blastocyst stage Hum Reprod
2001; 16: 1954–8
3 Handyside A.H., Kontogianni E.H., Hardy K.,
Winston R.M., 1990 Pregnancies from biopsied human
embryos sexed by Y-specific DNA amplification Nature
344, 768–770
4 Joyce C Harper, Preimplantation Genetic
Diagnosis 2nd Edition, Edited by Joyce Harper University
College London, Cambridge University Press
5 Richard A, Anderson, Sue P 2008 The current status of preimplantation genetic screening: British Fertility
Society Policy and Practice Guidelines Human Fertility
11:2, 71-75
6 Pellicer A, Rubio C, Vidal F et al 1999 In vitro
fertilization plus preimplantation genetic diagnosis in patients with recurrent miscarriage: an analysis of chromosome abnormalities in human preimplantation
embryos Fertility and Sterility 71, 1033–1039
7 Werlin L, Rodi I, DeCeherney A et al 2003 Preimplantation genetic diagnosis as both a therapeutic and diagnostic tool in assisted reproductive technology Fertility and Sterility 80, 467–468
8 Kahraman S, Benkhalifa M, Donmez E et al 2004 The results of aneuploidy screening in 276 couples undergoing assisted reproductive techniques Prenatal Diagnosis 4, 307–311
NGHIÊN CứU Độ TậP TRUNG I-131 VàO TUYếN GIáP UNG THƯ NGUYÊN PHáT
Phan Sỹ An, Trần Giang Châu và CS TóM TắT
Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá độ tập
trung I-131 ở tuyến giáp ung thư nguyên phát theo kích
thước khối u và giai đoạn ung thư
Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu trong nhóm
bệnh nhân đã được xác định tế bào học, kích thước
khối u và giai đoạn UTTG theo các tiêu chuẩn và mô
bệnh học Mỗi bệnh nhân được uống 5Ci I-131ở dạng
dung dịch Iodua natri Dùng đầu đếm nhấp nháy với
tinh thể NaI có kích thước 5 x 5 cm có bao định hướng
hình trụ Đặt chế độ gamma phổ kế một kênh với độ
mở cửa sổ là 80-120 KeV.Đo HTPX tuyến giáp so với
liều uống sau 2 giờ và 24 giờ
Kết quả và kết luận: Độ tập trung I-131 tại tuyến
giáp,không góp phần vào chẩn đoán ung thư giáp
nhưng vẫn có giá trị thăm dò chức năng giáp của tổ
chức tuyến giáp lành còn lại Độ tập trung I-131 của
nhóm UTTGT hầu hết tương đương với người bình
thường với giá trị trung bình 12,7% ở thời điểm 2 giờ và
28,5% ở thời điểm 24 giờ Không có sự tương quan với
kích thước khối U và giai đoạn UTTGT tiên phát Đo độ
TT I-131 còn giúp tính liều điều trị UTTG thể biệt hóa
bằng I-131, nó không thể thiếu trong qui trình điều trị
Từ khóa: độ tập trung I-131, tuyến giáp ung thư
SUMMARY
Study objectives: The study evaluates the I-131
concentration in primary thyroid cancer with tumor size
and stage of cancer Subjects and Methods:The study
patient group were identified cytology, tumor size and
stage by standards and histopathology Each patient is
given 5 Ci I-131 Used detector of flashes with
crystals NaI(Tl)-size 5 x 5 cm and by how orient
collimated Set a channel gamma spectrometer with
80-120 KeV degrees Detected activity on thyroid after
2 hours and 24 hours Results and conclusions: I-131
concentration in the thyroid, not contribute to the
diagnosis of thyroid cancer but still worth exploring the
function of thyroid gland of the organization remains
healthy The I-131 concentration of cancer group
equivalent normal people with average value 12.7% at the time of 2 hours and 28.5% at the time of 24 hours
No correlation with tumor size and stage of primary thyroid cancer
Keywords: I-131 concentration, primary thyroid cancer
ĐặT VấN Đề
Để chẩn đoán chức năng tuyến giáp trạng, từ những năm 1950 nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã ứng dụng các phương pháp y học hạt nhân để
đo độ tập trung I-131 (iod phóng xạ) ở tuyến giáp Vì iod là một trong những nguyên liệu để tổng hợp nên hormon tuyến giáp, do đó khi iod được hấp thu vào máu chỉ có tuyến giáp mới bắt giữ lại tùy theo yêu cầu
sử dụng của tế bào tuyến Trong ung thư tuyến giáp (UTTG) nguyên phát, để chẩn đoán lâm sàng và cận lâm sàng, nhiều phương pháp đã được ứng dụng như xét nghiệm tế bào học, mô bệnh học, định lượng các hooc môn trục yên giáp, các chất chỉ điểm khối u Bên cạnh đó còn có các phương pháp ghi hình tuyến giáp như chụp X quang, CT, MRI, siêu âm tuyến giáp, Y học hạt nhân ghi hình như Scanner, Gamma-camera, SPECT,PET và PET/CT Đặc biệt là phương pháp đo
độ tập trung I-131 ở tuyến giáp, đơn giản nhất và hưũ ích nên được ứng dụng nhiều Vì sơ bộ ban đầu nó đã cho biết chức năng của tế bào tuyến giáp bình thường hay bệnh lý
ở Việt Nam, Phan Văn Duyệt đã ứng dụng từ những năm 1970 Phương pháp đo độ tập trung I-131 vào tuyến giáp cũng đã được nghiên cứu và ứng dụng ngay từ những ngày đầu của các khoa, các đơn vị y học hạt nhân trong cả nước Tuy nhiên nghiên cứu riêng và sâu ở Việt Nam trong ung thư tuyến giáp trạng nguyên phát cũng chưa có nhiều, do đó trong công trình này chúng tôi tập trung vào mục tiêu: Nghiên cứu đánh giá độ tập trung I-131 ở tuyến giáp ung thư nguyên phát theo kích thước khối u và giai
đoạn ung thư