1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN sán ĐƯỜNG RUỘT ở CÔNG NHÂN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN, dĩ AN, BÌNH DƯƠNG

3 431 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 520,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu cho thấy tính cấp thiết của công tác tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm cho các bếp ăn tập thể bên cạnh phổ biến rộng rãi kiến thức về vệ sinh cá nhân cho

Trang 1

Y học thực hành (807) - số 2/2012 95

- Cơn gút xuất hiện sau bữa ăn có nhiều rượu thịt

(87,3 %)

- Khởi phát bệnh đột ngột chiếm 75,6 %

- Viêm khớp bàn ngón chân cái 73,7%, khớp cổ

chân 47,8 %, khớp bàn chân 38,0 % Tỷ lệ bệnh nhân

có hạt tophi (13,2%)

- Nồng độ acid uric máu trung bình:508,63±120,30

mol/l

TàI LIệU THAM KHảO

1 Trần Ngọc Ân (2000), “Bệnh gút ”, Bách khoa thư

bệnh học tập 3, NXB từ điển bách khoa

2 Ngô Đình Châu (2001), Nghiên cứu nồng độ acid

uric máu ở người tăng cân và béo phì, Luận văn Thạc sĩ Y

học, Trường Đại học Y Khoa Huế, tr.67-69

3 Vũ Đình Chính, Trần Tuấn Nga, Trần Thị Minh Tâm

(2008), “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến hàm

lượng acid uric máu và nước tiểu ở người bình thường và ở

bệnh nhân gút”, Y học thực hành, (526), tr.83-87

4 Phan Hữu Chính (2004), “Bước đầu nhận xét bệnh

thống phong tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa”, Hội nghị khoa học chuyên đề Bệnh thoái hóa khớp và cột sống,

tr.140-144 5 Phạm Quang Cử (2009), “Nghiên cứu các biến

chứng bệnh gút”, Y học thực hành, (9), tr.15-17

6 Đoàn Văn Đệ (2003), “Đặc điểm lâm sàng, chẩn

đoán phân biệt bệnh gút và viêm khớp dạng thấp”, Y học thực hành, Bộ Y Tế, (5), tr.61-63

7 Lê Thu Hà (2008), “Đặc điểm của viêm khớp gút tại

Khoa Khớp Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108”, Tạp chí

Y Dược lâm sàng 108, Tập 3, (3), tr.10-14

8 Nguyễn Văn Quýnh (1998), “Một số nhận xét qua theo dõi và điều trị 81 bệnh nhân gút tại Khoa A1- Bệnh viện 108, Y học quân sự, tr.4-6

TìNH HìNH NHIễM GIUN SáN ĐƯờNG RUộT

ở CÔNG NHÂN THUộC KHU CÔNG NGHIệP SóNG THầN, Dĩ AN, BìNH DƯƠNG

Nguyễn Đình Thuận, Vũ Lê Ngọc Lan, Nguyễn Thị Ngọc Lan,

Vũ Thị Thu Hà, Lê Văn Bảy, Nguyễn Hữu An, Phan Ngọc Thảo,

Nguyễn Thị Phương Quỳnh, Cao Hữu Nghĩa

Viện Pasteur Thành phố Hồ Chí Minh

TóM TắT

Qua xét nghiệm 384 mẫu phân thu nhận từ công

nhân thuộc khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình

Dương, chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ nhiễm giun sán

đường ruột của công nhân là 18,48%, trong đó nhiễm

giun móc chiếm tỷ lệ cao nhất cao nhất là 14,58%;

nhiễm giun tóc, giun đũa, sán lá gan lớn tương ứng

2,86%, 0,78% và 0,26%; nhiễm phối hợp 2 loại giun:

1,82% Bên cạnh những tác nhân ký sinh đa bào là

những ký sinh đơn bào khác như Entamoeba

histolytica 0,52%, Blastocystis 0,52% và Giardia

lamblia 0,26% Kết quả nghiên cứu cho thấy tính cấp

thiết của công tác tập huấn kiến thức vệ sinh an toàn

thực phẩm cho các bếp ăn tập thể bên cạnh phổ biến

rộng rãi kiến thức về vệ sinh cá nhân cho công nhân

Từ khóa: giun sán đường ruột, công nhân, Viện

Pasteur Tp HCM

summary

We examined stool of 348 workers in Song than

Industrial Park, Di An, Binh Duong Province The

results showed that: the prevalence of intestinal

helminth was 18.48%, including the highest prevalence

was hookworm 14.58%, other parasites that were seen

Trichuris trichiura 2.86% and Ascaris lumbricoides

0.78%, Fasciola hepatica 0.26% The infected workers

with two kind of intestinal nematodes was 1.82%

Additionally, workers were infected unicellar agents

such as: Entamoeba histolytica 0.52% and Giardia

lamblia 0.26%

Results from this study survey showed that training

food safety safe of hygiene condition are necessary in

public kitchen beside wide dissemination with

knowdege of personal hygiene in workers

Keywords: intestinal helminth, worker, Pasteur

Institute HCMC

ĐặT VấN Đề

Nhu cầu sử dụng thực phẩm được chế biến tại bếp

ăn tập thể hiện nay rất lớn vì tính tiện ích của nó Nhu cầu này tập trung ở khu vực đông công nhân như các công ty, xí nghiệp Mặc dù Bộ Y tế đã không ngừng tăng cường và cải tiến công tác quản lý, giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, tuy nhiên việc giám sát các bếp ăn tập thể tại các công ty, xí nghiệp, vì nhiều lý do vẫn còn hạn chế [1] Vì vậy, bên cạnh các bệnh giun sán truyền qua đất còn có những bệnh giun sán truyền qua thức ăn đã và đang nổi lên là một vấn đề sức khỏe tại cộng đồng và đang phải đối mặt như là một bệnh bị lãng quên Ước tính có khoảng 67 triệu người trong số

86 triệu người dân Việt Nam sống trong vùng dịch tễ của bệnh do giun sán Đây là những bệnh có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của tất cả người dân, đặc biệt là tác động trên những người đang ở độ tuổi lao

động có cống hiến nhiều nhất cho xã hội Chúng tôi

thực hiện đề tài: “Tình hình nhiễm giun sán đường

ruột ở công nhân thuộc khu công nghiệp Sóng thần,

Dĩ An, Bình Dương” có ý nghĩa thiết thực trong công

tác thanh tra, kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm cho các bếp ăn tập thể, để từ đó loại trừ các bệnh do giun sán ký sinh gây ra

PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang

2 Đối tượng: công nhân chọn vào nghiên cứu chưa

có biểu hiện lâm sàng về nhiễm ký sinh trùng, không đi chân đất cũng như tiếp xúc với đất, đang làm việc tại khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình Dương, ăn

Trang 2

Y học thực hành (807) - số 2/2012 96

uống phụ thuộc hoàn toàn vào bếp ăn tập thể của

công ty và đồng ý tham gia nghiên cứu

3 Cỡ mẫu:

n = Z2

(1-  /2)

p 1 - p

d2

Trong đó, Z: trị số tra từ bảng phân phối chuẩn;

: mức ý nghĩa thống kê,  = 5%  Z (1-  /2) = 1,96

p: tỷ lệ nhiễm ký sinh (p=0,5)

d =0,05: độ chính xác mong muốn

n = 196

2

x 05 x 1 - 05

0052

4 Thời gian nghiên cứu: 1/2010-6/2010

5 Phương pháp

Mỗi đối tượng tham gia nghiên cứu nhận một lọ lấy

mẫu phân: lọ miệng rộng, sạch Sau khi phân được

cho vào lọ, không lẫn lộn với nước tiểu Sau đó, bộ

phận thu nhận mẫu chuyển về phòng Vi sinh bệnh

phẩm Viện Pasteur Tp Hồ Chí Minh trong thời gian

ngắn nhất Tại đây, mẫu được phân tích và báo cáo kết

quả

Phương pháp làm phết mẫu phân: chú ý phân nhầy

và có máu Tiến hành: trên một kính mang vật: cho

một giọt dung dịch nước muối sinh lý 0,85% và một

giọt dung dịch lugol 5%; dùng que lấy 1-2mg phân rồi

đánh tan trong dung dịch nước muối sinh lý và cũng

làm như thế trong dung dịch lugol; đậy kính phủ vật lên

phết vừa làm; quan sát bằng vật kính X.10 khắp mẫu

phân; nếu ghi ngờ có ký sinh trùng, cho điểm nghi ngờ

vào giữa thị trường và quay sang vật kính X.40 để xem

rõ chi tiết [3, 4, 5]

Phương pháp Willis (phong phú ký sinh trùng): để

gia tăng số lượng ký sinh trùng, chúng tôi dùng phương

pháp làm nổi với nước muối bão hòa (250g muối trong

750ml nước) Tiến hành: trộn 1g phân với 12ml nước

muối bão hòa trong một ống nghiệm cho tan đều; thêm

nước muối bão hòa đến gần đầy ống nghiệm và trộn

đều một lần nữa; dùng ống hút nhỏ, nhỏ từng giọt nước

muối bão hòa vào ống nghiệm cho đến khi có mặt

cong lồi trên ống nghiệm (tránh làm tan ra ngoài ống);

cẩn thận đặt một miếng kính mỏng lên ống nghiệm, để

yên 30 phút; nhẹ nhàng dùng kẹp nhấc miếng kính

phủ vật lên và đặt một miếng kính mang vật có nhỏ

sẵn một giọt dung dịch lugol; đem quan sát dưới kính

hiển vi [3, 4, 5]

KếT QUả và BàN LUậN

1 Tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột

Trong nghiên cứu của chúng tôi, vì muốn xác định

tỷ lệ nhiễm giun sán qua đường ăn uống của công

nhân thuộc khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình

Dương, nên đối tượng mà chúng tôi chọn đưa vào

nghiên cứu là những công nhân không đi chân đất

hoặc không tiếp xúc với đất, ăn uống phụ thuộc hoàn

toàn vào bếp ăn tập thể của công ty Sau khi thu thập

mẫu phân, chúng tôi tiến hành soi trực tiếp, đồng thời

thử nghiệm Willis và thu được kết quả như sau (bảng

1):

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột

Tên giun sán Tần số Tỷ lệ (%) (n=384)

Kết quả bảng 1 cho thấy tỷ lệ nhiễm giun sán

đường ruột của công nhân khu công nghiệp Sóng thần,

Dĩ An, Bình Dương là 18,48% Tỷ lệ nhiễm giun sán

đường ruột trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn tỷ

lệ nhiễm giun sán đường ruột theo nghiên cứu của Vũ Văn Thái được báo cáo năm 2006 là 57,5% [6] Điều này có thể do nghiên cứu của Vũ Văn Thái tập trung trên tất cả người dân ở hai xã Đại Đức và Đồng Gia, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, đây là một huyện phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp Trong khi đó nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung trên những đối tượng là công nhân thuộc khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình Dương nên tỷ lệ nhiễm giun sán ở đường ruột có thấp hơn

Theo một nghiên cứu của Nguyễn Minh Hùng và cộng sự báo cáo năm 2010 về an toàn vệ sinh thực phẩm bếp ăn tập thể Thành phố Hồ Chí Minh, có 95% người phụ trách bếp ăn tập thể chưa có kiến thức đúng

về vệ sinh an toàn thực phẩm, 89% bếp ăn tập thể không đảm bảo về điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, 88% bếp ăn này có nhân viên chưa thực hành

đúng về vệ sinh an toàn thực phẩm [1] Những công nhân tham gia vào nghiên cứu này phụ thuộc hoàn toàn vào bếp ăn tập thể nên bị nhiễm giun sán là không thể tránh khỏi Trong nghiên cứu của chúng tôi,

tỷ lệ nhiễm giun móc của công nhân khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình Dương chiếm tỷ lệ 14,58% Mặc dù ấu trùng giun móc xâm nhập vào cơ thể người qua đường da là chủ yếu, nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, ngoài con đường nhiễm vào người qua da, các đối tượng này có thể bị nhiễm giun móc theo

đường ăn uống Theo nghiên cứu của Vũ Văn Thái, tỷ

lệ nhiễm giun móc của người dân ở hai xã huyện Kim Thành, Hải Dương 12,42% là thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi [6]

Bên cạnh nhiễm giun móc, công nhân ở khu công nghiệp Sóng thấn, Dĩ An, Bình Dương còn nhiễm giun tóc, giun đũa, sán lá gan lớn chiếm tỷ lệ tương ứng: 2,86%, 0,78% và 0,26% Đây là những giun sán mà công nhân bị nhiễm do ăn uống chưa vệ sinh, rau sống rửa không kỹ hoặc do ăn thịt có nhiễm ký sinh trùng nấu không chín

2 Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm các loài giun sán đường ruột:

Trên 384 mẫu phân từ công nhân đưa vào nghiên cứu, công nhân bị nhiễm một loại giun hoặc sán chiếm

tỷ lệ 18,48%, nhiễm hai loài giun chiếm tỷ lệ 1,82% Trong đó, công nhân nhiễm giun móc và giun tóc chiếm tỷ lệ 1,56%, nhiễm giun móc và giun đũa 0,26% (bảng 2)

Bảng 2: Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm các loài giun sán đường ruột

Số xét nghiệm Nhiễm 1 loài Nhiễm 2 loài

Tần số Tỷ lệ (%) Tần số Tỷ lệ (%)

384

Trang 3

Y học thực hành (807) - số 2/2012 97

3 Tỷ lệ nhiễm các tác nhân ký sinh đơn bào

Trong nghiên cứu của chúng tôi, vì đây là những

mẫu phân thu nhận từ các công nhân chưa có biểu

hiện lâm sàng về nhiễm ký sinh trùng, nên kết quả mà

chúng tôi phân tích được là những bào nang (bảng 3)

Entamoeba coli, Entamoeba hartmani là amíp ký sinh

không gây bệnh Entamoeba histolytica là loại amíp ký

sinh có vai trò gây bệnh ở người và biểu hiện dưới

nhiều dạng: nhiễm âm thầm, gây viêm ruột già mãn

tính, lỵ cấp tính, di chuyển ra ngoài đường ruột gây

apxe ở gan, phổi, Chu trình phát triển của amíp là

chu trình trực tiếp, người lành trực tiếp ăn phải những

bào nang vấy bẩn từ thức ăn, nước uống (vai trò tay

bẩn của những người mang mầm bệnh, vai trò của

những vật truyền như ruồi) [7, 8] Với kết quả này,

chúng ta cần xem xét lại yếu tố vệ sinh môi trường tại

những nơi phát hiện

Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm các tác nhân ký sinh đơn bào

Bào nang Entemoeba histolytica 2 0,52

Bào nang Entemoeba hartmanni 1 0,26

KếT LUậN

Qua nghiên cứu cắt ngang 384 mẫu phân của công

nhân khu công nghiệp Sóng thần, Dĩ An, Bình Dương,

cho thấy: tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột của công

nhân là 18,48%, trong đó công nhân bị nhiễm giun

móc chiếm tỷ lệ cao nhất 14,58% Ngoài ra, công nhân

còn nhiễm giun tóc 2,86%, giun đũa 0,78% và sán lá

gan lớn 0,26% Bên cạnh những tác nhân ký sinh đa

bào là những ký sinh đơn bào khác như Entamoeba

histolytica, Blastocystis và Giardia lamblia

Với kết quả nghiên cứu này, chúng ta cần có sự quan tâm đúng mức của Ban lãnh đạo công ty, xí nghiệp và các Cơ quan quản lý Nhà nước về vệ sinh

an toàn thực phẩm nhằm nâng cao chất lượng bữa

ăn của công nhân, giảm các bệnh truyền nhiễm lây qua đường ăn uống, đảm bảo sức khỏe cho người lao động

TàI LIệU THAM KHảO

1 Nguyễn Minh Hùng và cộng sự An toàn Vệ sinh thực phẩm bếp ăn tập thể Thành phố Hồ Chí Minh và các giải pháp phòng ngừa ngộ độc thực phẩm Tạp chí Y học

Tp Hồ Chí Minh, Vol 14-Supplement No 1-2010:88-94

2 Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung Ương Hội nghị kêu gọi tài trợ cho dự án loại trừ bệnh giun chỉ bạch huyết, bệnh mắt hột và phòng chống bệnh giun sán tại Việt Nam, ngày 8-9/09/2011

3 Giáo trình Ký sinh trùng Trường Đại học Y Dược

Tp Hồ Chí Minh, Khoa Dược Trường Đại học Y Dược Tp

Hồ Chí Minh

4 Trần Vinh Hiển Ký sinh học Trường Đại học Y Dược Tp Hồ Chí Minh, 1991

5 Training manual on diagnosis of intestinal parasites WHO/CTD/SIP/98.2, 2004

6 Vũ Văn Thái Tình hình nhiễm giun đường ruột và kiến thức-thái độ-thực hành của người dân về bệnh giun

đường ruột tại hai xã, huyện Kim Thành, Hải Dương Đại học Y Hải Phòng, 2006

7 Amare Mengistu, Solomon Gebre-Selassie, Tesfaye Kassa Prevalence of intestinal parasitis infections among urban dwellers in southwest Ethiopia Ethiop J Health Dev 2007: 21(1): 12-17

8 M Ellin Doyle Foodborne Parasites A Review of the Scientific Literature Review University of Wisconsin Madison, 2003

ĐặC ĐIểM LÂM SàNG, VI KHUẩN TRONG VIÊM TAI GIữA ứ DịCH

Phạm Mạnh Công, Nguyễn Công Hoàng

ĐặT VấN Đề

Viêm tai giữa ứ dịch là một bệnh rất thường gặp ở

trẻ em, tuy nhiên trước đây rất ít được phát hiện vì bệnh

nhi không có hiện tượng chảy mủ tai mà chỉ có dấu

hiệu nghe kém, mà dấu hiệu này rất ít được phát hiện

Ngày nay với các phương tiện thăm khám bằng nội soi

tai cộng với đo nhĩ lượng đã phát hiện được khá nhiều

bệnh nhi bị bệnh

Hiện nay vấn đề chẩn đoán không còn là quá khó

khăn Tuy nhiên, tìm hiểu những nguyên nhân,vi khuẩn

gây bệnh là vấn đề rất cần được nghiên cứu Vì vậy,

trong nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng và vi khuẩn trong viêm

tai giữa ứ dịch

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng: bao gồm các trường hợp được chẩn

đoán viêm tai giữa ứ dịch và đã được điều trị đặt ống

thông khí đồng thời xét nghiệm vi khuẩn dịch tai giữa

Thời gian nghiên cứu từ tháng 04/2011 đến tháng

11/2011 với các tiêu chuẩn lựa chọn là:

- Có bệnh án đầy đủ, đúng quy định

- Có nội soi, kết quả thính lực đồ và nhĩ lượng

- Có xét nghiệm vi khuẩn, được điều trị bằng đặt ống thông khí

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp mô tả có can thiệp từng trường hợp thể hiện

a Nghiên cứu lâm sàng

- Hỏi bệnh theo bộ câu hỏi thể hiện các triệu chứng cơ năng như: nghe kém, cảm giác đầy tai, ù tai, chóng mặt, hiện tượng tự và, đau tai

- Khám thực thể nội soi tai, xem có biến đổi về vị trí hình thái của màng nhĩ như màng nhĩ dầy đục, mất bóng, màng nhĩ đầy phòng, có bọt khí, có mức dịch, xẹp nhĩ, màng nhĩ xung huyết, có màu vàng kem, có màu xanh

Ngoài ra chúng tôi cũng thăm khám các bộ phận khác của mũi họng như VA, Amidal, mũi xoang, dị tật

hở hàm ếch, u vòm họng v.v…

Ngày đăng: 22/08/2015, 09:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột - TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN sán ĐƯỜNG RUỘT ở CÔNG NHÂN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN, dĩ AN, BÌNH DƯƠNG
Bảng 1 Tỷ lệ nhiễm giun sán đường ruột (Trang 2)
Bảng 2: Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm các loài giun  sán đường ruột - TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN sán ĐƯỜNG RUỘT ở CÔNG NHÂN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN, dĩ AN, BÌNH DƯƠNG
Bảng 2 Tỷ lệ đơn nhiễm và đa nhiễm các loài giun sán đường ruột (Trang 2)
Bảng 3: Tỷ lệ nhiễm các tác nhân ký sinh đơn bào - TÌNH HÌNH NHIỄM GIUN sán ĐƯỜNG RUỘT ở CÔNG NHÂN THUỘC KHU CÔNG NGHIỆP SÓNG THẦN, dĩ AN, BÌNH DƯƠNG
Bảng 3 Tỷ lệ nhiễm các tác nhân ký sinh đơn bào (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm