Aug;562:197-203 TìM HIểU NGUYÊN NHÂN Và CáC YếU Tố NGUY CƠ ở TRẻ SUY DINH DƯỡNG NHẹ Và VừA DƯớI 2 TUổI TạI VIệN NHI TRUNG ƯƠNG LƯU THị Mỹ THụC ĐặT VấN Đề Suy dinh dưỡng SDD cho đến
Trang 1Biểu đồ 1: Tương quan giữa kích thước khối CNTC
trên siêu âm và phẫu thuật
Nhận xét: Kích thước khối CNTC trên siêu âm,
trung bình và đlc là 6,98 cm ± 5,33, trên phẫu thuật là:
7,31 cm± 4,31 Hệ số tương quan: r = 0,8635, phương
trình y = 0,6985x + 2,4368
KếT LUậN
Siêu âm đầu dò âm đạo ở bệnh nhân CNTC: quan
sát thấy có khối CNTC trên siêu âm, gồm khối CNTC
điển hình, không điển hình và hình ảnh dịch máu tự do
ổ bụng Siêu âm đóng vai trò trung tâm trong việc chẩn
đoán, theo dõi CNTC, là phương pháp chẩn đoán hình
ảnh có độ nhạy cao
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Văn Thịnh (2008), “Thai lạc chỗ”, Y Dược
ngày nay - Cấp cứu Sản Phụ khoa Số 3
2 Vũ Hoàng Lan, Đặng Thị Minh Nguyệt (2008), “So
sánh điều trị chửa ngoài tử cung tạ bệnh viện Phụ Sản
trung ương 6 tháng đầu năm 2000 và 6 tháng đầu năm
2006”, Y Học TP.Hồ Chí Minh, Tập 12: Phụ bản số 4
3 Deborah Levine (2007), “Ectopic Pregnancy”, Radiology: Volume 245: Number 2
4 Edward P Lin, Shweta Bhatt et al (2008),
“Diagnostic Clues to Ectopic Pregnancy”, RadioGraphics 28:1661-1671
5 Emma Kirk, Tom Bourne (2009), “Best Practice & Research Clinical Obstetrics and Gynaecology”, Best Practice & Research Clinical Obstetrics and Gynaecology 1-8
6 Lucie Morin, Michiel C Van den Hof et al (2005),
“Ultrasound Evaluation of First Trimester Pregnancy
Complications”, Obstet Gynaecol Can 27(6):581-585
7 Mary C Frates, Douglas L Brown et al (1994),
“Tubal Rupture in Patients with Ectopic Pregnancy:
Diagnosis with Transvaginal US”, Radiology 191:769-772
8 Mostafa Atri (2003), “Ectopic Pregnancy Versus Corpus Luteum Cyst Revisited Best Doppler Predictors”,
Journal Ultrasound Med 22:1181-1184
9 Schwartz RO, Di Pietro DL (1980), “Beta-hCG as a
diagnostic aid for suspected ectopic pregnancy”, Obstet Gynecol Aug;56(2):197-203
TìM HIểU NGUYÊN NHÂN Và CáC YếU Tố NGUY CƠ
ở TRẻ SUY DINH DƯỡNG NHẹ Và VừA DƯớI 2 TUổI TạI VIệN NHI TRUNG ƯƠNG
LƯU THị Mỹ THụC
ĐặT VấN Đề
Suy dinh dưỡng (SDD) cho đến nay vẫn là vấn đề
thời sự ở các nước đang phát triển do làm tăng tỷ lệ
mắc bệnh và cùng với bệnh tật gây ra tỷ lệ tử vong cao
ở trẻ em Năm 2009, WHO ước tính rằng có 27% trẻ
em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị suy dinh
dưỡng Khoảng 178 triệu trẻ em (32%) trẻ em ở các
nước đang phát triển bị suy dinh dưỡng mạn tính
Năm 2008, có 8,795 triệu trẻ em dưới 5 tuổi tử vong
trên toàn cầu, trong đó nguyên nhân nhiễm trùng là
5,970 triệu trẻ (68%) trong đó viêm phổi là 18%, tiêu
chảy 15% và tỷ lệ tử vong cao ở trẻ bị tiêu chảy và
viêm phổi là do kết hợp với suy dinh dưỡng [8] Tuy
nhiên hai phần ba số trẻ tử vong này có thể phòng
tránh được bằng nhiều các biện pháp can thiệp ví dụ
như chương trình nuôi con bằng sữa mẹ, tiêm chủng
mở rộng, phòng chống thiêu vi chất, cung cấp nước
sạch, nhìn chung tất cả nhằm mục tiêu cải thiện tình
trạng dinh dưỡng cho trẻ vì suy dinh dưỡng đã đóng
góp vào một nửa số ca tử vong
Việt Nam, tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao 21,2%
(nguồn Viện Dinh Dưỡng năm 2007) tuy đã có nhiều
các biện pháp can thiệp tích cực như lồng ghép các
chương trình phòng chống suy dinh dưỡng protein –
năng lượng, phòng chống thiếu vitamin A, chương trình
nuôi con bằng sữa mẹ, tiêm chủng mở rộng, phòng
chống thiếu máu thiếu sắt ở bà mẹ mang thai và cho
con bú vv
Mục tiêu của nghiên cứu nhằm tìn hiểu: Nguyên
nhân và các yếu tố nguy cơ của trẻ dưới 2 tuổi bị suy
dinh dưỡng để từ đó đưa ra các biện pháp can thiệp để
có thể làm giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống mức thấp nhất có thể
PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU Nghiên cứu cắt ngang
Đối tượng:
Tất cả trẻ dưới 6-24tháng tuổi bị suy dinh dưỡng tới khám và điều trị ngoại trú tại phòng khám bệnh viện nhi TƯ
Tiêu chuẩn chọn đối tượng:
Tất cả trẻ em có SDD độ 1 và 2 dưới 2 tuổi đến khám tại Viện nhi từ tháng 6/2009
Tiêu chuẩn loại trừ:
Trẻ suy dinh dưỡng độ 3 Trẻ có dị tật bẩm sinh Trẻ bị mắc bệnh chuyển hóa di truyền, bệnh mạn tính
Địa điểm điều tra: phòng khám ngoại trú bệnh
viện nhi TƯ
Cỡ mẫu:
n = Z2 (1- /2) (pxq)xDE/d2 trong đó:
n: cỡ mẫu nghiên cứu
Z(1- /2): hệ số tin cậy ở mức xác suất 95% = 2 p: tỉ lệ % trẻ suy dinh dưỡng (theo điều tra tại Viện nhi năm 2008 là 14.3%)
q: tỉ lệ % trẻ không suy dinh dưỡng (100- 14.3% = 85.7%)
DE: hệ số thiết kế nghiên cứu: 2 d: độ chính xác mong muốn: 5%
n = 432 trẻ và 15 % sai sót khi tiến hành điều tra do vậy n = 450 trẻ
Trang 2Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: số liệu
được nhập vào máy tính và xử lý bằng chương trình
SPSS 10.0 Tính các chỉ tiêu nhân trắc của trẻ em
(W/A; H/A; W/H) theo Z-score (dựa trên quần thể tham
khảo WHO 2006) Các kết quả được tính toán thống kê
và trình bày theo tỷ lệ (%), số trung bình, độ lệch chuẩn
(SD) Tất cả các kết quả phân tích có ý nghĩa khi p<
0,05
Thời gian tiến hành: 6/2009-12/2009
KếT QUả Và BàN LUậN
Kết quả cụ thể:
Trong thời gian 6 tháng từ tháng 6/2009 đến tháng
12/2009 tại Phòng khám Dinh Dưỡng Viện nhi có:
6677 trẻ đến khám bệnh trong đó có 3834 trẻ từ
6-24 tháng (57%)
Tỷ lệ trẻ SDD là: 500 trẻ/tổng số trẻ <24 tháng,
trong đó có 50 trẻ SDD nặng phải nhập viện (10%), có
450 trẻ suy dinh dưỡng nhẹ và vừa chiếm 90%
Tổng số có 450 trẻ được chọn vào nghiên cứu, có
20 trẻ bị thu thập số liệu thiếu hay nói cách khác là
thiếu hụt thông tin, so vậy để đảm bảo cho sự chính
xác của kết quả nghiên cứu, chúng tôi chỉ lấy kết quả
của 430 mẫu nghiên cứu có trẻ SDD tính theo cân
nặng/tuổi
Tỷ lệ nam là 184 trẻ chiếm 42,79% và nữ là 246 trẻ
chiếm 57,21% Kết quả của chúng tôi chỉ tính trên cỡ
mẫu là 430 trẻ Nghiên cứu của chúng tôi cũng như
của các tác giả khác (Minh: nam 46,7% và nữ 53,3%)
tuy có thấy tỷ lệ trẻ nữ mắc nhiều hơn nam nhưng sự
khác biệt này không có ý nghĩa thống kê, do vậy đều
không thấy sự khác nhau giữa 2 giới nam và nữ
1 Tình hình mắc SDD theo lứa tuổi
Nhận xét: tỷ lệ trẻ SDD ở trẻ <24 tháng là rất cao,
trong nghiên cứu của chúng tôi thấy tỷ lệ cao nhất gặp
ở trẻ 6-12 tháng tuổi (52,09%) có lẽ đây là thời kỳ
chuyển đổi thức ăn khi trẻ chuyển từ thức ăn sữa dạng
lỏng hay bú mẹ sang ăn bổ sung không đứng dẫn đến
tình trạng SDD ở lứa tuổi này hay gặp nhất điều đó
chứng tỏ về kiến thức chăm sóc trẻ còn chưa đầy đủ
Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với các nghiên
cứu khác như Nguyến Anh Tuấn cũng đưa ra kết luận
tương tự
2 Phân bố các thể SDD theo lứa tuổi
Nhận xét: Trong các thể SDD thì dù là thể nào thì tỷ
lệ gặp cao nhất cũng là ở trẻ từ 6-12 tháng tuổi Kết
quả này cũng phù hợp với điều tra của Viện nhi và của
các tác giả khác cũng cho thấy SDD ở trẻ từ 6-12
tháng năm 2008 là 52,6% Giai đoạn ăn bổ sung
thường là giai đoạn trẻ hay bị mắc bệnh và SDD do trẻ
bị phơi nhiễm với nhiễm trùng và rối loạn dinh dưỡng
đặc biệt ở các nước nghèo, ô nhiễm môi trường (hay
gặp ở các nước đang phát triển) [7,10]
Bàn Luận
Qua sự thành công của các biện pháp can thiệp của chương trình phòng chống SDD ở cộng đồng như
sự lồng ghép giữa chương trình SDD với chăm sóc sức khỏe ban đầu, TCMR, uống vitamin A mà tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn đã giảm, qua đó gián tiếp mà tỷ lệ SDD đã giảm đáng kể Mặt khác, nhờ không ngừng
đẩy mạnh và nâng cao công tác đào tạo chuyên môn cho các cán bộ y tế tuyến cơ sở mà việc điều trị SDD ở
đây đã thu được kết quả khả quan Tuy nhiên SDD hiện nay vẫn còn ở mức cao và mục tiêu năm 2010 giảm SDD thể nhẹ cân xuống 18% và thể thấp còi xuống 30% là do SDD hiện nay không chỉ đơn thuần là
đói ăn mà còn do sự thay đổi của mô hình bệnh tật với những bệnh cảnh phúc tạp, mặt khác kiến thức nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ nhỏ khi trẻ khỏe và lúc bệnh tật của các bậc cha mẹ còn hạn chế do vậy tỷ lệ SDD trong những năm cuối của thể kỷ XX đã giảm một cách nhanh chóng và ngoạn mục nhưng đến những năm
đầu của thế kỷ XXI thì thấy lượng trẻ bị SDD vẫn không
hề thay đổi VD như năm 2001 có 175 trẻ vào viện,
2002 là 199 trẻ vào viện, năm 2003 là 182 trẻ và năm
2008 có 378 trẻ
Do vậy sự can thiệp để phòng chống SDD cần đồi hỏi can thiệp và nỗ lực hơn nữa đặc biệt là đẩy mạnh truyền thông giáo dục để nâng cao nhận thúc của các bậc cha mẹ trong vấn đề chắm scos và nuôi dưỡng trẻ nhỏ đặc biêt là NCBSM và ăn bổ sung đúng
Bên cạnh việc suy dinh dưỡng hay gặp ở lứa tuổi nhỏ thì thấy thiếu máu cũng thường gặp ở lứa tuổi này
Thiếu máu theo lứa tuổi
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy thiếu máu
và thiếu sắt gặp ở tất cả các lứa tuổi nhưng cũng như suy dinh dưỡng thấy gặp nhiều ở trẻ từ 6-12 tháng là lứa tuổi bắt đầu ăn bổ sung (51,78%)
Kết quả của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả như Nguyễn công Khanh (1998), Bùi Xuân Minh (2003), Nguyễn thị yến(2002), cũng như theo điều tra của VDD (1995) là 60% trẻ < 2 tuổi bị thiếu máu và chủ yếu là thiếu sắt Giải thích điều này có lẽ là do giai đoạn này cơ thể trẻ phát triển nhanh, đòi hỏi nhu cầu sắt cao, dự trữ sắt trong cơ thể giảm dần Do đó chỉ cần một tình trạng thiếu ăn hoặc thiếu các yếu tố vi lượng thì sự thiếu máu
do thiếu sắt đã xảy ra
Chúng ta cũng đã biết trong 3 tháng cuối của thai
kỳ, thai nhi được mẹ cung cấp nhiều chất sắt Dự trữ sắt của mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của trẻ trong 4-5 tháng đầu đời từ tháng thứ 6 trở đi, nguồn sắt dự trữ cạn dần Điều này giải thích vì sao trẻ dưới 6 tháng thường ít bị thiếu máu và từ 6 tháng trở đi dễ bị thiếu máu điều này lý giải cho kết quả nghiên cứu của chúng tôi là tỷ lệ thiếu máu cũng như thiếu sắt gặp nhiều ở trẻ từ 6-12 tháng
Trang 3Qua đây càng thấy nhấn mạnh hơn nữa vai trò của
công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, truyền thông
giáo dục dinh dưỡng nhằm cải thiện kiến thức chăm
sóc trẻ và nên có chiến lược bổ sung sắt cho trẻ <12
tháng tuổi
Giảm protid máu theo lứa tuổi
Nhận xét: Trẻ càng ít tuổi thì dễ có sự ảnh hưởng
dẫn đến giảm protid máu trong cơ thể Qua kết quả
nghiên cứu của chúng tôi thấy 22,32% trẻ <12 tháng
có giảm protid máu và chỉ số này giảm đi một nửa
(11,54%) ở trẻ từ 12-18 tháng và cũng giảm đi khoảng
gần một nửa như vậy ở trẻ trên 18 tháng Như vậy trẻ
càng nhỏ thì càng dễ bị tác đông dẫn đến nhưng thay
đổi mất cân bằng về sinh hóa trong cơ thể
3 Nguyên nhân của SDD thiếu protein- năng
lượng
Kiến thức nuôi dưỡng trẻ
Nhận thấy tỷ lệ trẻ SDD cao gặp ở lứa tuổi ăn bổ
sung, đó là do cha mẹ trẻ thiếu kiến thức nuôi dưỡng
trẻ Nghề nghiệp của cha và mẹ phản ánh phần nào
kiến thức chăm sóc trẻ cũng như thu nhập của gia đình
có ảnh hưởng đến việc nuôi dạy trẻ
Nghề nghiệp của bố:
Nghề Buôn bán Cán bộ Công nhân Làm ruộng Nghề khác
Nhận xét: Có 35,66% trẻ có cha làm ruộng, 23,78%
có cha là cán bộ, 11,19% có cha là công nhân và
27,51% có cha là buôn bán
Nghề nghiệp của mẹ
Nghề Buôn bán Cán bộ Công nhân Làm ruộng Nghề khác
Nhận xét: nhận thấy trong nghiên cứu của chúng
tôi thì cha mẹ là nông dân hay gặp nhất 38,6%, do vậy
cũng đã phản ánh được phần nào sự thiếu kiến thức,
phong tục tập quán lạc hậu cũng như tình hình kinh tế
có ảnh hưởng đến sự chăm sóc trẻ Tuy nhiên kết quả
này thấp hơn so với các tác giả khác Bùi Xuân Minh
thấy con của các bà mẹ nông dân có tỷ lệ SDD cao
hơn hẳn so với cha mẹ là cán bộ (57,78%) hay các
nghề khác Cũng tương tự trong kết quả của Nguyễn
Anh Tuấn (2002) thấy SDD gặp nhiều ở trẻ em nông
thôn chiếm 74,4% Như vậy có nghĩa là không chỉ có
bố mẹ là nông dân bị thiếu kiến thức nuôi dưỡng con
mà ngay cả khi bố mẹ kinh doanh hay cán bộ vẫn
chăm sóc con không đúng có lẽ một phần là do thiếu
kiến thức nuôi dưỡng và có thể là không có đủ thời gian
chăm sóc và nuôi dưỡng con có khoa học
Con thứ mấy trong gia đình:
Nhận xét: kết quả của chúng tôi thấy có trên 50% trẻ là con thứ nhất Như vậy điều này càng khẳng địn
rõ hơn sự thiếu kiến thức trong việc chăm sóc và nuôi dạy trẻ đặc biệt là giai đoạn bắt đầu từ chuyến từ thức
ăn lỏng như sữa mẹ sang thức ăn đặc như bột và cháo
Tình trạng sinh:
Theo kinh điển có nhận thấy tình trạng trẻ khi được sinh ra như đẻ thấp cân, sinh đôi hay sinh ba, đẻ non vv có ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất của trẻ sau này và đó là yếu tố đóng góp vào nguyên nhân SDD hay nói cách khác đó chính là yếu tố nguy cơ của SDD Tuy nhiên trong nghiên cứu của chúng tôi thì kết quả lại không như vậy
Cân nặng trung bình lúc đẻ
Trẻ SDD trong đối tượng nghiên cứu có cân nặng lúc sinh trung bình là 2700 gr +/- 0.488
Nhận xét: Như vậy trong nghiên cứu của chúng tôi trẻ được sinh ra hoàn toàn có cân nặng bình thường của một trẻ đủ tháng Điều này chứng tỏ rằng tình trạng dinh dưỡng của trẻ trong bào thai hoàn toàn tốt, chỉ khi trẻ ra đời không được nuôi dưỡng và chăm sóc
có khoa học nên đó là nguyên nhân của suy dinh dưỡng
Nuôi con bằng sữa mẹ
Thời gian trẻ được bú mẹ hoàn toàn
Thời gian
Thời gian trẻ được bú mẹ hoàn toàn trung bình là 3 tháng +/- 2 tháng
Nhận xét: Chỉ có 13,49% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu còn lại 33,26% trẻ cai sữa sớm trước
3 tháng và 53,26% trẻ được bú mẹ tới gần 6 tháng Tương tự như kết quả của Nguyễn Tuấn Anh (2002) thấy trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu cũng chỉ chiếm 32%
Như vậy trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng
đầu thấp, đây cũng là yếu tố đóng góp vào làm cho trẻ
dễ bị SDD vì lúc này miễn dịch của trẻ còn thấp nên cần nguồn dinh dưỡng đầy đủ từ sữa mẹ
Theo số liệu của Bv nhi đồng I thấy trẻ được bú mẹ hoàn toàn dưới 4 tháng có tỷ lệ mắc SDD cao hơn so với nhóm trẻ được bú mẹ kéo dài trên 4 tháng Vậy chúng ta cần tuyên truyền cho các bà mẹ hiểu được trong ít nhất bốn tháng đầu nên cho trẻ bú mẹ hoàn toàn mà không dùng thêm bất cứ thức ăn hay nước uống nào khác
Thời gian trẻ được bú mẹ ngay sau khi sinh
Thời gian bú
mẹ ngay sau sinh
Trung bình trẻ được bú mẹ sau 1.9h nhanh nhất là ngay sau đẻ và chậm nhất là 4h sau đẻ Như vậy trẻ
Trang 4được sinh ra đã được bú mẹ ngay sau sinh và nhận
được sữa non do mẹ truyền cho, tuy vậy thời gian cho
trẻ bú mẹ hoàn toàn thấp trung bình có 3 tháng, như
vậy một trong những yếu tố sai lầm dẫn đến SDD sớm
ở trẻ từ 6 tháng trở đi trong nghiên cứu của chúng tôi
đó là ăn bổ sung sớm và không đúng cách
Hiện nay tuy có sự can thiệp tích cực của chương
trình phòng chống SDD nhưng một số ít các trường hợp
sự can thiệp này chưa có hiệu quả tích cực thường gặp
các đối tượng cha mẹ của trẻ là nông dân Điều này
cũng phù hợp với thực tế là người nông dân còn khó
khăn về mặt kinh tế cũng như học vấn nên thường ít có
điều kiện tiếp cận với các chương trình chăm sóc sức
khỏe, các bà mẹ chưa được trang bị đầy đủ kiến thức,
thực hành về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, thêm vào đó là
hoàn cảnh kinh tế khó khăn và sự tồn tại của một số
phong tục tập quán nuôi con lạc hậu Chính những
điều này cũng đã góp phần làm cho tỷ lệ SDD ở nông
thôn cao hơn thành thị và hay gặp ở trẻ 6-12 tháng là
lứa tuổi mà cơ thể trẻ phát triển nhanh, đòi hỏi nhu
cầu dinh dưỡng cao, đồng thời phải chịu nhiều ảnh
hưởng của các yếu tố như ăn bổ sung, cai sữa, trong
khi đó bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, miễn dịch
thụ động giảm, miễn dịch chủ động chưa đủ nên trẻ
dễ mắc bệnh nhiễm khuẩn và khi mắc bệnh thì sự
chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ chưa đúng đã góp phần
làm cho trẻ bị SDD
Thời gian cai sữa
Trung bình là 14,95 tháng ± 5.846 Trong tổng số
60 trẻ đã cai sữa
Số trẻ hiện đang bú mẹ khi trẻ được 18 tháng là
95 trẻ/95 trẻ trong điều tra có tháng tuổi từ 18 tháng
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả của Nguyễn
Tuấn Anh thấy chủ yếu là trẻ cai sửa khi trên 18
tháng tuổi (55,5%), Đặng Oanh và Vũ Đức Bảo thấy
cai sữa trên 18 tháng là 85,7% Như vậy trẻ được
NCBSM kéo dài theo khuyến cáo cho đến 18 tháng
Nhưng qua thực tế thấy những bà mẹ này thường ít
sữa, cho con bú không thành bữa (bú vặt) nên dẫn
đến trẻ biếng ăn, và đó là một trong những nguyên
nhân gây SDD Vậy đây cũng là câu hỏi đặt ra khi
khuyên các bà mẹ cai sữa trên 18 tháng thì cũng nên
hướng dẫn cho các bà mẹ nên cho trẻ bú khi nào là
tốt nhất để tránh tình trạng trẻ biếng ăn
4 Tình trạng bệnh tật trong tiền sử
Tổng số lần trẻ bị viêm phổi trong tiền sử
Khoảng gần 1/2 số trẻ SDD (49,54%) bị mắc viêm
phổi từ 1 đến 3 lần
Thời gian trẻ bị mắc viêm phổi lần đầu thường là
lúc trẻ được 6 tháng tuổi (6,85 tháng) đó cũng là thời
gian trẻ bắt đầu ăn bổ sung, miễn dịch từ mẹ qua rau
thai đã giảm, miễn dịch từ sữa mẹ cũng giảm trong
khi miễn dịch chủ động của trẻ còn yếu nên trẻ dễ
mắc bệnh
Thời gian mắc bệnh của một đợt điều trị viêm phổi của trẻ là 9,4 ±6,9 ngày
Tổng số lần trẻ mắc Tiêu chảy cấp trong tiền sử
Khác với viêm phổi, trẻ bị mắc tiêu chảy trong tiền
sử thấp hơn chỉ có 29,31% trẻ trong tiền sử mắc tiêu chảy (thấp hơn so với viêm phổi 1/2)
Thời gian trẻ mắc tiêu chảy lần đầu trung bình lúc trẻ được 7,3 ± 4,4 tháng tuổi, cũng tương tự như viêm phổi, khi bắt đầu tuổi ăn bổ sung do hệ tiêu hoá chưa hoàn chỉnh, hệ miễn dịch chủ động còn yếu, trẻ bắt
đầu tiếp xúc với môi trường xung quanh nhiều hơn nên
dễ bị mắc bệnh nhiều hơn, trong đó hai bệnh tiêu chảy
và viêm phổi là hay gặp nhất
Thời gian kéo dài của một đợt tiêu chảy trung bình
là 5,57 ± 2,5 ngày
Như vậy viêm phổi và tiêu chảy rất hay gặp ở trẻ khi bắt đầu ăn bổ sung, số lần mắc tiêu chảy và viêm phổi làm suy giảm sức chống đỡ của cơ thể, suy giảm tình trạng dinh dưỡng của trẻ đặc biệt là nhiễm trùng
đường tiêu hoá sẽ gây ra chán ăn, mất chất dinh dưỡng do giảm hấp thu và tăng đào thải và đó là yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ Kết quả Nguyễn Tuấn Anh cũng nhận thấy 55,3% trẻ bị suy dinh dưỡng thì trong tiền sử có bị mắc tiêu chảy và viêm đường hô hấp
KếT LUậN
Tỷ lệ trẻ SDD ở trẻ <24 tháng là rất cao, cao nhất gặp ở trẻ 6-12 tháng tuổi (52,09%)
Thiếu máu dinh dưỡng gặp ở tất cả các lứa tuổi nhưng cũng như suy dinh dưỡng thấy gặp nhiều ở trẻ
từ 6-12 tháng là lứa tuổi bắt đầu ăn bổ sung (51,78%) Trẻ nhỏ dễ bị tác đông dẫn đến nhưng thay đổi mất cân bằng về sinh hóa trong cơ thể dẫn đến giảm protid máu trong cơ thể 22,32% trẻ <12 tháng có giảm protid máu
Kiến thức nuôi dưỡng trẻ đóng vai trò quan trọng trong phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ Các cha
mẹ có trình độ văn hóa càng thấp thì tỷ lệ con bị SDD càng cao Nghề nghiệp của cha mẹ chủ yếu là nông (38,6% trẻ có mẹ là nông dân)
Thời gian trẻ được bú mẹ hoàn toàn thấp chỉ có 3 tháng +-2 tháng Chỉ có 13,49% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu Thời gian cai sữa muộn trên 18 tháng, tuy nhiên do cách thức cho bú không đúng nên
đây cũng là một yếu tố làm cho trẻ biếng ăn và dẫn
đến suy dinh dưỡng
Có 49,54% trẻ suy dinh dưỡng bị mắc viêm phổi từ
1 đến 3 lần trong tiền sử 29,31% trẻ suy dinh dưỡng trong tiền sử bị mắc tiêu chảy cấp
TàI LIệU THAM KHảO
1 Bùi Thị Xuân Minh (2004) Đánh giá tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại khoa dinh dưỡng viện nhi TƯ Luận văn tốt ghiệp
2 Lưu Văn Dũng (2005)“Tỷ lệ suy dinh dưỡng và yếu
tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Bàu cạn, Long
Trang 5Thành, Đồng Nai năm 2004” Tạp chí y học TPHCM, tập 9
tr 32-38
3 Nguyễn Tuấn Anh (2002) “ Tìm hiểu nguyên nhân
suy dinh dưỡng và các yếu tố nguy cơ ở trẻ suy dinh
dưỡng tại viện nhi từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2002”
Luận văn tốt nghiệp bác sỹ đa khoa
4 Nguyễn Công Khanh, Đào Ngọc Diễn, Trần Minh
Tân, Nguyễn Thị Yến (2000), “Đánh giá tình hình suy dinh
dưỡng và thiếu vi chất ở trẻ em tại các bệnh viên”, kỷ yếu
công trình nghiên cứu khoa học năm 2000 Hội nghị ni
khoa toàn quốc lần thứ 17 (6-8/11/2000), nhà xuất bản y học, tr 41-50
5 Nguyễn Thị Phương (1999), “Đánh giá tình trạng thiếu máu và còi xương ở trẻ suy dinh dưỡng trong 2 năm 1997-1999 tại viện nhi”, Luận văn bác sỹ chuyên khoa 2, trường ĐH Y Hà Nội, tr 43-58
6 Nguyễn Thị Yến, Lưu Mỹ Thục (2002), “Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em tại viện nhi năm 2001-2002”, Đặc san dinh dưỡng và thực phẩm số 3, Hội dinh dưỡng Việt Nam xuất bản, tr14-18
THựC TRạNG CUNG CấP Và Sử DụNG DịCH Vụ KHáM CHữA BệNH
TạI BệNH VIệN ĐA KHOA HUYệN VĂN YÊN, TỉNH YÊN BáI
Đặng Đình Thắng - BVĐK huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái
Đàm Thị Tuyết - Trường Đại học Y Dược Thái nguyên
TóM TắT
Nghiên cứu hồi cứu số liệu Bệnh viện năm 2011,
điều tra về tổ chức, nguồn lực và hoạt động công tác
khám chữa bệnh của BVĐK huyện Văn Yên, tỉnh Yên
Bái trong năm 2011 và các văn bản về tổ chức bộ máy
của Bệnh viện, các tác giả đã thu được một số kết quả
sau:
- Tỷ lệ cán bộ trên giường bệnh hiện có là 0,86; tỷ
lệ cán bộ khu vực lâm sàng chiếm 62,2%, tỷ lệ cán bộ
cận lâm sàng chiếm 23,2%, tỷ lệ cán bộ quản lý hành
chính thấp (11,4%), tỷ lệ BS trên y tá chưa cân đối
(1/1,1 quy định 1/2); tỷ lệ dược sỹ đại học tr ên dược sỹ
chưa đảm bảo (1/10 quy định 1/3)
- Hiện tại Bệnh viện có khả năng thực hiện được
404 danh mục kỹ thuật; còn 30 danh mục kỹ thuật
Bệnh viện chưa thực hiện được
- Hầu hết các chỉ tiêu chuyên môn đều đạt và vượt
so với kế hoạch giao Tỷ lệ khám chữa bệnh đạt
110,7%; Tỷ lệ điều trị nội trú đạt 103,4%; Tỷ lệ điều trị
ngoại trú đạt 135%; Công suất sử dụng giường bệnh
đạt 147,3%; Số lần xét nghiệm đạt 142%; Số lần siêu
âm đạt 149,1%; số lần chụp Xquang đạt 169,3 %; tổng
số lần phẫu thuật đạt 115,5 % kế hoạch Trong năm
còn có 7 bệnh nhân tử vong trong đó 24 giờ đầu là 5,
sau 24 giờ là 2 tỷ lệ chuyển viện là 5,9%
- Tỷ lệ sử dụng giường bệnh luôn đạt trên 100%,
ngày điều trị trung bình 5,51; tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ
dưới 10%, không có bệnh nhân chết do các bệnh tiêu
chảy, viêm nhiễm đường hô hấp cấp, không có bệnh
nhân mắc 5 tai biến sản khoa, không có bệnh nhân
uốn ván và loét do nằm lâu
Từ khóa: khám chữa bệnh
SUMMARY
Carrying a retrospective study on Hospital Data
2011, surveying the organization, resources and
medical examination and treatment activities at Van
Yen Hospical, Yen Bai Province in 2011 and other
documents about the organizational structure of the
hospital, the authors have come up with some findings
as follows
- The current rate of staff per hospital beds is 0.86;
the rate of clinical staff is 62.2%; the rate of subclinical
staff is 23.2%; the rate of administrative staff is low
(11.4%); the rate of doctor per nurses is inappropriate (1/1.1 whilst the standard is 1/2); the rate of pharmacist with Bachelor degree per pharmacists is below standard (1/10 whilst the standard is 1/3)
- The hospital is currently able to perform 404 and unable to perform 30 technical lists
- Most of the professional targets have been achieved and over-fulfilled The rate of examination and treatment is 110.7%; the rate of inpatients is 103.4%; the rate of outpatient is 135%; hospital bed capacity is 147.3%; number of tests is 142%; number
of ultrasound is149.1%; number of X-ray is 169.3 %; number of operations is 115.5 % (in comparison with the given norms) There are 7 fatalities, including 5 in the first 24 hours and 2 after 24 hours The rate of referrals is 5.9%
- The rate of hospital bed use is always above 100%; average number of days of treatment is 5.51; rate of postoperative infection is below 10%; no fatalities from diarrhea, acute respiratory infections, no patients affected by 5 obstetric complications, no cases
of tetanus and ulcers due to time in bed
Keywords: medical examination, treatment activities
ĐặT VấN Đề
Trong hệ thống y tế ở các quốc gia Bệnh viện chiếm một vị trí quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân Bệnh viện được hình thành
từ lâu đời, theo quan điểm thời xưa BV được xem là nhà tế bần cứu giúp những người nghèo khổ bị ốm
đau, bệnh tật; bệnh viên là nhà thương nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo Ngày nay, bệnh viện
được coi là nơi chẩn đoán và điều trị bệnh tật, nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu y học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe, và ở một mức độ nào
đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học Hệ thống khám chữa bệnh hiện của tỉnh yên Bái có 8 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, 01 bệnh viện đa khoa khu vực, 01 bệnh viện đa khoa tỉnh và 4 bệnh viện chuyên khoa gồm: Nội tiết, Lao và bệnh phổi, bệnh viện Y học cổ truyền, bệnh viện Tâm thần Hệ thống y
tế Văn Yên hiện nay bao gồm 01 bệnh viện đa khoa