1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÁNH GIÁ PHẢN hồi NHANH về DANH mục THUỐC DÀNH CHO TRẺ EM dưới 6 TUỔI được QUỸ bảo HIỂM y tế CHI TRẢ

5 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 457,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá phản hồi chính sách này được thí điểm áp dụng với Thông tư 31/2011/TT-BYT quy định thực hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ

Trang 1

- Hiện tại Bệnh viện có khả năng thực hiện được

404 danh mục kỹ thuật; còn 30 danh mục kỹ thuật

Bệnh viện chưa thực hiện được

- Hầu hết các chỉ tiêu chuyên môn đều đạt và vượt

so với kế hoạch giao Tỷ lệ khám chữa bệnh đạt

110,7%; Tỷ lệ điều trị nội trú đạt 103,4%; Tỷ lệ điều trị

ngoại trú đạt 135%; Công suất sử dụng giường bệnh

đạt 147,3%; Số lần xét nghiệm đạt 142%; Số lần siêu

âm đạt 149,1%; số lần chụp Xquang đạt 169,3 %; tổng

số lần phẫu thuật đạt 115,5 % kế hoạch Trong năm

còn có 7 bệnh nhân tử vong trong đó 24 giờ đầu là 5,

sau 24 giờ là 2 tỷ lệ chuyển viện là 5,9%

- Tỷ lệ sử dụng giường bệnh luôn đạt trên 100%,

ngày điều trị trung bình 5,51; tỷ lệ nhiễm trùng sau mổ

dưới 10%, không có bệnh nhân chết do các bệnh tiêu

chảy, viêm nhiễm đường hô hấp cấp, không có bệnh

nhân mắc 5 tai biến sản khoa, không có bệnh nhân

uốn ván và loét do nằm lâu

TàI LIệU THAM KHảO

1 Ban chấp hành Trung ương số 06-CT/TW (2002),

Chỉ thị về củng cố kiện toàn màng lưới y tế cơ sở

2 Bộ chính trị (2005) Nghị quyết số 46 –NQ/TW Về công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội

3 BYT - Bô Nội vụ (2007) Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, Hướng dẫn định mức biên chế

sự nghiệp trong các CSYT Nhà nước, Hà Nội

4 BYT (1997), Quyết định số 1895/1997/QĐ- BYT Ban hành Quy chế BV, Hà Nội

5 Chính Phủ (2008), Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấpBVĐK tuyến huyện, BVĐK liên huyện sử dụng vốn Trái phiếu Chính phủ và các nguồn vốn hợp pháp khác giai đoạn 2008- 2010, Hà Nội

6 BYT (2002), Quyết định số 1047/QĐ-BYT Phê duyệt quy hoạch phát triển mạng lưới y tế Việt Nam đến năm 2010, Hà Nội

7 BYT (2005), Quyết định số 23/2005/ QĐ-BYT ban hàn phân tuyến kỹ thuật trong KB, CB, Hà Nội

8 UBND tỉnh Yên Bái (2006), Quyết định 54/2007/ QĐ-UBND,về việc Thành lập Phòng Y tế thuộc ủy ban nhân dân các huyện, thị, thành phố tỉnh Yên Bái, Yên Bái

Đánh giá phản hồi nhanh về danh mục thuốc dành cho trẻ em dưới 6 tuổi

được quỹ Bảo hiểm Y tế chi trả

Hà Anh Đức - Văn phòng Bộ Y tế

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Một trong 5 giai đoạn của chu trình

chính sách công là theo dõi và đánh giá quá trình triển

khai thực hiện các chính sách đã được ban hành Thực

hiện đánh giá triển khai giúp các nhà quản lý cập nhật

những bất cập trong việc triển khai và kịp thời sửa đổi,

điều chỉnh các chính sách Việc đánh giá phản hồi

chính sách này được thí điểm áp dụng với Thông tư

31/2011/TT-BYT quy định thực hiện Danh mục thuốc

chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

được quỹ BHYT thanh toán

Mục tiêu: Đánh giá việc triển khai Thông tư 31, tìm

hiểu phản hồi nhanh trong quá trình triển khai, đồng

thời đề xuất các kiến nghị cần thiết nhằm sửa đổi, bổ

sung danh mục thuốc

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết

hợp định tính và định lượng tại bệnh viện Đa khoa Từ

Sơn – Bắc Ninh và Sơn Tây – Hà Nội

Kết quả: Việc triển khai Thông tư 31 được thực hiện

khá tốt tại 2 bệnh viện Tuy nhiên, qua hơn 3 tháng

triển khai Thông tư cũng bộc lộ một số bất cập như

danh mục thuốc còn thiểu so với khả năng điều trị của

cơ sở; vẫn còn một số bệnh chủng loại thuốc chưa đáp

ứng được yêu cầu thậm trí không có trong danh mục;

quy cách đóng gói chưa phù hợp

Kết luận: Ngoài những đóng góp cho việc triển khai

Thông tư 31 và đề xuất cụ thể một số loại thuốc cần

thiết được bổ sung vào Danh mục, nghiên cứu phản

hồi chính sách BHYT nói riêng và các chính sách y tế

nói chung là việc làm cần thiết góp phần giúp các nhà

hoạch định chính sách nhanh chóng nắm bắt được

những khó khăn, thuận lợi trong việc triển khai các chính sách y tế

Từ khóa: bảo hiểm y tế, thuốc

Đặt vấn đề

Luật bảo hiểm y tế (BHYT) được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008, có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 và Nghị định 62/2009/NĐ-CP quy định trẻ em dưới 6 tuổi

là đối tượng có trách nhiệm tham gia BHYT do Ngân sách nhà nước chi trả (hỗ trợ 100% mức đóng BHYT, bằng 3% mức lương tối thiểu/trẻ/năm) [1] Trẻ em được hưởng đầy đủ quyền lợi khi khám chữa bệnh về chẩn

đoán, điều trị, thuốc, dịch vụ kỹ thuật cũng như các nhu cầu khác về khám và chữa bệnh theo danh mục của Bộ Y tế Việc chuyển sang cơ chế BHYT đảm bảo tốt hơn về quyền lợi đối với trẻ em, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh với mục tiêu công bằng, hiệu quả thông qua cơ chế quản lý và điều hành thống nhất, sử dụng hiệu quả nguồn lực và tăng tính chủ động của cơ

sở y tế ở các tuyến, tiết kiệm nhân lực, thời gian cho các hoạt động hành chính, đồng thời phù hợp với xu hướng chuyển đổi cơ chế hỗ trợ của nhà nước hướng tới người thụ hưởng hay người sử dụng dịch vụ Đây là một chính sách đúng đắn, thể hiện rõ nhiều ưu điểm trong công cuộc chăm sóc sức khỏe phục vụ nhân dân, đặc biệt là đối tượng trẻ em

Bộ Y tế đã ban hành Thông tư 31/2011/TT – BYT (Thông tư 31) ngày 11/7/2011 quy định thực hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán [2] Thông tư này chính thức có hiệu lực kể từ ngày 25/8/2011 thay thế Thông tư số 02/2010/TT– BYT

Trang 2

ngày 15/01/2010 về ban hành danh mục thuốc bổ

sung sử dụng cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc phạm vi

thanh toán của quỹ BHYT [3] Mục tiêu hướng đến là

tăng tính chủ động cho các cơ sở khám bệnh, chữa

bệnh, bảo đảm sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu

quả, đáp ứng nhu cầu điều trị cho người bệnh, bảo

đảm quyền lợi về thuốc cho người bệnh tham gia bảo

hiểm y tế, phù hợp với khả năng kinh tế của người

bệnh và khả năng chi trả của quỹ BHYT

Một trong 5 bước chính của chu trình chính sách

công là theo dõi và đánh giá quá trình triển khai thực

hiện các chính sách đã được ban hành Kết quả của

hoạt động này sẽ là đầu vào của một chu trình chính

sách mới Thực hiện đánh giá triển khai giúp các nhà

quản lý cập nhật những bất cập trong việc triển khai và

kịp thời sửa đổi, điều chỉnh các chính sách Chính vì

vậy, việc đánh giá phản hồi chính sách này được thí

điểm áp dụng với Thông tư 31 nhằm mô tả thực trạng

triển khai thông tư và những đánh giá khi thực hiện

chính sách cũng như đề xuất các kiến nghị cần thiết

nhằm cải thiện việc thực hiện chính sách BHYT cho trẻ

dưới 6 tuổi

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá phản

hồi chính sách liên quan đến việc triển khai thực hiện

Thông tư 31 ban hành Danh mục thuốc bổ sung sử

dụng cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc phạm vị thanh toán

của quỹ Bảo hiểm y tế Cụ thể hơn, nghiên cứu sẽ

trung vào: mô tả việc triển khai thực hiện Thông tư 31;

Đánh giá phản hồi nhanh việc triển khai Thông tư 31;

và đề xuất kiến nghị, sửa đổi bổ sung danh mục thuốc

ban hành kèm theo Thông tư 31

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và

định lượng được thực hiện tại bệnh viện Đa khoa Từ

Sơn – Bắc Ninh và Đa khoa Sơn Tây – Hà Nội vào

tháng 11/2011 Nghiên cứu định lượng tập trung vào

việc điều tra những người giám hộ trẻ đến khám và

điệu trị tại cơ sở y tế, trong khi nghiên cứu định tính

áp dụng phương pháp phỏng vấn sâu các cán bộ y

tế là lãnh đạo bệnh viện, cán bộ y tế các khoa bao

gồm: khoa Nhi, khoa Dược, khoa Khám bệnh Các

đối tượng tham gia nghiên cứu định tính được lựa

chọn theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích (snow

ball) theo đó các đối tượng sau khi được phỏng vấn

sẽ giới thiệu cho cán bộ nghiên cứu những người có

nhiều thông tin và kinh nghiệm Đối với nghiên cứu

định lượng, ban đầu phương pháp chọn mẫu ngẫu

nhiên được áp dụng đối với người giám hộ trẻ đang có

con dưới 6 tuổi đang điều trị tại Khoa Nhi của hai

bệnh viện để tham gia phỏng vấn Tuy nhiên, số

lượng trẻ đang điều trị tại khoa ít nên tất cả các giám

hộ trẻ đang có trẻ dưới 6 tuổi đang nằm điều trị tại

bệnh viện đều được mời tham gia trả lời phỏng vấn bộ

câu hỏi Ngoài ra, các giám hộ đưa trẻ đến khám tại

bệnh viện sau khi nhận thuốc bảo hiểm y tế sẽ được

mời tham gia nghiên cứu

Toàn bộ các băng ghi âm phỏng vấn sâu được

chuyển thành dạng biên bản phỏng vấn Các số liệu

định tính được xử lý theo phương pháp mã hóa theo

chủ đề và phân tích theo nội dung Những đoạn phỏng vấn có giá trị được trích dẫn trong báo cáo Số liệu điều tra sẽ được kiểm tra, nhập vào máy tính và được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007 cho các thông tin mô tả và phân tích thống kê

Kết quả

Đặc điểm nhóm đối tượng tham gia nghiên cứu

Khảo sát thực hiện nghiên cứu định tính với 20 phỏng vấn sâu Trong đó, lãnh đạo bệnh viện chiếm 15%, cán bộ y tế trực thuộc khoa Nhi chiến 40%, cán

bộ y tế trực thuộc khoa Dược chiếm 10%, khoa Khám bệnh chiếm 10% và giám hộ trẻ 25% (xem Biểu 1)

Biểu 1: Phân bổ các đối tượng tham gia nghiên cứu định tính

Bảng 1 cung cấp các đặc điểm của nhóm đối tượng tham gia vào điều tra khảo sát Cụ thể có 40 đối tượng với độ tuổi trung bình là 29.1, trong đó người nhiều tuổi nhất là 50 tuổi và người ít tuổi nhất là 20 tuổi Phần lớn

độ tuổi tập trung vào nhóm 20 – 29 tuổi với 26 trường hợp (65%), và ít nhất là độ tuổi trên 30 tuổi với duy nhất 1 trường hợp là 50 tuổi (3%), còn lại 13 trường hợp thuộc nhóm tuổi 30 – 39 tuổi (32%) Trong số đối tượng tham gia nghiên cứu, chỉ có duy nhất 1 trường hợp nam giới tham gia trả lời bảng hỏi (3%), và 39 trường hợp là nữ giới (97%) Về dân tộc, chỉ có duy nhất 1 trường hợp là người Mường (3%), còn lại đều là người Kinh (97%) Trình độ học vấn của 40 đối tượng tham gia trả lời cũng có sự khác biệt giữa các nhóm, không có đối tượng nào mù chữ và chỉ có duy nhất 01

đối tượng học hết tiểu học (2%), số còn lại tập trung

đông nhất ở nhóm Trung học cơ sở với 16 đối tượng (40%), tiếp đến là Trung học phổ thông với 9 đối tượng (23%) Số đối tượng học trung cấp, dạy nghề là 6 đối tượng (15%) và có trình độ cao đẳng, đại học hoặc sau

đại học là 8 đối tượng (20%)

Hai địa điểm khảo sát là thị xã Từ Sơn – Bắc Ninh

và thị xã Sơn Tây – Hà Nội đều là những địa phương tập trung các khu công nghiệp lớn, song song với phát triển nông nghiệp và các nghề thủ công truyền thống Chính vì thế, nghề nghiệp của các đối tượng được hỏi rất đa dạng, bao gồm sản xuất nông nghiệp với 8 đối tượng (20%), công nhân với 15 đối tượng (37%), buôn bán với 5 đối tượng (12%), làm nghề thủ công với 6 đối tượng (15%) Mặc dù không có ai trong số được hỏi

đang ở trong tình trạng thất nghiệp nhưng có 2 trường hợp là lao động tự do (8%) và 2 trường hợp là nội trợ trong gia đình (8%)

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng giám hộ trẻ tham gia

điều tra

Trang 3

30 – 39 tuổi 13 32.5

>= 40 tuổi 1 2.5

Giới

Trung cấp, nghề 6 15.0 Dân tộc

Cao đẳng, Đại học 8 20.0

Nghề thủ công 6 15.0 Lao động tự do 3 7.5 Nghề nghiệp

Mối quan hệ với trẻ

Mức sống của gia

đình (tự đánh giá

theo tiêu chuẩn

0 – 12 tháng 18 45.0

13 – 24 tháng 10 25.0

25 – 36 tháng 6 15.0

Độ tuổi của trẻ

Trong số người được hỏi, chỉ có 1 người là cha của

trẻ (2.5%), 1 người là bà của trẻ (2.5%), còn lại 38

trường hợp đều là mẹ của trẻ (95%) Điều này cho

thấy mối quan tâm lớn của các bà mẹ đối con trẻ, đặc

biệt là khi trẻ ốm đau hoặc mắc bệnh Độ tuổi trung

bình của các trẻ là con của người giám hộ tham gia

nghiên cứu là 18.8 tháng tuổi, với trẻ lớn nhất là 62

tháng tuổi và nhỏ nhất là 3 tháng tuổi, tập trung ở

nhóm 0 – 12 tháng tuổi với 18 trẻ (45%), tiếp đến là

nhóm 13 – 24 tháng tuổi với 10 trẻ (25%), nhóm 25 –

36 tháng tuổi với 6 trẻ (15%), nhóm 49 – 60 tháng

tuổi với 3 trẻ (7.5%), nhóm 37 – 48 tháng tuổi với 2 trẻ

(5%), và ít nhất là nhóm 61 – 72 tháng tuổi với duy

nhất 1 trẻ (2.5%)

Độ tuổi trung bình của các trẻ là con của người

giám hộ tham gia nghiên cứu là 18.8 tháng tuổi, với trẻ

lớn nhất là 62 tháng tuổi và nhỏ nhất là 3 tháng tuổi,

tập trung ở nhóm 0 – 12 tháng tuổi với 18 trẻ (45%),

tiếp đến là nhóm 13 – 24 tháng tuổi với 10 trẻ (25%),

nhóm 25 – 36 tháng tuổi với 6 trẻ (15%), nhóm 49 – 60

tháng tuổi với 3 trẻ (7%), nhóm 37 – 48 tháng tuổi với 2

trẻ (5%), và ít nhất là nhóm 61 – 72 tháng tuổi với duy

nhất 1 trẻ (3%) Khi đánh giá mức kinh tế của hộ gia

đình, chỉ có 1 đối tượng (2.5%) xác nhận kinh tế của

gia đình mình thuộc loại khá giả, và 2 đối tượng (5%)

trả lời kinh tế của gia đình mình ở mức nghèo, 37 đối

tượng còn lại (93.5%) đều lựa chọn phương án trung

bình khi được hỏi về mức kinh tế của hộ gia đình theo

tiêu chuẩn của UBND xã Qua quá trình mô tả, có thể

nhận thấy sự đa dạng trong thành phần đối tượng tham

gia khảo sát Điều này đảm bảo chất lượng thông tin cũng như sự phong phú của thông tin thu thập được có giá trị sử dụng

Thực trạng việc sử dụng Bảo hiểm y tế trong khám

và điều trị cho trẻ dưới 6 tuổi

Với ý nghĩa đảm bảo quyền lợi cho tất cả trẻ em

được tiếp cận với dịch vụ y tế có chất lượng và thuận lợi, chính sách BHYT miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi

được đánh giá là một trong những chính sách cần thiết,

có tác động tích cực và ảnh hưởng rộng đến cộng đồng dân cư Theo đó, chỉ cần thẻ BHYT của trẻ hoặc bất kỳ giấy tờ nào của trẻ như giấy khai sinh, giấy chứng sinh,…trẻ em dưới 6 tuổi đều có thể được khám và

điều trị tại các cơ sở y tế Việc truyền thông rộng rãi thông tin về chính sách BHYT dành cho trẻ em dưới 6 tuổi có tác dụng tích cực trong việc giúp cha mẹ của trẻ hiểu rõ hơn về quyền lợi mà con mình được hưởng, cũng như các thủ tục cần thiết Bên cạnh đó, chính sách này cũng được các bệnh viện quán triệt và thực hiện hết sức nghiêm túc

Hội đồng thuốc bệnh viện giữ vai trò quan trọng trong việc góp phần triển khai Thông tư 31 Hội đồng thuốc được thành lập theo Quyết định của Bộ Y tế, bao gồm Ban giám đốc và các trưởng khoa lâm sàng, trong

đó Giám đốc bệnh viện là Chủ tịch Hội đồng và Trưởng khoa Dược là Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Hội

đồng thuốc họp định kỳ hàng tháng để báo cáo, thảo luận về danh mục thuốc và sử dụng thuốc Hội đồng thuốc có trách nhiệm trong việc tư vấn, lựa chọn các loại thuốc sử dụng trong bệnh viện, cảnh báo các tác dụng phụ không mong muốn, loại bỏ các thuốc bị cấm

sử dụng,…Đặc biệt, Hội đồng thuốc có vai trò và trách nhiệm trong việc đấu thầu thuốc của bệnh viện Qua quá trình triển khai nếu vấn đề xảy ra kênh phản hồi của cán bộ y tế thường là báo cáo lại với trưởng khoa

và sau đó trưởng khoa sẽ báo cáo lại với Ban giám đốc rồi báo cáo lên Sở Y tế

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm được chỉ ra, chính sách BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi cũng bộc lộ một số hạn chế Cụ thể, hình thức thanh toán theo định suất áp dụng tại 2 bệnh viện đối với các bệnh nhân BHYT còn bộc lộ bất cập Trần thanh toán đối với bệnh nhi theo đánh giá là đang ở mức thấp Ví dụ như ở Bệnh viện Đa khoa Sơn Tây thì chi phí bình quân của một bệnh nhi điều trị rối loạn tiêu hóa là 300.000 đồng,

điều trị viêm phổi là trên 1.000.000 đồng nhưng mức trần quy định hiện tại cho tất cả các loại bệnh được

điều trị tại bệnh viện là khoảng 250.000 đồng Kết quả khảo sát cũng cho thấy đối tượng hưởng lợi ở đây là trẻ

em còn chưa được hưởng hoàn toàn các dịch vụ y tế Thực tế trước đây việc thanh toán theo sử dụng được chi trả hoàn toàn, nhưng kể từ khi chuyển sang BHYT thì việc chi trả gặp khó khăn hơn do một số khoản mục

về vật tư y tế không được duyệt chi trả như dây chuyền máu, kim lấy thuốc, oxy, bông băng, gạc sạch, cồn y tế,… mặc dù đây là những vật tư y tế cần thiết phục vụ cho người bệnh nhưng lại bị đặt ngoài danh mục

Đánh giá việc triển khai Thông tư 31

Khảo sát tại các đơn vị cho thấy sau khi bệnh viện nhận được công văn từ Sở Y tế, Thông tư đã được sao

Trang 4

lưu bằng văn bản cũng như làm thành bảng treo tưởng

và chuyển về các khoa để cán bộ y tế, bệnh nhân và

người nhà bệnh nhân theo dõi Điều này giúp cho các

cán bộ y tế, đặc biệt là các bác sỹ khám bệnh kê đơn

cho bệnh nhi cũng như các cán bộ y tế trực tiếp chăm

sóc nắm được chi tiết cụ thể để cân đối trong hoạt

động khám chữa bệnh Bên cạnh đó, bệnh viện cũng

nhanh chóng tổ chức thảo luận với các cán bộ y tế liên

quan trực tiếp đến thông tư để quán triệt nội dung và

lên kế hoạch triển khai chi tiết và cụ thể

Kết quả của các thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu

các cán bộ y tế và giám hộ của đối tượng thụ hưởng

cho thấy về cơ bản danh mục thuốc được bảo hiểm chi

trả như quy định trong Thông tư 31 về cơ bản đáp ứng

nhu cầu khám, điều trị cho trẻ em tại tuyến y tế quận,

huyện Một số bác sỹ đánh giá danh mục thuốc mới

này phong phú, tăng lên về chủng loại so với các danh

mục được ban hành trước đó Danh mục thuốc đáp

ứng được mô hình bệnh tật của địa phương, đảm bảo

điều trị các bệnh thông thường và chăm sóc ban đầu

cho bệnh nhi Chất lượng thuốc được đánh giá là tốt,

do đã được kiểm định nhiều vòng chặt chẽ, đảm bảo

các tiêu chuẩn cần thiết cho điều trị và chăm sóc bệnh

nhân, đặc biệt là trẻ em

Theo kết quả điều tra chủng loại thuốc được đánh

giá là đa dạng để sử dụng cho các bệnh nhi Cụ thể

62% số người giám hộ cho rằng chủng loại thuốc được

cấp tại cơ sở khám chữa bệnh BHYT dành cho trẻ dưới

6 tuổi là đầy đủ, cùng với 3 người (8%) cho rằng là rất

đầy đủ Nhưng ngược lại có đến 12 người (30%) cho

rằng còn không đầy đủ (Biểu 5) Số lượng thuốc được

cấp được những người phỏng vấn cho rằng đủ dùng

với 28 ý kiến đồng ý (70%), ý kiến thiếu được 5 người

đồng ý (12%) và rất thiếu được 7 người đồng ý (18%)

(Biểu 6)

Biểu 2: Đánh giá về số lượng thuốc BHYT

Bên cạnh những ưu điểm, danh mục thuốc mới

cũng bộc lộ một số hạn chế như nhiều quy định còn

chưa phù hợp, gây ảnh hưởng đến công tác điều trị của

bác sỹ và cán bộ y tế, và người thiệt thòi nhất là bệnh

nhân Nhiều cháu đã điều trị ở tuyến dưới hoặc cha mẹ

tự ý cho sử dụng thuốc ban đầu để điều trị thì cần

những thuốc khác có khả năng đáp ứng nhu cầu của

người bệnh cao hơn, tuy nhiên những loại thuốc đấy

thường nằm ngoài phân tuyến cơ sở nên cha mẹ các

cháu phải tự chi trả và chi phí sẽ đắt Nếu cho thuốc ở

dạng tương tự như các loại đã sử dụng thì rất dễ gây ra

hiểu nhầm giữa cha mẹ của trẻ đối với cán bộ y tế,

khiến gia đình chuyển trẻ lên tuyến trên

“….cái thứ nhất là ở vùng này kinh tế người ta khá,

tiền người ta nhiều, Từ Sơn là như thế rồi, cho nên là

các cháu nhi đến đây điều trị BHYT, nếu mà vào hơi ấy một tí là người ta chuẩn bị người ta đi Vì cái bệnh nhi ở vùng này đặc điểm lại như thế này, nếu con người ta

có làm sao, người ta thuê hẳn một chuyến taxi ra ngoài

Hà Nội, cái thuốc các bác sỹ kê đơn ngoài đấy toàn thuốc mới, mà thuốc tốt Tôi chưa nói đến thuốc nội với thuốc ngoại, nhưng thuốc các bác sỹ kê ngoài đấy (Hà Nội) toàn thuốc rất là chất lượng mà đắt tiền Thế mà người ta dùng thì rất là tốt Nếu mà về đấy, nói đúng ra thì thuốc còn nghèo…”

Phỏng vấn sâu cán bộ y tế-Từ Sơn-Bắc Ninh

Về danh mục thuốc, như đã kể trên cơ bản danh mục thuốc đáp ứng yêu cầu khám, chữa bệnh Tuy nhiên, vẫn còn một số bệnh chủng loại thuốc chưa đáp ứng được yêu cầu thậm trí không có trong danh mục

Do vậy, nhiều bệnh nhân đã vượt tuyến lên các bệnh viện tuyến cao hơn Một số cán bộ y tế cũng đánh giá thuốc của BHYT nói chung và của trẻ nói riêng bị hạn chế nhiều Tác dụng của thuốc chậm, chất lượng chưa

đảm bảo theo đúng phác đồ, chủng loại và số lượng còn chưa đa dạng và phong phú Khả năng của bác sỹ

do đó cũng bị bó hẹp khi kê đơn Nhiều bệnh mà các cán bộ y tế có khả năng chữa trị được nhưng không có thuốc để chữa như lị, hoặc bệnh nhân không tin tưởng khi sử dụng các loại thuốc đó nên đành phải giới thiệu lên bệnh viện tuyến tỉnh hoặc trung ương Không những thế, danh mục thuốc mới còn ảnh hưởng đến tâm lý và đôi khi là cả kinh tế của cán bộ y tế, đặc biệt

là bác sỹ khi kê đơn, chẳng hạn kê các loại kháng sinh, nếu như không kê thì bệnh nhân khó có khả năng khỏi bệnh, nhưng nếu kê thì gia đình cho rằng vì sử dụng BHYT nên thuốc sẽ được miễn phí hoàn toàn, và bác

sỹ phải chịu trách nhiệm chi trả khoản đó vì đã kê đơn

“… Thứ hai là về số lượng và chủng loại thì ít quá, nhiều bệnh biết chữa được nhưng mà không có thuốc

mà chữa, chẳng hạn như lị chẳng hạn, bây giờ có nhiểu chủng kháng rồi, nhưng ở tuyến huyện chưa có…ở đây kháng sinh tiêm chỉ có cefortacine và fortacep, không còn các loại khác cả…Nhiều trường hợp vào mình cảm giác điều trị được nhưng thứ nhất là không có thuốc, cái thứ hai là bệnh nhân chưa tin tưởng… Men tiêu hóa có một số loại, nhưng men vi sinh chưa có, mà là dạng bột, còn ống dạng nước thì chưa có Rồi cái tiêu chảy chỉ có harmet thôi… trên kia dùng viên kẽm nhiều nhưng ở đây không thấy dùng, viên kẽm đấy có tác dụng rất nhiều Nó cũng tốt mà cũng rẻ, chỉ mấy trăm đồng thôi…rồi bệnh nhân viên phổi thì đa phần dạng uống thôi, dạng siro không có…một số cái khác cũng chưa có như gan mật,…kháng sinh dạng siro cho trẻ em, rồi các loại long đờm giảm ho”

Phỏng vấn sâu cán bộ y tế- Từ Sơn, Bắc Ninh Với việc người dân thường xuyên sử dụng thuốc kháng sinh mạnh, nên các loại kháng sinh trong danh mục thuốc BHYT đã bị kháng nhiều, vì vậy những người giám hộ được phỏng vấn muốn tăng cường sử dụng các loại tiêm và hạn chế các loại uống, do tiêm đi thẳng vào tĩnh mạch nên hiệu quả thuốc sẽ cao hơn Một lý do khác là vì các thuốc uống thường là các loại thuốc có vị đắng nên gia đình cũng không muốn cho trẻ uống, mà muốn tiêm cho nhanh Sự hạn chế của

Trang 5

các dạng thuốc cũng dẫn tới việc bệnh nhân đã thực

hiện chuyển tuyến nhiều lần điều trị trước đó, nhưng

khi mắc bệnh vào bệnh viện tại địa phương thì không

chấp nhận sử dụng thuốc được kê theo danh mục

BHYT Nhiều gia đình người bệnh cho rằng thuốc

BHYT không tốt bởi bệnh viện không đáp ứng được

hoàn toàn nhu cầu thuốc của bệnh nhân, chỉ đến để

thực hiện các xét nghiệm rồi điều trị ngoài, đến các cơ

sở y tế tư nhân hoặc chuyển tuyến trên

Một điểm nữa là về quy cách đóng gói, danh mục

thuốc được quy định còn bộc lộ một số điểm yếu như

hạn chế một số loại cần thiết như lọ xịt muối biển dùng

cho trẻ, thuốc xông hô hấp dạng xịt, các loại thuốc về

da liễu, thuốc mắt, chỉ có một số loại đơn giản và liều

thấp Các loại thuốc đắt tiền không được sử dụng Bên

cạnh đó, vitamin và các loại thuốc bổ cũng bị giới hạn,

mặc dù một số loại bên cạnh tác dụng bồi bổ cho cơ

thể còn có tác dụng tích cực trong điều trị bệnh, rút

ngắn thời gian, hỗ trợ tốt cho phác đồ Một số hỗn hợp

vitamin trước đây được sử dụng phối hợp nếu như từng

loại đơn lẻ có trong danh mục, nhưng hiện tại thì loại

bỏ hỗn hợp vitamin ra ngoài danh mục và không được

áp dụng, chỉ cho một số hỗn hợp vitamin được quy

định thì sẽ được sử dụng

“Chẳng hạn kháng sinh chỉ có gói và viên, nhưng

ra ngoài kia có các loại thuốc nước, bổ sung các loại

siro uống ấy, uống rất là dễ, siro hạ sốt, siro long đờm

giảm ho, rồi cả các loại siro kháng sinh…cái loại siro

kháng sinh trắng trắng thì cũng phải mấy chục nghìn,

cái loại long đờm giảm ho thì cũng phải 15.000

đồng…thực ra cho cái đấy đắt cũng thành rẻ vì một lọ

ấy nó uống được cả đợt, nó không như thuốc viên, nó

rẻ nhưng lại thành đắt, uống chỉ một lần thôi, nhưng

cái lọ đấy phải uống được mấy ngày, cảm giác mua

một lọ nó đắt nhưng chia ra mấy ngày thì lại thành

rẻ…đa phần bệnh nhân vào đây cho tiêm nhiều, vì

dân ở đây người ta ở nhà cho uống hết các loại nặng

rồi, ốm là cho đi khám tư nhân rồi dùng các loại đấy,

nên cho vào đây mà cho uống theo phác đồ bình

thường thì không khỏi, chỉ tiêm thôi”

Phỏng vấn sâu cán bộ y tế tại-Sơn Tây, Hà Nội

Kết luận

Mặc dù còn tồn tại những hạn chế do điều kiện kinh phí hạn hẹp, cỡ mẫu điều tra chỉ giới hạn trong phạm vi

2 huyện Tuy nhiên, nghiên cứu đánh giá phản hồi chính sách về danh mục thuốc được BHYT thanh toán

đã đưa ra những đóng góp nhất định, đáng để các nhà hoạch định chính sách cân nhắc trong việc sửa đổi, bổ sung danh mục thuốc thuộc pham vi thanh toán của BHYT đối với nhóm đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi cho dù Thông tư này mới chỉ có hiệu lực từ ngày 25/8/2011 Quá trình điều tra khảo sát đã thu thập được một số kiến nghị của cán bộ y tế đề nghị sửa đổi, bổ sung thêm danh mục thuốc đã được phê duyệt tại Thông tư

số 31 của Bộ Y tế như:

Một số loại hỗn hợp vitamin;

Kháng sinh dạng xiro hay augmentin dạng bột pha nước để uống;

Thuốc bổ tăng cường ăn uống và dinh dưỡng; Thuốc giảm ho, long đờm dạng xiro, lọ nước muối biển dạng khí dung;

Men tiêu hóa, viên kẽm, thuốc thụt tháo, chống nôn, thuốc da liễu, thuốc mắt

Cuối cùng, ngoài những đóng góp chung cho việc triển khai Thông tư 31 và đề xuất cụ thể một số loại thuốc cần thiết được bổ sung vào Danh mục, nghiên cứu cũng cho việc thu thập thông tin liên quan tới phản hổi chính sách BHYT nói riêng và các chính sách y tế nói chung là việc làm cần thiết góp phần giúp các nhà hoạch định chính sách nhanh chóng nắm bắt được những khó khăn, thuận lợi trong việc triển khai các chính sách y tế Từ đó có thể kịp thời đưa ra những

điều chỉnh, bổ sung nhằm nhanh chóng hoàn thiện các chính sách đã được ban hành

Tài liệu tham khảo

1 Quốc Hội, Luật Bảo hiểm Y tế, 2008

2 Bộ Y tế, Thông tư 31/2011/TT – BYT quy định thực hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quỹ BHYT thanh toán Hà Nội: Bộ

Y tế, 2011

3 Bộ Y tế, Thông tư số 02/2010/QĐ – BYT ngày 15/01/2010 về ban hành danh mục thuốc bổ sung sử dụng cho trẻ em dưới 6 tuổi thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT Hà Nội: Bộ Y tế, 2010

ĐáNH GIá THựC TRạNG Hệ THổNG Tổ CHứC

Và HOạT ĐộNG LĩNH VựC Y HọC Cổ TRUYềN VIệT NAM GIAI ĐOạN 2003-2010

Nguyễn Tuấn Hưng, Hoàng Thị Hoa Lý

Đặt vấn đề

Ngày 03/11/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban

hành Quyết định số 222/2003/QĐ-TTg phê duyệt

Chính sách quốc gia về y dược cổ truyền đến năm

2010 với các mục tiêu cụ thể: (i) Hoàn thiện hệ thống

tổ chức quản lý Y dược cổ truyền; tại Sở Y tế các tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương thành lập Phòng quản

lý y dược cổ truyền; Phòng y tế quận, huyện, thị xã,

thành phố trực thuộc tỉnh có cán bộ chuyên trách theo

dõi công tác y dược cổ truyền (ii) Về cơ sở khám, chữa

bệnh: tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT); Bệnh viện Y học hiện đại (YHHĐ) có khoa YHCT; Trạm y tế xã, phường, thị trấn có Bộ phận khám, chữa bệnh bằng YHCT do một thầy thuốc YHCT (y sỹ YHCT hoặc lương y) trong biên chế của trạm phụ trách

Sau gần 10 năm thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Đánh giá thực trạng hệ thống tổ chức và hoạt động

Ngày đăng: 22/08/2015, 08:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1 cung cấp các đặc điểm của nhóm đối tượng  tham gia vào điều tra khảo sát. Cụ thể có 40 đối tượng  với độ tuổi trung bình là 29.1, trong đó người nhiều tuổi  nhất là 50 tuổi và người ít tuổi nhất là 20 tuổi - ĐÁNH GIÁ PHẢN hồi NHANH về DANH mục THUỐC DÀNH CHO TRẺ EM dưới 6 TUỔI được QUỸ bảo HIỂM y tế CHI TRẢ
Bảng 1 cung cấp các đặc điểm của nhóm đối tượng tham gia vào điều tra khảo sát. Cụ thể có 40 đối tượng với độ tuổi trung bình là 29.1, trong đó người nhiều tuổi nhất là 50 tuổi và người ít tuổi nhất là 20 tuổi (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w