Đào Thị Thanh Bình, Nghiên cứu mối tương quan giữa siêu âm động mạch cảnh ngoài sọ, động mạch đùi với bệnh động mạch vành, Luận án tiến sĩ y học - Hà Nội 2007.. ĐáNH GIá HOạT Độ GAMA GLU
Trang 1Y học thực hành (807) - số 2/2012 63
Tài liệu tham khảo
1 Đào Thị Thanh Bình, Đánh giá mối liên quan giữa
thông số siêu âm kiểu B động mạch cảnh với các yếu tố
nguy cơ vữa xơ mạch máu ở người đau thắt ngực, Kỷ yếu
các báo cáo khoa học tại Hội nghị tim mạch 11/2006;
trang 54
2 Đào Thị Thanh Bình, Nghiên cứu mối tương quan
giữa siêu âm động mạch cảnh ngoài sọ, động mạch đùi
với bệnh động mạch vành, Luận án tiến sĩ y học - Hà Nội
2007
3 Nguyễn Văn Đăng, Tai biến mạch máu não, Nhà
xuất bản Y học, Hà Nội 2006
4 Nguyễn Đức Hải và Nguyễn Hồng Ngọc, Đánh giá
vữa xơ động mạch cảnh đoạn ngoài sọ bằng siêu âm
Dopller trên bệnh nhân nhồi máu não, Tạp chí tim mạch
học, số 29, năm 2002; trang 450
5 Akihino- Kitanura M.D., Carotid intina thickness and plaque characteristics as a risk factor for stroke in Japanese elderly men, Stroke, 2004, 35: p2788
6 Gauvrit J.Y., Leclerc X., Pernodet M et al, Value of MRI in the etiologic diagnosis of cerebral infarction, J.Radial 2005; 86 (9Pt2): p1080 - 9
7 Lee Y.H., Yeh S.T., Correlation of commom Carotid artery intima-media thickes in intracranical arterial stenosis and post-stroke congitive impairment, Nerol Taiwan 2007; 16(4): p207-13
8 Lee E.J., Kim H.J., Bae J.M et al, Relevance of commom carotid intima-media thickness and carotid plaque as risk factors for ischemic Stroke in patients with type 2 diabates mellitus, AJNR Am J Neuroradiol 2007, 28(5): p916-9
9 Schaberle W., Ultrasound assessment of the extracranial cerebral circulation, Ultrasomography in vascular diagnosis, 2007, 8: p214 - 251
ĐáNH GIá HOạT Độ GAMA GLUTAMYL TRANSFERASE HUYếT THANH
CủA BệNH NHÂN MắC MộT Số BệNH GAN, MậT TạI PHòNG KHáM BệNH VIệN ĐạI HọC Y HảI PHòNG
Nguyễn Thị Phương Mai, Phạm Thị Lý, Mai Thị Thu Thuỷ, Trần Thị Thương,
Trường Đại học Y Hải Phòng
Ninh Văn Quân - Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
Tóm tắt
Mục tiêu: xác định chỉ số gama glutamyl
transferase (GGT) huyết thanh và tìm mối tương quan
giữa GGT với enzyme AST, ALT, ALP và bilirubin trong
huyết thanh của bệnh nhân mắc bệnh gan, mật
Đối tượng nghiên cứu: 30 bệnh nhân mắc bệnh gan
và 30 bệnh nhân mắc bệnh đường mật đến khám tại
phòng khám Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu: tuổi trung bình 51 ± 15.73, hai
phần ba là nam giới, chủ yếu bệnh nhân mắc viêm gan
và viêm đường mật Chỉ số trung bình của GGT huyết
thanh là 364 ± 57.7 IU/L Trong nhóm bệnh lý gan,
GGT tương quan với ALT (r= 0.43), AST (r=0.366) có ý
nghĩa thống kê ở nhóm bệnh đường mật, ALP tương
quan với bilirubin (r=0.362), ALT (r= 0.49), tương quan
chặt chẽ với GGT (r =0.68), AST (r = 0.703) có ý nghĩa
thống kê Số ca có chỉ số ALP cao hơn bình thường ở
nhóm bệnh đường mật nhiều hơn nhóm bệnh lý tại
gan, nhưng ở cả hai nhóm, số ca có chỉ số GGT huyết
thanh tăng cao nhiều hơn số ca có chỉ số ALP tăng
cao, do đó chỉ số GGT có giá trị trong theo dõi tiến
triển bệnh gan, mật
Từ khoá: GGT, bệnh gan, bệnh đường mật
Summary
Objectives: identify GGT serum index and
correlation between GGT and enzyme AST, ALT,
alkalinephosphat (ALP), total, and direct bilirubin in
serum of hepatitis and biliary patients
Research methodology: cross descriptive study
Population study: 30 hepatitis cases and 30 biliary
cases at clinic of HaiPhong medical university hospital
Results: average of age was 51 ± 15.73 years old, two third of those were men, the highest cases were hepatitis and biliary infection GGT serum index was
364 ± 57.7 IU/L There was a significant statistic correlation between GGT and ALT (r= 0.43), AST (r= 0.366) among liver disease group; a significant statistic correlation between ALP and bilirubin (r= 0.362), ALT (r= 0.49) and a significant statistic good correlation between ALP and GGT (r=0.68), AST (r= 0.703) among biliary disease group Although numbers of unnormal ALP serum index cases among biliary disease group were higher than that among hepatitis disease group but numbers cases of unnormal GGT serum index were higher than that of ALP index in two groups Since, it is very important to test GGT serum index to manage biliary and hepatitis diseases
Keywords: Gama glutamyl transferase, hepatitis,
biliary disease
ĐặT VấN Đề
Gama glutamyl transferase (GGT, EC 2.3.2.2) được tìm thấy ở mô gan, thận tuỵ, dạ dày, phổi, ruột, nhưng
đặc biệt nhiều ở màng tế bào gan và tế bào biểu mô
đường mật trong gan, tế bào biểu mô ống lượn gần của thận Enzym lưu thông trong huyết thanh có nguồn gốc
từ gan, tuỵ, dạ dày, phổi, enzym có nguồn gốc từ thận
được hiện diện phần lớn qua nước tiểu [1] [2]
GGT là một enzym màng, có bản chất glycoprotein GGT có trọng lượng 61.410 đơn vị, tạo nên bởi hai chuỗi polypeptid: chuỗi nặng gồm 380 acid amin từ số 1đến 380, chuỗi nhẹ gồm 189 acid amin còn lại Phần GGT ở trong bào tương có 4 acid amin từ số 1-4, acid amin từ số 5 đến 26 nằm ở phần
Trang 2Y học thực hành (807) - số 2/2012 64
xuyên màng và phần ngoại bào gồm các acid amin từ
số 27-569 [3] Hoạt tính xúc tác của GGT được thực
hiện bởi acid amin arginin (107), glutamic (108) trên
chuỗi polypeptid nặng và acid amin serin (451, 452)
trên chuỗi nhẹ [4], [5]
GGT điều hoà lượng glutathion cho cơ thể
Glutathion là một tripeptid gồm gama
glutamin-cystein-glycin, có vai trò trả lại nhóm thion (-SH) cho các
enzym oxy hoá khử khác đặc bịêt là các
dehydrogenase, chống lại sự oxy hoá lipid, khử
methemoglobin, khử hydroxy peroxyd GGT vận
chuyển gama glutamin từ glutathion sang cho acid
amin khác, giải phóng peptid có cystein-glycin theo cơ
chế sau [6], [7]:
GT
glutamin-peptid + acid amin
glutamin-acid amin + peptid Glutathione+H2O=L-cysteinylglycine + L-glutamate
Chỉ số GGT trong huyết thanh của người bình
thường có hoạt độ từ 35- 45 IU/L
Trong khi đó, Alkalinphosphat hay phosphatase
kiềm được ký hiệu theo qui ước quốc tế: ALP -
EC3.1.3.1 ALP là có ba phân nhóm: ALP ruột – ALPI,
liên quan các bệnh lý xương, ALP ngoài ruột – ALPL
có ở biểu mô đường mật, gan, thận, liên quan đến các
bệnh lý vàng da, và ALP rau thai-ALPP ALP có trọng
lượng 56.812 đơn vị, cấu tạo bởi 528 acid amin Trong
máu ALP tồn tại ở dạng tiền hoạt động, chỉ trong môi
trường pH = 10, ALP được hoạt hoá bằng cách tự cắt
hai đoạn peptid từ acid amin số 1 đến 19 và từ 504 đến
528 [7] Vị trí hoạt động của ALP thuộc về acid amin
111 phosphoserin: thuỷ phân các gốc phosphat của
các hợp chất hữu cơ như nucleotid, protein Chỉ số ALP
trong huyết thanh người bình thường < 258 IU/L có
nguồn gốc ALPL [8],[9]
Trong nhóm bệnh lý về gan, mật, thường gặp nhất
là viêm gan, với các nguyên nhân như virus viêm gan
A, B, C…, do hoá chất (rượu); xơ gan; ung thư gan; sỏi
đường mật, tắc mật Theo thống kê của Tổ chức Y tế
thế giới, tính riêng năm 2006 có 628 ca mới mắc viêm
gan vius các loại, trung bình mỗi năm có 2184 ca mắc
sỏi đường mật
Trên phương diện giải phẫu bệnh học, viêm gan
dùng để chỉ mọi trường hợp bệnh lý tổn thương thoái
hoá, hoại tử tế bào và những tổn thương mô đệm trong
gan do phản ứng viêm gây nên Nguyên nhân do
nhiễm khuẩn, nhiễm độc, chuyển hoá, trong đó,
nguyên nhân do nhiễm khuẩn (vius) hay gặp hơn cả
Trong viêm gan cấp thông thường, hoại tử bào tương tế
bào gan, mức độ trầm trọng liên quan tới vùng tổn
thương có thể lan rộng Sắc tố mật bao giờ cũng có ở
trung tâm tiểu thuỳ và vùng kế cận khoảng cửa, giãn
tiểu quản mật và khoảng gian bào Một thể thường gặp
của viêm gan là viêm gan ứ mật Trong xơ gan, các bè
gan bị biệt hoá, có xơ bao bọc làm nghẽn đường mật
trong gan
Xét về phương diện hoá sinh lâm sàng, hội chứng
vàng da được chia làm ba loại: trước gan, tại gan và
sau gan (tắc mật) Các bệnh lý tại gan (viêm gan), khởi
đầu là sự phù nề các tế bào, gây ứ mật ở khoảng gian
bào, sau đó là sự huỷ hoại tế bào gây gia tăng các
enzym của gan trong huyết thanh Các nguyên nhân tắc mật ngoài gan ban đầu chỉ ứ dich mật tại đường mật, dần dần dẫn đến kém nuôi dưỡng tế bào gan, viêm gan do tắc mật, suy gan [2] Như vậy, các bệnh lý gan, mật như đã mô tả đều kèm hội chứng tắc mật và cuối cùng là hoại tử tế bào gan
ALP được sớm biết đến như một enzym có giá trị lớn trong chẩn đoán tắc mật, tuy nhiên hoá chất định lượng ALP dễ bị oxy hoá [8] GGT tăng trong các trường hợp hoại tử tế bào gan Vì vậy, mục đích của nghiên cứu nhằm đánh giá sự tương quan giữa ALP và GGT, để có thể tiết kiệm chi phí và chẩn đoán sớm nguy cơ hoại tử tế bào đường mật và huỷ hoai tế bào gan trong một số bệnh lý gan, mật
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định hoạt độ gama-glutamyltransferase trong huyết thanh của bệnh nhân mắc một số bênh gan, mật tại phòng khám Bệnh viên Đại học Y Hải Phòng
2 Tìm mối tương quan giữa gama-glutamyltransferase và ALT, AST, ALP, bilirubin huyết thanh
PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Thời gian nghiên cứu: 9 tháng: 1/2011- 9/2011
2 Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân mắc bệnh gan, mật
3 Địa điểm: tại phòng khám Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
4 Cỡ mẫu: 60 chia làm 2 nhóm: 30 mắc bệnh gan,
30 mắc bệnh đường mật
5 Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
6 Các kỹ thuật và hoá chất sử dụng: định lượng GGT, ALT, AST, ALP bằng kỹ thuật kitnetic: đo độ
đục NADHH+
giảm dần tại bước sóng 340 nm Định lượng bilirubin toàn phần và trực tiếp bằng kỹ thuật so màu: đo đậm độ của phức hợp màu tại bước sóng
546 nm Hoá chất và máy phân tích tự động Cobas của hãng Roche
7 Kỹ thuật sử lý số liệu: Sử dụng phần tính thống
kê giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, tương quan giá trị của các biến số của phần mềm miniTab
KếT QUả
1 Chỉ số nhân xã hội học
Bảng 1: Một số chỉ số nhân xã hội học:
52 ± 15.73 Giới
Nam Nữ
n %
38 63.33
22 36.67 Bệnh lý:
Gan: K gan Xơ gan Viêm gan
Đường mật: Viêm túi mật
Sỏi ống mật Viêm đường mật
N %
1 1.67
7 11.7
22 36.67
2 3.33
6 10
22 36.67 Kết luận: độ tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 52 ± 15,73, hai phần ba là nam giới Số bệnh nhân mắc viêm gan và viêm đường mật chiếm tỉ lệ cao nhất, 36.67%
Trang 3Y học thực hành (807) - số 2/2012 65
2 Hoạt độ một số chất hữu cơ trong huyết
thanh bệnh nhân
Bảng 2: Hoạt độ trung bình một số chất hữu cơ
trong huyết thanh bệnh nhân
Biến số
Chung cả hai
nhóm
(n=60)
x ± sd
Nhóm mắc bệnh gan (n=30)
x ± sd
Nhóm mắc bệnh đường mật (n=30)
x ± sd
p ALT 421 ± 102 483 ±138 358 ± 151 <0,005
AST 368,9 ±93,8 512 ±158 225,9 ±96,6 <0,005
GGT 364 ± 57,7 403 ± 102 327,3 ±55,1 0,6466
Bilirubin tp 162 ± 22,4 193 ± 31,7 130,7±31,1 0,0114
Bilirubin ttt 84 ± 11,7 110 ± 18,1 57,4 ± 13,4 0,0114
ALP 184,5±14,9 184,1±13,9 185 ± 26,7 0,6151
Kết luận: ngoại trừ ALP, chỉ số GGT huyết thanh
cũng như các chất hữu cơ trong nghiên cứu đều có giá
trị trung bình cao hơn bình thường Khi so sánh giữa
hai nhóm bệnh lý gan và mật, giá trị trung bình của
ALT, AST, Bilirubin toàn phần, trực tiếp trong nhóm
bệnh lý gan cao hơn hẳn nhóm mắc bệnh đường mật
có ý nghĩa thống kê (bảng 2)
Bảng 3: Tỉ lệ bệnh nhân có chỉ số cao hơn bình
thường
Bi ến số
Nhóm mắc bệnh gan
n %
Nhóm mắc bệnh đường mật
n % ALT > 60 U/L 23 76,6 15 50
AST >60 U/L 29 96,6 24 80
GGT >50 U/L 30 100 29 96,6
Bilirubin tp >17 mol/L 30 100 30 100
Bilirubin tt >5mol/L 24 80 16 53,3
ALP > 258 U/L 5 16,7 9 30
Kết luận: số bệnh nhân có chỉ số ALT, AST và
bilirubin trực tiếp cao hơn bình thường trong nhóm mắc
bệnh gan nhiều hơn nhóm bệnh lý đường mật Tuy
nhiên, số bệnh nhân có chỉ số ALP cao hơn bình
thường của nhóm mắc bệnh đường mật cao hơn nhóm
có bệnh lý gan
3 Mối tương quan giữa một số chỉ số đánh giá
chức năng gan, mật với GGT và ALP
Bảng 4: Mối tương quan giữa một số chỉ số đánh
giá chức năng gan, mật với GGT và ALP
Các
biến số
Chung cả hai
nhóm (n = 60)
r p
Nhóm mắc bệnh gan (n = 30) rp
Nhóm mắc bệnh
đường mật (n=30) rp ALT-GGT 0.323
0.012
0.43 0.018
0.252 0.179 AST-GGT 0.316
0.014
0.366 0.046
0.262 0.161 Bilirubin tp -
GGT
0.098 0.456
-0.254 0.175
0.355 0.054 Bilirubin tt -
GGT
0.098 0.456
-0.254 0.175
0.355 0.054 ALP - GGT 0.421
<0.005
0.322 0.083
0.680 <0.005 ALT - ALP 0.483
<0.005
0.217 0.249
0.498 <0.005 AST - ALP 0.485
<0.005
0.233 0.215
0.703 <0.005 Bilirubin tp -
ALP
0.230 0.077
-0.031 0.869
0.362 0.049 Bilirubin tt -
ALP
0.230 0.077
-0.031 0.869
0.362 0.049
Kết luận: khi xét chung cả hai nhóm, ALT, AST tương quan với GGT và ALP, giữa GGT với ALP (0,3
<r<0,5, p<0,05) ở nhóm mắc bệnh gan, chỉ có ALT và AST tương quan với GGT (p<0,05) Nhóm bệnh lý
đường mật, AST và GGT tương quan chặt chẽ với ALP, ALT, Bilirubin trực tiếp, toàn phần có liên quan với ALP
BàN LUậN
1 Chỉ số nhân xã hội học
Kết quả của nghiên cứu cũng không có sự khác biệt về tỉ lệ giới so với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Hưng, tại Đồng Nai: nam giới chiếm đa số
2 Hoạt độ một số chất hữu cơ trong huyết thanh bệnh nhân
Enzym ALT, AST có trong tế bào gan trong khi enzym GGT, ALP lại có một phần trong bào tương, một phần xuyên màng và trên bề mặt tế bào gan và tế bào biểu mô đường mật Chỉ số ALT và AST trong các trường hợp bệnh lý gan, mật đánh giá mức độ huỷ hoại
tế bào gan, bilirubin toàn phần và trực tiếp đánh giá tình trạng ứ mật Kết quả xử lý số liệu thể hiện chỉ số trung bình của ALT, AST, GGT, bilirubin toàn phần, trực tiếp, ALP huyết thanh của đối tượng nghiên cứu cao hơn bình thường Khi chia thành hai nhóm bệnh lý gan, mật, chỉ số trung bình của ALT, AST, bilirubin toàn phần và trực tiếp trong nhóm mắc bệnh gan cao hơn nhóm mắc bệnh đường mật có ý nghĩa thống kê
Điều đó chứng minh rằng mức độ huỷ hoại tế bào gan
và ứ mật của nhóm bệnh lý gan cao hơn nhóm bệnh lý
đường mật Tuy nhiên, mức độ tổn thương gan ở nhóm bệnh lý đường mật mang tính mạn tính hơn nhóm mắc bệnh gan (AST tăng cao hơn ALT) [2] Chỉ số trung bình của GGT cao hơn bình thường ở cả hai nhóm nhưng không có sự khác biệt Theo nghiên cứu của Nguyễn Thành Hưng tỉ lệ phần trăm số ca có chỉ số enzyme GGT tăng (62,9%) cao hơn transaminase (33%) trong tống số bệnh nhân có HBsAg dương tính Theo Mạc Lê Hoà, GGT tăng trong các bệnh viêm gan, xơ gan, ung thư gan Cũng tương tự như vậy, kết quả từ hai nhóm trong nghiên cứu cho thấy tỉ lệ bệnh nhân mắc bệnh gan có GGT tăng (100%) cao hơn transaminase và ALP
GGT cũng như ALP là một protein xuyên màng, có nhiều ở mô gan [6] Mặt khác khi xét số bệnh nhân có chỉ số chất hữu cơ tăng, số bệnh nhân trong nhóm bệnh lý mật có chỉ số ALP cao nhiều hơn nhóm bệnh lý gan, như vậy ALP có ưu thế hơn ở biểu mô đường mật ngoài gan Hoại tử tế bào gan do tổn thương gan nguyên phát hay thứ phát sau bệnh lý đường mật dẫn
đến enzyme transaminase và ALP gia tăng nhưng số bệnh nhân có chỉ số ALP tăng cao hơn bình thường ở nhóm mắc bệnh đường mật cao hơn
3 Mối tương quan giữa một số chỉ số đánh giá chức năng gan, mật với GGT và ALP
Các transaminase có tương quan với GGT và ALP khi xét chung cả hai nhóm, nhưng khi chia thành hai nhóm gan và mật, kết quả đã có sự thay đổi rõ rệt Transaminase có ở trong tế bào gan, GGT có ở màng
tế bào, chính vì vậy, sự huỷ hoại màng tế bào gan càng lớn, các transaminase được giải phóng càng
Trang 4Y học thực hành (807) - số 2/2012 66
nhiều (r = 0,366, 0,43; p = 0,046, 0,018 Sự ứ mật
trong nhu mô gan không tương quan với chỉ số ALP
ở nhóm bệnh lý đường mật, bắt đầu bằng sự ứ mật
sau gan, bilirubin trực tiếp, toàn phần tăng và tổn
thương biểu mô đường mật, ALP tăng (r = 0,362, p
=0,049) sau đó là sự ứ mật tại gan, huỷ hoại tế bào
gan (AST và GGT tương quan chặt chẽ với ALP (r =
0,73, 0,68; p<0,005) Mức độ tổn thương biểu mô
đường dẫn mật ngoài gan sẽ có ảnh hưởng sâu sắc
đến nhu mô gan
KếT LUậN
Với độ tuổi trung bình của nghiên cứu là 51± 15,73,
nam giới chiếm hai phần ba tổng số cỡ mẫu, bệnh
viêm gan và viêm đường chiếm tỉ lệ lớn, hầu hết số
bệnh nhân có chỉ số transaminase, bilirubin, GGT tăng
cao hơn bình thường, gần 1/3 số bệnh nhân mắc bệnh
đường mật có ALP tăng
GGT tương quan với chỉ số đánh giá tình trạng huỷ
hoại tế bào gan trong các trường hợp bệnh lý gan ALP
tương quan chặt chẽ với tình trạng huỷ hoại tế bào gan
(AST, GGT) và tương quan với tình trạng ứ mật
(bilirubin) trong nhóm bệnh lý đường mật
Khuyến cáo: Tuy ALP tăng chậm hơn các enzyme
khác nhưng có liên quan mật thiết đến GGT Định
lượng GGT huyết thanh thường xuyên trong các bệnh
lý đường mật để theo dõi sớm tiến triển bệnh
TàI LIệU THAM KHảO
1 Goldberg D.M Structural, functional, and clinical aspects of ã-glutamyltransferase Crit Rev Clin Sci.2001, 12(1): 1-58 [Pubmed: 6104563] (Abstract]
2 Đỗ Đình Hồ Hoá sinh lâm sàng Nxb Y học 2005,
tr 101, 106, 187
3 Gamma-glutamyltranspeptidase 1 precursor - Homo sapiens (Human)
http:// www.uniprot.org/uniprot/P19440
4 Ikeda Y et al."Significance of Arg-107 and Glu-108
in the catalytic mechanism of human gamma-glutamyl transpeptidase Identification by site-directed mutagenesis." J Biol Chem 268:3980-3985(1993) [PubMed: 8095045] [Abstract]
5 Ikeda Y et al "Involvement of Ser-451 and Ser-452
in the catalysis of human gamma-glutamyl transpeptidase." J Biol Chem 270:22223-22228 (1995) [PubMed: 7673200] [Abstract]
6 Phạm Quang Tùng Chuyển hoá acid amin Bài giảng hoá sinh học Nxb Yhọc 2007, tr 425, 426
7 Đỗ Thị Thu Chuyển hoá acid amin Bài giảng hoá sinh học Nxb Y học 2005, tr149
8 Alkaline phosphatase (AP, ALP, SAP) http://ahdc.vet.cornell.edu/clinpath/modules/chem/alkphos htm
9 Alkaline phosphatase, placental-like 1 precursor - Homo sapiens (Human)
http://www.uniprot.org/uniprot/P10696
10 WHO Country health information profile 2008 Revision http:// www.who.int
ĐáNH GIá Về Sự BIếN ĐổI CHIềU CAO ở NGƯờI TRÊN 16 TuổI tại QUậN ĐốNG ĐA, Hà Nội
Trần Sinh Vương - Trường Đại học Y Hà Nội
Tóm tắt
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu: xác định chiều cao
người quận Đống Đa và đánh giá về sự biến đổi chiều
cao theo tuổi, giới
Kết quả, qua nghiên cứu 2927 người (1217 nam và
1710 nữ) tuổi trên16 thuộc quận Đống Đa, Hà Nội cho
thấy: sau tuổi 16 chiều cao cả hai giới vẫn tiếp tục tăng
dần, đạt cao nhất ở tuổi 24 với chiều cao trung bình đạt
169,81±5,07 cm (với nam); ở nữ đạt cao nhất ở tuổi 22,
trung bình là 158,30±5,91cm Sau tuổi này chiều cao
nam giới được duy trì và khá ổn định, chỉ sau tuổi 40-
49, chiều cao giảm đi khá rõ rệt Chiều cao trung bình
người Đống Đa (lấy nhóm tuổi 30-39 đại diện cho
người trưởng thành), nam là:166,97±4,68 cm, nữ là:
155,92±5,12cm Người Đống Đa cao hơn người 2
huyện Mỹ Đức và Ba Vì khoảng 2-3cm ở cùng nhóm
tuổi (p<0,001), nhưng không có sự khác biệt với quận
Hoàn Kiếm So với người Hà Nội nói chung, chiều cao
cả 2 giới Đống Đa đều cao hơn ở hầu hết các nhóm
tuổi khoảng 1,5cm (p<0,05) Cần tiếp tục tăng cường
chế độ dinh dưỡng cũng như luyện tập thể lực cho cả
hai giới sau tuổi 16, ở nữ tới tuổi 22 và ở nam tới tuổi 24
để có được chiều cao tốt nhất
Từ khóa: chiều cao, nhân trắc, người Đống Đa
Summary
The objectives of this study were to determine the
height of Dong Da people and evaluate the change of
height according to ages, sexes The results, through
researching 2927 people (1217 males and 1710 females) over 16 years- old at Dong Da dictrict had
following ages and scored maximumly at the age of 24 for males:169,81±5,07 cm and 22 for females 158,30±5,91cm, and then the height kept stably until 40- 49 age group After that the one deceased rather rapidly The average height of Dong Da people (30-39 age group representative for adults): 166,97±4,68 cm for men and 155,92±5,12cm for women It was higher than the one of My Duc and Ba Vi about 2-3cm at the same age group with significant difference (p<0,001) However, there was no significant difference comparison with Hoan Kiem dictrict The height of Dong Da people at both sexes was higher than the one
at almost age groups of Ha Noi persons about 1,5cm (p<0,05) It was necessary to improve the nutritional supplement and the phygical movement for both of genders after 16 years- old period, until 22 for females and 24 for males
Keywords: height, anthropometry, Dong Da people
ĐặT VấN Đề
Việc nâng cao tầm vóc, thể lực người Việt Nam là
đòi hỏi thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước nâng cao giống nòi và tăng tuổi thọ khỏe mạnh cho người Việt Nam [4] Chính vì vậy “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người