Y học thực hành 859 - số 2/2013 34 BIếN Cố BấT LợI CủA HóA TRị LIệU TRÊN BệNH NHÂN UNG THƯ Vú ĐIềU TRị TạI BệNH VIệN K Và MộT Số YếU Tố ảNH HƯởNG Nguyễn Tuyết Mai - Bệnh viện K tóm tắt
Trang 1Y học thực hành (859) - số 2/2013
34
BIếN Cố BấT LợI CủA HóA TRị LIệU TRÊN BệNH NHÂN UNG THƯ Vú
ĐIềU TRị TạI BệNH VIệN K Và MộT Số YếU Tố ảNH HƯởNG
Nguyễn Tuyết Mai - Bệnh viện K
tóm tắt
Mục tiêu: đánh giá biến cố bất lợi (ADE - Adverse
Drug Event/Adverse Drug Experience) của hóa trị liệu
trên bệnh nhân ung thư vú (UTV) điều trị tại bệnh viện
K và một số yếu tố ảnh hưởng Kết quả: 1.510 đợt
truyền hóa chất (8 phác đồ) của 236 bệnh nhân ghi
nhận 11.252 ADE Trung bình 1 đợt truyền hóa chất
của 1 bệnh nhân UTV ghi nhận được 7,5 ADE Có 33
loại ADE đã ghi nhận Tỷ lệ buồn nôn và nôn là 44,0%
và 20,3% Bệnh nhân <40 tuổi, không mắc bệnh phối
hợp, tiền sử nghén nặng và bị say tàu xe khi điều trị
hóa chất có tỷ lệ buồn nôn và nôn cao hơn so với
nhóm còn lại UTV ở giai đoạn IV khi điều trị hóa chất
có tỷ lệ ADE là giảm bạch cầu trung tính (BCTT) và
giảm Hemoglobin (Hb) cao hơn so với các giai đoạn
khác Kết luận: Ghi nhận ADE trong quá trình điều trị
rất cần thiết Các cảnh báo về ADE sẽ giúp phương án
điều trị dự phòng tốt hơn và chọn lựa phác đồ phù hợp
cho từng bệnh nhân
Từ khóa: biến cố bất lợi, phác đồ điều trị hóa chất,
ung thư vú
Summary
Purpose: To survey incidence of Adverse Drug
Event (ADE) in breast cancer patients treated by
chemotherapy at K Hospital and some influence
factors Results: Total 1510 cycles for 8 regimens of
236 pts, there are 11252 ADE for 33 side-effects Each
patient has 7.5 ADE / one cycle Nause and voimiting
is 44,0% and 20,3%, more common in pts < 40 years
old, car-sick, morming sickness Neutropenia 21,1%,
anemia are more common in pts ≥ 60 years old, stage
IV Conclusion: Report ADE is necessary because it
could help doctor having prevention strategies for each
regimen and each patient
Keywords: ADE, regimen, breast cancer
ĐặT VấN Đề
Ung thư vú (UTV) là loại ung thư phổ biến nhất ở
phụ nữ nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam, năm
2010 ước tính có 12.533 trường hợp UTV mới mắc, cao
gấp đôi so với năm 2000 với 5.538 trường hợp; Tỷ lệ
mắc chuẩn theo tuổi ASR năm 2010 là 29,9/100.000
phụ nữ đứng đầu trong các ung thư ở nữ giới, cao gấp
đôi so với loại ung thư xếp thứ hai là ung thư đại trực
tràng với ASR = 14,7/100.000 phụ nữ [7]
Việc điều trị UTV đòi hỏi sự phối hợp giữa các
phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng (phẫu thuật, tia
xạ) và toàn thân (hóa chất, nội tiết, miễn dịch) với
nhiều phác đồ khác nhau Hóa trị đã giúp cảỉ thiện
đáng kể thời gian sống thêm, nhưng hóa trị cũng được
biết đến bởi có quá nhiều tác dụng phụ - biến cố bất lợi
của thuốc Theo định nghĩa của Tổ chức y tế thế giới,
biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event/Adverse
Drug Experience - ADE) là những tai biến phát sinh từ
can thiệp y tế có liên quan đến thuốc, phát sinh từ việc
sử dụng thuốc [5] Việc ghi nhận và báo cáo ADE sẽ giúp cho các bác sĩ lâm sàng đưa ra phương án điều trị
dự phòng, ngăn ngừa tác dụng phụ và lựa chọn phác
đồ, thuốc điều trị phù hợp cho từng cá thể người bệnh Ghi nhận ADE đã được quy định bắt buộc tại nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên ở nước ta vấn đề này chưa thực sự được coi trọng Để góp phần trong công tác dược lâm sàng nói chung và cảnh giác dược nói riêng, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá tình hình gặp biến cố bất lợi của thuốc (ADE) trên bệnh nhân ung thư vú điều trị hóa chất tại Bệnh viện K và một số yếu tố ảnh hưởng
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn
đoán UTV đã được điều trị hóa chất đơn thuần tại bệnh viện K từ tháng 11/2011 đến tháng 8/2012
Tiêu chuẩn lựa chọn: bệnh nhân UTV tại Bệnh viện K, có chỉ định điều trị hóa chất đơn thuần, đã được truyền hóa chất ít nhất 1 đợt, có khả năng theo dõi các biến cố bất lợi trong thời gian nghiên cứu và tự nguyện tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ: các bệnh nhân không đáp ứng được các tiêu chuẩn lựa chọn ở trên
2 Phương pháp nghiên cứu:
* Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu can thiệp lâm sàng không đối chứng
* Mẫu nghiên cứu: 236 bệnh nhân được chẩn
đoán UTV và đã được điều trị hóa chất đơn thuần tại bệnh viện K với phương pháp chọn mẫu thuận tiện
3 Các bước tiến hành nghiên cứu:
- Các bệnh nhân UTV được điều trị hóa chất đơn thuần theo từng phác đồ: việc lựa chọn phác đồ điều trị cho bệnh nhân UTV được tiến hành theo đúng chỉ
định Các phác đồ điều trị hóa chất được sử dụng bao gồm 8 phác đồ: phác đồ anthracyclin + cyclophosphamide (AC); phác đồ 5FU + anthracyclin + cyclophosphamide (FAC); phác đồ 5FU+ epirubicin + cyclophosphamide (FEC); phác đồ Paclitaxel + anthracyclin (PA); phác đồ Taxane + cyclophosphamide (TC); phác đồ Carboplatin + Paclitaxel; phác đồ Docetaxel và Paclitaxel
- Ghi nhận các ADE xảy ra từ khi bắt đầu dùng thuốc đến trước đợt điều trị tiếp theo, mỗi một biến cố xảy ra được tính là một ADE, phân độ theo Common Terminology Criteria for Adverse Events (CT CAE) Version 4.0 [9]
* Cách tính số ADE:
1 ADE = (Số ADE ghi nhận được của loại biến cố
đó / số đợt truyền) x 100%
Trang 2Y học thực hành (859) - số 2/2013 35
KếT QUả
Qua theo dõi 1.510 đợt truyền hóa chất (8 phác đồ) của 236 bệnh nhân, nghiên cứu này đã ghi nhận đ−ợc 11.252 ADE Trung bình trong 1 đợt truyền hóa chất của 1 bệnh nhân UTV ghi nhận đ−ợc 7,5 biến cố bất lợi Có
33 loại ADE đã đ−ợc ghi nhận
Bảng 1 Tổng hợp tình hình gặp ADE của một số phác đồ điều trị hóa chất
Rối loạn toàn thân
Trên hệ tiêu hóa
Trên da, móng, tóc
Phản ứng
Trên huyết học
Giảm
Trên gan
Trên thận
Trên chuyển hóa
Khác
Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân gặp ADE là 100%, có
33 loại ADE đ−ợc ghi nhận Có 10 ADE có tỷ lệ gặp
cao nhất gồm mệt mỏi, rụng tóc, chán ăn, mất ngủ,
buồn nôn, đen móng, sạm da, dị cảm, choáng váng, giảm Hb Có 92,6% ADE là độc tính độ 1 và độ 2; các
độc tính độ 3 và độ 4 chiếm tỷ lệ rất nhỏ với 7,4%
Trang 3Y học thực hành (859) - số 2/2013
36
Không có trường hợp nào tử vong do ADE của thuốc
Kết quả cho thấy tỷ lệ gặp biến cố bất lợi buồn nôn và
nôn chung ở cả 8 phác đồ là 44,0% và 20,3% Trong
đó, các bệnh nhân điều trị bằng phác đồ PA gặp tác
dụng phụ buồn nôn và nôn là cao nhất (tương ứng là
55,3% và 28,8%), tiếp đến là AC, TC, FAC, FEC (từ
49,1% đến 43,7% và từ 28,0% đến 22,0%); Docetaxel,
Paclitaxel đơn thuần có tỷ lệ thấp hơn hẳn
Tình hình gặp biến cố bất lợi trên huyết học của
phác đồ AC, FAC cao hơn các phác đồ khác: giảm
BCTT là 21,1% và 13,5%; giảm Hb là 29,7% và
29,9%; giảm tiểu cầu là 12,0% và 4,7% (tương ứng)
Tình hình gặp ADE trên gan chung của các phác đồ:
tăng men ASAT là 15,3%; tăng men ALAT là 14,1%
Trong đó, phác đồ AC và FAC gây độc tính trên gan
cao nhất với tỷ lệ tăng men ASAT là 19,7% và 16,8%,
tăng men ALAT là 16,6% và 16,8%
Bảng 2 Mối liên quan giữa một số yếu tố với ADE
buồn nôn, nôn
ADE buồn nôn, nôn
Một số yếu tố Số đợt truyền
Tuổi
<0,001 Bệnh phối hợp
<0,01 Nghén khi mang thai
Không
nghén,
nghén nhẹ
hoặc trung
bình
<0,001
Say tàu xe
<0,01
Ăn nhẹ trước khi truyền
>0,05
Lo sợ bị nôn trước truyền
>0,05
Nhận xét: tỷ lệ buồn nôn và nôn chung ở cả 8 phác
đồ là 44,0% và 20,3%, gặp cao hơn ở những bệnh
nhân <40 tuổi (55,1%), không mắc bệnh phối hợp
(45,7%), tiền sử nghén nặng khi mang thai (57,1%) và
bị say tàu xe (48,6%) so với nhóm còn lại với p <0,001
và p<0,01
Bảng 3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình
hình giảm BCTT
Giảm BCTT
Một số yếu tố Số đợt truyền
p Tuổi
<0,001 Giai đoạn bệnh
<0,05
Giai đoạn I,
Bệnh phối hợp
>0,05
Nhận xét: bệnh nhân ≥60 tuổi và ở giai đoạn bệnh
IV có tỷ lệ giảm BCTT (lần lượt là 16,2% và 14,7%) cao hơn so với nhóm bệnh nhân còn lại với p<0,001 và p<0,05
Bảng 4 Mối liên quan giữa một số yếu tố với tình hình giảm Hb
Giảm Hb
Một số yếu tố Số đợt truyền
Tuổi
>0,05 Giai đoạn bệnh
Giai đoạn I,
<0,001
Bệnh phối hợp
>0,05
Nhận xét: tỷ lệ giảm Hb gặp nhiều ở nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn IV (35,3%) so với các giai đoạn
I, II và III (28,7%) với p<0,001
BàN LUậN ADE là một trong những nguyên nhân khiến bệnh nhân không điều trị được đúng lịch trình, đúng liều lượng Nghiên cứu này chưa đi sâu vào mức độ ảnh hưởng của ADE lên kết quả điều trị mà chỉ khảo sát nhằm đưa ra các con số để các thầy thuốc tham khảo Trong quá trình theo dõi và thu thập số liệu, ngoài các ADE trên huyết học, gan, thận… có thể thu thập được
từ xét nghiệm cận lâm sàng, còn lại hầu như không ghi nhận được các ADE khác, một số ADE được các bác sĩ ghi nhận nhưng khá sơ sài và không phân độ độc tính,
đó là nguyên nhân khiến tỷ lệ các ADE của các tác giả trong nước cho cùng một loại phác đồ rất khác nhau [1], [2], [3] Hầu hết các kết quả này thấp hơn kết quả của các nghiên cứu khác đã công bố trên thế giới [4], [6], [7], [8] Nôn và buồn nôn là một trong những tác dụng phụ thường gặp nhất và làm người bệnh lo sợ nhất khi hóa trị Cơ chế gây nôn và buồn nôn của hóa trị liệu là kích hoạt thụ thể tiếp nhận hóa chất, các chất dẫn truyền thần kinh như dopamin, serotonin, histamin Một số cơ chế khác cũng liên quan đến nôn
và buồn nôn của hóa trị liệu đó là hệ thống tiền đình,
sự thay đổi vị giác do hóa trị cũng gây nôn và buồn nôn [6] Kết quả cho thấy tỷ lệ gặp biến cố bất lợi buồn nôn và nôn chung ở cả 8 phác đồ là 44,0% và 20,3% Trong đó, các bệnh nhân điều trị bằng phác đồ PA gặp tác dụng phụ buồn nôn và nôn là cao nhất (tương ứng
là 55,3% và 28,8%), tiếp đến là AC, TC, FAC, FEC (từ 49,1% đến 43,7% và từ 28,0% đến 22,0%); Docetaxel, Paclitaxel đơn thuần có tỷ lệ thấp hơn hẳn Nhóm bệnh nhân <40 tuổi (55,1%), không mắc bệnh phối hợp (45,7%), tiền sử nghén nặng khi mang thai (57,1%) và
bị say tàu xe (48,6%) có tỷ lệ bị nôn và buồn nôn cao
Trang 4Y học thực hành (859) - số 2/2013 37
hơn so với các nhóm còn lại Điều này sẽ giúp bác sĩ
lưu ý hơn trong khi điều trị hóa chất cho bệnh nhân
Giảm BCTT là tác dụng phụ thường gặp Ngoài
việc làm giảm sức đề kháng của bệnh nhân còn làm
gián đoạn, chậm lịch điều trị… và sẽ ảnh hưởng đến
kết quả lâu dài cho người bệnh Khi số lượng dưới 500
tế bào/mm3 được coi là giảm BCTT nặng Các yếu tố
làm tăng nguy cơ giảm BCTT bao gồm: tuổi cao (trên
65 tuổi hoặc trên 70 tuổi), bệnh nhân nữ, thể trạng yếu,
chế độ dinh dưỡng kém Sử dụng anthracyclin
(doxorubicin, daunorobicin, dactinomycin), paclitaxel,
carboplatin là những tác nhân có thể gây giảm BCTT ở
mức độ cao.Trong nghiên cứu này các phác đồ AC,
FAC gây giảm BCTT là 21,1% và 13,5% Hiện nay để
hạn chế biến cố bất lợi này, các bệnh nhân điều trị hóa
chất đã được kiểm tra công thức máu máu giữa phác
đồ để điều trị dự phòng bằng thuốc tăng bạch cầu sẽ
tránh được những biến chứng của hạ bạch cầu Theo
Ann khoảng 60% bệnh nhân ung thư tạng đặc bị thiếu
máu do truyền hóa chất và tỷ lệ này có thể tăng lên 70
- 90% với thuốc hóa chất ức chế tủy [4] Kết luận này là
phù hợp, bởi trong nghiên cứu này cho thấy có 58,5%
bệnh nhân bị giảm huyết sắc tố Tỷ lệ giảm huyết sắc
tố gặp nhiều ở nhóm bệnh nhân ung thư giai đoạn IV
(35,3%) ở những bệnh nhân có di căn xương thường
hay bị giảm nhiều, trong đó phác đồ AC, FAC, FEC có
tỷ lệ giảm cao hơn (tương ứng là 29,7%; 29,9% và
28,6%) Các phác đồ PA, Docetaxel và Paclitaxel đơn
thuần có tỷ lệ thấp nhất Các bệnh nhân có giảm huyết
sắc tố thường chất lượng sống sẽ bị giảm theo
KếT LUậN
Trong 1.510 đợt truyền hóa chất (8 phác đồ) của
236 bệnh nhân đã ghi nhận được 11.252 ADE Trung
bình trong 1 đợt truyền hóa chất của 1 bệnh nhân UTV
ghi nhận được 7,5 biến cố bất lợi Tỷ lệ buồn nôn và
nôn là 44,0% và 20,3% Bệnh nhân <40 tuổi, không
mắc bệnh phối hợp, tiền sử nghén nặng và bị say tàu
xe khi điều trị hóa chất có tỷ lệ buồn nôn và nôn cao
hơn so với nhóm còn lại UTV ở giai đoạn IV khi điều trị
hóa chất có tỷ lệ ADE là giảm BCTT và giảm Hb cao hơn so với các giai đoạn khác
Ghi nhận ADE trong quá trình điều trị là việc làm hết sức cần thiết Các cảnh báo về ADE sẽ giúp thầy thuốc có phương án điều trị dự phòng tốt hơn và chọn lựa phác đồ phù hợp cho từng cá thể người bệnh TàI LIệU THAM KHảO
tân bổ trợ trong ung thư vú giai đoạn III không mổ được bằng phác đồ CAF và AC Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Ung thư, Đại học Y Hà Nội
trị liệu cho ung thư di căn bằng phác đồ TA và CAF tại Bệnh viện K Luận văn bác sỹ nội trú, Đại học Y Hà Nội
hóa chất phác đồ TAC trên bệnh nhân ung thư vú di căn
có thụ thể nội tiết dương tính Luận văn Thạc sỹ Chuyên ngành Ung thư, Đại học Y Hà Nội
Eric (2001) Side effects of Chemotherapy and Combined Chemohormonal Therapy in Women with Early-Stage Breast Cancer Journal of the National Cancer Institute Monographs, 30; pp 135-42
of Adverse Drug Events and Potential Adverse Drug Events JAMA, 274 (1); pp 29 - 36
of Adjuvant Treatment of Breast Cancer N Engl J Med,
344 (26); pp 1997-2008
Chemotherapy-Induced Nausea and Vomiting in Breast Cancer Patients: A Prospective Observational Study J Support Oncol, 5; pp 374-380
consequenses, and new directions for its management Cancer, 100 (Number 2); pp 228-237
Terminology Criteria for Adverse Events (CTCAE) Version 4.03; published: May 28, 2009 (v4.03: June 14, 2010) U.S
ĐáNH GIá KếT QUả PHÂN TíCH Và Sử DụNG Số LIệU SẵN Có TRONG THEO DõI
Và CảI THIệN CHấT LƯợNG CHƯƠNG TRìNH CHĂM SóC ĐIềU TRị HIV/AIDS
TạI Hà Nội NĂM 2010-2011
Lã Thị Lan, Lê Nhân Tuấn, Võ Thị Thanh Thủy, Trần Văn Dũng, Cao Thị Hương Dịu, Nguyễn Thị Kim Dung, Trần Thị Bích Hậu, Nguyễn Thị Ninh, Masaya Kato, Nguyễn Thị Minh Thu, Nguyễn Thị Thu Trang, Bùi Nguyên Hồng, Phạm Như Dũng, Nguyễn Thị Thu Hiền, Ngô Văn Tiến,
Nguyễn Thị Thu Hà, Bùi Việt Hòa TóM TắT
Mục tiêu: Đánh giá kết quả của việc phân tích và sử
dụng số liệu sẵn có trong theo dõi và cải thiện chất
lượng chương trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại Hà
Nội năm 2010 -2011
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả
Kết quả: Tỷ lệ khách hàng dương tính đồng ý ghi danh tăng tại cả 6 quận/huyện từ năm 2010 đến năm 2011(đặc biệt Long Biên tăng từ 94,7% lên 100%, Gia