Như vậy về độ tuổi của người bệnh bị viêm tai do nấm trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như nhữngngười bệnh bị viêm thanh quản do nấm trong nghiên cứu của Lương Thị Minh Hương
Trang 1Y học thực hành (859) - số 2/2013 47
HIệU QUả MộT Số PHƯƠNG PHáP ĐIềU TRị VIÊM TAI DO NấM
Nghiêm Đức Thuận - Học viên Quân y Tóm tắt
Viêm tai do nấm thường diễn biến kéo dài dai dẳng,
không khỏi triệt để, gây khó chịu cho người bệnh, ảnh
hưởng đến chức năng của tai và chất lượng cuộc sống
ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới
việc nghiên cứu về bệnh lý viêm tai do nấm gây nên
chưa được quan tâm đúng mức, chúng tôi tiến hành
nghiên cứu hiệu quả điều trị bệnh viêm tai do nấm
bằng phẫu thuật và các thuốc chống nấm Đối tượng
và phương pháp: 73 bệnh nhân được chẩn đoán xác
định là viêm tai do nấm điều trị tại khoaTai Mũi Họng
Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
Kết quả: Nghiên cứu 73 bệnh nhân điều trị viêm
tai giữa do nấm tại khoa TMH - Bệnh viện trung ương
Quân đội 108, chúng tôi thấy: Viêm tai do nấm hay
gặp nhất từ 18 – 27 tuổi là 27,39%; từ 38 - 47 tuổi là
24,65%; gặp nhiều ở nam hơn nữ (58,90%/41,09%);
nhiều nhất ở bộ đội với tỉ lệ 42,46%; hay gặp vào
mùa hạ với tỉ lệ 38,35%; mùa xuân với tỉ lệ 24,65%
Điều trị phẫu thuật + kháng sinh chống nấm toàn
thân, tại chỗ chiếm 52,05% Dùng kháng sinh chống
nấm toàn thân, tại chỗ chiếm 47,94% Sử dụng
Sporal 200mg là 82,19%; Nystatin 500.000IU là
17,80% Thời gian điều trị trung bình 5,5 tuần Kết
quả tốt 69,86%; khá 30,13%
Summary
Ear infections fungal often persist evolution, not
from radical, causing discomfort to the patient,
affecting the function of the ear and the quality of
life In Vietnam, as in other countries around the
world the study of ear disease caused by the fungus
has not been adequate attention, we studied the
effective treatment of fungal ear infections in surgical
and antifungal drugs Subjects and Methods: 73
patients were diagnosed as fungal ear infection
treatment at khoaTai Nose & Throat 108 Military
Central Hospital Results: The 73 study patients
treated fungal otitis in the department of ENT-108
Military Central Hospital, we found: The most
common fungal otitis from 18 - 27tuoi is 27.39%; from
38 - 47 years is 24.65%; see more in males than
females (58.90% / 41.09%); most in the team with a
42.46% rate; common in summer with rates of
38, 35%; spring with a 24.65% rate Surgical
treatment + anti-fungal antibiotic, where 52.05% Use
anti-fungal antibiotic, where 47.94% Using
itraconazole 200mg is 82.19%; nystatin 500.000IU is
17.80% The average treatment time of 5.5 weeks;
well 69.86%; quite 30.13%
ĐặT VấN Đề
Viêm tai do nấm là bệnh lý viêm tai giữa hoặc tai
ngoài đặc hiệu do các chủng nấm thâm nhiễm vào tai
gây nên
Bệnh viêm tai do nấm đã được biết đến từ lâu
nhưng do bệnh diễn biến thầm lặng, kéo dài, thường bị
người bệnh xem nhẹ, bỏ qua và được điều trị chung như bệnh viêm tai thông thường do nhiễm khuẩn, hơn nữa điều kiện xét nghiệm cấy nấm ở các cơ sở không làm được và việc điều trị viêm tai do nấm khá khó khăn Vì vậy bệnh viêm tai do nấm thường diễn biến kéo dài dai dẳng, không khỏi triệt để, gây khó chịu cho người bệnh, ảnh hưởng đến chức năng của tai và chất lượng cuộc sống
ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới việc nghiên cứu về bệnh lý viêm tai do nấm gây nên chưa được quan tâm đúng mức Từ thực tế lâm sàng chúng tôi thấy nấm tai không chỉ là viêm ống tai ngoài do nấm mà nhiều bệnh nhân bị viêm tai giữa mãn tính, viêm tai xương chũm mãn tính được điều trị bằng phẫu thuật xương chũm cộng kháng sinh toàn thân dài ngày và làm thuốc tai thường xuyên nhưng không khỏi, bệnh nhân vẫn chẩy tai, đau tai, ngứa và khi làm xét nghiệm cấy nấm thì thường có kết quả là nhiễm nấm Aspergillus hoặc nấm Candida Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu hiệu quả điều trị bệnh viêm tai do nấm bằng phẫu thuật và các thuốc chống nấm."
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
73 bệnh nhân được chẩn đoán xác định là viêm tai
do nấm điều trị nội trú tại khoa: Tai - Mũi - Họng Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang - hồi cứu
2.1 Phương pháp tiến hành
Lựa chọn bệnh án nghiên cứu
Tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú Môi trường làm việc, điều kiện sinh hoạt Thể trạng bệnh nhân và tiền sử gia đình Tiền sử sử dụng thuốc kháng sinh và Corticoid
Điều trị viêm tai do nấm
Điều trị phẫu thuật xương chũm phối hợp với việc dùng kháng sinh chống nấm toàn thân và tại chỗ
Điều trị kháng sinh chống nấm toàn thân và tại chỗ nhưng không phẫu thuật xương chũm
Tiêu chuẩn đánh giá kết quả điều trị
Tốt: hết các triệu chứng lâm sàng như đau tai, ngứa tai, chẩy tai, nghe kém, xét nghiệm lại nấm kết quả âm tính, thể trạng bệnh nhân tốt
Khá: hết các triệu chứng lâm sàng như nêu trên nhưng tai chưa khô hẳn, xét nghiệm lại nấm kết quả
âm tính, thể trạng bệnh nhân tốt
Xấu: các triệu chứng lâm sàng không thuyên giảm, xét nghiệm lại nấm vẫn dương tính Thể trạng bệnh nhân không được tốt
2.2 Phương pháp sử lý số liệu
Số liệu được sử lý theo chương trình thống kê trong nghiên cứu y sinh học Epi - info 6.0
Trang 2Y học thực hành (859) - số 2/2013
48
KếT QUả NGHIÊN CứU
1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
1.1 Tuổi- Giới nhóm nghiên cứu
Bảng 1: Phân bố theo độ tuổi
Độ tuổi Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ %
P > 0,05
Viêm tai do nấm gặp nhiều nhất ở độ tuổi từ 18 đến
27 chiếm 27, 39%
Thấp nhất là độ tuổi 68 đến 77 với tỷ lệ là: 1,36% (1
bệnh nhân)
Bảng 2: Phân bố theo giới
Giới tính Số lượng Tỷ lệ %
P > 0,05
Nam giới bị viêm tai do nấm nhiều hơn (tỉ lệ
58,90%)
1.2 Nghề nghiệp
Bảng 3: Phân loại về nghề nghiệp
Nghề nghiệp Số lượng bệnh nhân Tỷ lệ %
Sinh viên 13 17,80%
Nhân dân 24 32,87%
Bộ đội bị viên tai do nấm nhiều nhất (tỷ lệ 42,46%)
Cán bộ bị viêm tai do nấm thấp nhất (tỷ lệ 6,84%)
1.3 Thời tiết, khí hậu
Bảng 4: Phân loại theo mùa
Mùa Số lượng Tỷ lệ %
P > 0,05
Viêm tai do nấm gặp nhiều nhất vào mùa hè với tỷ
lệ là: 38,35%
Thấp nhất là mùa đông với tỷ lệ là: 13,69%
2 Các phương pháp điều trị và hiệu quả
2.1 Phương pháp điều trị
Bảng 5: Phân loại cách thức điều trị
Cách thức điều trị Số bệnh nhân Tỷ lệ %
Phẫu thuật + Kháng sinh chống
nấm (Toàn thân và tại chỗ) 38 52,05%
Kháng sinh chống nấm
(Toàn thân và tại chỗ) 35 47,94%
P > 0,05
38 bệnh nhân phẫu thuật xương chũm + kháng sinh
chống nấm
35 bệnh nhân chỉ sử dụng kháng sinh chống nấm
đơn thuần
2.2 Kháng sinh chống nấm
Bảng 6: Phân loại thuốc kháng sinh chống nấm đã
sử dụng
Phân loại thuốc Số bệnh nhân Tỉ lệ % Sporal 200mg 60 82,19% Nystatin 500.000IU 13 17,80%
P < 0,01
Thuốc Sporal 200mg được sử dụng nhiều hơn (tỉ lệ 82,19%)
2.3 Thời gian điều trị
Bảng 7 Thời gian sử dụng thuốc
Sporal 200mg Nystatin 500.000IU Thời gian
sử dụng Số bệnh
nhân Tỉ lệ % Số bệnh nhân Tỉ lệ %
03 tuần 14 23,33% 2 15,38%
04 tuần 17 28,33% 3 23,07%
05 tuần 12 20,00% 4 30,76%
06 tuần 11 18,33% 2 15,38%
07 tuần 5 8,33% 1 7,69%
08 tuần 1 1,66% 1 7,69% Tổng số 60 100% 13 100%
Thời gian điều trị dài nhất cho cả 2 loại thuốc là 08 tuần (với 1 bệnh nhân dùng thuốc Sporal 200mg tương
đương 1,66% và 1 bệnh nhân dùng Nystatin 500.000IU với tỉ lệ 7,69%)
Thời gian điều trị ngắn nhất là 03 tuần (với 14 bệnh nhân dùng thuốc Sporal 200mg chiếm 23,33% và 2 bệnh nhân dùng thuốc Nystatin 500.000IU tỉ lệ 23,07%)
Thời gian điều trị trung bình cho cả 2 loại thuốc là 5,5 tuần
2.4 Tác dụng phụ của thuốc
Bảng 8 Những tác dụng không mong muốn của thuốc Sporal
Biểu hiện lâm sàng Số bệnh nhân Tỉ lệ %
Mệt mỏi 12 20,00%
Dấu hiệu mệt mỏi gặp nhiều nhất (tỉ lệ 20,00%) Bảng 9.Tác dụng không mong muốn của thuốc Nystatin 500.000IU
Biểu hiện lâm sàng Số bệnh nhân Tỉ lệ % Buồn nôn 2 15,38%
Đau đầu 3 23,07%
Đau bụng 2 15,38% Mệt mỏi 4 30,77% Mẩn ngứa 1 7,69%
Biểu hiện mệt mỏi gặp nhiều nhất (tỉ lệ 30,77%) 2.5 Hiệu quả chung của các phương pháp điều trị
Bảng 10: Kết quả điều trị
Kết quả Số bệnh nhân Tỷ lệ %
P < 0,05
Kết quả điều trị tốt rất cao (tỉ lệ 69,86%)
Trang 3Y học thực hành (859) - số 2/2013 49
BàN LUậN
1 Đặc điểm chung
1.1 Tuổi - Giới
Trong nghiên cứu của chúng tôi thì độ tuổi bị viêm
tai do nấm gặp nhiều nhất là ở độ tuổi từ 18 - 27 tuổi
với tỉ lệ là 27,39%, tiếp theo là độ tuổi 38 - 47 với tỉ lệ là
24,65% Thứ 3 là ở độ tuổi 48- 57 với tỉ lệ là 20,54%
So với số liệu của các tác giả khác như Lương Thị
Minh Hương ở Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương thì
độ tuổi có tỷ lệ nhiễm nấm cao nhất gây viêm thanh
quản là từ 36-45 với tỉ lệ 34,62%, tiếp theo là độ tuổi
26-35 với tỉ lệ là 22,12% Thứ 3 là độ tuổi 46-55 với tỉ lệ
là 20,19%
Như vậy về độ tuổi của người bệnh bị viêm tai do
nấm trong nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự như
nhữngngười bệnh bị viêm thanh quản do nấm trong
nghiên cứu của Lương Thị Minh Hương ở Bệnh viện Tai
Mũi Họng Trung ương
Nhưng ở nghiên của của Nguyễn Thị Thanh Thủy -
Đại học Y Hà Nội về nhiễm nấm thực quản thì độ tuổi
gặp nhiều nhất là trên 60 tuổi, tiếp theo là độ tuổi từ
40-49 với tỉ lệ là 24,4% và độ tuổi 50 -59 là 22,0%
Như vậy thì nhiễm nấm thực quản thường gặp ở
người tuổi cao nhiều hơn, trái với kết quả nghiên cứu
của chúng tôi là viêm tai do nấm gặp ở tuổi thanh niên
và trung niên nhiều hơn
Kết quả nghiên cứu của Lương Thị Xuân Hà ở Bệnh
viện Tai Mũi Họng TP HCM về nhiễm nấm thanh quản
cũng cho thấy tỷ lệ gặp cao nhất là ở độ tuổi từ 30 -45
là 42,9%, tiếp theo là độ tuổi trên 45 với tỉ lệ là 35,7%,
còn độ tuổi từ 15-30 gặp với tỉ lệ là 21,4%
Trong nghiên cứu của chúng tôi số liệu thống kê
cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
giữa tỷ lệ mắc bệnh viêm tai do nấm ở nam và nữ
(Nam chiếm tỷ lệ 58,90%, Nữ chiếm tỷ lệ 41,09%) So
với nghiên cứu về viêm thanh quản do nấm của tác giả
Lương Thị Minh Hương Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung
ương và Lương Thị Xuân Hà Bệnh viện Tai Mũi Họng
TP HCM thì tỉ lệ nữ bị viêm thanh quản do nấm cao
hơn hẳn so với nam giới (Có ý nghĩa thống kê) với tỷ lệ
nữ chiếm 62,50% và nam là 37,50% (Lương Thị Minh
Hương) nam chiếm 42,9% và nữ là 57,1% (Lương Thị
Xuân Hà)
Nhưng số liệu của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Thủy ở Đại học Y Hà Nội trong nghiên cứu về nhiễm
nấm thực quản cho thấy tỉ lệ nam nhiễm nấm cao
hơn gấp 4 lần tỉ lệ nhiễm nấm ở nữ giới (nam là
82,9% và nữ là 17,1%)
Vì vậy, số liệu của chúng tôi có được trong
nghiên cứu này có thể là đặc điểm riêng của Bệnh
viện Quân đội
Giải thích về sự khác biệt về kết quả nghiên cứu
của chúng tôi so với các tác giả khác là do nguyên
nhân bệnh lý ở các cơ quan khác nhau nên số liệu
thống kê khác nhau
Thời điểm tiến hành nghiên cứu khác nhau nên số
liệu khác nhau (do ô nhiễm môi trường ngày một trầm
trọng hơn nên sự phát triển của bệnh tăng lên)
1.2 Nghề nghiệp
Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả cho thấy
số bệnh nhân bị viêm tai do nấm gặp nhiều nhất là ở
bộ đội với tỉ lệ 42,46%, tiếp theo là các nghề khác với
tỷ lệ là 32,87% Sinh viên gặp với tỉ lệ là 17,80% Thấp nhất là cán bộ công chức gặp với tỉ lệ 6,84% Chúng tôi cho rằng có thể do nghiên cứu này được tiến hành ở Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, nơi tiếp nhận điều trị cho quân nhân là chính vì thế nên tỷ
lệ bộ đội chiếm tỉ lệ cao trong kết quả nghiên cứu Ngoài ra có thể do môi trường phục vụ nhiệm vụ quốc phòng các chiến sỹ phải đóng quân nơi rừng núi hoặc vùng sâu vùng xa, nơi mà điều kiện vệ sinh còn nhiều khó khăn, sự chăm sóc y tế còn nhiều trở ngại nên tỷ lệ nhiễm nấm gây viêm tai cao hơn các trường hợp khác
Trong nghiên cứu của tác giả Lương Thị Minh Hương- Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương về bệnh viêm thanh quản do nấm thì cho kết quả là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất là 48,08%
Theo Lương Thị Minh Hương lý do có thể do nông dân thường xuyên tiếp xúc với đất bẩn nhiễm phân
động vật, thực vật thối rữa, hóa chất, phân bón hóa học…Vì vậy mà khả năng nhiễm nấm gây bệnh cao Còn theo kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Thị Xuân Hà - Bệnh viện Tai Mũi Họng TP HCM cũng cho thấy nông dân chiếm tỉ lệ cao nhất với 35,7% trong bệnh viêm thanh quản do nấm
Số liệu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy ở Trường Đại học Y Hà Nội cũng cho thấy là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất với 34,1% trong nghiên cứu nhiễm nấm thực quản
1.3 Thời gian nhiễm bệnh trong năm
Trong nghiên cứu của chúng tôi kết quả cho thấy
số bệnh nhân bị viêm tai do nấm vào mùa hè là cao nhất với tỷ lệ 38,35% tiếp theo là mùa xuân với tỷ lệ 24,65% Chúng tôi cho rằng có thể vào mùa Xuân hè khí hậu nóng và ẩm ướt vì thế mà các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển của vi nấm gây bệnh nhiều hơn Các tác giả khác như Lương Thị Minh Hương ở Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương nghiên cứu về Viêm thanh quản do nấm cũng cho kết quả vào mùa
hè gặp với tỷ lệ cao nhất là 37,36%, tiếp theo vào mùa thu với tỷ lệ là 34,07% Theo Lương Thị Minh Hương chỉ cuối Hạ đầu Thu là thời kỳ mưa bão nhiều khí hậu nóng ẩm, thuận lợi cho vi nấm gây bệnh phát triển Còn theo các nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy ở Đại học Y Hà Nội và Lương Thị Xuân Hà
ở Bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương thì không đề cập đến yếu tố thời gian và thời tiết trong năm liên quan đến sự phát triển của vi nấm gây bệnh
2 Kết quả điều trị
2.1 Điều trị bằng kháng sinh chống nấm
Điều trị toàn thân
Các kháng sinh chống nấm được sử dụng cho những bệnh nhân ở nghiên cứu này là:
Sporal 200mg/ngày của hãng Jansen-Cillac có nguồn gốc hóa học thuộc nhóm Itraconazol có tác dụng trên cả hai loại nấm Aspergillus và Candida
Trang 4Y học thực hành (859) - số 2/2013
50
Nystatin 500.000 IU được dùng cho những bệnh
nhân bị viêm tai do nấm Candida
Kết quả điều trị tốt đạt tới 58,90% và khá là 41,09%
So sánh với kết quả trong nghiên cứu của tác giả
Lương Thị Minh Hương-Bệnh viện TMH Trung ương về
viêm thanh quản do nấm cũng dùng kháng sinh chống
nấm tương tự đạt kết quả tốt tới 93,55% và kết quả đạt
6,45%
Còn kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Thị
Xuân Hà -Bệnh viện TMH TP Hồ Chí Minh cũng về
nấm thanh quản sử dụng kháng sinh chống nấm điều
trị cho số liệu là 88,9% đạt kết quả tốt và 11,1% đạt kết
quả khá
Các tác giả nước ngoài như Bennette J.E, Bossche
V.H., Marichal P., Le Jeune L et la, Cleary J.D., Taylor
J.W., Chapman S.W… điều trị các bệnh nấm khác
bằng các loại thuốc như trên cũng có kết quả tương
đương
Điều trị tại chỗ
Bệnh nhân bị viêm tai giữa và viêm ống tai do nấm
đều được điều trị tại chỗ bằng các thuốc kháng sinh
chống nấm dạng thuốc mỡ như: Cannesten 10%,
Clotrimazol 1%
Việc điều trị tại chỗ cho những bệnh nhân này dễ
dàng hơn nhiều so với những bệnh nhân bị viêm thanh
quản do nấm của tác giả Lương Thị Minh Hương và
Lương Thị Xuân Hà
Điều trị nâng cao thể trạng
Việc điều trị nâng cao thể trạng các bệnh nhân bị
viêm tai giữa do nấm cũng giống như việc điều trị cho
các bệnh nhân bị viêm thanh quản do nấm (đều dùng
các loại vitamin)
2.2 Thời gian điều trị
Bệnh nhân bị viêm tai giữa do nấm thường phải
điều trị kéo dài (thời gian điều trị dài nhất là 08 tuần là
7,69%, thời gian điều trị ngắn nhất là 03 tuần là
15,38%, thời gian điều trị trung bình là: 5,5 tuần)
So với kết quả nghiên cứu của tác giả Lương Thị
Minh Hương - Bệnh viện TMH Trung ương và tác giả
Lương Thị Xuân Hà - Bệnh viện TMH TP Hồ Chí Minh
là tương đương (thời gian điều trị dài nhất là 10 tuần,
thời gian điều trị ngắn nhất là 03 tuần, thời gian điều trị trung bình là 6,27 tuần)
KếT LUậN Nghiên cứu 73 bệnh nhân điều trị viêm tai giữa do nấm tại khoa Tai Mũi Họng, Bệnh viện trung ương Quân đội 108, chúng tôi thấy: Viêm tai do nấm hay gặp nhất từ 18 – 27tuổi là 27,39%; từ 38 - 47 tuổi là 24,65%; gặp nhiều ở nam hơn nữ (58,90%/41,09%); nhiều nhất ở bộ đội với tỉ lệ 42,46%; hay gặp vào mùa hạ với tỉ lệ 38,35%; mùa xuân với tỉ lệ 24,65%
Điều trị phẫu thuật + kháng sinh chống nấm toàn thân, tại chỗ chiếm 52,05% Dùng kháng sinh chống nấm toàn thân, tại chỗ chiếm 47,94% Sử dụng Sporal 200mg là 82,19%; Nystatin 500.000IU là 17,80% Thời gian điều trị trung bình 5,5 tuần Kết quả điều trị tốt 69,86%; khá 30,13%
TàI LIệU THAM KHảO
1 Lương Thị Xuân Hà (1999), Góp phần chẩn đoán
và điều trị viêm thanh quản do nấm tại trung tâm Tai Mũi Họng Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn chuyên khoa II,
Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh
2 Lương Thị Minh Hương (2004), Viêm thanh quản
do nấm, Luận án Tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội
3 Nguyễn Thị Thanh Thủy (2007), Nhiễm nấm thực quản, Luận văn Thạc sĩ, Đại học y Hà Nội
4 Bennette J.E (2001), Antimicrobial agents: antifungal agents The pharmacological basis of therapeutics, Tenth Edition, pp.1295-1312
5 Bossche V.H., Marichal P., Le Jeune L et al (1993), Effects of itraconazole on cytochrome P450 dependent sterol 14 α-demethylation and reduction of 3-ketosteroids in Cryptococcus antimicrobial agents and chemotherapy, Pharmaceutical and agrochemical Aspects 37, pp.13-27
6 Cleary J.D., Taylor J.W Chapman S.W (1992), Itraconazole in antifugal therapy, Annals of pharmacotherapy 26, pp.502-509
7 Rogers T.R (2002), Antifungal drug resistance: does it matter ?, Int J Infect Dis, 6, S47 – S53
8 Scheid S.C., Anderson T.D., Sataloff R.T (2003), Ulcerative fungal laryngitis Ear Nose Throat J, 82 (3),.1968-9
ĐặC ĐIểM, TìNH HìNH NHIễM HIV Và BệNH Lây truyền qua đường tình dục
CủA PHụ Nữ BáN DÂM TạI THàNH PHố YÊN BáI
Phan Duy Tiêu - Trung tâm phòng chống bệnh xã hội Yên Bái Nguyễn Quý Thái - Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Trần Văn Tiến - Bệnh viện Da liễu Trung ương TóM TắT
Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm và khảo sát thực
trạng nhiễm HIV, bệnh LTQĐTD ở phụ nữ bán dâm
(PNBD) tại thành phố Yên Bái từ 2009 đến 2011
Phương pháp: mô tả cắt ngang, cỡ mẫu toàn bộ
gồm 274 PNBD từ 18 tuổi trở lên ở 17 xã/phường thuộc
thành phố
Kết quả: hơn 1/2 số PNBD ở độ tuổi từ 20-30
(52,5%); khoảng 2/3 là người Kinh (65,3%); trình độ
học vấn thấp (trong đó mù chữ là 3,3%); gần 1/3 sống một mình (30,1%) và không có địa chỉ xác định là 21,3%; gần một nửa là ly dị chồng hoặc sống ly thân hoặc chồng đã chết (ly dị 28,2%, chồng chết 12,1% và
ly thân 7,7 %); thời gian hành nghề mại dâm trung bình
là 4,1 năm, hoạt động tại địa bàn trung bình là 3,6 năm Tỷ lệ nhiễm HIV chung của nhóm PNBD là 8,06% cao hơn các tỉnh khác trong toàn quốc Nhóm