1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

NGHIÊN cứu hội CHỨNG CHUYỂN hóa ở NAM BỆNH NHÂN đến KHÁM và điều TRỊ tại BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN đội 108

5 842 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 152,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa ở nam bệnh nhân đến khám và điều trị tại Bệnh viện trung ương quân đội 108 Nguyễn Đức Ngọ, Trần Văn Tuyến Đặt vấn đề Hội chứng chuyển hóa HCCH đã được đ

Trang 1

Tỷ lệ tái khám đúng hẹn được cải thiện tại các quận

Long Biên, Đống Đa, Ba Đình năm 2011 đều tăng so

với năm 2010 Đặc biệt Long Biên tăng từ 29,1% lên tới

86% và Đống Đa tăng từ 58,3% lên tới 100% Tại Ba

Đình tuy tỷ lệ có tăng từ 9,8% lên 23% nhưng nhìn tỷ lệ

BN tái khám đúng hẹn tại Ba Đình vẫn còn rất thấp so

với tỷ lệ chung

Năm 2011 tỷ lệ tái khám đúng hẹn của Từ Liêm,

Gia Lâm, Thanh Xuân giảm so với năm 2010 Tỷ lệ

giảm mạnh nhất là Gia Lâm từ 97,8% xuống còn 82%

Thực chất đây là số liệu phản ảnh thực tế tình hình tại

các Trung tâm sau khi nhìn nhận thấy bất cập từ việc

ghi sổ sách sao chép một cách máy móc trong năm

2010 Tuy nhiên tỷ lệ tái khám đúng hẹn thực tế tại 3

quận huyện này vẫn đạt trên 80%

Công tác tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV cho

bệnh nhân lao

Biểu 4: Tỷ lệ BN lao được tư vấn, xét nghiệm HIV

Tỷ lệ BN lao được tư vấn xét nghiệm HIV tại 6 quận

huyện năm 2011 được cải thiện so với năm 2010 tại

các quận huyện: Long Biên, Đống Đa, Gia Lâm, Thanh

Xuân Đặc biệt tại Đống Đa tăng từ 7,51% lên tới

100%, Gia Lâm tăng từ 3,23% lên tới 100% Quận Ba

Đình vẫn giữ được tỷ lệ 100% BN lao được tư vấn xét

nghiệm HIV Tỷ lệ tại Từ Liêm có giảm nhẹ năm 2011

nhưng tỷ lệ vẫn đạt trên 90% Thành quả này có được

sau khi phân tích nhìn nhận thấy tỷ lệ BN lao được tư

vấn xét nghiệm tự nguyện năm 2010 rất thấp và đồng

thời nhận thức rõ được tầm quan trọng của công tác

này Do vậy năm 2011 các quận/huyện đã tập trung, chú trọng cải thiện chất lượng hoạt động này

Tại Thanh Xuân tỷ lệ đã tăng từ 3,03% tới 56,03% Tuy nhiên tỷ lệ này vẫn thấp so với tỷ lệ chung, do đó Thanh Xuân cần tiếp tục tập trung cải thiện chất lượng cho hoạt động này

KếT LUậN Công tác phân tích, áp dụng và sử dụng số liệu sẵn có đã góp phần cải thiện chất lượng chương trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS ở tất cả các hoạt động: tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện, chăm sóc điều trị, tư vấn xét nghiệm tự nguyện cho BN lao tại 6 quận/huyện ở Hà Nội

KHUYếN NGHị Cần tiếp tục nâng cao chất lượng phân tích, áp dụng và sử dụng số liệu sẵn có trong theo dõi và chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại cả 6 quận/huyện đang triển khai

Tiến tới áp dụng công tác này tới tất cả các quận/huyện có chương trình chăm sóc, điều trị HIV/AIDS tại Hà Nội

TàI LIệU THAM KHảO

1 “Báo cáo kết quả phân tích, áp dụng và sử dụng số

liệu sẵn có trong theo dõi và cải thiện chất lượng chương

trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS năm 2010, 2011” của

Trung tâm y tế 6 quận/huyện tham gia nghiên cứu

2 “Báo cáo kết quả phân tích, áp dụng và sử dụng

số liệu sẵn có trong theo dõi và cải thiện chất lượng chương trình chăm sóc điều trị HIV/AIDS tại 3 quận ở Hà

Nội năm 2010, 2011” của Trung tâm phòng, chống

HIV/AIDS Hà Nội

Nghiên cứu Hội chứng chuyển hóa ở nam bệnh nhân đến khám và điều trị

tại Bệnh viện trung ương quân đội 108

Nguyễn Đức Ngọ, Trần Văn Tuyến

Đặt vấn đề

Hội chứng chuyển hóa (HCCH) đã được đề cập đến

từ hơn nửa thế kỷ qua HCCH gồm có béo phì, THA, rối

loạn lipid máu, tăng đường huyết, đề kháng Insulin

Hiện nay, hội chứng này đang là vấn đề thời sự nóng

hổi được giới y học quan tâm vì tính phổ biến và hậu

quả nặng nề của nó

Theo điều ta của Tổ chức y tế thế giới tỉ lệ mắc

HCCH là rất cao thay đổi phụ thuộc vào tuổi, giới

chủng tộc địa, thói quen ăn uống, sinh hoạt, Nghiên

cứu của Fores năm 2002 cho thấy, tại Mỹ có khoảng

47 triệu người(24%) mắc HCCH, trong đó trên 50 tuổi

chiếm khoảng 44%, lứa tuổi 20-29 chiếm 6,7%, lứa tuổi

60-69 là 42%, tỉ lệ giữa nam và nữ là tương đương

(24% so với 23,4%) Một thống kê khác của WHO cho

thấy: Tỉ lệ mắc ở người Mỹ trưởng thành là 34,6%; Hy

lạp là 25%(nam), 17% (nữ); Bungari là 36% (nữ), 30%

(nam); ấn độ là 33,17% (nam), 27,04% (nữ); Trung

quốc là 23,7% (nam), 28,5% (nữ); Thái lan là 25,8%

(nam), 8,2% (nữ)

Trong nước từ trước tới nay HCCH chưa được nghiên cứu sâu, gần đây đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Trần Hữu Dàng (2003): khảo sát 92.003 người béo phì: tỉ lệ HCCH 44% Lê Thị Hiệp

và cộng sự ở viện dinh dưỡng quốc gia khảo sát 17.213 người trưởng thành tuổi từ 24 - 65 thấy tỉ lệ HCCH là 13,1% TP.HCM: có 12 % dân số nội thành mắc HCCH

Trong quân đội còn ít tác giả nghiên cứu về HCCH

Đỗ Thị Kim Hoa (2008) khảo sát 1096 cán bộ cao cấp quân đội cho thấy tỉ lệ HCCH khác nhau theo các tiêu chuẩn chẩn đoán: 27,7% theo IDF, 38,2% theo NCEP ATP III; 27,9% theo AACE (hội nội tiết lâm sàng Hoa kỳ) Nguyễn Thị Thu Thảo nghiên cứu trên 120 bệnh nhân ĐTĐ type 2 mới mắc điều trị tại khoa Nội tiết viện

103 cho thấy tỉ lệ HCCH là 69,2% gia tăng theo tuổi HCCH liên quan với các yếu tố nguy cơ khác gây nên hậu quả bệnh mạch vành, NMCT, đột quỵ và tử vong do tim mạch, do vậy nó làm tăng chi phí xã hội và

Trang 2

y tế của mỗi nước Chính vì thế mà HCCH ngày càng

được sự quan tâm của nhiều chuyên gia y tế trên Thế

giới và Việt Nam Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài này với mục tiêu:

- Khảo sát tần suất và đặc điểm lâm sàng của hội

chứng chuyển hóa ở nam cán bộ cao cấp đến khám

bệnh và điều trị tại BVTW QĐ 108

- ảnh hưởng của hội chứng chuyển hóa tới một số

yếu tố nguy cơ tim mạch và chuyển hóa

Phương pháp nghiên cứu

1 Thiết kế nghiên cứu

Tiến cứu, mô tả cắt ngang

2 Đối tượng

- Tất cả các cán bộ thuộc diện quản lý sức khỏe

của khoa khám bệnh và quản lý sức khỏe cao cấp

thuộc BVTƯ QĐ 108, sinh sống trong Thành phố Hà

Nội, đến khám và điều trị theo quy định

Cỡ mẫu

Mẫu: n = t2 x JI (1- JI)/d2

t = 1,96 (độ tin cậy 95%)

JI = 20% (tỉ lệ HCCH ở cộng đồng khoảng 10-

30%)

d = 5% (Sai số cho phép)

Vậy: n = 1,962*0,2*0,8/0,052 = 246 BN

Chọn một cách ngẫu nhiên từ tháng 7-2011 đến

tháng 7 -2012 Các bệnh nhân được: khai thác tiền sử,

bệnh sử, khám lâm sàng, đo HA, đo vòng eo, làm XN

máu thường qui, sinh hóa, nhóm mỡ, điện tim, siêu âm

bụng, XQ tim phổi thẳng

- Chẩn đoán HCCH theo tiêu chuẩn IDF - 2006,

trong đó tiêu chí A theo tiêu chuẩn người Nam á (vòng

bụng ở nam ≥ 90 cm)

- Xử lý số liệu bằng toán thống kê Y học, phần

mềm SPSS 11.5 for Windows, trị giá p < 0,05 được coi

là có ý nghĩa thống kê

Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

- Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là khá cao

51,8 ±14,7

- Trong các thành phần của HCCH thì tỉ lệ tăng TG

chiếm cao nhất sau đó đến tỉ lệ HA ≥ 130/80, tăng

glucose máu, tăng VB, giảm HDL

- Tiêu chuẩn kháng insulin (IR) theo chỉ số HOMA

(kháng insulin khi lớn hơn tứ phân vị trên của nhóm

chứng) Chúng tôi thu được tỉ lệ kháng insulin trong

nhóm nghiên cứu là 36,2%

Bảng 2: Tỉ lệ các thành phần HCCH 2 nhóm bệnh

nhân tính theo lứa tuổi

Các thành phần

≤ 60 tuổi (n=228)

> 60 tuổi

Tỉ lệ các thành phần HA, Tăng TG, tăng VB và tỉ lệ kháng insulin tính theo HOMA -IR là khác biệt rõ ở nhóm > 60 tuổi so với nhóm ≤ 60tuổi với p < 0,05 Bảng 3 Tần suất các thành phần của HCCH ở hai nhóm

Số các

TP

≤ 60 tuổi (n=228)

> 60 tuổi

- Trong cả 2 nhóm nghiên cứu tỉ lệ người mắc ít nhất 1 triệu chứng của HCCH là 735 người (82%) trong đó số người mắc 1 thành phần của HCCH chiếm

tỉ lệ cao nhất (55,4%), số người mắc HCCH là 297 người (35,1%)

- Chúng tôi thấy có sự khác biệt về tỉ lệ mắc: 3, 5 thành phần và tỉ lệ HCCH ở hai nhóm (p < 0,05) Bảng 4 Tỉ lệ HCCH ở các nhóm

Tỉ lệ mắc HCCH trong nhóm ĐTĐ type 2 là cao nhất là cao nhất (59,1%), sau đó đến nhóm bệnh mạch vành (BMV) và bệnh mạch não (BMN) và thấp nhất là

ở nhóm các bệnh khác (4,9%)

Bảng 5: Vòng eo trung bình ở các nhóm bệnh nhân:

Tỉ lệ tăng vòng eo (VB) ở phân nhóm HCCH (+) thấy có khác biệt rõ ở trong nhóm nghiên cứu (chung)

và ở nhóm ĐTĐ type 2, nhóm BMV và BMN so với phân nhóm HCCH (-) với p < 0,05

Bảng 6 Triglycerid trung bình ở các nhóm:

Trang 3

Chúng tôi cũng nhận thấy tỉ lệ tăng TG ở phân

nhóm HCCH (+)có khác biệt rõ ở trong nhóm nghiên

cứu (chung) và ở nhóm ĐTĐ type 2, nhóm BMV& BMN

so với phân nhóm HCCH (-) với p < 0,05

Bảng 7: HDL-C trung bình ở các nhóm

Tỉ lệ giảm HDL-C ở phân nhóm HCCH (+) có khác

biệt rõ ở trong nhóm ĐTĐ type 2, nhóm BMV& BMN so

với phân nhóm HCCH (-) ở hai nhóm trên với p<0,05

Bảng 8 Tần suất ĐTĐ type 2 giữa hai nhóm có và

không có HCCH

< 0,05

Nếu ta coi HCCH là yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ

type 2 thì ta có:

OR(tỉ suất chênh) = 2,49 (CI95%: 1,67<OR < 11,3)

RR (nguy cơ tương đối) 3,86 (CI 95%:

1,73<RR<11,93

Bảng 9: Tần suất BMV và BMN giữa hai nhóm có

và không có HCCH

< 0,05

Nếu ta coi HCCH là yếu tố nguy cơ của BMV và

BMN thì ta có:

OR(tỉ suất chênh) = 2,33 (CI95%: 1,51 <OR<12,3)

RR (nguy cơ tương đối) 3,72 (CI 95%:

1,44<RR<13,1)

BàN LUậN

- Nghiên cứu được tiến hành trong vòng 12 tháng từ

7 - 2011 đến 7 - 2012 tại khoa khám bệnh & quản lý

sức khoẻ cán bộ cao cấp và khoa nội cán bộ Bệnh

viện TƯQĐ 108 chúng tôi thu thập được dữ liệu của

846 BN thỏa mãn điều kiện nghiên cứu Nhóm BN

nghiên cứu chúng tôi thấy có một số đặc điểm nổi bật

sau

1 Tần suất và đặc điểm lâm sàng của HCCH

trong nhóm nghiên cứu

* Tần suất của HCCH

- Trong nhóm của chúng tôi có 846 BN tất cả đều

là nam và là cán bộ cao cấp đã đang phục vụ trong

quân đội nhân dân Việt Nam, đây là điểm đặc thù của

quân đội vì đa số các quân nhân là nam giới Nghiên

cứu của chúng tôi cũng giống như nghiên cứu của 1 số

tác giả khác như Alzahrani A… khi nghiên cứu trên

quân nhân tại Pakistan hay Mexico nhóm nghiên cứu

cũng toàn là các nam quân nhân Tuổi trung bình của

nhóm nghiên cứu là tương đối cao khoảng 51,8 ±

14,7% Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi có 297

BN mắc HCCH chiếm tỉ lệ 35,1% Kết quả chúng tôi

thu được gần giống kết quả của Hồ Thị Kim Thanh khi nghiên cứu trên cộng đồng người cao tuổi của Hải dương (38,8%) Tuy nhiên kết quả này thấp hơn nhiều

so với kết quả của Phan Hải Phương khi nghiên cứu HCCH trên nhóm BN trên 45 tuổi có Tăng huyết áp So với các nghiên cứu nước ngoài kết quả của chúng tôi cũng tương tự như kết quả của một số nghiên cứu trong khu vực như Thiruvagounder M và cộng sự khi khảo sát ở 896 nam người tình nguyện tuổi đời 53 ± 15

đã thu được tỉ lệ HCCH là 33,17% Tác giả Lao XQ ở Trung quốc nghiên cứu ở 6468 người trưởng thành bắc Trung quốc thì tỉ lệ HCCH ở nam giới chỉ là 5,27% Kết quả của chúng tôi cũng cao hơn kết quả của các tác giả khi nghiên cứu HCCH ở Thailand, Iran, ả rập -Xê út chỉ khoảng từ 10 -25% Điều đó minh chứng cho quan

điểm HCCH phụ thuộc vào địa dư, dân tộc, lối sống

* Đặc điểm lâm sàng HCCH ở nhóm nghiên cứu của chúng tôi

Trong 297 BN mắc HCCH số người có 1 yếu tố chiếm tỉ lệ cao nhất (55,8%), và số người có cả 5 yếu

tố của HCCH chiếm tỉ lệ thấp nhất (13,0%) Thành phần thường gặp nhất trong nhóm nghiên của chúng tôi là tăng TG (62,1%), THA ((53,7%), tăng glucose máu(47,68%), tăng vòng bụng (38,2%) và thấp là tăng HDL-C là(35,8%) THA là dấu hiệu cảnh báo HCCH hay gặp ở các nghiên cứu, tuy nhiên theo nhận định của nhiều tác giả THA là yếu tố ít chuyển hóa nhất trong các thành phần của HCCH.Trong nghiên cứu này chúng tôi thấy tăng TG là cao nhất, còn tăng vòng bụng chỉ đứng ở vị trí thứ 3 (33,1%), điểm này cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu trong nước cho thấy vòng bụng người Việt Nam có lẽ nhỏ hơn người nước ngoài, do đặc điểm dân tộc, lối sống … tuy nhiên các rối loạn về mỡ máu cũng như THA lại xuất hiện sớm hơn Đây có lẽ cũng là điểm cần chú ý khi ta xem xét HCCH ở người Việt Nam Về tình trạng kháng insulin trong nghiên cứu chúng tôi nhận thấy tỉ lệ kháng insulin tính theo chỉ số HOMA của chúng tôi là 36,2% và có tăng rõ tỉ lệ ở nhóm tuổi > 60 (p< 0,05) Kết quả chúng tôi thu được tương tự kết quả của Eglit T và cộng sự khi nghiên cứu trên bệnh nhân có HCCH ở Estonia, nhưng lại thấp hơn kết quả của Vargas ER khi nghiên cứu trên nam BN Mexico và cao hơn kết quả của Tanaka H khi nghiên cứu trên nam giới Nhật bản Sự khác biệt này có thể do phương pháp định lượng, lứu tuổi, địa dư sống khác nhau

- Thành phần triglycerid máu Nghiên cứu của chúng tôi nồng độ trung bình của triglycerid là 2,52± 2,11mmol/l Trong đó nhóm BN ≤

60 tuổi có tỉ lệ tăng TG là 53,9% và nhóm > 60 tuổi là 65%, nhóm BN có HCCH tăng rõ so với nhóm không

có HCCH có ý nghĩa thống kê Kết quả trên cho thấy

có sự rối loạn rõ về chuyển hóa TG trong nhóm nghiên cứu và ở lứa tuổi càng cao quá trình rối loạn càng rõ Kết quả chúng tôi thu được cũng tương tự như kết quả của các tác giả trong và ngoài nước khác Phan Hải Phương khi nghiên cứu HCCH ở người tăng HA thấy giá trị trung bình của TG ở nam BN là 2,43± 0,97 mmol/l, và cũng thấy có tăng rõ tỉ lệ TG ở nhóm người

Trang 4

cao tuổi, nhóm Thiruvagounder M khỏa sát ở BN ấN

độ thấy trị số TG chỉ là 1,85±0,90 mmol/l, tuy nhiên tác

giả cũng thấy tỉ lệ TG tăng theo lứa tuổi

- Thành phần HDL-C huyết tương:

Nồng đô của HDL-C của chúng tôi là: 0,91± 0,35

mmol/l trong đó ở 2 nhóm tuổi không thấy có sự khác

biệt về tỉ lệ giảm HDL-C (32% so với 38,8% với p>

0,05) và ở hai nhóm có và không có HCCH kết quả

giảm HDL-C củng chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa

Điều này rất phù hợp với nhiều nghiên cứu khác như

của Đào Duy An cho thấy chỉ số HDL-C chưa thấy có

sự khác biệt ở các nhóm tuổi, cũng như ở nhóm có và

không có HCCH Thiruvagounder M trong nghiên cứu

của mình cũng không thấy có hiện tượng giảm HDL-C

khi lứa tuổi tăng lên Vargas E R trong nghiên cứu của

mình cũng không thấy có sự thay đổi về trị số HDL-C

trong các nhóm nghiên cứu

- Thành phần glucose máu:

Glucose máu trung bình trong nghiên cứu của

chúng tôi là 5,93 ± 3,39 mmol/l, không có sự khác biệt

về tỉ lệ tăng đường huyết lúc đói ở hai nhóm Kết quả

này phù hợp với nghiên cứu của Trần Hữu Dàng

(2003), Nguyễn Thị Thu Thảo(2011): Khi khảo sát sự

biến thiên của đường huyết theo tuổi cũng nhận thấy

không có sự gia tăng đường huyết theo tuổi Không có

sự khác biệt về đường huyết lúc đói giữa các nhóm tuổi

khác nhau.Tác giả Eglit T khi nghiên cứu đặc điểm

HCCH hóa ở Estonia cũng chưa tìm thấy sự khác biệt

về trị số glucose máu ở nhóm có và không có HCCH

- Số đo vòng eo trung bình:

Vòng eo trung bình trong dân số nghiên cứu là 81,3

± 10,02 cm Chúng tôi thấy có sự tăng rõ rệt về tỉ lệ

vòng eo ở hai nhóm Nhóm cao tuổi có tăng rõ về tỉ lệ

tăng vòng eo so với nhóm ít tuổi (41,1% & 30,3) và

nhóm có HCCH (+) so với nhóm có HCCH (-) khác biệt

vòng eo có ý nghĩa thống kê Kết quả của chúng tôi

cũng tương tự như nhiều nghiên cứu trong và ngoài

nước khác Các nghiên cứu về hội chứng chuyển hóa

gần đây cho thấy trị số vòng eo rất quan trọng vì có

tương quan rất chặt với tỷ lệ béo phì đặc biệt là hiện

tượng kháng insulin ở nhóm nghiên cứu của chúng tôi

có 36,2% BN kháng insulin tính theo chỉ số HOMA

Trong đó nhóm có HCCH(+) tỉ lệ bệnh nhân kháng

insulin cao hơn hẳn nhóm HCCH(-) Kết quả chúng tôi

thu được cũng phù hợp với kết quả của nhiều tác giả

khác như Tanaka H, Eglit T, Vargas E R … Kháng

insulin và béo phì là những yếu tố làm tăng tỷ lệ bệnh

tật, tỷ lệ tử vong, giảm năng xuất lao động Có sự gia

tăng đáng kể trị số vòng eo trong thời gian gần đây có

thể giải thích thêm phần nào là do sự giảm hoạt động

thể chất, lối sống thụ động, sử dụng nhiều thức ăn giàu

năng lượng Chính vì điều đó mà để làm giàm tỉ lệ

HCCH chúng ta cần thay đổi lối sống, chế độ ăn và tập

luyện vận động

- Tỉ lệ BN THA trong HCCH:

Tỉ lệ BN THA trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi

là 293 BN (34,6 %) Trong đó nhóm có HCCH cao hơn

nhóm không có HCCH nhưng sự khác biệt này không

có ý nghĩa Tỉ lệ bệnh nhân tăng huyết áp theo lứa tuổi

ở các nhóm tuổi chúng tôi cũng chưa tìm thấy sự khác biệt Kết quả chúng tôi thu được cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Kurktschiev T T khi nghiên cứu tần suất HCCH ở BN THA ở Bungari chưa thấy sự khác biệt về tỉ lệ HCCH ở nhóm có và không có HCCH

2 Liên quan giữa HCCH và nguy cơ tim mạch, chuyển hóa trong nhóm nghiên cứu:

Kết quả chúng tôi thu được cho thấy tỉ lệ mắc HCCH ở nhóm ĐTĐ type 2 cao hơn có ý nghĩa so với nhóm không có bệnh ĐTĐ type 2 (59,1% so với 41,9%), nhóm có HCCH cũng thấy có sự hiện diện của BMV& BMN cao hơn so với nhóm không có HCCH(55,6% so với 44,4%) Nhóm có HCCH có sự hiện diện của bệnh ĐTĐ type 2 cao hơn gần 4 lần so với nhóm không có HCCH (OR =3,86; CI 95%) Cũng tương tự ở nhóm có HCCH (+) nguy cơ xuất hiện BMV

và BMN cũng cao gấp 3,7 lần so với nhóm HCCH (-) (OR= 3,72; CI 95%) sự khác biệt này có ý nghĩa với p<0,05 Mặc dù trong nghiên cứu của chúng tôi số BN còn khiêm tốn chưa thể đánh giá được triệt để các biến chứng tim mạch nhưng những kết quả thu được cũng phần nào chứng minh ảnh hưởng bất lợi của HCCH trên các biến chứng tim mạch và chuyển hoá của người bệnh Trong nghiên cứu của Lohsoonthorn V và cộng sự trên người lao động tại Thailand thấy HCCH tăng nguy cơ BMV 3,7 lần còn tăng nguy cơ ĐTĐ type

2 tới 24,5 lần Tác giả Vargas E R trong nghiên cứu củ mình cũng thấy ở nhóm có HCCH làm tăng nguy cơ

ĐTĐ type 2 lên 3,2 lần

KếT LUậN

1 Số người có hội chứng chuyển hóa khá cao: 36,4%, Tỉ lệ các thành phần trong hội chứng chuyển hóa là:;Tăng Tiglycerid 62,1%, HA > 130/80 53,7%, tăng glucose máu là 47,6%, tăng VB 38,2% và giảm HDL-C: 35,8% Có sự gia tăng tỉ lệ TG, VB và HCCH theo tuổi: ở tuổi ≤ 60 các tỉ lệ trên thấp hơn ở nhóm tuổi >60

2 HCCH làm tăng nguy cơ mắc các BMV& BMN là 3,72 lần; tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ type 2 3,86 lần TàI LIệU THAM KHảO

1 Trần Hữu Dàng và cộng sự (2005):Hội chứng chuyển hóa: một vấn đề thời đại, kết quả một số nghiên cứu Huế Y học thực hành, số 548: 371-79

2 Phan Hải Phương(2005):Hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng huyết áp có tuổi.Luận văn thạc sĩ y học,chuyên ngành lão khoa.ĐHYD TP Hồ Chí Minh

3 Hồ Thị Kim Thanh, Phạm Thắng: Nghiên cứu tỉ lệ mắc và các yếu tố liên quan của Hội chứng chuyển hóa ở một quần thể người cao tuổi Việt Nam Hội nghị nội tiết và

Đái tháo đường Việt Nam lần thứ V, Y học thực hành số 674- 675, 8/2009

4 Nguyễn Thị.Thu Thảo, Đoàn Văn Đệ, Nguyễn Thị Bích Đào: Hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân ĐTĐ týpe 2 mới chẩn đoán.Y học thực hành (798)- số 12/ 2011

5 Alzahrani A, et al(2012): Prevalence and predictor of the metabolic syndrome among healthy Saudi Adults British Journal of Diabetes & Vascular Disease 2012 12: 78

6 Eglit T, Rajasalu T and Lember M (2012): Metabolic syndrome in Estonia: Prevalence and Associations with

Trang 5

Insulin Resistance International Journal of Endocrinology,

Volum 2012, Acticle ID 951762, 6 pages

7 Gharipour M et al (2006): Prevalence of the

metabolic syndrome in an Iranian adults population;

ARYA Journal, 2006, 1(3): 188 -192

8 Kurktschiev T T et al (2010): High prevalence of the

metabolic syndrome in populations at high and low

cardiovascular rick in Bulgari; Journal of Diabetology, Feb

2010; 1:2

9 Lao X Q et al (2012): Prevalence of the metabolic

syndrome and cardiovascular rick factors in Adults in

southern China; Biomed Central, 2012, 1264

10 Lohsoonthorn V.,et al (2007): Prevalence

Metabolic Syndrome among Professional and Office

workers in Bangkok, Thailand J Med Assc Thai 2007; 90(9); 1908 - 15

11 Tanaka H et al (2005): Prevalence of the metabolic syndrome among men in Okinawa; Lournal of Atherosclerosis and Thrombosis, 2005; Vol 12 No 5: 284 -288

12 Thiruvagounder M et al (2010): Prevalence of the metabolic syndrome in a local population in India; Biochemia Medica 2010; 20(2): 249 -52

13 Vargas E R, Vins M R A and Delisle H(2007): Prevalence of the metabolic syndrome and associated lifstyles in adults males from Oaxaca, Mexico; Salud publica de mexico/ Vol.49, No 2,Marza-abril de 2007

NGHIÊN CứU MộT Số ĐặC ĐIểM DịCH BệNH SốT XUấT HUYếT Và CHÂN - TAY MIệNG

TạI Hà Nội GIAI ĐOạN 2009-2011

Lê Thị Ngọc Anh, Nguyễn Thị Thanh Xuân

Trường Đại học Y Hà Nội

Đặng Hồng Hải, Hà Anh Minh Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương Tóm tắt

Sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang, hồi cứu

Thu thập số liệu liên tục hàng năm tại Trung tâm Y tế

Dự phòng Hà Nội để khảo sát một số đặc điểm dịch

bệnh tại Hà Nội trong giai đoạn 2009 - 2011 Kết quả

cho thấy dịch Sốt xuất huyết có số trường hợp mắc

nhiều nhất, Tay chân miệng có xu hướng thấp hơn Tỷ

lệ mắc cao chủ yếu thuộc các quận nội thành, có xu

hướng lan rộng ra các vùng ven nội thành Hầu hết các

trường hợp mắc tập trung tại nhóm người trẻ tuổi < 39

tuổi Sốt xuất huyết được xem là một trong những bệnh

truyền nhiễm nguy hiểm cho con người, trong đó trẻ

em mắc bệnh sốt xuất huyết chiếm khoảng 70%, nhất

là những trường hợp trẻ mắc sốt xuất huyết Dengue

nặng Dịch Tay chân miệng chỉ tập trung ở nhóm <5

tuổi đặc biệt tập trung nhóm trẻ dưới 3 tuổi Không có

sự khác biệt giữa giới nam và giới nữ Dịch bệnh xảy ra

vào tất cả các tháng trong năm, Tay chân miệng lại

chủ yếu bùng phát vào mùa thu - đông từ tháng 7 - 12

Từ khóa: Dịch bệnh truyền nhiễm, Sốt xuất huyết,

Tay chân miệng

summary

The study was conducted to review the data

(Dengue hemorrhagic fever - and Hand, foot, and

mouth disease –HFMD) that collection every year at

the Center for Preventive Medicine Hanoi to examine

some of the characteristics of the disease in Hanoi in

the period 2009 - 2011 The results showed Dengus

hemorrhagic fever most cases, Hand, foot and mouth

tend to be lower High incidence mainly in the inner-city

districts, tend to spread to the peri-urban areas Most

of the cases are concentrated in young people <39

year old Dengue is considered one of the dangerous

infectious diseases to humans, including children with

dengue accounted for about 70%, especially in the

case of children with severe dengue Hand, foot and

mouth just gather in groups < 5 year old special focus

on children under 3 year old There is no difference between men and women Dengus occurred in all months of the year, Hand, foot and mouth outbreak mainly in autumn - winter from January 7-12

Keyworld: Infectious disease, dengue fever, hand, foot and mouth

ĐặT VấN Đề Tại Việt Nam, trong những năm gần đây một số bệnh truyền nhiễm đã được loại trừ từ những năm trước Sốt xuất huyết (SXH), Tiêu chảy cấp (TCC) đã tái xuất hiện và có xu hướng gia tăng Ngoài ra, còn

có hơn 30 bệnh truyền nhiễm khác, nguy hiểm mới xuất hiện như Tay chân miệng (TCM), SARS, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1) làm mô hình bệnh truyền nhiễm đã có nhiều thay đổi và ngày càng phức tạp hơn [1]

Thành phố Hà Nội với dân số trên 6 triệu người, tốc

độ đô thị hóa nhanh, phát triển nhiều khu dân cư đông

đúc, chật chội đã tạo điều kiện cho dịch bệnh truyền nhiễm phát triển, đặc biệt dịch Tay chân miệng, SARS, cúm A (H5N1), cúm A (H1N1), SXH đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của cộng đồng, tình hình kinh

tế, xã hội [1, 2]

Xuất phát từ tình hình đó, để có được góc nhìn tổng thể về tình hình dịch bệnh truyền nhiễm xảy ra tại Hà Nội, xây dựng kế hoạch xác định hướng lâu dài về chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ), đặc biệt trong phòng chống các vụ dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trong cộng đồng như sốt xuất huyết và tay chân miệng, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống thông tin địa lý thể hiện số liệu y tế một

số dịch bệnh phổ biến” nhằm nghiên cứu, khảo sát một

số đặc điểm dịch bệnh truyền nhiễm tại Hà Nội giai

đoạn 2009 - 2011

Ngày đăng: 22/08/2015, 07:49

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Tỉ lệ các thành phần HCCH 2 nhóm bệnh - NGHIÊN cứu hội CHỨNG CHUYỂN hóa ở NAM BỆNH NHÂN đến KHÁM và điều TRỊ tại BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN đội 108
Bảng 2 Tỉ lệ các thành phần HCCH 2 nhóm bệnh (Trang 2)
Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu - NGHIÊN cứu hội CHỨNG CHUYỂN hóa ở NAM BỆNH NHÂN đến KHÁM và điều TRỊ tại BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN đội 108
Bảng 1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu (Trang 2)
Bảng 7: HDL-C trung bình ở các nhóm - NGHIÊN cứu hội CHỨNG CHUYỂN hóa ở NAM BỆNH NHÂN đến KHÁM và điều TRỊ tại BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG QUÂN đội 108
Bảng 7 HDL-C trung bình ở các nhóm (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm