LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM HìNH THáI Và HUYếT ĐộNG TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER TIM ở BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH Trần Quốc Việt - Học viện Quân y
Trang 1(P= 0.89) và nhóm học sinh (P= 0.47) đều không
có liên quan tới thực hành [4]
Không có mối liên hệ giữa vệ sinh hộ gia đình với
các yếu tố
Không có sự liên quan giữa TH chung sau can
thiệp với các yếu tố như: Giới, nghề nghiệp (làm
ruộng, nghề khác), trình độ học vấn (≤ tiểu học, > tiểu
học), đã từng mắc bệnh SXHD hay chưa từng mắc
bệnh.Tuổi, kinh tế có liên quan với TH chung sau can
thiệp
KếT LUậN
1 KT-TĐ-TH đúng về phòng chống SXHD KT
đúng về phòng chống sốt xuất huyết dengue của
nhóm nghiên cứu trước can thiệp là 04.4%, sau khi
can thiệp là 20.40%; của nhóm chứng trước can thiệp
02.50%, sau khi can thiệp là 09.50%.TĐ đúng về
phòng chống phòng chống sốt xuất huyết dengue của
nhóm nghiên cứu trước can thiệp là 08.00%, sau khi
can thiệp là 22.20%; của nhóm chứng trước can thiệp
02.90%, sau khi can thiệp là 07.30%.TH đúng về
phòng chống sốt xuất huyết dengue của nhóm nghiên
cứu trước can thiệp 04.40%, sau khi can thiệp là
13.80%; của nhóm chứng trước can thiệp 03.30%,
sau khi can thiệp là 07.30%
Hiệu quả can thiệp từ 25% đến 93%: Hiệu quả
can thiệp kiến thức 83%, HQCT về thái độ 25% và
HQCT về thực hành chung là 93%
2 Yếu tố có liên quan đến KT-TĐ-TH về phòng
chống SXH: Yếu tố liên quan đến KT:Trình độ học
vấn; Kinh tế.Yếu tố liên quan đến TH: Nghề nghiệp
KIếN NGHị
Nên cần thiết phải tăng cường công tác truyền
thông-giáo dục nâng cao KT-TĐ-TH phòng chống SXHD tại cộng đồng Nội dung giáo dục sức khỏe cần quan tâm các nội dung: Các biện pháp phòng chống SXHD, các dấu hiệu cơ bản về bệnh SXHD, các dấu hiệu bệnh chuyển nặng Về TĐ: Lý do nhà có muỗi, thái độ đúng về việc phun hóa chất, trách nhiệm diệt muỗi và lăng quăng.Về TH: Các tiêu chuẩn để hộ gia
đình đạt về vệ sinh Đối tượng cần quan tâm trong truyền thông-giáo dục sức khỏe: Trình độ học vấn ≤tiểu học; Gia đình ở diện nghèo; Nam giới; Tuổi≤40 tuổi TàI LIệU THAM KHảO
1 Lê Thị Thanh Hương, Nguyễn Công Cừu, Trần Văn Hai (2009), “Nâng cao Kiến thức, Thái độ, Thực hành của người dân về phòng chống sốt xuất huyết tại xã Bình Thành, Thanh bình, Đồng Tháp 2006”, Y tế Công cộng 12, tr.40-45
2 Nguyễn Phương Nga (2005), Đánh giá kết quả sau
1 năm hoạt động mô hình phòng chống sốt xuất huyết dựa vào cộng đồng có sử dụng tác nhân sinh học Mesocyslops tại xã Phước Đông, Cần Giờ, Long An, Y tế Công cộng, Hà Nội
3 Trần Thị Cẩm Nguyên, Nguyễn Đỗ Nguyên (2010), “Hiệu quả của một chương trình giáo dục sức khỏe về phòng chống sốt xuất huyết cho học sinh trung học cơ sở tỉnh Bình Dương 2009”, Y học TP Hồ Chí Minh,
14 (phụ bản 1), tr.169-176
4 Saravit Khoonjun (2007), The evalution of “Youth empowerment against dengue haemorrhagic fever project”, Chulalngkorn University, Bangkok, Thailand
5 R.M Monika Paul (2006), A study to assess the KAP of women regarding prevention of dengue fever in Singasandra PHC area, Bangalore south with a view to develop an information booklet, Rajiv Gandi University of Health science, Bangalore, India
LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM HìNH THáI
Và HUYếT ĐộNG TRÊN SIÊU ÂM DOPPLER TIM ở BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH
Trần Quốc Việt - Học viện Quân y
Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175- Bộ Quốc phòng
lÊ VIệT THắNG - Bệnh viện 103 TóM TắT
Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ peptide lợi
niệu (Brain Natriuretic Peptide-BNP) huyết thanh với
một số đặc điểm hình thái và huyết động trên siêu âm
Doppler tim của 114 bệnh nhân được chẩn đoán đợt
cấp suy tim mạn tính, kết quả cho thấy: nhóm bệnh
nhân có rối loạn vận động thành cơ tim có nồng độ
BNP huyết thanh cao hơn nhóm không có rối loạn có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Nồng độ BNP huyết
thanh có mối tương quan thuận mức độ vừa với đường
kính thất trái cuối tâm trương, r=0,35; tương quan
nghịch mức độ vừa với phân suất tống máu, r=-0,32;
tương quan nghịch mức độ vừa với phân suất co rút
cơ tim, r=-0,35, p<0,05
Từ khóa: BNP huyết thanh, đợt cấp suy tim mạn
tính, siêu âm Doppler tim
SUMMARY Studying on relationship between serum Brain Natriuretic Peptide (BNP) level with some morphological and hemodynamic features in Doppler echocardiography of 114 patients diagnosed as chronic acute heart failure, the results show that serum BNP level of dyskinetic segment patients is significantly increased compared to that of patients without dyskinetic segment, p<0.05 A positive correlation between serum BNP level and LVDd, negative correlations between serum BNP level and EF; FS are detected in the study, r= 0.35,-0.32, -0.35, separately, p< 0.05
Keywords: serum BNP, chronic acute heart failure, Doppler echocardiography
Trang 2ĐặT VấN Đề
Brain Natriuretic Peptide (BNP) là một peptid có
tác dụng sinh học làm giãn mạch, tăng bài tiết natri
qua nước tiểu, nó được phóng thích ra bởi các tâm
thất khi các buồng tim này giãn ra Việc phóng thích
BNP tỉ lệ thuận với sự gia tăng thể tích và áp lực quá
tải của tâm thất BNP tăng khi có suy tim phải hoặc
suy tim trái, suy tim tâm thu hoặc suy tim tâm trương
do bất kỳ nguyên nhân nào Nó là một yếu tố báo
hiệu độc lập cho sự tăng áp suất của thất trái ở cuối
thời kỳ tâm trương, có độ nhạy là 98% trong chẩn
đoán suy tim và đặc biệt hơn nữa có giá trị chẩn đoán
loại trừ suy tim cao Trên thế giới có nhiều công trình
nghiên cứu về biến đổi nồng độ BNP huyết thanh, giá
trị của BNP trong chẩn đoán, tiên lượng điều trị bệnh
nhân suy tim Các nghiên cứu đều khẳng định ở bệnh
nhân suy tim mạn và đợt cấp của suy tim mạn tính
nồng độ BNP tăng, có thể là yếu tố tiên lượng độc lập
cho tiến triển và tỷ lệ tử vong của bệnh nhân suy tim
Mức độ tăng BNP huyết thanh liên quan đến một số
đặc điểm hình thái và chức năng tim Việt Nam, có
nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của BNP ở
bệnh nhân suy tim mạn tính, tuy nhiên còn nhiều
điểm chưa được sáng tỏ mối liên quan BNP huyết
thanh với một số chỉ số huyết động và hình thái tim
trên siêu âm Doppler ở nhóm bệnh nhân đợt cấp suy
tim mạn tính Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này
với mục tiêu: Khảo sát liên quan nồng độ BNP huyết
thanh với một số đặc điểm hình thái và huyết động
trên siêu âm Doppler tim ở bệnh nhân được chẩn
đoán đợt cấp suy tim mạn tính
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu gồm 114 bệnh nhân được
chẩn đoán đợt cấp của suy tim mạn tính được khám
và theo dõi điều trị tại Viện Tim mạch - Thành phố Hồ
Chí Minh
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định suy tim
theo tiêu chuẩn Framingham
- Bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn
tính
- Bệnh nhân suy tim độ 2, 3, 4 do nhiều nguyên
nhân khác nhau như: bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh
tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp…
- Các bệnh nhân được làm đầy đủ các xét nghiệm
theo mẫu nghiên cứu
- Bệnh nhân được điều trị suy tim theo cùng phác
đồ điều trị
- Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Tiêu chuẩn loại trừ:
- Loại trừ những bệnh nhân tại thời điểm nghiên
cứu nghi ngờ mắc bệnh ngoại khoa; viêm cấp…
- Bệnh nhân kèm theo một trong các bệnh lý sau:
suy thận, xơ gan, cường aldosterone nguyên phát,
chấn thương lồng ngực, chấn thương sọ não…
- Bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm theo yêu
cầu nghiên cứu
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang 2.2 Phương pháp nghiên cứu:
+ Các bệnh nhân khó thở do nguyên nhân suy tim
được khám lâm sàng tỉ mỉ, làm xét nghiệm BNP trong máu, làm điện tâm đồ, x-quang tim phổi, siêu âm tim, các xét nghiệm sinh hoá và huyết học, và tìm các yếu
tố nguy cơ; yếu tố làm suy tim nặng lên
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn theo Framingham (1993)
* Tiêu chuẩn chính:
Khó thở kịch phát về đêm Tĩnh mạch cổ nổi Ran nổ ở 2 nền phổi Tim to trên x-quang Phù phổi cấp Nhịp ngựa phi Tăng áp tĩnh nạch trung ương (> 16cmH2O) Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh dương tính
* Tiêu chuẩn phụ:
Phù ngoại vi
Ho về đêm Khó thở khi hoạt động thể lực Gan to
Tràn dịch màng phổi Dung tích sống giảm 1/3 so với người bình thường Nhịp tim nhanh (>120 lần/phút)
Chẩn đoán suy tim mạn tính phải có 3 tiêu chuẩn trở lên: ít nhất 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ, hoặc 2 tiêu chuẩn chính
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn đợt cấp: Bệnh nhân có tiền căn được chẩn đoán suy tim mạn theo phân độ NYHA vào viện vì khó thở, tăng độ suy tim
+ Phân độ suy tim theo NYHA 1964 chia làm 4 độ + Một số chỉ số trên siêu âm Doppler tim dùng trong nghiên cứu: tình trạng tràn dịch màng ngoài tim, tình trạng rối loạn vận động thành cơ tim, đường kính nhĩ trái, phân suất tống máu EF, phân suất co rút cơ tim FS và đường kính thất trái cuối thì tâm trương + Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi info 6.0 và SPSS với việc xác định: giá trị trung bình, so sánh giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm Vẽ đồ thị tương quan trên phần mềm Exel
KếT QUả NGHIÊN CứU Trong tổng số 114 bệnh nhân có 58,8% bệnh nhân nữ, 42,2% bệnh nhân nam, suy tim độ II chiếm 23,7%, độ III chiếm 64,9%, độ IV chiếm 11,4% Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 56,7 ± 9,8 tuổi Số bệnh nhân có nồng độ BNP huyết thanh tăng hơn mức bình thường là 100%
Bảng 1: Biến đổi một số chỉ tiêu siêu âm tim theo các mức độ suy tim
LVDd (mm)
54,33 ± 11,35
58,19 ± 15,17
69,15 ±
Trang 3FS % 29,85 ± 10,86 25,50 ± 11,57 17,92 ± 8,21 <0,05
EF % 52,70 ± 16,67 45,42 ± 19,62 38,38 ± 18,30 <0,05
10.80
48,74 ± 11,18
50,50 ±
Nhận xét:
+ Có sự biến đổi theo chiều hướng tăng về đường
kính thất trái cuối tâm trương theo các độ suy tim có ý
nghĩa thống kê
+ Có sự biến đổi theo chiều hướng giảm phân suất
co rút cơ tim, giảm phân suất tống máu ở các độ suy
tim
+ Chưa thấy sự khác biệt về đường kính nhĩ trái ở
các mức độ suy tim
Bảng 2: Mối liên quan giữa nồng độ BNP với một
số chỉ số chỉ siêu âm tim
LAd ≥ 50 mm
Đường kính
>0,05
Có rối loạn
Rối loạn vận
<0,05
Tràn dịch
màng ngoài
tim
Không
>0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP nhóm bệnh nhân có rối loạn vận
động thành trên siêu âm tim tăng cao hơn có ý nghĩa
thống kê so với nhóm bệnh nhân không có rối loạn
với p < 0,05
+ Chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống về tăng
nồng độ BNP huyết thanh ở nhóm bệnh nhân có tràn
dịch màng tim; đường kính nhĩ trái ≥ 50 mm, so với
nhóm không có biểu hiện này với p > 0,05
y = -27.893x + 3408.4
r = - 0.32, p < 0.05
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
Biểu đồ 1: Tương quan giữa nồng độ BNP và EF
Nhận xét: Có tương quan nghịch mức độ vừa giữa
tăng nồng độ BNP huyết thanh với giảm phân suất
tống máu ở bệnh nhân suy tim, với r=- 0,32, p < 0,05
y = -49.858x + 3404.6 r= - 0.34, p < 0.05
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000
Biểu đồ 2: Tương quan giữa nồng độ BNP và phân suất co rút cơ
tim
Nhận xét: Có tương quan nghịch mức độ vừa giữa tăng nồng độ BNP huyết thanh với giảm phân suất co rút cơ tim ở bệnh nhân suy tim, với r= - 0,34, p < 0,05
y = 39.443x - 183.01
r = 0.35, p< 0.05
0 1000 2000 3000 4000 5000 6000 7000
Biểu đồ 3: Tương quan giữa nồng độ BNP và đường kính thất
trái cuối thì tâm trương
Nhận xét: Có tương quan thuận mức độ vừa giữa tăng nồng độ BNP huyết thanh với tăng đường kính thất trái cuối thì tâm trương ở bệnh nhân suy tim, với r=0,35, p < 0,05
BàN LUậN Siêu âm đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, theo dõi bệnh nhân suy tim Bên cạnh cho phép chẩn
đóan các nguyên nhân gây suy tim như: bệnh van tim, bệnh tim bẩm sinh…siêu âm còn cho phép đánh giá hình thái, kích thước các buồng tim từ đó xác định
được chức năng thất trái, khối lượng cơ thất trái, tình trạng vận động vùng Nghiên cứu chúng tôi ghi nhận các chỉ số trung bình của đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd) tăng theo độ suy tim, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p<0,05), tuy nhiên các giá trị của chỉ số này đều trong giới hạn bình thường Các chỉ số đường kính nhĩ trái (LAd) cao hơn ngưỡng bình thường, sự khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê
Có nhiều thông số để đánh giá chức năng tâm thu thất trái; tỷ lệ phần trăm co rút cơ thất trái (FS%) là một trong những thông số không phụ thuộc vào tần
EF (%)
FS (%)
LVDd (mm)
Trang 4số tim Trong nghiên cứu này FS% theo phân độ suy
tim NYHA II, III và IV lần lượt là 29,85±10,86;
25,50±11,57; 17,92±8,21, điều này cho thấy phân
suất co rút thất trái giảm rõ ở phân độ suy tim nặng
với p < 0,05 Như vậy suy tim càng nặng FS càng
giảm Phân suất tống máu thất trái (EF%) là chỉ số
siêu âm được các nhà lâm sàng quan tâm nhất trong
việc đánh giá chức năng tâm thu thất trái Trong 114
bệnh nhân suy tim chia theo phân độ NYHA, chỉ số
trung bình phân suất tống máu (EF) theo phân độ
NYHA II , NYHA III và NYHA IV lần lượt là:
52,70±16,67%; 45,42±19,62% và 38,38±18,30% Kết
quả cho thấy suy tim càng nặng tỉ lệ thuận với số
bệnh nhân suy chức năng tâm thu
Mối liên quan giữa nồng độ BNP với một số chỉ số
chỉ siêu âm tim: chúng tôi thấy ở bệnh nhân có rối
loạn vận động thành tim có nồng độ BNP huyết thanh
tăng cao hơn nhóm không rối loạn vận động thành
tim, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0,05 Hình
ảnh rối loạn vận động thành tim gặp ở bệnh nhân suy
tim do bệnh cơ tim thiếu máu, bệnh cơ tim thể dãn
Điều này lý giải những bệnh nhân suy tim do bệnh lý
cơ tim có rối loạn vận động thành tim làm tăng gánh
và dãn buồng tim có nồng độ BNP trong huyết thanh
tăng cao hơn nhóm không có rối loạn thành tim
Chúng tôi chưa thấy sự khác biệt về tăng nồng độ
BNP huyết thanh giữa nhóm bệnh nhân có tràn dịch
màng tim với nhóm không có tràn dịch màng ngoài
tim; tương tự nồng độ BNP không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê giữa nhóm có đường kính nhĩ trái ≥ 50
mm với nhóm có đường kính < 50mm
Mối liên quan giữa biến đổi nồng độ BNP với phân
suất tống máu trên siêu âm tim: Một số nghiên cứu
gần đây nhận thấy BNP tăng trong huyết thanh có
liên quan với phân suất tống máu của thất trái Trong
nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ BNP trung bình
trong nhóm có phân suất tống máu < 50 % là
2735,48 ± 1700,67 pg/ml tăng cao hơn nhóm có phân
suất tống máu ≥ 50% là 1240,01 ± 1147,72, khác
biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Khảo sát mối
tương quan giữa hai nhóm bằng phương pháp hồi quy
tuyến tính và sử dụng phép kiểm tương quan Person
chúng tôi tìm thấy mối tương quan nghịch mức độ vừa
giữa nồng độ BNP huyết thanh và phân suất tống
máu với hệ số tương quan r = - 0,32, p < 0.05 Kết
quả nghiên cứu này của chúng tôi cũng tương tự với
kết quả nghiên cứu của Cao Minh Thông, trên 180
bệnh nhân suy tim cho thấy có mối liên quan mật
thiết giữa giảm phân suất tống máu với sự gia tăng
nồng độ BNP, với hệ số tương quan r = - 0,286, p <
0.005 Nghiên cứu của Trần Thuỳ Ngân ở 50 bệnh
nhân cho thấy mối tương quan giữa tăng nồng độ
BNP và giảm phân suất tống máu với r = - 0,701, p <
0.005 Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết quả
tương tự với một vài nghiên cứu nước ngoài, các tác
giả nhận thấy có một mối tương quan giữa tăng nồng
độ BNP trong máu và mức độ giảm của phân suất
tống máu (EF%) Trong một nghiên cứu khác của
Park HJ và cộng sự cũng nhận thấy có mối tương quan giữa nồng độ BNP tăng trong máu và sự giảm phân suất tống máu cũng như kết quả trong một số nghiên cứu của khác Mối tương quan giữa nồng độ BNP trong huyết thanh và phân suất tống máu có ý nghĩa rất lớn trong thực hành lâm sàng Việc kết hợp cả hai giá trị này sẽ giúp làm tăng thêm độ chính xác trong việc đánh giá mức độ suy tim
Mối liên quan giữa nồng độ BNP và phân suất co rút cơ tim: Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có mối tương quan nghịch giữa nồng độ BNP và phân suất co rút cơ tim với r = - 0,35, p < 0,05 Bằng phép
so sánh nồng độ BNP trung bình giữa hai phân nhóm cho thấy phân nhóm có chỉ số co rút cơ tim < 26% có nồng độ BNP cao hơn nhóm có chỉ số co rút cơ tim ≥ 26% với mức có ý nghĩa thống kê p < 0,05 Điều đó cho thấy có mối liên hệ giữa tăng nồng độ BNP và giảm chỉ số co rút cơ tim Kết quả của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu Morrison LK và cộng sự khảo sát
sự tương quan giữa nồng độ BNP với suy chức năng tâm thu và chức năng tâm trương trên 65 bệnh nhân cho thấy có mối tương quan nghịch giữa tăng nồng độ BNP và chỉ số co rút cơ tim Nghiên cứu mối tương quan của BNP và phân suất co rút cơ tim cho thấy BNP có vai trò rất lớn trong việc đánh giá tình trạng quá tải của tim
Mối liên quan giữa nồng độ BNP và đường kính thất trái cuối tâm trương: Có nhiều thông số siêu âm
để đánh giá chức năng tâm thu thất trái như đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd), đường kính thất trái cuối tâm thu (LVDs), đường kính thất trái tâm trương (LVDd), đường kính thất trái tâm thu (LVDd) Một số công trình nghiên cứu cho thấy có mối tương quan giữa nồng độ BNP huyết thanh với đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd) Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ BNP trung bình trong phân nhóm có đường kính thất trái cuối tâm trương (LVDd)
≥ 50mm có nồng độ BNP là 2348,62 ± 1696,59pg/ml
và (LVDd) < 50mm có nồng độ BNP là 1470,53 ± 1403,13 pg/ml Nồng độ BNP tăng cao nhóm có
đường kính thất trái cuối tâm trương ≥ 50mm so với nồng độ BNP ở nhóm có đường kính cuối tâm trương
< 50mm có ý nghĩa về mặt thống kê Điều này chỉ cho thấy, khi đường kính thất trái cuối tâm trương tăng có mối liên quan đến tăng tiết nồng độ BNP trong huyết thanh bệnh nhân ở nhóm suy tim Qua nghiên cứu chúng tôi nhận thấy có mối tương quan thuận giữa nồng độ BNP và đường kính thất trái cuối tâm trương với r = 0,35, p < 0,05, đây là mối tương quan mức độ vừa Điều này cho thấy đường kính thất trái cuối tâm trương cùng tăng với nồng độ BNP trong máu bệnh nhân suy tim Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp của Park HJ và cộng sự, nghiên cứu trên 1032 bệnh nhân cho thấy nồng độ BNP có tương quan thuận với
đường kính thất trái cuối tâm trương với r = 0.885, p = 0.02, tương tự với nghiên cứu của Orlowska BE ở 58 bệnh nhân suy tim cũng cho thấy nồng độ BNP có mối tương quan thuận với với đường kính thất trái cuối
Trang 5tâm trương (với r = 0,61; p <0,0001) Sự thay đổi nồng
độ BNP liên quan đến một số chỉ số hình thái và
huyết động trên siêu âm Doppler tim Mức độ thay đổi
BNP huyết thanh ở bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
tính do nhiều yếu tố tác động nên Nghiên cứu các
yếu tố liên quan làm tăng nồng độ BNP huyết thanh
nhằm mục đích có thể điều chỉnh các yếu tố ảnh
hưởng, giảm tỷ lệ tử vong, kéo dài cuộc sống và nâng
cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân suy tim
mạn tính
KếT LUậN
Qua nghiên cứu mối liên quan nồng độ BNP với
một số đặc điểm hình thái và huyết động trên siêu âm
Doppler tim của 114 bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn
tính, chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
+ Nhóm bệnh nhân có rối loạn vận động thành cơ
tim có nồng độ BNP huyết thanh cao hơn nhóm
không có rối loạn có ý nghĩa thống kê với p < 0,05
+ Nồng độ BNP huyết thanh có mối tương quan
thuận mức độ vừa với đường kính thất trái cuối tâm
trương, r = 0,35 và p < 0,05, tương quan nghịch mức
độ vừa với phân suất tống máu, r = - 0,32 và p < 0,05;
tương quan nghịch mức độ vừa với phân suất co rút
cơ tim, r = - 0,35 và p < 0,05
TàI LIệU THAM KHảO
1 TRầN THùY NGÂN, “Khảo sát nồng độ Brain Natriuretic Peptide ở trên nhóm bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao suy tim”, Luận văn thạc sĩ y học 2004
2 CAO MINH THÔNG, “Khảo sát peptide bài natri ở bệnh nhân suy tim”, Tạp Chí Y Học Thành Phố Hồ Chí Minh 2004 Trang 8, 1-8
3 ARQUES S, “Contribution of natriuretic peptide testing and Doppler echocardiography at bedside to the diagnosis of acute heart failure A practical overview”, Minerva Cardioangiol 2012 Aug;60(4):385-94
4 KURT M et al, “Relation of left ventricular end-diastolic pressure and N-terminal pro-brain natriuretic peptide level with left atrial deformation parameters”, Eur Heart J Cardiovasc Imaging 2012 Jun;13(6):524-30
5 MORRISON LK et al, “Utility of a rapid B-natriuretic peptide assay in differentiating congestive heart failure from lung disease in patients presenting with dyspnea”, J Am Coll Cardiol 2002; 39: 202 - 209
6 ORIOWSKA BE, “Brain natriuretic peptide as a marker of left ventricular hypertrophy in patients with aortic stenosis”, J Heart Valve Dis 2008
Nov;17(6):598-605
7 PARK HJ, “Direct comparison of B-type natriuretic peptide and N-terminal pro-BNP for assessment of cardiac function in a large population of symptomatic patients Int J Cardiol 2009, 253-6
MộT Số LIÊN QUAN GIữA NồNG Độ PSA VớI UNG THƯ TUYếN TIềN LIệT
TạI BệNH VIệN K
Nguyễn Tuyết Mai - Bệnh viện K
tóm tắt
Mục tiêu: xác định mối liên quan giữa nồng độ
PSA (Prostate Specific Antigene) với một số đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị trên bệnh
nhân ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) giai đoạn muộn
tại bệnh viện K giai đoạn 2005-2011
Kết quả: PSA trung bình 153,7ng/ml, tỷ lệ thuận
với thể tích khối u, PSA cao hơn ở bệnh nhân có di
căn xương và tăng dần theo mức độ di căn Tỷ lệ
sống thêm 3 năm toàn bộ là 69,4%, giảm dần theo
mức độ di căn và tỷ lệ nghịch với nồng độ PSA tại thời
điểm chẩn đoán
Kết luận: PSA có giá trị trong chẩn đoán, theo dõi
kết quả điều trị và tiên lượng bệnh
Từ khóa: nồng độ PSA, ung thư tuyến tiền liệt
Summary
Purpose: to determine the relation between PSA
level and some factors, the treatment result of
advanced stage prostate cancer patients at K
Hospital from 2005 to 2011
Result: bone metastase 50%, Medium PSA level
153.7ng/ml, higher in bone metastase patients,
increasing to metastase situation 3 years OS was
69.4%, decreasing to metastase situation and inverse
proportional to pretreatment PSA level
Conclusion: level of PSA contributes to diagnose, follow - up and as pronogstic factor
Key words: PSA level, prostate cancer
ĐặT VấN Đề Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là bệnh đặc thù riêng và phổ biến ở nam giới trên 65 tuổi, đứng đầu trong các bệnh hệ tiết niệu Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở nam giới [4] Tỷ lệ mắc bệnh UTTTL cao tại các nước
Âu - Mỹ, thấp hơn ở các nước châu á Tại Việt Nam, tỷ
lệ mắc bệnh là 4,7/100.000 dân, UTTTL đứng hàng thứ
9 trong các bệnh ung thư ở nam giới [1]
PSA (Prostate Specific Antigene) là một Enzyme glucoprotein chỉ sản xuất từ biểu mô tuyến tiền liệt, là kháng nguyên đặc hiệu của tiền liệt tuyến Nồng độ PSA huyết thanh thường tăng cao trong UTTTL và có liên quan đến giai đoạn bệnh, tình trạng di căn và đặc biệt được sử dụng trên lâm sàng để theo dõi kết quả
điều trị Có nhiều nghiên cứu về UTTTL nhưng chủ yếu đi sâu về đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị Hiện tại có rất ít nghiên cứu về sự liên quan giữa nồng
độ PSA với triệu chứng và kết quả điều trị UTTTL Chính vì những lý do trên, nghiên cứu này được tiến hành nhằm phân tích mối liên quan giữa nồng độ PSA với một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và