LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM Và TRIệU CHứNG LÂM SàNG BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175 Trần Quốc Việt - Trung tâm huấn l
Trang 1LIÊN QUAN NồNG Độ BRAIN NATRIURETIC PEPTIDE VớI MộT Số ĐặC ĐIểM
Và TRIệU CHứNG LÂM SàNG BệNH NHÂN ĐợT CấP SUY TIM MạN TíNH
Lê Đức Quyền - Bệnh viện 175 Trần Quốc Việt - Trung tâm huấn luyện và nghiên cứu Y học quân sự phía Nam Phạm Ngọc Huy Tuấn - Bệnh viện cấp cứu Trưng vương- Hồ Chí Minh
Lê Việt Thắng - Bệnh viện 103
TóM TắT
Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ peptide lợi
niệu (Brain Natriuretic Peptide-BNP) huyết thanh với
một số đặc điểm bệnh nhân và một số triệu chứng lâm
sàng của 114 bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp suy
tim mạn tính, kết quả cho thấy: số bệnh nhân tăng
BNP huyết thanh là 100%, nồng độ BNP huyết thanh
tương quan thuận với nồng độ cholesterol máu, r=
0,31, p < 0,05 Có mối liên quan thuận khá chặt giữa
tăng BNP huyết thanh với mức độ nặng của suy tim với
p < 0,001
Từ khóa: BNP huyết thanh, đợt cấp suy tim mạn
tính, khó thở
SUMMARY
Studying on relationship between serum Brain
Natriuretic Peptide (BNP) level with some features,
clinical symptoms of 114 patients diagnosed as chronic
acute heart failure, the results show that patient’s rate
of increased serum BNP is 100%, level of serum BNP
significantly correlates to serum cholesterol
concentration, r= 0,31, p < 0,05 A positive relation
between serum BNP with severe degree of heart
failure is detected, p< 0,001
Keywords: serum BNP, chronic acute heart failure,
dyspnea
ĐặT VấN Đề
Suy tim là tình trạng tim không đủ khả năng cung
cấp máu, hoặc nhận máu theo nhu cầu cơ thể cả khi
nghỉ ngơi và khi gắng sức Tần suất suy tim ngày càng
tăng cao trên thế giới và có khuynh hướng gia tăng
theo tuổi Tại Hoa Kỳ, người ta ước tính có khoảng 4,9
triệu bệnh nhân được điều trị suy tim, 550000 bệnh
nhân suy tim mới mắc hàng năm Tại châu Âu, suy tim
chiếm tỷ lệ 0,4-2% dân số Việt Nam, suy tim chiếm
50% bệnh nhân tim mạch nhập viện Brain Natriuretic
Peptide (BNP) là một peptid có tác dụng sinh học làm
giãn mạch, tăng bài tiết natri qua nước tiểu, nó được
phóng thích ra bởi các tâm thất khi các buồng tim này
giãn ra Việc phóng thích BNP tỉ lệ thuận với sự gia
tăng thể tích và áp lực quá tải của tâm thất BNP tăng
khi có suy tim phải hoặc suy tim trái, suy tim tâm thu
hoặc suy tim tâm trương do bất kỳ nguyên nhân nào
Có nhiều nghiên cứu về BNP ở bệnh nhân suy tim, các nghiên cứu đều khẳng định bệnh nhân suy tim có nồng
độ BNP tăng cao trong máu Nghiên cứu về liên quan nồng độ BNP huyết thanh và các biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp của suy tim mạn tính còn chưa nhiều Chúng tôi đã thực hiện nghiên cứu này với hai mục tiêu:
1 Khảo sát liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một số đặc điểm bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn tính
2 Khảo sát mối liên quan giữa nồng độ BNP huyết thanh và một số triệu chứng lâm sàng bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn tính
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu gồm 114 bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp của suy tim mạn tính được khám và theo dõi điều trị tại Viện Tim mạch- Thành phố Hồ Chí Minh
+ Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân:
- Bệnh nhân được chẩn đoán xác định suy tim do các nguyên nhân khác nhau theo tiêu chuẩn Framingham
- Bệnh nhân được chẩn đoán đợt cấp suy tim mạn tính
- Bệnh nhân suy tim độ 2, 3, 4 do nhiều nguyên nhân khác nhau như: bệnh van tim, bệnh cơ tim, bệnh tim thiếu máu cục bộ, tăng huyết áp…
- Các bệnh nhân được làm đầy đủ các xét nghiệm theo mẫu nghiên cứu
- Bệnh nhân được điều trị suy tim theo cùng phác
đồ điều trị
- Các bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu + Tiêu chuẩn loại trừ:
- Loại trừ những bệnh nhân tại thời điểm nghiên cứu nghi ngờ mắc bệnh ngoại khoa; viêm cấp…
- Bệnh nhân kèm theo một trong các bệnh lý sau: suy thận, xơ gan, cường aldosterone nguyên phát, chấn thương lồng ngực, chấn thương sọ não…
- Bệnh nhân không làm đủ xét nghiệm theo yêu cầu nghiên cứu
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang
Trang 22.2 Phương pháp nghiên cứu:
+ Các bệnh nhân khó thở do nguyên nhân suy tim
được khám lâm sàng tỉ mỉ, làm xét nghiệm BNP trong
máu, làm điện tâm đồ, x-quang tim phổi, siêu âm tim,
các xét nghiệm sinh hoá và huyết học, và tìm các yếu
tố nguy cơ; yếu tố làm suy tim nặng lên
+ Chẩn đoán khó thở:
- Nhịp thở < 10 lần/phút hoặc > 20 lần/phút, cánh
mũi phập phồng, hõm ức lõm, co kéo cơ hô hấp phụ có
thể có các kiểu thở bất thường kèm rối loạn tri giác, tím
tái, vã mồ hôi
- Khó thở kịch phát về đêm xảy ra khi bệnh nhân
đang ngủ và nằm đầu thấp một thời gian
- Khó thở khi gắng sức xảy ra khi hoạt động gắng
sức
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn theo
Framingham (1993)
* Tiêu chuẩn chính:
Khó thở kịch phát về đêm
Tĩnh mạch cổ nổi
Ran nổ ở 2 nền phổi
Tim to trên x-quang
Phù phổi cấp
Nhịp ngựa phi
Tăng áp tĩnh nạch trung ương (> 16cmH2O)
Phản hồi gan tĩnh mạch cảnh dương tính
* Tiêu chuẩn phụ:
Phù ngoại vi
Ho về đêm
Khó thở khi hoạt động thể lực
Gan to
Tràn dịch màng phổi
Dung tích sống giảm 1/3 so với người bình thường
Nhịp tim nhanh (>120 lần/phút)
Chẩn đoán suy tim mạn tính phải có 3 tiêu chuẩn
trở lên: ít nhất 1 tiêu chuẩn chính và 2 tiêu chuẩn phụ,
hoặc 2 tiêu chuẩn chính
+ Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim mạn đợt cấp:
Bệnh nhân có tiền căn được chẩn đoán suy tim
mạn theo phân độ NYHA vào viện vì khó thở, tăng độ
suy tim
+ Phân độ suy tim theo NYHA 1964 chia suy tim
làm 4 độ
+ Chẩn đoán nghiện rượu, nghiện thuốc lá: theo
tiêu chuẩn của ICD-10
+ Chẩn đoán rối loạn lipid máu: theo khuyến cáo
của Hội tim mạch Việt Nam, 2008
+ Chẩn đoán thừa cân béo phì dựa vào chỉ số khối
cơ thể BMI theo khuyến cáo của hội Đái tháo đường
châu á - Thái bình dương
+ Xử lý số liệu bằng phần mềm Epi info 6.0 và
SPSS với việc xác định: giá trị trung bình, so sánh giá
trị trung bình, tỷ lệ phần trăm Vẽ đồ thị tương quan
trên phần mềm Exel
KếT QUả NGHIÊN CứU
Trong tổng số 114 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn nghiên
cứu có 58,8% bệnh nhân nữ, 42,2% bệnh nhân nam,
suy tim độ II chiếm 23,7%, độ III chiếm 64,9%, độ IV
chiếm 11,4% Tuổi trung bình nhóm nghiên cứu là 56,7
± 9,8 tuổi Số bệnh nhân có nồng độ BNP huyết thanh tăng hơn mức bình thường là 100%
1 Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một
số đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 1: Biến đổi nồng độ BNP huyết thanh theo giới tính và BMI
GIớI
>0,05
BMI
> 0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm bệnh nhân nam cao hơn nhóm nữ, tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
+ Nồng độ BNP huyết thanh trung bình nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 23 cao hơn nhóm bệnh nhân có BMI < 23, tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 2: Khảo sát nồng độ BNP liên quan dến nghiên rượu và nghiện thuốc lá
Nghiện thuốc lá
1499,85
>0,05
1692,43 Nghiện rượu
1658,10
>0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân nghiện thuốc lá cao hơn nhóm bệnh nhân không nghiện thuốc lá, tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê giữa hai nhóm này
+ Nhóm bệnh nhân nghiện rượu có nồng độ BNP trung bình cao hơn nhóm không nghiên rượu, tuy nhiên
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Bảng 3: Khảo sát sự biến thiên nồng độ BNP theo rối loạn lipid máu
Cholesterol toàn phần
<0,05
HDL-C
>0,05
1678,96 LDL-C
>0,05
(20,2)
2265,51 ± 1666,68 Triglycerid
(79,8)
1841,22 ± 1421,72
>0,05
Trang 3Nhận xét:
+ Nồng độ BNP nhóm bệnh nhân có rối loạn
cholesterol toàn phần tăng cao hơn nhóm bệnh nhân
không có rối loạn có ý nghĩa thống kê
+ Nhóm bệnh nhân có rối loạn HDL-C, LDL-C và
triglicerid có nồng độ BNP khác biệt không có ý nghĩa
thống kê so với nhóm không rối loạn với p > 0,05
y = 513.71x - 75.21
r = 0.31, p < 0.05
0
1000
2000
3000
4000
5000
6000
7000
Biểu đồ 1: Tương quan nồng độ BNP và cholesterol máu
Nhận xét: Có mối tương quan thuận mức độ vừa
giữa biến đổi nồng độ BNP và Cholesterol máu ở
nhóm bệnh nhân suy tim với hệ số tương quan r =
0,31, p < 0,05
2 Liên quan nồng độ BNP huyết thanh với một
số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân được chẩn đoán
đợt cấp suy tim mạn tính:
Bảng 4: Mối liên quan nồng độ BNP với một số
triệu chứng cơ năng suy tim
Gắng sức nặng
Gắng sức nhẹ
Kịch phát về đêm
(n= 8)
2169,14 ± 1542,38 Khó thở
<0,05
Đau
ngực
>0,05
1722,16
Ho về
đêm
1556,08
>0,05
Nhận xét:
+ Nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân có
mức độ khó thở nặng tăng cao hơn so với nhóm bệnh
nhân có khó thở vừa và nhẹ, sự khác biệt này có ý
nghĩa thống kê p< 0,05
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có đau ngực nồng độ
BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm suy tim không có
đau ngực chưa có ý nghĩa thống kê
+ Nhóm bệnh nhân suy tim có ho về đêm có nồng
độ BNP huyết thanh tăng cao hơn nhóm không có ho
về đêm, tuy nhiên chưa thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê
Bảng 5: Sự biến đổi giữa nồng độ BNP theo mức
độ suy tim
Nhận xét: Nồng độ BNP ở bệnh nhân suy tim mạn tính tăng dần theo độ suy tim Nhóm bệnh nhân suy tim độ IV có nồng độ BNP trung bình cao nhất, cao hơn nhóm suy tim độ III và độ II có ý nghĩa thống kê với p < 0,01
BàN LUậN
1 Liên quan nồng độ BNP với một số đặc điểm bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính
Tất cả bệnh nhân trong nghiên cứu này đều có nồng độ BNP trên mức cho phép, điều này là hợp lý bởi đối tượng chọn của chúng tôi là những bệnh nhân
có đợt cấp của suy tim mạn tính đã được chẩn đoán xác định Nồng độ BNP trong nghiên cứu tăng cao 2079,04 ± 1656,73 pg/ml, biến thiên khoảng nồng độ của bệnh nhân có nồng độ cao nhất và thấp nhất là rất lớn So sánh với các nghiên cứu khác trong nước chúng tôi thấy rằng, nồng độ BNP của chúng tôi cao hơn rất nhiều so với nghiên cứu khác trong nước Chúng tôi cho rằng kết quả này là hợp lý, do nhóm bệnh nhân của chúng tôi đang ở đợt cấp của suy tim mạn tính, do vậy nồng độ BNP tăng cao là điều dễ hiểu Nồng độ BNP liên quan đến một số đặc điểm bệnh nhân:
BNP và giới tính: Kết quả nghiên cứu của một số tác giả nước ngoài cho thấy giới tính có tác liên quan
đến đến nồng độ BNP trong máu Trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng đô BNP trung bình ở nhóm bệnh nhân nam là 2416 ± 1627,07 pg/ml, nữ là 1842,63 ± 1648,21pg/ml, tỷ lệ bệnh nhân nam có nồng độ BNP huyết thanh cao gặp nhiều ở nam hơn nữ, tuy nhiên giá trị trung bình cho thấy sự khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 Điều này có thể giải thích rằng
do nồng độ BNP tăng rất cao trong suy tim và sự phân
bố tỷ lệ mức độ nặng của suy tim ở phân nhóm bệnh giữa nam và nữ là đồng đều Sự biến đổi nồng độ BNP huyết thanh phụ thuộc vào nhiều yếu tố bản thân bệnh nhân và mức độ, giai đoạn nặng nhẹ của bệnh nhân suy tim Những bệnh nhân nữ có xu hướng có thời gian sống dài hơn bệnh nhân nam, các yếu tố tác động làm nặng lên quá trình suy tim của bệnh nhân ít hơn, chính vì thế nhiều nghiên cứu cho thấy các biến đổi về các chỉ tiêu sinh hóa máu và hình thái tim cho thấy bệnh nhân nam suy tim mạn tính nặng nề hơn bệnh nhân nữ suy tim mạn tính
BNP và chỉ số khối cơ thể: Các nghiên cứu trên thế giới đều khẳng định tỷ lệ tử vong do mạch máu ở người
Cholesterol (mmol/l)
Trang 4béo phì cao hơn nhóm bệnh nhân có BMI bình thường,
tỷ lệ bệnh nhân có biến cố mạch vành nhóm người béo
phì cũng cao nhóm người có BMI bình thường Thực tế,
bệnh nhân béo phì thường hay đi kèm với các yếu tố
nguy cơ bệnh mạch vành khác như ĐTĐ, hút thuốc lá,
uống rượu…Kết quả một số công trình nghiên cứu của
nước ngoài cho thấy nồng độ BNP thấp có ý nghĩa ở
người quá cân và béo phì Trong nghiên cứu của
chúng tôi, nồng độ BNP trung bình nhóm bệnh nhân
có BMI ≥23 là 1893,03 ± 1427, nhóm bệnh nhân có
BMI < 23 là 2235,04 ± 1824,06 pg/L, tuy nhiên sự
khác biệt này chưa có ý nghĩa thống kê Lý giải cho
điều này chúng tôi cho rằng, với cỡ mẫu trong nghiên
cứu của chúng tôi là 114 bệnh nhân đợt cấp của suy
tim mạn tính Tỷ lệ nhóm bệnh nhân có BMI ≥ 23 là
khoảng 20%, như vậy nhóm bệnh nhân này ít hơn
nhiều so với nhóm bệnh nhân có BMI < 23, do vậy
chúng tôi chưa tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống
kê như các tác giả khác
BNP và tình trạng nghiện rượu, nghiện thuốc lá:
Nghiên cứu của chúng tôi có đến 25,43% bệnh nhân
có tiền sử nghiện thuốc lá, nghĩa là bệnh nhân mắc
bệnh suy tim đang nghiện thuốc lá vào viện là khá cao
Điều đó ảnh hưởng đến chất lượng điều trị và quản lý
bệnh nhân suy tim hiện nay chưa được tốt và ý thức
chăm sóc sức khỏe của người dân chưa cao Chất
nicotin trong thuốc lá sẽ làm tăng nhịp tim, tăng huyết
áp, giảm dưỡng khí nuôi tim, tăng huyết khối, gây tổn
thương tế bào nội mạc mạch máu, làm xơ vữa động
mạch…Với những người nghiện thuốc, tim phải cố gắng
làm việc nhiều hơn để đưa máu đi nuôi cơ thể, tất cả
các yếu tố đó đều là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim
mạch Với những bệnh nhân suy tim, vẫn còn nghiện
thuốc, sẽ làm cho tình trạng suy tim nặng lên Chính vì
điều này, nồng độ BNP trong máu bệnh nhân có hút
thuốc cao hơn nhóm không hút thuốc Rượu cũng là
một yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch Uống nhiều và
uống rượu lâu năm có thể gây nên tăng triglyceride,
tăng huyết áp và béo phì, cuối cùng dễ gây suy tim và
tai biến mạch máu não Tiền căn nghiện rượu chiếm
13,15% ở bệnh nhân suy tim, thường gặp trong bệnh
cơ tim do rượu Nồng độ BNP ở những bệnh nhân suy
tim có tiền sử nghiện rượu cao hơn nhóm bệnh nhân
suy tim không nghiện rượu trong nghiên cứu này là vấn
đề dễ giải thích
BNP với rối loạn lipid máu: Nhóm bệnh nhân có rối
loạn cholesterol toàn phần chiếm 82,2%, nồng độ BNP
trung bình 2988,88 ± 1681,98 pg/ml, nhóm không có
rối loạn chiếm 15,8%, nồng độ BNP trung bình là
1059,85 ± 927,48 pg/ml, nồng độ cholesterol toàn
phần tăng có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Chúng tôi
cũng đã tìm thấy mối tương quan thuận mức độ vừa
giữa tăng cholesterone máu và tăng nồng độ BNP máu
với hệ số tương quan r = 0,31, p < 0.05 (biểu đồ 1)
Điều cho thấy khi nồng độ cholesterol toàn phần trong
huyết thanh tăng cao thì nồng độ BNP cũng tăng theo
Khi cholesterol trong máu tăng cao, thì nguy cơ bệnh
động mạch vành cũng tăng theo Cholesterol sẽ làm
xơ vữa mạch máu, đặc biệt là động mạch, làm cản trở lưu thông của máu, hậu quả tim thiếu dinh dưỡng, cuối cùng có thể dẫn đến suy tim Nhóm bệnh nhân có rối loạn HDL-C, LDL-C và triglicerid có nồng độ BNP cao hơn nhóm không có rối loạn, sự khác biệt này chưa có
ý nghĩa thống kê Chúng tôi chưa tìm thấy sự khác biệt
về nồng độ BNP máu ở nhóm bệnh nhân có và không
có rối loạn các thành phần lipid máu còn lại trong nghiên cứu này Có thể cỡ mẫu và tỷ lệ bệnh nhân có rối loạn chưa đủ lớn gây ra các rối loạn này
2 Liên quan giữa BNP và một số đặc điểm lâm sàng bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính
Liên quan nồng độ BNP với một số triệu chứng cơ năng của suy tim: Suy tim là hội chứng lâm sàng phức tạp do rối loạn chức năng hoặc tổn thương thực thể cơ tim dẫn đến suy giảm khả năng nhận máu hoặc bơm máu của tâm thất Biểu hiện lâm sàng chính của suy tim là mệt, khó thở, khi tiến triển có thể dẫn đến phù phổi, phù chi, triệu chứng này là những chìa khóa nhằm để phát hiện sớm bệnh lý suy tim, thường là những lý do đưa bệnh nhân đến khám Nhưng nhiều bệnh nhân suy tim có rất ít triệu chứng lâm sàng hoặc triệu chứng không rõ ràng, nhất là người cao tuổi BNP
là một xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, BNP
được tiết ra khi áp lực các buồng tim tăng lên nhất là tâm thất Điều đó chỉ ra rằng có một mối tương quan với sự quá tải của tim BNP là một yếu tố dự báo độc lập đáng kể áp suất tăng cuối tâm trương thất trái ở bệnh nhân suy tim Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nồng độ BNP trung bình ở nhóm có triệu chứng khó thở các mức độ khó thở khác nhau: khó thở khi gắng sức nặng, khi gắng sức nhẹ, khó thở kịch phát về
đêm và khó thở liên tục lần lượt là 282,70 ± 151,76; 2137,68 ± 1511,42; 2169,14 ± 1542,38; 3147,72 ± 1939,86 pg/ml Một điều dễ nhận thấy là, nồng độ BNP tăng cao hơn giới hạn bình thường ở tất cả các bệnh nhân có mức độ khó thở khác nhau Khó thở càng nặng thì nồng độ BNP càng cao, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 Điều này có thể một triệu chứng khó thở riêng lẻ về lâm sàng nghĩ đến tình trạng quá tải của tim và mức độ nặng của suy tim (ví dụ triệu chứng khó thở đơn độc) Thực tế tập hợp các triệu chứng này đều nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán của Framingham, theo một số nghiên cứu cho thấy tiêu chuẩn Framingham có độ nhạy cao nhưng độ đặc hiệu thấp Triệu chứng hen tim, phù phổi cấp giữa nhóm có
và không triệu chứng, nồng độ BNP lần lượt là 2943,05
± 1795,73 và 2013,83 ± 1636,38 pg/ml; giữa nhóm có
đau ngực và nhóm không đau ngực này lần lược là 2527,53 ± 1947,83 và 2047,89 ± 1641,04 pg/ml Nồng
độ BNP ở nhóm bệnh nhân ho về đêm và nhóm không
ho về đêm: 2315,13 ± 1722,16 và 1820,33 ± 1556,08 Nồng độ BNP ở nhóm bệnh nhân đau ngực và không
đau ngực: 2315,13 ± 1722,16 và 1820,33 ± 1556,08 Mặc dù nhóm có triệu chứng trên thì nồng độ BNP tăng hơn nhóm không có triệu chứng nhưng tất cả đều không có ý nghĩa về mặt thống kê, nghĩa là không có
sự khác biệt giữa tăng nồng độ BNP và sự xuất hiện
Trang 5triệu chứng Điều này có thể giải thích do cỡ mẫu
chúng tôi còn nhỏ, cũng có thể một triệu chứng riêng lẻ
về lâm sàng không đánh giá đầy đủ tình trạng quá tải
của tim đối với các triệu chứng này
Liên quan nồng độ BNP với mức độ suy tim: Trong
nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ BNP trong huyết
thanh và mức độ nặng của suy tim theo phân độ
NYHA có sự tương quan với nhau Nồng độ BNP trung
bình trong huyết thanh bệnh nhân suy tim, NYHA II là:
453,00 ± 313,00 pg/ml, NYHA III là: 2415,03 ± 1489,30
pg/ml và NYHA IV là: 3543,60 ± 1781,15 pg/ml Bằng
phương pháp phân tích ANOVA một biến so sánh
trùng của các nhóm cho thấy nồng độ BNP trung bình
giữa các nhóm khác biệt có ý nghĩa thống kê p < 0.05
Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với một số nghiên
cứu trong nước khác và một số nghiên cứu của nước
ngoài, các tác giả này cũng nhận thấy giữa nồng độ
BNP trong huyết thanh và mức độ của suy tim theo
NYHA có một mối liên quan chặt chẽ với nhau Điều
này khẳng định rằng khi bệnh nhân suy tim càng nặng
thì nồng độ BNP trong huyết thanh càng cao
KếT LUậN
Qua nghiên cứu mối liên quan nồng độ BNP với
một số đặc điểm bệnh nhân, một số triệu chứng lâm
sàng của 114 bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính,
chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
+ Tăng nồng độ BNP liên quan đến một số đặc
điểm bệnh nhân: Nồng độ BNP huyết thanh tương
quan thuận với nồng độ cholesterol máu, r= 0,31, p <
0,05 Chưa thấy liên quan giữa tăng BNP huyết thanh
với giới, BMI, có hoặc không nghiện thuốc lá và nghiện
rượu, và bệnh nhân có hoặc không có rối loạn
triglycerid, HDL-C, LDL-C
+ Tăng nồng độ BNP huyết thanh liên quan đến một số triệu chứng lâm sàng bệnh nhân đợt cấp suy tim mạn tính: Có mối liên quan thuận khá chặt với mức
độ nặng của suy tim với p < 0,001, mức độ suy tim càng nặng nồng độ BNP huyết thanh càng tăng Trong
ba triệu chứng khó thở, đau ngực, ho về đêm, tăng BNP huyết thanh chỉ liên quan có ý nghĩa đến triệu chứng khó thở
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Thị Dụ, …Khảo sát sự thay đổi nồng độ B - type Natriuretic Peptide (BNP) huyết tương ở bệnh nhân suy tim do tăng huyết áp ", Tạp chí Tim mạch học (37) 2004, tr 31 … 38
2 Phạm Thắng, Tạ Mạnh Cường, Phan Thanh Nhung,
…Nghiên cứu nồng độ B-type Natriuretic Peptide huyết tương của bệnh nhân suy tim mạn tính… Y học Việt Nam,
số 1, 2010, trang 51-56
3 DAO Q et al, "Utility of B-type natriuretic peptide in the diagnosis ofcongestive heartfailure in an urgent care setting ", J Am Coll Cardio (37) 2001, pp 379-385
4 HORWICH TB et al, …B-type natriuretic Peptide levels in obese patients with advanced heart failure…, J
Am Coll Cardiol, 47(1) 2006:85-90
5 KENNETH D et al, …ESC guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure
2008, European heart journal…, (29) 2008: 2388-2442
6 MAISEL AS et al, "B-type natriuretic peptide (BNP) levels: diagnostic and therapeutic potential", Rev Cardiovasc Med (Suppl 2) 2002, pp S13-S 18
7 WIECZOREK SJ et al, "A rapid B-type natriuretic peptide assay accurately diagnoses left ventricular dysfunction and heart failure- A multicenter evaluation",
Am Heart J (144) 2002, pp 834-839
KIếN THứC Về BệNH LÂY TRUYềN QUA ĐƯờNG TìNH DụC Và HIV/AIDS
CủA Vị THàNH NIÊN TạI MộT Số Xã CủA HUYệN KIếN XƯƠNG, TỉNH THáI BìNH
Nguyễn Đức Thanh - Đại học Y Thái Bình Tóm tắt
Điều tra mô tả cắt ngang 300 vị thành niên về kiến
thức về bệnh lây truyền qua đường tình dục và
HIV/AIDS của vị thành niên trên địa bàn huyện Kiến
Xương-Thái Bình năm 2012 cho thấy: Phần lớn VTN
cho rằng nguyên nhân gây bệnh LTQĐTD do sinh hoạt
tình dục với người mắc bệnh mà không dùng bao cao
su (63,0%) Tỷ lệ lớn nhất VTN biết hậu quả bệnh
LTQĐTD là làm tăng nguy cơ lây nhiễm HIV (66,3%);
còn có 23,3% số VTN được hỏi không biết hậu quả
nào của bệnh LTQĐTD Tỷ lệ VTN biết lây nhiễm HIV
qua đường tình dục, đường máu và mẹ truyền cho con
chiếm tỷ lệ cao (trên 90%) Còn tới 16% số VTN có
nhận đinh sai rằng có thể nhận biết người nhiễm HIV
thông qua hình dáng bề ngoài và lối sống của họ Tỷ lệ
VTN biết cách phòng lây nhiễm HIV chưa cao, cao
nhất là tỷ lệ biết không dùng chung bơm kim tiêm mới
chỉ chiếm 69,7%; còn tới 9% số VTN không biết cách nào để phòng lây nhiễm HIV
Từ khóa: Vị thành niên, kiến thức, bệnh lây LTQĐTD, HIV/AIDS
Summary The cross-sectional descriptive survey on 300 adolescents on their status of access to information about STDs and HIV/AIDS was conducted in Kien Xuong district – Thaibinh province shows that: The cause of STIs via having sex with STI infected persons without using condom was reported by most of adolescents (63.0%) The consequence of STIS mentioned by the highest rate of adolescents was that
it increases the risk of HIV infection (66.3%); 23.3% of adolescents still did not know any consequences of STIs The rate of adolescents knowing the HIV