Y học thực hành 857 - số 1/2013 51 NGHIÊN CứU Sự ĐA HìNH PROTEIN BềN NHIệT TRONG DịCH MàNG PHổI Và GIớI HạN PHáT HIệN CủA XéT NGHIệM ĐịNH LƯợNG PROTEIN NHằM THAY THế XéT NGHIệM ĐịNH TíNH
Trang 1Y học thực hành (857) - số 1/2013 51
NGHIÊN CứU Sự ĐA HìNH PROTEIN BềN NHIệT TRONG DịCH MàNG PHổI Và GIớI HạN PHáT HIệN CủA XéT NGHIệM ĐịNH LƯợNG PROTEIN NHằM THAY THế XéT NGHIệM ĐịNH TíNH
Lương Thị Hồng Vân, Vũ Xuân Tạo
Đại học Thái Nguyên Nguyễn Gia Bình Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 TóM TắT
Các tác giả tiến hành nghiên cứu phân tích định
tính, định lượng và xác định sự đa hình protein bền
nhiệt trong dịch màng phổi của các bệnh nhân lao, ung
thư, xơ gan, suy tim…có tràn dịch Kết quả nghiên cứu
trên 100 mẫu dịch màng phổi cho thấy hàm lượng
protein trung bình là 38,620 ± 18,638 g/l Trong đó:
33% mẫu cho kết quả xét nghiệm Rivalta âm tính
tương ứng với hàm lượng protein trung bình là 19,303 ±
4,073g/l; 67% mẫu cho kết quả xét nghiệm Rivalta
dương tính tương ứng với hàm lượng protein trung bình
là 48,134 ± 15,315 g/l Kết quả điện di protein bền
nhiệt theo phương pháp SDS – PAGE cho thấy hệ
protein bền nhiệt trong dịch màng phổi rất đa dạng: Số
lượng băng (vạch protein) thu được dao động từ 6 đến
8 băng Trong đó các mẫu dịch màng phổi có hàm
lượng protein là 23 g/l và Rivalta (-) xuất hiện 6 băng
Các mẫu dịch còn lại có hàm lượng protein từ 46 đến
64 g/l và Rivalta (+) xuất hiện 8 băng
Từ khóa: Dịch màng phổi, định tính, định lượng, đa
hình, protein bền nhiệt, Rivalta
SUMMARY
The authors carried out analyse quantitative and
qualitative; determine the polymorphism of
heat-resistant proteins in pleural fluid of patients who got
pleural effusion diseases such as tuberculosis, cancer,
cirrhosis, congestive heart failure…effusion Result of
100 pleural fluid samples reveal that the average
protein content is 38,620 ± 18,638 g/l Include: 33%
samples result in negative with Rivalta test, the
average protein content is 19,303 ± 4,073g/l; 67%
samples give positive result with Rivalta test, the
average protein content is 48,134 ± 15,315 g/l The
outcome in electrophoresis by SDS – PAGE way show
the variety of heat-resistant proteins in pleural fluid
The recorded number of line is approximate from 6 – 8
lines The pleural fluid having the 23g/l protein content
and negative by Rivalta give the 6- line electrophoresis
result Others having positive Rivalta with protein
content are 46 and 64 g/l give 8 lines
Keywords: Pleural fluid, qualitative, quantitative,
polymorphism, heat-resistant proteins, Rivalta
Mở ĐầU
Dịch chọc dò là các dịch được lấy ra từ màng
phổi, màng tim, khoang phúc mạc hoặc dịch tràn từ
các khớp lớn Có 2 loại dịch khác nhau về bản chất
là dịch tiết và dịch thấm Dịch thấm gặp trong các trường hợp thận hư, xơ gan có tràn dịch phúc mạc, suy tim Dịch tiết thường do nguyên nhân nhiễm khuẩn, lao, ung thư [1]
Hiện nay trong chẩn đoán bệnh, đặc biệt là đối với các bệnh như lao, ung thư, xơ gan, suy tim…có tràn dịch màng phổi thì các kết quả phân tích hóa sinh và sinh học phân tử đối với dịch màng phổi được các nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu Đã có nhiều nghiên cứu trong nước về vấn đề này và bước đầu đã công bố một số kết quả như dựa vào hàm lượng interferon gamma, lysozyme trong dịch màng phổi để chẩn
đoán tràn dịch màng phổi do lao [2][5] Trên thế giới cũng có nhiều nghiên cứu và thường tập trung vào việc tìm ra dấu hiệu chẩn đoán tràn dịch màng phổi
và cách điều trị [6][7]
Bình thường mỗi bên khoang màng phổi chứa khoảng 10 ml dịch Số lượng dịch này là kết quả của
sự cân bằng giữa quá trình hình thành và quá trình hấp thu dịch Khi sự cân bằng này mất đi hiện tượng tràn dịch màng phổi xảy ra Tràn dịch màng phổi là một hiện tượng bệnh lý Nguyên nhân thường gặp nhất của tràn dịch màng phổi là suy tim ứ huyết (tràn dịch dịch thấm), bệnh lý ác tính và viêm phổi (tràn dịch dịch tiết) [3]
Trước đây các nhà chuyên môn thường sử dụng phương pháp định tính trong quy trình xét nghiệm dịch màng phổi, những phương pháp này có rất nhiều yếu
tố hạn chế Hiện nay, với thành tựu của khoa học kỹ thuật đã cho phép các nhà sinh học có thể xác định chính xác hàm lượng protein có mặt trong bất cứ một sinh phẩm nào, trong đó có dịch màng phổi của người
Hệ protein bền nhiệt là một trong những đối tượng nghiên cứu mới trong nghiên cứu về protein Cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa chính xác và đầy đủ cho các protein loại này Trong nghiên cứu này của chúng tôi, hệ protein bền nhiệt được xem như là tập hợp các protein có khả năng chịu được nhiệt độ, vẫn giữ được hoạt tính sau khi đã được xử lý ở nhiệt độ
98oC trong 10 phút theo phương pháp của Goufman [8] Tính bền nhiệt của các protein có mối quan hệ chặt chẽ với các cấu trúc tương ứng của chúng Ngoài ra,
nó còn liên quan đến những cải biến và những biến đổi sinh hóa của protein như các quá trình glycosyl hóa [9], Do đó, sự thay đổi tính bền nhiệt của protein
Trang 2Y học thực hành (857) - số 1/2013
52
chắc chắn có những mối liên hệ nhất định với các bệnh
lý Nghiên cứu các protein bền nhiệt có thể giúp tìm ra
những ứng viên chỉ thị bệnh ở mức phâ tử cho hiệu quả
và có độ nhạy cao hơn
Từ các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu
này nhằm các mục tiêu:
1 Nghiên cứu hàm lượng protein trong dịch màng
phổi của các bệnh nhân mắc lao, ung thư, sơ gan, suy
tim có hiện tượng tràn dịch màng phổi
2 Nghiên cứu giới hạn phát hiện của xét nghiệm
định lượng protein trong dịch màng phổi của bệnh
nhân nhằm thay thế hoặc bổ trợ cho xét nghiệm định
tính Rivalta đang dùng tại các bệnh viện
3 Nghiên cứu tính đa hình của protein bền nhiệt
trong dịch màng phổi nhằm hướng tới chỉ chị phân tử
protein trong chẩn đoán bệnh
NGUYÊN LIệU Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
Đối tượng nghiên cứu:
Dịch màng phổi được thu từ những bệnh nhân làm
xét nghiệm chọc dò dịch màng phổi mắc các bệnh lao,
ung thư, xơ gan, suy tim đến khám và điều trị tại bệnh
viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội Các mẫu dịch
được lựa chọn theo các tiêu chuẩn chặt chẽ về lâm
sàng (hồ sơ bệnh án) Đối với xét nghiệm định tính,
định lượng mẫu dịch được tiến hành ngay tại khoa Sinh
hoá- Bệnh viện 108 Đối với thí nghiệm điện đi, dịch
màng phổi được chia nhỏ đưa vào các eppendorf, bảo
quản ở -20oC cho đến khi được làm điện di tại Phòng
Hoá sinh protein - Viện công nghệ sinh học (CNSH) …
Viện KH&CN Việt Nam
Nhóm chứng: Dịch huyết thanh thu được từ mẫu
máu người bình thường Máu được thu trong đợt khám
sức khỏe định kỳ tại Bệnh viện Trung ương Quân đội
108, Hà Nội Các mẫu được lựa chọn theo các tiêu
chuẩn chặt chẽ về lâm sàng, có hồ sơ, bệnh án rõ ràng
và có kết luận là mẫu bình thường từ các bác sỹ
chuyên khoa của bệnh viện Máu toàn phần được tiến
hành xử lý thu huyết thanh
Địa điểm nghiên cứu: Khoa Sinh hóa - Trung tâm
kỹ thuật cao - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 và
Phòng Hóa sinh protein -Viện CNSH …Viện KH&CN
Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích định
tính, đinh lượng, so sánh các mẫu độc lập, so sánh với
nhóm chứng
Thu nhận protein bền nhiệt từ hệ protein toàn phần
dịch màng phổi theo phương pháp của Goufman và
cộng sự năm 2006 [8]
Phương pháp xác định sự đa hình protein bằng kỹ
thuật điện di biến tính (PAGE) Kỹ thuật
SDS-PAGE được thực hiện theo LaemLi, 1970 [10]
Thiết bị: Sử dụng các thiết bị hiện đại có tại Khoa
sinh hóa … Bệnh viện Trung ương Quân đội 108,
phòng Hóa sinh protein … Viện Công nghệ Sinh học
như máy sinh hóa tự động OLYM … PUSAU 400, hệ
thống điện đi SDS PAGE…
Hóa chất: Sử dụng các hóa chất tinh sạch của các hãng có uy tín trên thế giới như hãng Meck (Đức), Prolet (Tâybanha), …Các thiết bị, hóa chất được sử dụng trong kỹ thuật SDS-PAGE do hãng Bio-Rad, Mỹ cung cấp
Xử lý số liệu: Sử dụng toán thống kê ứng dụng trong y … sinh học
KếT QUả Và THảO LUậN Kết quả định tính protein trong dịch màng phổi bằng xét nghiệm Rivalta
Bảng 1 Định tính protein trong dịch màng phổi bằng xét nghiệm Rivalta
Kết quả phản ứng Rivalta Mẫu bệnh phẩm lượng Hàm
protein tổng số (g/l)
Số mẫu (+)
% (+)
Số mẫu (-)
% (-) Dịch màng phổi
nhóm 1 (n=33) 7 – 24 0 0 33 100 Dịch màng phổi
nhóm 2 (n=67) 25 – 86 67 100 0 0
Ghi chú: Nhóm 1: Nhóm dịch có hàm lượng protein trong khoảng 7 – 24 g/l; Nhóm 2:: Nhóm dịch có hàm lượng protein trong khoảng 25 – 86 g/l; (+): dương tính; (-): âm tính
Bảng trên cho thấy: Hàm lượng protein tổng số của các bệnh nhân lấy mẫu dịch màng phổi phân tích dao
động trong khoảng 7,0 g/l đến 86 g/l Trong đó, chủ yếu hàm lượng protein nằm trong khoảng 17 g/l đến 29 g/l (chiếm 42%) Các mẫu dịch màng phổi phân tích cho kết quả cả dương tính và âm tính đối với xét nghiệm Rivalta Các mẫu dịch màng phổi có hàm lượng protein tổng số từ 7 g/l đến 24 g/l là 33 mẫu và cả 33 mẫu (chiếm 100%) đều cho kết quả xét nghiệm Rivalta âm tính Các mẫu dịch màng phổi có hàm lượng protein tổng số từ 25 g/l đến 86 g/l là 67 mẫu và cả 67 mẫu (chiếm 100%) đều cho kết quả xét nghiệm Rivalta dương tính
Hàm lượng protein tổng số trong dịch màng phổi của bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 2 Hàm lượng protein trong các mẫu dịch màng phổi nghiên cứu
Mẫu bệnh phẩm Đơn vị Hàm lượng Χ±
SD
ĐC
Χ±SD p/ĐC Dịch màng phổi
chung; (n=100) g/l
38,620
±18,638
76,090
±3,959 <0,05 Rivalta (-); (n=33) g/l 19,303 ±
4,073
76,090
±3,959 <0,05 Rivalta (+); (n=67) g/l ±48,134 15,315 76,090 ± 3,959 <0,05
Ghi chú: ĐC: Huyết thanh người bình thường - đối chiếu (n=100)
Từ bảng trên cho thấy hàm lượng protein tổng số trong dịch màng phổi của các bệnh nhân nghiên cứu tương đối cao Trung bình trong 100 mẫu dịch màng phổi nghiên cứu thì hàm lượng protein tổng số là 38,620 g/l Các mẫu dịch màng phổi cho xét nghiệm Rivalat âm tính có hàm lượng protein tổng số trung bình là 19,303 g/l, các mẫu cho xét nghiệm Rivalta
Trang 3Y học thực hành (857) - số 1/2013 53
dương tính có hàm lượng protein trung bình là 48,134
g/l Hàm lượng protein trong các mẫu dịch màng phổi
dương tính Rivalta cao hơn 2,49 lần so với trong các
mẫu xét nghiệm Rivalta âm tính
Trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy hàm
lượng protein tổng số trong dịch màng phổi của mẫu
bệnh phẩm có kết quả dương tính Rivalta phù hợp so
với các số liệu đã công bố trước đây So với hàm lượng
protein trong dịch màng phổi dương tính Rivalta của
các bệnh nhân lao và ung thư do một số tác giả khác
đã nghiên cứu như Quang Văn Trí (2008)[4], Zay Soe
và Cs(2010) [11] thì hàm lượng protein trong dịch
màng phổi dương tính Rivalta nghiên cứu cao hơn so
với nghiên cứu của Quang Văn Trí (2008) là 46,56 g/l
nhưng thấp hơn của Zay Soe và Cs (2010) là 49,1481
g/l
Khi so sánh hàm lượng protein trong dịch màng
phổi nghiên cứu với hàm lượng protein trong dịch huyết
thanh người bình thường nhận thấy hàm lượng protein
trong huyết thanh cao hơn so với trong dịch màng phổi
Cụ thể cao hơn dịch màng phổi chung 1,97 lần; cao
hơn dịch màng phổi âm tính Rivalta 3,94 lần, cao hơn
dịch màng phổi dương tính Rivalta 1,58 lần Sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê p<0,05
Giới hạn phát hiện của xét nghiệm định lượng
protein tổng số đối với dịch màng phổi được nhận định
từ hai bảng trên (bảng 1 và bảng 2) như sau: Hàm
lượng protein tổng số ≤ 24 g/l cho kết quả phản ứng
Rivalta âm tính Hàm lượng protein tổng số ≥ 25 g/l cho
kết quả phản ứng Rivalta dương tính Đây là kết luận
nhằm bổ trợ cho kết quả của phản ứng Rivalta trong
xét nghiệm lâm sàng
Sự đa hình protein bền nhiệt trong dịch màng
phổi nghiên cứu
Để xác định và đánh giá sự đa hình các protein bền
nhiệt trong dịch màng phổi nghiên cứu chúng tôi tiến
hành thu nhận protein bền nhiệt từ hệ protein toàn
phần dịch màng phổi theo phương pháp của Goufman
và cộng sự năm 2006 [8] rồi kiểm tra bằng điện di biến
tính SDS-PAGE ở nồng độ gel 12,6%, bản điện di được
hiện màu bằng Comassive Blue Brilliant R-250 Kết
quả điện di kiểm tra của các protein dịch màng phổi
được thể hiện trong hình 1
(A) (B)
Hình 1 Điện di protein bền nhiệt dịch màng phổi (A) và huyết
thanh (B)
Đường chạy M: Thang protein marker chuẩn A:
Đường chạy1: dịch màng phổi âm tính Rivalta và hàm lượng protein là 23 g/l; Đường chạy 2,3: dịch màng phổi dương tính Rivalta và hàm lượng protein tương ứng là 46 và 64 g/l B:; Đường chạy1: dịch huyết thanh người bình thường với hàm lượng protein tổng số là 74g/l sau khi xử lý thu protein bền nhiệt
Kết quả điện di protein bền nhiệt theo phương pháp SDS … PAGE cho thấy hệ protein bền nhiệt trong dịch màng phổi rất đa dạng Số lượng băng (vạch) thu được dao động từ 6 đến 8 băng với độ đậm nhạt khác nhau Mẫu dịch màng phổi âm tính Rivalta cho kết quả điện
di xuất hiện 6 băng Các mẫu còn lại có kết quả Rivalta dương tính xuất hiện 8 băng Trong đó mẫu màng phổi dương tính Rivalta thấy đều xuất hiện 2 băng ở kích thước khoảng 102,5 KDa và trên 20,5 KDa nhưng ở mẫu âm tính Rivalta không thấy xuất hiện 2 băng này
Đây có thể là cơ sở cho việc tìm ra những chỉ thị phân
tử protein cho chẩn đoán bệnh
Hệ protein huyết thanh người là một hệ protein tương đối toàn diện, phản ánh khá đầy đủ hệ protein trong dịch của cơ thể Mặt khác, trong y học chẩn đoán huyết thanh thường được sử dụng làm cơ sở so sánh
và chẩn đoán lâm sàng Do vậy chúng tôi tiến hành
điện di phân đoạn protein bền nhiệt trong huyết thanh người bình thường để so sánh với kết quả điện di protein bền nhiệt dịch màng phổi nhằm có những cơ sở
so sánh chẩn đoán khác nhau
Khi so sánh kết quả điện di protein bền nhiệt dịch màng phổi với kết quả điện di protein bền nhiệt huyết thanh người bình thường nhận thấy ở mẫu huyết thanh người bình thường xuất hiện 1 băng khá đậm ở kích thước trên 116,2 kDa, 1 băng ở kích thước 18,4 KDa
mà ở các mẫu dịch màng phổi không thấy xuất hiện ở các mẫu dịch màng phổi xuất hiện 1 băng ở kích thước
16 KDa trong khi không thấy ở mẫu huyết thanh Ngoài
3 băng trên thì ở mẫu huyết thanh xuất hiện các băng tương tự như đối với mẫu dịch màng phổi âm tính với xét nghiệm Rivalta
KếT LUậN
1 Hàm lượng protein tổng số trong 100 mẫu dịch màng phổi của các bệnh nhân trong nghiên cứu này tương đối cao, trung bình hàm lượng protein trong dịch
là 38,620 g/l Giới hạn phát hiện của xét nghiệm định lượng protein tổng số đối với dịch màng phổi được nhận định ban đầu với kết quả là: hàm lượng protein tổng số ≤ 24 g/l cho kết quả phản ứng Rivalta âm tính; hàm lượng protein tổng số ≥ 25 g/l cho kết quả phản ứng Rivalta dương tính
2 Giữa các mẫu dịch màng phổi khác nhau (âm tính Rivalta và dương tính Rivalta, hàm lượng protein trong dịch màng phổi) có sự khác nhau về số lượng, vị trí, độ đậm nhạt của các băng điện di chứng tỏ protein bền nhiệt trong dịch màng phổi biểu hiện tính đa hình cao
Trang 4Y học thực hành (857) - số 1/2013
54
KIếN NGHị
Cần xác định cụ thể từng loại protein trong dịch
màng phổi bằng khối phổ để hướng tới xây dựng cơ sở
dữ liệu hệ protein bền nhiệt trong dịch màng phổi của
các bệnh nhân mắc bệnh gây tràn dịch màng phổi
nhằm giúp chẩn đoán sớm bệnh dựa vào các chỉ thị
phân tử đặc biệt là các protein chỉ thị bệnh
TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Gia Bình, 2010 Quy trình xét nghiệm Khoa
Sinh hóa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội
2 Nguyễn Xuân Bích Huyên, Lê Thượng Thư, Lê
Xuân Hằng, Tôn Thanh Trà, Nguyễn Thị Hồng Anh, Lê
Trần Minh Thư, Võ Tuấn Nam, Đậu Nguyễn Anh Thư,
Phan Thi Danh, 2007 Vai trò lysozyme trong chẩn đoán
tràn dịch màng phổi do lao Tạp chí Thông tin Y Dược,
Chuyên đề Lao và Bệnh phổi, tr 309-31
3 Trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế,
Bệnh viện nhân dân Gia Định, 2007 Giáo trình: Ngoại
khoa lâm sàng
4 Quang văn Trí, 2008 Giá trị của một số xét nghiệm
cận lâm sàng thường quy trong chẩn đoán phân biệt tràn
dịch màng phổi do lao và ung thư Tạp chí nghiên cứu Y
Học TP Hồ Chí Minh, Tập 12, Số 4, tr: 206 … 211
5 Lê Thượng Vũa, Nguyễn Thị Hồng Anh, Lê Trần
Minh Thư, Đậu Nguyễn Anh Thư, Vũ Hoài Nam, Đặng
Ngọc Duy, Đặng Thị Mai Khuê, Lê Hồng Vân, Nguyễn Xuân Bích Huyên, 2010 Giá trị chẩn đoán của định lượng interferon gamma trong tràn dịch màng phổi dịch tiết do lao Tạp chí Hô hấp Pháp-Việt; 01(01): 65 … 69
6 Y Aelony, 2011 U trung mô màng phổi vào năm
2010 Tạp chí Hô hấp Pháp-Việt, 02(01): 55-61
7 Gopi A, Madhavan SU, Sharma SK, Sahn SA,
2007 Diagnosis and Treatment of Tuberculous Pleural Effusion in 2006 Chest, (131): 880-889
8 Goufman E I., Moshkovskii S A., Tikhonova O V., Lokhov P G., Zgoda V G., Serebryakova M V., Toropygin I Y., Vlasova M A., Safarova M R., Makarov
O V., Archakov A I, 2006 Two-dimensional electrophoretic proteome study of serum thermostable fraction from patients with various tumor conditions Biochemistry (Mosc), 71(4), pp 354-360
9 Li X., Dina A., Fred R, 2003 Comparative Proteomics of Glycoproteins Based on Lectin Selection and Isotope Coding Journal of Proteome Research,2,
pp 618-625
10 Laemmli U K, 1970 Cleavage of structural proteins during the assembly of the head of bacteriophage T4 Nature, 227, pp 680-685
11 Zay Soe, Wunna Hla Shwe, Soe Moe, 2010 A Study on Tuberculous Pleural Effusion International Journal of Collaborative Research on Internal Medicine
& Public Health, Vol 2 No 3, pp 32-48
ở BệNH NHÂN SốT DENGUE
Vũ Xuân Nghĩa, Vũ Thế Hùng Học viện Quân y
Tóm tắt
Nồng độ TNF-α và một số biểu hiện lâm sàng, cận
lâm sàng được nghiên cứu trên 74 bệnh nhân sốt
dengue và 30 người khỏe mạnh bình thường Biểu hiện
của cytokine tiền viêm được định lượng trong huyết
tương của bệnh nhân sốt dengue theo phương pháp
ELISA Kết quả cho thấy, Nồng độ của TNF-α tăng
cao rõ rệt ở thời điểm 5-7 ngày so với thời điểm 1-4
ngày với p<0,05 Nồng độ TNF-α tăng cao rõ nhất ở
nhóm sốt cao (>390C) so với nhóm sốt vừa (38-390C),
thấp nhất ở nhóm sốt nhẹ (<380C) với p<0,05 Nồng độ
của TNF-α tăng cao rõ rệt ở nhóm có nghiệm pháp
dây thắt (+) so với nhóm có xuất huyết tự nhiên với
p<0,05 TNF-α ở nhóm có tiểu cầu giảm nặng và nhóm
có tiểu cầu giảm vừa tăng cao rõ rệt so với nhóm có
tiểu cầu giảm nhẹ với p<0,05 Bởi vậy, TNF-α sẽ là
dấu hiệu sinh học quan trọng trong theo dõi, chẩn
đoán, điều trị và tiên lượng bệnh nhân sốt dengue
Từ khóa: Dengue virus, Cytokine, TNF-α
summary
The concentration of TNF-α and subclinical and
clinical manifestations were investigated in 74 cases of
dengue fever (DF) and 30 normal persons as a
negative control by ELISA assay Results showed that
the concentrations of TNF-α significantly increased at
the time of 5-7 days compared to 1-4 days with p
<0.05 Clearly increased levels of TNF-α in the group
of high fever (> 39C) than just fever group (38-39C), the lowest in the group of low-grade fever (<38C) with
p <0.05 The concentration of TNF-α significantly increased in the group with belt testing (+) compared with the natural bleeding with p <0.05 TNF-α in group have seriously decreased platelet and platelet decrease both sharply higher than group platelet mitigated with p <0.05 Thus, TNF-α is an important biological signal monitoring, diagnosis, treatment and prognosis of patients with dengue fever
Keywords: Dengue virus, Cytokine, TNF-α
ĐặT VấN Đề Vai trò của TNF-α trong sốt xuất huyết DEN đã
được nhiều nghiên cứu công bố Đặc biệt, TNF-α được chứng minh là làm tổn thương tế bào nội mô mạch máu gây tăng tính thấm thành mạch, gây thoát huyết tương làm cô đặc máu Cơ chế này đóng vai trò chủ đạo trong sốc sốt xuất huyết DENV Việc theo dõi chặt chẽ TNF-α đã được khuyến cáo trong tiến triển lâm sàng của bệnh từ sốt xuất huyết Dengue sang sốc xuất huyết Dengue Bởi vậy, TNF-α là một dấu ấn sinh học quan trọng trong cơ chế bệnh sinh sốt dengue Để