Khảo sát các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát.. Tìm hiểu thái độ và sự hiểu biết của bệnh nhân về bệnh THA và về chế độ ăn trong tăng huyết áp có tăng lipid máu.. Khả
Trang 1Y học thực hành (859) - số 2/2013
22
NGHIÊN CứU MộT Số YếU Tố NGUY CƠ, Sự HIểU BIếT Về BệNH
Và Về CHế Độ ĂN ở BệNH NHÂN TĂNG HUYếT áP NGUYÊN PHáT
lê đức hạnh, Phạm đình thọ,
Đỗ Thúy Ngọc, Bùi Văn tân Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 TóM TắT
Mục đích nghiên cứu:
1 Khảo sát các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng
huyết áp nguyên phát
2 Tìm hiểu thái độ và sự hiểu biết của bệnh nhân
về bệnh THA và về chế độ ăn trong tăng huyết áp có
tăng lipid máu
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Nhóm 115 bệnh nhân tăng huyết áp tình nguyện
tham gia nghiên cứu với 58 nam và 57 nữ, được
khám bệnh và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung
ương Quân đội 108 từ tháng 6 năm 2012 đến tháng
10 năm 2012
* Tiêu chuẩn lựa chọn:
- THA nguyên phát được chẩn đoán theo tiêu
chuẩn của WHO/ISH – 2003
* Tiêu chuẩn loại trừ:
- THA thứ phát: suy thận, hẹp động mạch thận, u
não, u tuỷ thượng thận
* Phương pháp nghiên cứu:
- Tiến cứu, mô tả cắt ngang
Kết quả nghiên cứu
Những yếu tố nguy cơ chính của tăng huyết áp thể
hiện với tuổi cao > 60 chiếm 57,39%; rối loạn lipid máu
88,69%; có tiền sử gia đình THA 42,61%, đái tháo
đường 33,91% và ăn mặn là 21,74%, không có sự
khác biệt giữa nam và nữ
Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị tăng huyết áp
là 33,04%, biết nhưng không điều trị 33,04%, điều trị
và kiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74%
Tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về chế độ ăn thấp hơn so
với không hiểu biết về chế độ ăn (38,2% so với 61,8%,
p < 0,01) Bệnh nhân tăng huyết áp là nữ giới có tỷ lệ
ăn nhạt, hạn chế mỡ, giảm cân cao hơn nam (lần lượt
là 25,2; 55,6; 42,0% so với 20,6; 37,9; 22,4% với p <
0,05-0,01) Tỷ lệ thầy thuốc có tư vấn cho bệnh nhân
tăng cao với 62,6%, tỷ lệ bệnh nhân tự tìm hiểu chế độ
ăn uống, sinh hoạt qua đọc tài liệu còn thấp với 35,6%
Kết luận: Tuổi, tăng lipid máu, ăn mặn, tiền sử gia
đình là yếu tố nguy cơ chính của THA Tỷ lệ hiểu biết
về chế độ ăn còn thấp, nữ giới có ý thức hơn nam về
chế độ sinh hoạt
Từ khóa: Tăng huyết áp, yếu tố nguy cơ tăng huyết
áp
SUMMARY
Objectives
1 Investigation of risk factors in patients with
primary hypertension
2 Understanding attitudes and understanding of
patients about hypertension and diet of hypertension
with hyperlipidemia
Patients 115 hypertensive outpatients treatment are volunteers to participate in research, including 58 men and 57 women, treatment at the Central Military Hospital 108 from June 2012 to October 2012
Methods Observational prospective study
Results
The main risk factors of hypertension express with age > 60 with 57.39%; dyslipidemia 88.69%; have a family history of hypertension with 42.61%; diabetes with 33.91% and salty the food habits is 21.74%, with
no difference between men and women
The percentage of patients do not know they have high blood pressure is 33.04%, they were know but do not treatment with 33.04%; treatment and control of blood pressure goals is only 21.74%
The rate of patient understanding about diet less than no understanding of the diet (38.2% vs 61.8%, p<0.01) Hypertensive patients were female use feed rate with limit fat, limit salt (diet), walking for lose weight more than with men (respectively 25.2; 55.6; 42.0% compared with 20.6; 37.9; 22.4% with p<0.05 to 0.01).Percentage of physicians advise patients up to 62.6%, the proportion of patients self-learn diet, living through reading below 35.6%
Conclusion: age, hyperlipidemia, eat too salty, family history are major risks factor of hypertension Rate understanding of the diet is low in, conscious women than men on the mode of living
Keywords: Hypertension, hyperlipidemia; diet for hypertension, hyperlipidemia
ĐặT VấN Đề Tăng huyết áp (THA) nguyên phát là bệnh hay gặp nhất trong số các bệnh tim mạch Tỷ lệ mắc THA có xu hướng tăng dần theo tuổi đặc biệt trong điều kiện hiện nay khi tuổi thọ trung bình ngày càng cao Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cho biết tỷ lệ THA trên thế giới năm
2000 là 26,4%, tương đương với 972 triệu người, riêng các nước đang phát triển chiếm 639 triệu người và dự kiến tỷ lệ THA sẽ tăng lên 29,2% vào năm 2025, tương
đương với 1,56 tỷ người [7,8] Tại Việt Nam, kết quả
điều tra dịch tễ học cũng cho thấy số bệnh nhân THA
đang gia tăng nhanh chóng [2,5] Nếu như năm 1960, theo Đặng Văn Chung, tỷ lệ mắc THA ở nước ta mới khoảng 1%, thì đến năm 1992, theo kết quả điều tra của Trần Đỗ Trinh là 11,7% [5] Năm 1999 theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải tại Hà Nội, tỷ lệ THA ở người trên 16 tuổi là 16,09%, đến năm 2002, cũng theo Phạm Gia Khải và cs thì tỷ lệ THA ở người trên 25 tuổi
ở Việt Nam lên tới 23,2% [2]
Chúng tôi nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:
Trang 2Y học thực hành (859) - số 2/2013 23
1 Khảo sát các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng
huyết áp nguyên phát điều trị ngoại trú tại khoa khám
bệnh - Bệnh viện Trung ương Quân đội 108
2 Tìm hiểu thái độ và hiểu biết của bệnh nhân về
bệnh THA và về chế độ ăn trong bệnh tăng huyết áp
có tăng lipid máu
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
115 bệnh nhân có tăng huyết áp tình nguyện tham
gia nghiên cứu, trong đó gồm 58 nam và 57 nữ, được
khám bệnh và điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Trung
ương Quân đội 108 từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 10
năm 2012
* Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bệnh nhân THA nguyên phát được chẩn đoán
theo tiêu chuẩn của WHO/ISH – 2003 [7,8]
- Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu
* Tiêu chuẩn loại trừ
- THA thứ phát: suy thận, hẹp động mạch thận, u
não, u tuỷ thượng thận
Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt
ngang
* Những chỉ tiêu nghiên cứu chung cho cả hai
nhóm:
- Khám xét lâm sàng, cận lâm sàng thường quy,
điện tim, chụp X - quang tim phổi
- Đo chiều cao, cân nặng: Tính chỉ số khối cơ thể
(Body Mass Index: BMI) theo công thức: BMI = trọng
lượng cơ thể (kg) / [chiều cao(m)]2, theo tiêu chuẩn của
WHO áp dụng cho khu vực châu á Thái Bình Dương
(2000) và bảng phân tích điều tra y tế quốc gia 2001
-2002 (Việt Nam) [2,5]: BMI: không tăng khi ≤ 23
VB: Nam > 90, Nữ > 80 là tăng
VB/VM: Nam > 0,9, Nữ > 0,85 là tăng
Xét nghiệm sinh hoá: Mẫu xét nghiệm máu sinh
hoá là máu tĩnh mạch buổi sáng, lúc đói (ít nhất 12 giờ
sau ăn), thực hiện trên máy Olympus AU 800 Giá trị
bình thường dựa vào hằng số sinh hoá người Việt Nam
trưởng thành [TDT 6]
Cholesterol TP (CHO): phương pháp CHOD-PAP
Triglyceride (TG): phương pháp GPO-PAP
HDL-Cho (HDL-C): phương pháp Homogeneous
Enzymatic Colorimetric
Tính tỷ số TC/HDL - C, bình thường < 4,45 nếu ≥
4,5 là rối loạn
Tính tỷ số LDL/HDL - C, bình thường < 2,23, nếu ≥
2,3 là rối loạn
* Số liệu nghiên cứu được xử lý theo phương
pháp thống kê Y học bằng chương trình phần mềm
SPSS 16.0
KếT QUả NGHIÊN CứU Và BàN LUậN
Bảng 1 Phân bố nhóm nghiên cứu theo tuổi, giới
Chỉ tiêu Số lượng (n=115) Tỷ lệ (%)
< 40 9 7,82
40 - 60 40 34,78
Tuổi
(năm) > 60 66 57,40
Giới
Theo các nghiên cứu dịch tễ ở Việt Nam cũng như trên thế giới, tỷ lệ THA tăng nhanh theo tuổi, tuổi càng cao, tỷ lệ THA càng cao Nghiên cứu của Phạm Gia Khải năm 2000 cho thấy ở lứa tuổi 16 - 24 tỷ lệ THA trong cộng đồng là 2,78% đến tuổi 35 – 44: 11,88%, từ
55 – 64 tuổi: 38,21%; 65 – 74 tuổi: 46,99% và ở lứa tuổi cao trên 75 tỷ lệ THA là 65,46% [2]
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi của nhóm THA trung bình là 55,7 ± 7,6 Tuổi trên 60 chiếm hơn một nửa (57,4%), tuổi dưới 40 chiếm 7,82 Như vậy tỷ lệ THA chủ yếu ở người có độ tuổi trung bình trở lên, nghiên cứu này của chúng tôi cũng phù hợp với các kết luận của nhiều tác giả
Về giới tính, nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nam, nữ tương đương ở nhóm THA (50,4% và 49,6%) Các nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt giữa tỷ lệ mắc huyết áp giữa nam và nữ Tỷ lệ bệnh nhân THA
ở cộng đồng theo Phạm Gia Khải [2] và Trần Đỗ Trinh [5] thì nam cao hơn nữ Tỷ lệ THA theo giới khác nhau ở các nghiên cứu đã được công bố có thể
do độ tuổi chọn mẫu
Bảng 2 Một số yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp
Nhóm tăng huyết áp (n = 115) Chỉ tiêu
Số bệnh nhân Tỷ lệ % Yếu tố nguy cơ:
Tuổi ≥ 60 66 57,39 Rối loạn lipid máu 102 88,69 Béo phì (BMI > 23) 20 17,39 Nam > 0,95 12 20,69 VB/VM
Nữ > 0,85 14 24,56
Đái tháo đường 39 33,91 Hút thuốc 13 11,30
Uống rượu thường xuyên 18 15,6
Tiền sử gia đình có THA 49 42,61
Một số yếu tố nguy cơ trong nhóm nghiên cứu thể hiện là hút thuốc 11,3%, uống rượu thường xuyên 15,6,
ĐTĐ 12,1% và rối loạn lipid có tỷ lệ rất cao với 88,69% Một số yếu tố nguy cơ khác như béo phì (BMI > 23 là 17,39, đái tháo đường mắc tỷ lệ khá cao 33,9%, ăn mặn 21,7%, tiền sử gia đình tăng huyết áp lên đến 42,61% Theo nghiên cứu của Tô Văn Hải và cs [1] cho thấy tăng cholesterol và triglycerit máu có tỷ lệ 40%, tiếp theo là hút thuốc lá, uống rượu ở nam lần lượt là 55,9% và 52,9% trong khi ở nữ thấp hơn nhiều
Ăn mặn (so với mọi người) có tỷ lệ chung là 13%, ĐTĐ
ở nữ 25,5% và nam là 18% Nghiên cứu của Phạm Gia Khải thấy rối loạn chuyển hoá đường ở THA khoảng 11%, thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi [2] Nghiên cứu của Bùi Văn Tân 2010 cho kết quả hút thuốc 11,6%, uống rượu thường xuyên 14,1, ĐTĐ 12,1% và rối loạn lipid có tỷ lệ 72,9% [6] Một số yếu tố nguy cơ khác như béo phì (BMI > 23 - 25) gặp không đáng kể [3], tỷ lệ tăng lipid máu tương đương với chúng tôi Bảng 3 Hiểu biết và điều trị tăng huyết áp
Nhóm tăng huyết áp (n=115) Chỉ tiêu Số lượng Tỷ lệ % Không biết bị THA 38 33,04 Biết, không điều trị 14 12,04
Trang 3Y học thực hành (859) - số 2/2013
24
Điều trị nhưng không kiểm soát
được huyết áp 38 33,04
Kiểm soát được huyết áp
(<140/90 mmHg) 25 21,74
Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị tăng huyết áp
rất cao (33,04%), nhưng tỷ lệ những người biết và điều
trị nhưng không kiểm soát được huyết áp cũng cao
(33,04%), biết nhưng không điều trị là 12,4% Chỉ có
một tỷ lệ nhỏ bệnh nhân THA được điều trị thường
xuyên, hiệu quả, kiểm soát huyết áp tốt ở mức huyết
áp < 140/90 mmHg với 21,7% Nghiên cứu của Phạm
Gia Khải năm 2000 [2], cho thấy tỷ lệ nhận biết và thái
độ điều trị THA rất thấp, tỷ lệ biết THA chỉ 21,3%, có
điều trị 27,09%, không điều trị 72.9%, điều trị không
kiểm soát được huyết áp là 80%, điều trị thường xuyên
chỉ có 19%, nhưng không rõ có kiểm soát được huyết
áp hay không Nghiên cứu của Bùi Văn Tân 2010 bệnh
nhân không biết mình bị THA là 15,57%, biết bị THA
nhưng không điều trị gì là 21,6%, biết bị THA nhưng
điều trị không thường xuyên, thất thường, không kiểm
soát được huyết áp chiếm đa số là 50,27% và kiểm
soát huyết áp tốt ở mức huyết áp < 140/90 mmHg chỉ
có 12,56% [6] Tỷ lệ biết, có điều trị THA của chúng tôi
cao hơn tỷ lệ của tác giả có thể do những người đến
bệnh viện thường đã biết bị THA
Bảng 4 Sự hiểu biết áp dụng về chế độ ăn uống
sinh hoạt ở bệnh nhân tăng huyết áp có rối loạn lipid
máu
Tăng huyết áp có rối loạn lipid máu Chỉ tiêu Chung (n=102) Nam (n=49) Nữ(n=57) p
Ăn nhạt (n %) 29(25,2) 12(20,6) 17(29,8) <0,05
Đi bộ (n %) 78(67,8) 37(63,7) 41(70,9) >0,05
Tăng rau, hoa
quả (n %) 84(73,0) 39(67,2) 45(78,9) >0,05
Hạn chế mỡ
động vật (n %) 64(55,6) 22(37,9) 42(73,6) <0,001
Giảm cân (n %) 49(42,60) 13(22,4) 36(63,15) <0,001
Ngưng hút
thuốc (n %) 5(4,3) 5(8,6) 0 0
Hạn chế rượu
(n %) 15(13,04) 15(25,8) 0 0
Tỷ lệ bệnh nhân ăn nhạt ở mức rất thấp 25,2%
trong đó nam 20,6% và nữ 29,8%, so sánh hai nhóm
có sự khác biệt với p < 0,05 Tập luyện bằng đi bộ
hàng ngày và chế độ ăn tăng rau, hoa quả có tỷ lệ
khá cao 73,0 và 55,6%, không có sự khác biệt giữa
nam và nữ Vấn đề hạn chế mỡ động vật và ý thức
giảm cân ở giới nữ hơn nam rất nhiều Nghiên cứu
của chúng tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của Tô
Văn Hải 2002 ở cộng đồng, bệnh nhân tăng huyết áp
có sự khác biệt giữa hai giới về chế độ sinh hoạt, ăn
kiêng và ăn nhạt [1]
Bảng 5 So sánh tỷ lệ được tư vấn về chế độ ăn
Nhóm tăng huyết áp (n = 115) Chỉ tiêu
Nam (n %) Nữ (n %) Chung (n %)
Có biết 20 (34,5) 24(42,1) 44(38,2)
Hiểu biết
chế độ
ăn Không biết 38(65,5) 33(57,9) 71(61,8)
p <0,001 <0,01 <0,01
Tư vấn Có 35(60,3) 37(64,9) 72 (62,6)
bởi thầy thuốc Không 23(39,7) 20 (35,1) 43(36,5)
p < 0,001 < 0,001 < 0,001
Có 19(32,7) 22(38,5) 41(35,6)
Tự đọc tài liệu Không 39 (67,3) 35 (61,5) 74(64,3)
p <0,001 <0,001 < 0,001
Tỷ lệ hiểu biết về chế độ ăn rất thấp 61,8% trong
đó 38,2% là không biết và cũng không được nghe nói bao giờ, so sánh tỷ lệ có và không biết khác biệt có ý nghĩa thống kê Tỷ lệ bệnh nhân được tư vấn của thầy thuốc chiếm tỷ lệ cao Sự tự tiếp nhận thông tin về sức khỏe của bệnh nhân, kiến thức về bệnh qua đọc tài liệu của bệnh nhân rất thấp (64,3% số bệnh nhân không đọc tài liệu, không tự tìm hiểu), như vậy vai trò thầy thuốc và nhất là các điều dưỡng viên cần được tăng cường
KếT LUậN Qua nghiên cứu 115 bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh – Bệnh viện Trung ương Quân đội
108, chúng tôi thấy:
1 Một số yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát
- Những yếu tố nguy cơ chính của tăng huyết áp lần lượt là: tuổi cao > 60 chiếm 57,39%; rối loạn lipid máu 88,69%; tiền sử gia đình 42,61%, đái tháo đường 33,91% và ăn mặn là 21,74%, không có sự khác biệt giữa nam và nữ
2 Thái độ và hiểu biết về bệnh, chế độ ăn của bệnh nhân
- Tỷ lệ bệnh nhân không biết mình bị tăng huyết
áp chiếm tỷ lệ cao (33,04%) nhưng tỷ lệ những người biết mà không điều trị cũng chiếm tỷ lệ cao (33,04%)
Tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát được huyết áp mục tiêu chỉ đạt 21,74%
- Tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về chế độ ăn thấp hơn
so với không hiểu biết về chế độ ăn (38,2% so với 61,8%, p< 0,01) Bệnh nhân tăng huyết áp là nữ giới
có tỷ lệ ăn nhạt, hạn chế mỡ, giảm cân cao hơn nam (lần lượt là 25,2; 55,6; 42,0% so với 20,6; 37,9; 22,4% với p < 0,05-0,001) Tỷ lệ thầy thuốc có tư vấn cho bệnh nhân tăng cao tới 62,6%, tỷ lệ bệnh nhân tự tìm hiểu chế độ ăn uống, sinh hoạt qua đọc tài liệu còn thấp 35,6%
TàI LIệU THAM KHảO
1 Tô Văn Hải và cs (2002), Các yếu tố nguy cơ ở
ng-ười bệnh THA vô căn tại khoa tim mạch bệnh viện Thanh Nhàn, Kỷ yếu toàn văn các đề tài NCKH, đại hội tim mạch toàn quốc 2002, tr 112 – 18
2 Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và cs (2003), Tần suất THA và các yếu tố nguy cơ ở các tỉnh miền bắc Việt Nam năm 2001- 2002, Tạp chí tim mạch học Việt Nam, tr 9 - 34
3 Bùi Đức Long (2007), Nghiên cứu tỷ lệ và các yếu
tố nguy cơ của tăng huyết áp tại tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sỹ y học, Học viện Quân Y 2007
4 Huỳnh Văn Minh và cs (2000), Rối loạn Lipit máu ở bệnh nhân THA tiên phát, Kỷ yếu toàn văn các đề tài nghiên cứu khoa học, đại hội tim mạch toàn quốc 2000, tr
248 - 57
Trang 4Y học thực hành (859) - số 2/2013 25
5 Trần Đỗ Trinh (1992), Tóm tắt báo cáo tổng kết
công trình điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp ở Việt
Nam, Y học Việt Nam, số 2, tập 162, tr 12 - 14
6 Bùi Văn Tân (2010), nghiên cứu sự biến đổi sức
căng cơ tim ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát bằng
siêu âm sức căng cơ tim, luận án tiến sỹ y học
7 Bryan W., Neil R.P., Morris J Brown et al (2004),
“British hypertension society guidelines for hypertension management 2004 (BHS-IV): summary”
8 Bradley M., Hughes T., Nader Moinfar (2007),
“Hypertension” EMedicine, Jan 4
Đánh giá thực trạng sử dụng và biện pháp phòng vệ của người nông dân
đối với hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Vĩnh Long, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Trần Thị Kiệm - Bệnh viện Bạch Mai Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá mức độ sử dụng và biện pháp
phòng vệ của người dân sử dụng hóa chất bảo vệ
thực vật (HCBVTV) của xã Vĩnh Long, huyện Vĩnh
Lộc, tỉnh Thanh Hóa năm 2011
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có can
thiệp so sánh trước sau có đối chứng
Kết quả và bàn luận: Gồm 612 người trực tiếp tiếp
xúc, sử dụng, bảo quản HCBVTV tại 2 xã Vĩnh Quang
và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa Tuổi
từ 20-49 chiếm tỷ lệ 78,6% ở xã Vĩnh Long và 78,1%
ở xã Vĩnh Quang Về giới tính: ở xã Vĩnh Long có tỷ lệ
nữ là 60,6% và nam là 39,4%; ở xã Vĩnh Quang nữ có
tỷ lệ 54% và nam 46% Về trình độ văn hóa: Tiểu học,
trung học cơ sở (xã Vĩnh Long: 88,3%; xã Vĩnh
Quang: 86,3%), tỷ lệ nhỏ mù chữ (Vĩnh Long: 2,2%,
Vĩnh Quang: 0,7%), trình độ phổ thông trung học
(Vĩnh Long: 9,5%, Vĩnh Quang: 13% Lượng HCBVTV
bình quân trên 1 hecta được sử dụng mỗi năm: ở xã
Vĩnh Long sử dụng hóa chất trừ sâu từ
1,8-2,2kg/ha/năm, hóa chất hữu cơ từ 1,35-2,3 lít/ha/năm;
ở xã Vĩnh Quang sử dụng hóa chất trừ sâu từ
1,6-2,1kg/ha/năm, hóa chất hữu cơ từ 0,58-0,6 lít/ha/năm
Tỷ lệ các loại phương tiện bảo hộ lao động được sử
dụng (%): khẩu trang 100%, mũ nón 71,3%, mang
theo găng tay 22,3%, đeo kính mắt (Vĩnh Long: 7,1%,
Vĩnh Quang: 8,2%) Những người có dấu hiệu và triệu
chứng ngứa da, đau đầu, mệt mỏi, buồn nôn sau khi
phun HCBVTV: ở Vĩnh Long là 84,2% và ở Vĩnh
Quang là 86%) Những người phun HCBVTV vào thời
điểm từ 10-14 giờ, phun không theo chiều gió, dùng ít
phương tiện bảo hộ lao động gặp phải các dấu hiệu,
triệu chứng sau phun thuốc có tỷ lệ cao Cách xử trí
của họ khi gặp các dấu hiệu và triệu chứng trên là
tắm rửa, uống nước chanh đường; số người phải cấp
cứu: 1% ở Vĩnh Long, 0,6% ở Vĩnh Quang Kết luận:
Người sử dụng HCBVTV tỷ lệ cao có tuổi từ 20-49
tuổi; lượng thuốc dùng ở 2 xã tương đương từ
1,1-2,3lít/ha/năm; phương tiện BHLĐ chủ yếu là khẩu
trang và mũ nón (92,3% và 94,3%); tỷ lệ người đeo
kính mắt thấp (7,2% và 8,1%); tỷ lệ người có triệu
chứng dị ứng, nhiễm độc cao (ngứa: 66-68%), mệt
mỏi (50-50,6%) Cách xử trí của họ khi gặp các dấu
hiệu, triệu chứng: tắm rửa, uống nước chanh đường;
số người phun HCBVTV phải cấp cứu: Vĩnh Long
1%), Vĩnh Quang 0,6%
Summary Objectives: To assess the popular level of using and protecting people from chemical for plant protection in Vinh Long village, Vinh Loc district, Thanh Hoa province in year 2011
Study methods: Slide description with and without intervention and comparison before and after Result and discussion: 612 people directly used, touched, reserved the chemical plant protection in Vinh Long village and Vinh Quang village, Vinh Loc district, Thanh Hoa province Age: 20~49: 78,6% at Vinh Long and 78,1% at Vinh Quang The rate of sex: Vinh Long (female: 60.6%, male: 39.4%), Vinh Quang (female 54%, male 46%) Education level: Primary & Secondary: Vinh Long 88,3%, Vinh Quang 86,3%; High school: Vinh Long 9.5%, Vinh Quang 13% Average dose of chemical plant protection is used per
hm per year: Vinh Long (pesticides: 1,8~2,2 kg/hm/year), organic chemical: 1.53~2.3 l/hm/year; Vinh Quang (pesticides: 1.6~2.1kg/hm/year), organic chemical: 0.58~0.6 l/hm/year The rate of means of labour protection is used (%): facemask 100%; helmet 71.3%; gloves 22.3%; glasses: Vinh Long 7.1% & Vinh Quang 8.2% 84.2% people in Vinh Long and 86% people in Vinh Quang has symptoms (headache, itchy, tired, nausea) after spraying chemical plant protection; spray from 10h-14h PM, not following with the wind, rarely use means of labour protection What to do when you meet the symptoms: wash body, drink sugar lemonade 1% people in Vinh Long and 0.6% people in Vinh Quang have to go to hospital Conclusion: The rate of people using chemical plant protection from 20~49 years old, dose of chemical plant protection from 1.1~2.3 l/hm/year The main means of labour protection is facemask and helmet (92,3%&94,3%) The propotrion
of people wearing glasses is very low (7.2&8.1%) The proportion of people has symptoms or poisoned
is high (nausea:66~68%, tired: 50~50.6%)
Đặt vấn đề Hóa chất bảo vệ thực vật là danh từ chung để chỉ một chất hoặc hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng hoặc tiêu diệt, kiểm soát các sâu bệnh gây hại, kể cả vector gây bệnh cho người và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, bảo quản, lưu trữ, xuất khẩu, tiếp thị lương thực, sản phẩm nông nghiệp, gỗ và các sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng ở trong hoặc ngoài cơ thể