Kết quả nghiên cứu cho thấy một số yếu tố lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng nặng là: Bệnh nhân trong độ tuổi trên 60; thời gian lan bệnh dưới 24 giờ; uốn ván sau can thiệp ngoại khoa; bệnh
Trang 1Y học thực hành (857) - số 1/2013
88
TìM HIểU MộT Số YếU Tố LÂM SàNG Có ý NGHĩA TIÊN LƯợNG NặNG
ở BệNH NHÂN UốN VáN
Đỗ Tuấn Anh và CS - Học viện Quân y
Tóm tắt
Nghiên cứu 122 bệnh nhân uốn ván điều trị tại
Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương từ tháng
01/2010 đến tháng 07/2011 theo phương pháp hồi cứu,
so sánh giữa hai nhóm bệnh nhân khỏi và nhóm bệnh
nhân tử vong hoặc xin về Kết quả nghiên cứu cho thấy
một số yếu tố lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng nặng là:
Bệnh nhân trong độ tuổi trên 60; thời gian lan bệnh
dưới 24 giờ; uốn ván sau can thiệp ngoại khoa; bệnh
nhân có sốt cao; tần số mạch luôn cao trên 120
lần/phút; bệnh nhân có can thiệp mở khí quản và thở
máy
Từ khóa: Yếu tố tiên lượng bệnh uốn ván
SUMMARY
Study on 122 patients with tetanus treated at
Central Hospital for Tropical Diseases from 01/2010 to
07/2011 by retrospective research, and we divided
them into two groups (recovery and death) to compare,
the result showed some significant clinical factors for
severe prognostic on patients with tetanus were age >
60 years, period of onset < 24 hours, tetanus after
operation, high fever, heart rate >120 bpm and
tracheostomy with mechanical ventilation
Keywords: Tetanus, factor, prognostic
ĐặT VấN Đề
Uốn ván là một bệnh truyền nhiễm cấp tính gây lên
bởi trực khuẩn Clostridium tetani với ngoại độc tố
hướng thần kinh của nó Tỷ lệ tử vong còn cao, đặc
biệt trong uốn ván rốn ở trẻ sơ sinh, uốn ván ở người
già, uốn ván sản khoa, uốn ván có thời gian ủ bệnh và
khởi phát ngắn Tỷ lệ tử vong của bệnh uốn ván phụ
thuộc vào từng nước khác nhau, ở các nước tiên tiến tỷ
lệ này < 10%, ở các nước nghèo tỉ lệ tử vong có thể lên
tới 30 - 60 %
Nước ta tỷ lệ mắc bệnh chung trong cả nước là
1,87/100.000 dân/năm, tỷ lệ tử vong chung cho cả
nước là 0,24/100.000 dân/năm Trong điều trị uốn ván
việc đánh giá đúng tiên lượng bệnh có ý nghĩa rất quan
trọng, năm 1975 Hội nghị Quốc tế về bệnh uốn ván lần
thứ IV tổ chức tại Darka-Senegal, Vakil B.J đã đưa ra
tiêu chuẩn tiên lượng bệnh uốn ván gồm 6 chỉ tiêu với
mức điểm từ 0 - 6 điểm và đã được Hội nghị thống
nhất Tuy nhiên, trong quá trình thực hành chẩn đoán
và điều trị, các yếu tố tiên lượng trên không phản ánh
được hết diễn biến của bệnh theo thời gian Để nâng
cao kiến thức về dự phòng, chẩn đoán, tiên lượng và
điều trị bệnh uốn ván hiện nay vẫn là vấn đề thời sự
trong cộng đồng và các cơ sở y tế
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu: Tìm hiểu một số yếu
tố lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng nặng ở bệnh nhân uốn ván
ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU
1 Đối tượng nghiên cứu
Tất cả các bệnh nhân được chẩn đoán là uốn ván toàn thể, điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung
ương trong thời gian từ 01/2010 đến 07/2011
- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân + Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh uốn ván:
Theo “Bệnh học Truyền nhiễm“ của Học viện Quân y (2009), tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh uốn ván
điển hình bao gồm các triệu chứng sau:
Có vết thương nghi ngờ là đường vào (nếu có) Khởi bệnh đầu tiên là cứng hàm sau đó co cứng cơ theo thứ tự: mặt “ thân mình “ tứ chi
Cơn giật cứng trên nền các cơ co cứng thường xuyên
+ Tiêu chuẩn phân loại mức độ bệnh:
Bệnh uốn ván chia làm 3 mức độ vừa, nặng và rất nặng Theo Bệnh học truyền nhiễm (Học viện Quân Y - 2009)
- Tiêu chuẩn loại trừ Các bệnh nhân không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán uốn ván
Chúng tôi không đưa vào nghiên cứu các bệnh uốn ván sơ sinh, uốn ván cục bộ, uốn ván ở phụ nữ có thai Các bệnh nhân uốn ván có bệnh tim, gan, thận, bệnh mạn tính kèm theo
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả hồi cứu trên các bệnh nhân có
đủ tiêu chuẩn nêu trên Để nghiên cứu một số yếu tố
có ý nghĩa tiên lượng, bệnh nhân được chia thành hai nhóm:
- Nhóm 1: Bệnh nhân uốn ván điều trị khỏi
- Nhóm 2: Bệnh nhân uốn ván tử vong hoặc nặng xin về
3 Quy trình thu thập số liệu
- Tập hợp tất cả các bệnh án của bệnh nhân đến
điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong khoảng thời gian nghiên cứu và đủ các tiêu chuẩn lựa chọn như trên
- Điền các thông tin từ hồ sơ bệnh án vào phiếu nghiên cứu
4 Phương pháp xử lý số liệu
- Phân tích đánh giá tiên lượng: các đặc điểm về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và dịch tễ được tính toán so sánh giữa nhóm bệnh nhân sống sau khi
Trang 2Y học thực hành (857) - số 1/2013 89
điều trị và nhóm bệnh nhân tử vong hoặc nặng xin về
Những đặc điểm có liên quan với tình trạng tử vong
hoặc nặng xin về sẽ được đưa vào tính toán trong mô
hình hồi quy đa biến để xác định yếu tố có ý nghĩa tiên
lượng
- Số liệu được xử lý theo phương pháp toán thống
kê y học, theo chương trình EpiInfo 2005
KếT QUả Và BàN LUậN
Bảng 1: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với tuổi trung bình
Nhóm
Tuổi Khỏi n=110
Tử vong hoặc xin về n=12 p
X ± SD 48,4 ± 17,9 67,5 ± 16,6 <0.0001
Nhận xét: Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân
tử vong hay xin về cao hơn có ý nghĩa thống kê so với
nhóm khỏi (p < 0,0001)
Bảng 2: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với tuổi
Sống
Tử vong hoặc Xin về Tổng Nhóm
Tuổi
n % n % n %
p
≤ 60 tuổi 83 95,4 4 4,6 87 100,0
> 60 tuổi 27 77,1 8 22,9 35 100,0 p<0.01
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Bệnh nhân tử vong hoặc bệnh nặng xin
về có liên quan chặt chẽ với tuổi, đặc biệt những
trường hợp trên 60 tuổi sẽ có tiên lượng nặng và nguy
cơ tử vong cao hơn so với những trường hợp ≤ có ý
nghĩa thống kê với p <0,01
Bảng 3: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với giới tính
Sống Tử vong,
Xin về Tổng
Nhóm
Giới
tính n % n % n %
p Nam 81 73,6 7 58,3 88 100,0
Nữ 29 26,4 5 41,7 34 100,0 p>0,05
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Tỷ lệ nam giới có tình trạng bệnh nặng
nhiều hơn nữ nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa
thống kê
Bảng 4: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với thời gian ủ bệnh
Khỏi n=110
Tử vong hoặc xin
về (n=12) Tổng
Nhóm
Thời gian
n (%) n (%)
p
< 7 ngày
(1)
19 (86,4%)
3 (13,6%) 22
7 – 14
ngày (2)
49 (94,2%)
3 (5,.8%) 52
> 14 ngày
(3)
26 (92,9%)
2 (7,1%) 28
Nung
bệnh
Không rõ
(4)
16 (80,0%)
4 (20,0%) 20
p1,2 >0,05 p1,3>0,05 p2,3>0,05
Lan
bệnh < 24 giờ
12 (75,0%)
4 (25,0%) 16 p<0,05
≥ 24 giờ (92,5%) 98 (7,5%) 8 106
Nhận xét: Đối với thời gian nung bệnh, sự khác biệt giữa khỏi và tử vong hay xin về không có ý nghĩa thống
kê Khi thời gian lan bệnh dưới 24 giờ, tỷ lệ tử vong hoặc bệnh nặng xin về chiếm 25% Sự khác biệt giữa khỏi và tử vong hay xin về có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 5: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với đường vào
Sống Tử vong,
xin về Tổng Nhóm
Đường vào n % n % n %
p
Do vết thương (1) 89 90,5 6 9,5 95 100 Mụn nhọt (2) 2 100,0 0 0,0 2 100 Sau phẫu
thuật (3) 1 50,0 1 50,0 2 100 Không xác
định (4) 18 78,3 5 21,7 23 100
p1,2
≥0,05 p1,3
>0,05 p1,4
<0,05 p3,4
>0,05 Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100
Nhận xét: Trong trường hợp nhiễm khuẩn sau phẫu thuật tỷ lệ tử vong hoặc xin về là 50%, các vết thương khác có tỷ lệ khỏi cao hơn từ 78,3% đến 100% Sự liên quan này không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) Bảng 6: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với tiêm SAT
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm Tiêm SAT
n % n % n %
p
Có tiêm (1) 7 100,0 0 0 7 100,0 Không tiêm (2) 81 92,0 7 8,0 88 100,0 Không xác
định (3)
22 81,5 5 18,5 27 100,0
p(1,2)
>0,05 p(1,3)
>0,05 p(2,3)
>0,05 Tổng 110 9,.2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: 100% trường hợp có tiêm SAT ra viện trong tinh trạng khỏi bệnh Hầu hết bệnh nhân không tiêm SAT hoặc không xác định được Tình trạng tử vong hoặc bệnh nặng xin về với không có liên quan có
ý nghĩa thống kê với tiêm SAT
Bảng 7: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với độ khít hàm
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
Độ khít hàm n % n % n %
p
< 1 cm (1) 13 81,3 3 18,7 16 100,0
1 – 2 cm (2) 86 90,5 9 9,5 95 100,0
> 2 cm (3) 11 100,0 0 0,0 11 100,0
p (1,2) >0,05
p (1,3) >0,05
p (2,3) >0,05
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100.0
Nhận xét: Bệnh nhân càng khít hàm thì tỷ lệ tử vong càng cao Đặc biệt khi độ khít hàm trên 2 cm thì 100% bệnh nhân khỏi bệnh Tuy nhiên sự khác biệt giữa các mức độ khít hàm không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)
Trang 3Y học thực hành (857) - số 1/2013
90
Bảng 8: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với thay đổi thân nhiệt
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
Thân
nhiệt n % n % n % P
<36,5 ºc
(1) 4 66,7 2 33,3 6 100,0
36,5–38ºc
(2) 55 96,5 2 3,5 57 100,0
>38–39ºc
(3) 30 88,2 4 11,8 34 100,0
> 39–40ºc
(4) 20 83,3 4 16,7 24 100,0
>40ºc (5) 1 100,0 0 0,0 1 100,0
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
p1,2
<0,05;
p1,3
>0,05;
p1,4
>0,05;
p2,3
>0,05;
p2,4
<0,05;
p3,4
>0,05
Nhận xét: Bệnh nhân có thân nhiệt dưới 36,5oc có
tỷ lệ tử vong cao nhất (33,3%), những bệnh nhân có tỷ
lệ tử vong đứng thứ 2 có thân nhiệt trên 39oc “ 40oc
chiếm 16,7% Đặc biệt có 01 bệnh nhân sốt trên 40oc
nhưng khỏi bệnh Tuy nhiên sự khác biệt không có ý
nghĩa thống kê (P > 0,05)
Bảng 9: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin
về với tần số mạch
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
Tần
số mạch n % N % n %
p
≤ 120 99 92,5 8 7,5 107 100,0
> 120 11 73,3 4 26,7 15 100,0 p<0,05
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Đa số bệnh nhân khỏi bệnh có tần số
mạch dưới 120 lần/phút với 99 bệnh nhân (92,5%)
Bệnh nhân có tần số mạch trên 120 lần/phút tỷ lệ tử
vong cao hơn so với tần số mạch dưới 120 lần/phút
(26,7% so với 7,5%) Tỷ lệ tử vong giữa hai nhóm bệnh
nhân có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05
Bảng 10: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng
xin về mức độ tăng trương lực cơ ngoài cơn
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
TTLCNC n % n % n %
p Tăng vừa 58 96,7 2 3,3 60 100,0
Tăng nhiều 52 83,9 10 16,1 62 100,0 p<0,01
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Bệnh nhân càng tăng trương lực cơ ngoài
cơn thì tỷ lệ tử vong càng cao Tăng trương lực cơ
ngoài cơn có liên quan với tình trạng nặng của bệnh có
ý nghĩa thống kê với p < 0,05
Bảng 11: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng
xin về với mức độ bệnh
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
Mức
độ bệnh n % n % n %
p Vừa 51 96,2 2 3,8 53 100,0
Nặng+Rất nặng 59 85,5 10 14,5 69 100,0 <0,05
Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Mức độ nặng của bệnh có liên quan có ý nghĩa thông kê với tử vong hoặc bệnh nặng xin về Mức độ bệnh càng nặng thì tỷ lệ tử vong càng cao Bảng 12: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin về với mở khí quản:
Sống Tử vong, xin về Tổng
Nhóm
Mở khí quản n % n % n %
p
Có 61 84,7 11 15,3 71 100,0 Không 49 98,0 1 2,0 51 100,0 <0,05 Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Hầu hết trường hợp bệnh nhân tử vong,
đều phải tiến hành can thiệp mở khí quản Có sự liên quan giữa giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin về với can thiệp mở khí quản (p<0,05)
Bảng 13: Liên quan giữa tử vong hoặc bệnh nặng xin về với với can thiệp thở máy:
Sống Tử vong, xin về Tổng Nhóm
Thở máy n % N % n %
p
Có 54 84.4 10 15.6 64 100.0 Không 56 96.6 2 3.4 58 100.0 <0,05 Tổng 110 90.2 12 9.8 122 100.0
Nhận xét: Đại đa số bệnh nhân tử vong đều có can thiệp thở máy tử vong hoặc bệnh nặng xin về có liên quan có ý nghĩa thống kê với can thiệp thở máy với p<0,05
Bảng 14: Liên quan giữa tình trạng ra viên và vị trí vết thương
Sống Tử vong,
xin về Tổng Nhóm
Đường vào n % N % n %
P
Đầu + Thân 7 87,5 1 12,5 8 100,0 Chi trên 27 90,0 3 10,0 30 100,0 Chi dưới 59 93,7 4 6,3 63 100,0 Không rõ 17 81,0 4 19,0 21 100,0 >0,05 Tổng 110 90,2 12 9,8 122 100,0
Nhận xét: Vết thương ở chi dưới có tỷ lệ khỏi cao nhất (93,7 %), vết thương ở vùng đầu + thân mình có tỷ
lệ nặng cao nhất, nhưng không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P> 0,05)
KếT LUậN Qua nghiên cứu hồi cứu trên 122 bệnh nhân uốn ván điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong khoảng thời gian từ tháng 01/2010 đến tháng 07/2011, chúng tôi rút ra một số yếu tố lâm sàng có ý nghĩa tiên lượng nặng như sau:
- Bệnh nhân trong độ tuổi trên 60
- Thời gian lan bệnh dưới 24 giờ
- Uốn ván sau can thiệp ngoại khoa
- Bệnh nhân có sốt cao
- Bệnh nhân tăng trương lực cơ nhiều
- Bệnh nhân có tần số mạch trên 120 lần/phút
- Bệnh nhân có can thiệp mở khí quản và thở máy TàI LIệU THAM KHảO
1 Nguyễn Duy Phong và cs (2007) Đặc điểm dịch tễ
và các yếu tố tiên lượng nặng ở bệnh nhân uốn ván điều
Trang 4Y học thực hành (857) - số 1/2013 91
trị tại Bệnh viện Nhiệt đới thành phố Hồ Chí Minh Tạp chí
Y học thực hành
2 Hoàng Thị Kim Thanh “Tìm hiểu đặc điểm lâm sàng
– tiên lượng bệnh uốn ván tại bệnh viện Thanh Hóa, năm
1997” Luận văn tốt nghiệp cao học- Đại học Y khoa Hà
Nội
3 Từ Văn Thơ (1999) Nhận xét về các triệu chứng lâm
sàng và một số yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân uốn ván
Tạp chí Y học quân sự, 3-1999; 24 “ 29
4 Adekanle O, Ayodeji OO, and Olatunde LO Tetanus
in a Rural Setting of South-Western Nigeria: a Ten-Year
Retrospective Study Libyan J Med 2009; 4(2): 78“80
5 Anuradha S Tetanus in adults a continuing
problem: an analysis of 217 patients over 3 years from
Delhi, India, with special emphasis on predictors of mortality.Med J Malaysia 2006 Mar;61(1):7-14
6 Camacho JA, Jiménez JM, Díaz A, Montijano A, Quesada JL, Montiel D Severe-grade tetanus in a multipurpose ICU: review of 13 cases Enferm Infecc Microbiol Clin 1997 May;15(5):243-5
7 Chalya PL et al (2011) Ten year experiences with Tetanus at a Tertiary hospital in Northwestern Tanzania: a retrospective review of 102 cases World J Emerg Surg Jul 8; 6(1):20
8 Chao CH Et al (1991) Tetanus: 20 years of clinical expereince Chung Hua I Hssueh Jsa Chih Teiơei Aug;
48 (2):110 “ 5
9 Jared Bunch T Et al (2003) Respiratory failure in tetanus: case report and review of a 25 year experience
Nghiên cứu biểu hiện một số dấu ấn sinh học của tế bào gốc màng ối
Phạm Văn Trân, Huỳnh Quang Thuận, Đỗ Minh Trung
Học viện quân y Tóm tắt
Màng ối là sản phẩm thường bỏ đi trong quá trình
sinh nở được phát hiện là một nguồn cung cấp tế bào
gốc lý tưởng Chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mục tiêu
xác định biểu hiện các dấu ấn sinh học của tế bào gốc
màng ối Phương pháp nghiên cứu: Phân lập và nuôi
cấy tăng sinh tế bào gốc màng ối trong môi trường
DMEM có bổ sung 10% huyết thanh bào thai bê và
kháng sinh Nhuộm hóa miễn dịch tế bào gốc màng ối
qua hai lần cấy chuyển với các kháng thể đặc hiệu
kháng các kháng nguyên nghiên cứu Kết quả nghiên
cứu: Tế bào gốc màng ối dương tính với các kháng thể
kháng OCT-4, SSEA-4, CK-18, CK-5, Klf-4, Bmi-1,
CD49f, CD-271, SCF, Vimentin, NCAM, Cmyc, HNF-4,
CD29, Nanog, CD44, Nestin, CD133, và âm tính với
SSEA-1, Sox-2 Kết luận: Tế bào gốc màng ối là các tế
bào gốc đa tiềm năng không những biểu hiện các dấu
ấn của tế bào gốc phôi mà còn biểu hiện dấu ấn của tế
bào gốc biểu bì và trung bì
Từ khóa: Tế bào gốc, màng ối, dấu ấn tế bào gốc
Summary
Amniotic membrane which is bio-waste in the
process of birth was found to be an ideal source of
stem cells Aim of research: Identify of biomarkers for
amniotic stem cells Method: staining of amniotic stem
cells (passage two) with specific antibodies against the
antigens studied Results: Amniotic stem cells are
positive with OCT-4, SSEA-4, CK-18, CK-5, Klf-4,
Bmi-1, CD49f, CD-27Bmi-1, SCF, Vimentin, NCAM, Cmyc,
HNF-4, CD29, Nanog, CD44, Nestin, CD133, and
negative with SSEA-1, Sox-2 Conclusion: Amniotic
stem cells are multipotent not only express the
markers of embryonic stem cells, but also expresse the
markers of epidermal and mesoderm stem cells
Keywords: Stem cell, amniotic membrane, marker
Đặt vấn đề
Hiện nay, tế bào gốc phân lập từ mô trưởng thành hoặc từ phôi vẫn là nguồn tế bào chủ yếu cho y học tái tạo Tuy nhiên cả hai nguồn tế bào này đều có rất nhiều những hạn chế Tế bào gốc từ mô trưởng thành của người bệnh tuy không đặt ra vấn đề thải ghép nhưng rất khó phân lập và nuôi cấy tăng sinh Số lượng
tế bào ít, không đủ cho mỗi lần cấy ghép Ngược lại, tế bào gốc phôi tăng sinh rất mạnh trong môi trường nuôi cấy và dễ dàng biệt hóa thành các tế bào của mô trưởng thành nhưng cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ vì rất dễ có khả năng sinh ung thư và khi ghép đồng loài sẽ dễ dàng bị thải ghép theo cơ chế giống như ghép mô và cơ quan trưởng thành Hơn nữa việc sử dụng tế bào gốc phôi luôn đặt ra tranh cãi về vấn đề
đạo đức Do vậy việc nghiên cứu để tìm ra nguồn tế bào mới thay thế tế bào gốc trưởng thành và tế bào gốc phôi là hết sức cần thiết
Tế bào gốc màng ối là các tế bào gốc đa tiềm năng [1] Những tế bào này có thể biệt hóa thành 3 lớp tế bào mầm, chúng có tính sinh miễn dịch thấp và có khả năng chống viêm Sử dụng tế bào gốc màng ối không
đặt ra vấn đề tranh cãi về đạo đức do không phải sử dụng phôi người Màng ối đã từng được sử dụng giống như một tấm băng sinh học trong điều trị bỏng, điều trị các vết loét lâu liền mặc dù cơ chế tác dụng của màng
ối trong các trường hợp này cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn sáng tỏ
Trước những khó khăn và hạn chế của các loại tế bào gốc lấy từ phôi, thai và từ người trưởng thành kể trên, người ta đã đi tìm và phát hiện ra rằng màng ối về phương diện phôi thai học có nguồn gốc từ thai nhi Về phương diện tuổi phát triển, chúng tương đương với tế bào gốc nhũ nhi Vì thế các tế bào gốc phân lập từ màng ối có ưu điểm hơn các loại tế bào gốc khác khi
sử dụng ghép cho một cơ thể khác gen đồng loài Màng ối một sản phẩm thường bỏ đi trong quá trình