1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY cơ lây NHIỄM HIV AIDS TRONG NHÓM NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA túy tại HUYỆN mèo vạc hà GIANG

4 411 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 141,92 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 857 - số 1/2013 3 THựC TRạNG KIếN THứC, HàNH VI NGUY CƠ LÂY NHIễM HIV/AIDS TRONG NHóM NGƯờI NGHIệN CHíCH MA TúY TạI HUYệN MèO VạC - Hà GIANG Nguyễn Cao Tài - Trung tâm

Trang 1

Y học thực hành (857) - số 1/2013 3

THựC TRạNG KIếN THứC, HàNH VI NGUY CƠ LÂY NHIễM HIV/AIDS

TRONG NHóM NGƯờI NGHIệN CHíCH MA TúY TạI HUYệN MèO VạC - Hà GIANG

Nguyễn Cao Tài - Trung tâm Y tế Mèo Vạc, Hà Giang Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Quý Thái Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Trần Văn Tiến - Bệnh viện Da liễu Trung ương TóM TắT

Mục tiêu: khảo sát thực trạng kiến thức, hành vi của

người nghiện chích ma tuý (NCMT) về HIV/AIDS

Phương pháp: mô tả cắt ngang, cỡ mẫu theo công

thức là 360 người NCMT, tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà

Giang, từ tháng 3/2011 đến 9/2011 Đánh giá kiến thức

của người NCMT về HIV bằng cách chấm điểm, dựa

theo 5 câu hỏi phỏng vấn sâu Có kiến thức về HIV

“đạt” khi trả lời được ≥ 3 câu hỏi, trả lời ≤ 2 câu hỏi là

không đạt Tìm hiểu hành vi người NCMT gồm: dùng

chung bơm kim tiêm (BKT), dùng bao cao su (BCS)

trong quan hệ tình dục (QHTD)

Kết quả: NCMT chủ yếu gặp ở nam, tuổi từ 20-40

chiếm 85%, có kiến thức về lây nhiễm HIV/AIDS ở mức

độ đạt chiếm 96,95% Thực trạng hành vi của người

NCMT: tỷ lệ người sử dụng ma túy dưới một năm thấp

(8,43%), tỷ lệ người có thời gian tiêm chích dưới 1 năm

cũng thấp (7,63%), tỷ lệ người có thời gian tiêm chích 5

năm là cao nhất, chiếm 34,92% Gần 1/3 số người

NCMT dùng lại BKT (30,83%) và dùng chung BKT

(28,61%), trong đó 31,25 % số người đã làm sạch BKT

trước khi tái sử dụng bằng các cách khác nhau nhưng

không đảm bảo vô khuẩn Tỷ lệ người NCMT sử dụng

BCS trong QHTD chiếm 69%, trong đó có 11,98% là

không chủ động dùng mà do đối tượng QHTD chủ

động dùng

Kết luận: tệ nạn ma túy ở huyện Mèo Vạc có

khuynh hướng giảm, tỷ lệ người NCMT có kiến thức về

lây nhiễm HIV/AIDS cao nhưng chưa thực hiện tốt các

biện pháp phòng bệnh như còn dùng chung BKT và

không dùng BCS trong QHTD

Từ khóa: nghiện chích ma túy, dùng chung BKT,

nhiễm HIV/AIDS

SUMMARY

Objectives: survey the knowledge, action of

injecting drug users (IDUs) about HIV/AIDS

Methods: cross-sectional description, sample size

is 360 patients in Meo Vat district, Ha Giang province

from 3/2011 to 9/2011 Assess the knowledge of

IDUs by asking five questions about HIV The

knowledge is satisfactory if the patient answered at

least three questions It is unsatisfactory if the patient

answered less than three questions Survey the risk

actions include: sharing needle, using condom during

sexual contact

Result: IDUs primarily seen in men aged 20-40

accounted for 85%, knowledge of HIV/AIDS is 96.95%

satisfactory Situation of risk action in IDUs: the

proportion of patients less than 1 year of drug use is

low (8.43%), the injection rate less than 1 year is also lower (7.63%), proportion of the injection time more than 5 years was the highest, accounting for 34.92% Nearly 1/3 of IDUs reused needles (30.83%) and needle sharing (28.61%), in which 31.25% of them cleaned needles before re-using in different ways but

is not guaranteed sterile Proportion of IDUs who used condoms during sex accounted for 69%, in which 11.98% is not actively used

Conclusion: drug abuse in Meo Vac district tend to decrease, the proportion of IDUs have knowledge about HIV/AIDS is hight but not implement other preventive measures such as needle sharing and condom use in sex

Keywords: injecting drug use, needle sharing and HIV/AIDS

ĐặT VấN Đề

ở Châu á, chích ma tuý được coi là yếu tố nguy cơ hàng đầu làm gia tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV/AIDS Đối tượng NCMT còn tham gia hoạt động mãi dâm làm cho nguy cơ lây nhiễm HIV ra cộng đồng càng tăng [1],[4] Tâm điểm của nhiều dịch vụ ở Châu á nằm ở chính sự tương tác lẫn nhau giữa NCMT và QHTD không an toàn, phần lớn ở mại dâm [5] ở Việt Nam, tính đến 30/6/2008 có 169.379 người bị nhiễm HIV, trong đó có 66.504 người đã chuyển thành AIDS và 39.664 bệnh nhân đã tử vong do AIDS Số người nhiễm HIV/AIDS trong những năm gần đây tăng nhanh [2],[6]

Mèo Vạc thuộc tỉnh Hà Giang, một hụyện miền núi, sâu, xa, cao nguyên đá, dân số có 69.072 người, gồm

16 dân tộc sinh sống (Mông chiếm đa số, Tày, Nùng, Lô Lô, Mông, Giao, Sán Chỉ, Hoa, Kinh ) Trình độ dân trí còn thấp, còn nhiều phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội cũng như việc chăm sóc sức khoẻ cho người dân Cùng với sự phát triển kinh tế của huyện thì cũng kèm theo sự gia tăng các tệ nạn xã hội Đặc biệt là tệ nạn mại dậm và NCMT đã làm cho vấn đề lây nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn diễn biến rất phức tạp Để giảm tỷ lệ lây nhiễm HIV trong các nhóm đối tượng có nguy cơ cao trong cộng đồng và xây dựng kế hoạch can thiệp sát với thực

tế, chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng kiến thức, hành vi của nhóm người NCMT về HIV/AIDS

ĐốI TƯợNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

1 Đối tượng nghiên cứu Người NCMT từ 6 tháng, thuộc 6 xã, thị trấn huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang gồm: thị trấn Mèo Vạc, Tả

Trang 2

Y học thực hành (857) - số 1/2013

4

Lủng, Tát Ngà, Khâu Vai, Pả Vi, Pải Lủng, tự nguyện

tham gia nghiên cứu, từ tháng 3/2011 đến 9/2011

2 Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang

- Cỡ mẫu là 360 NCMT, được tính theo công thức:

Z2

1 - α /2

P x q

e2

- Chọn ngẫu nhiên 25 tụ điểm (cụm) và chọn ngẫu

nhiên đối tượng để phỏng vấn

Đánh giá kiến thức của người NCMT về HIV bằng

chấm điểm, dựa theo 5 câu hỏi phỏng vấn sâu: (1)

QHTD với một bạn tình chung thuỷ và người đó không

bị nhiễm HIV làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV; (2)

Dùng chung BKT khi tiêm chích làm tăng nguy cơ lây

nhiễm HIV; (3) Nhìn một người bình thường có thể biết

được họ có bị nhiễm HIV hay không; (4) Muỗi/côn

trùng đốt có thể lây nhiễm HIV; (5) Nằm chung màn với

người mắc AIDS có bị lây nhiễm HIV hay không

Câu hỏi (1) và (2) trả lời “có“ được cho 1 điểm,

các lựa chọn trả lời khác được 0 điểm Các câu hỏi (3),

(4) và (5) nếu trả lời là “không“ được 1 điểm, các trả

lời khác được 0 điểm Nếu đối tượng trả lời được ≥ 3

câu hỏi được coi là có kiến thức về HIV, tức là “đạt“,

trả lời từ 2 câu trở xuống thì “không đạt“

Tìm hiều hành vi: người NCMT dùng chung BKT,

QHTD với nhiều bạn tình, dùng BCS trong QHTD

Lấy mẫu huyết thanh của đối tượng sau khi đã

phỏng vấn sâu

- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê y học,

phần mềm STATA 10.0

KếT QUả

Tỷ lệ người NCMT dưới 20 tuổi chiếm 2,45%, từ

20-40 chiếm 85%, học sinh chiếm 74,17%, chưa lập gia

đình chiếm 65,35, có vợ 29,7%, sống chung cùng

người thân trong gia đình chiếm 85%

1 Kiến thức về lây truyền HIV của người NCMT

Bảng 1 Kiến thức về lây truyền HIV:

Nhận xét: tỷ lệ người NCMT có điểm đạt (trả lời

đúng ≥3 câu) là 96,95% không đạt là 3,05%

2 Hành vi nguy cơ lây truyền HIV của người

NCMT

8.43%

23.55%

18.31%

27.91 %

21.8%

0%

5%

10%

15%

20%

25%

30%

35%

40%

45%

50%

Biểu đồ 1: Thời gian sử dụng ma tuý Nhận xét: tỷ lệ người có thời gian dùng ma tuý từ 2

đến >10 năm được phân phối khá đều, tỷ lệ từ 1 năm trở xuống thấp (8,43%)

7.63%

22.97%

34.92%

20.64 %

17.21%

0%

5%

10%

15%

20%

25%

30%

35%

40%

45%

50%

Biểu đồ 2 Thời gian tiêm chích ma tuý Nhận xét: tỷ lệ người có thời gian tiêm chích ma tuý

từ 4-5 năm cao nhất, chiếm 34,92%, từ 1 trở xuống chiếm 7,63%

Bảng 2 Tình hình sử dụng BKT của người NCMT (n=360):

Dùng lại Đưa người khác dùng lại

Làm sạch khi dùng lại (n=16)

Dùng BKT

Đặc trưng

Hầu hết

Khoảng 1/2

28,61

3 18,75 Không

Nhận xét: tỷ lệ người NCMT dùng lại BKT là 30,83%, đưa cho người khác dùng lại BKT là 28,61%, luôn làm sạch BKT để tái sử dụng là 31,25%

Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD là 69%, chưa từng sử dụng BCS là 23%; đã từng Bảng 3 Quyết định sử dụng BCS khi QHTD lần gần đây nhất (n=217):

Trang 3

Y học thực hành (857) - số 1/2013 5

QĐ dùng

BCS

Vợ/người yêu 34 23,8 5 19,2 11 22,9 50 23,0

Gái

Bạn tình

bất chợt 83 58,0 17 65,4 34 70,8 134 61,7

(11,98) 100 48 100 217 100 Nhận xét: tỷ lệ sử dụng BCS của người NCMT

trong QHTD với bạn tình bất chợt chiếm tỷ lệ cao

(61,75%) còn với gái mại dâm tỷ lệ dùng BCS thấp hơn

(15,21%)

BàN LUậN

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy ở huyện

Mèo Vạc tỉnh Hà Giang NCMT gặp chủ yếu ở người

trưởng thành, nam giới, độ tuổi từ 20-40 chiếm tới 85%

ở người trẻ dưới 20 tuổi thì chiếm rất thấp (2,45%) Đặc

biệt đối tượng chưa lập gia đình chiếm 65,35%, sống

chung cùng người thân trong gia đình chiếm 85% Như

vậy, phần lớn người NCMT là những đối tượng còn

đang sống phụ thuộc vào gia đình, thường không hoặc

ít có nguồn thu nên khi đã NCMT thì bắt buộc phải tìm

mọi cách để kiếm tiền Mặt khác, theo các nhà tâm lý,

ở độ tuổi thanh thiếu niên thường có nhiều xung đột

trong suy nghĩ và hành động, nhiều cá nhân không làm

chủ được mình nên dễ bị lôi kéo vào con đường nghiện

chích ma tuý Động cơ kiếm tiền để tiêm chích ma túy

có thể là một trong những nguyên nhân làm gia tăng

các tệ nạn xã hội khác như trộm cắp, cướp giật, hoạt

động mại dâm Kết quả này phù hợp với kết quả

nghiên cứu do trung tâm phòng chống HIV/AIDS của

tỉnh thực hiện giám sát trọng điểm HIV ở nhóm quần

thể NCMT từ năm 2004

Thực trạng kiến thức về lây nhiễm HIV của người

NCMT: Kết quả phỏng vấn sâu bảng 1 thấy người

NCMT trả lời đúng 3/5 câu hỏi để đánh giá sự hiểu biết

của họ về lây nhiễm HIV/AIDS chiếm 96,95%, tỷ lệ

người không đạt chỉ chiếm 3,05% Tỷ lệ người NCMT

có kiến thức về HIV tại huyện Mèo Vạc tương đương

với kết quả nghiên cứu tại huyện Vị Xuyên và Quản Bạ

(97,01%) nhưng lại thấp hơn so với ở thành phố Hà

Giang và huyện Bắc Quang (99,9%) [3] Sở dĩ những

người NCMT huyện Mèo Vạc có được những kiến thức

về bệnh HIV/AIDS ở mức độ đạt yêu cầu với tỷ lệ cao

như vậy là do trong những năm qua chương trình thông

tin, giáo dục truyền thông về y tế, sức khỏe cộng đồng

đã được huyện quan tâm đầu tư cả về số lượng và chất

lượng Người NCMT huyện Mèo Vạc đã được tiếp cận

thông tin về HIV/AIDS một cách thuận lợi và thường

xuyên Chương trình truyền thông đã cung cấp các

thông tin cơ bản về các đường lây và cách phòng trách

lây nhiễm HIV giúp người NCMT và cộng đồng nói

chung có kiến thức đúng để phòng tránh lây nhiễm và

không kỳ thị với người nhiễm HIV như: muỗi đốt không

làm lây truyền HIV, ăn uống chung cũng không lây nhiễm HIV

Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV của người NCMT tại huyện Mèo Vạc: Nghiên cứu về thời gian sử dụng

ma túy của người NCMT, kết quả ở biểu đồ 1 thấy tỷ lệ người có thời gian sử dụng ma túy dưới một năm thấp, chỉ chiếm 8,43% Trong khi ở những nhóm người có thời gian dùng ma túy từ 2 năm trở nên đến 10 năm thì cao gần như ngang nhau Kết quả này có thể phản

ánh nhận thức về tác hại của ma túy đã được nâng lên

Tỷ lệ người có thời gian 5 năm NCMT là cao nhất, chiếm 34,92% Kết quả này đặt ra câu hỏi liệu tại thời

điểm cách đây 5 năm có phải loại ma túy dùng được

đường tiêm chích được đưa nhiều vào nước ta hay không hay có một tác động nào đó làm thay đổi tâm

lý và thói quen của người nghiện ma túy Khi được hỏi về loại ma túy mà đối tượng thường dùng tiêm chích thì gần hầu hết đều trả lời là sử dụng heroin (89,54%) Tỷ lệ người tiêm chích từ 1 năm trở xuống thấp, chiếm 7,63% (biểu đồ 2), tỷ lệ người mới sử dụng ma túy từ 1 năm trở xuống chiếm 8,43% (biểu

đồ 1) Các số liệu này cho thấy tệ nạn ma túy ở huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang trong thời gian gần

đây có khuynh hướng giảm dần

BKT là một dụng cụ thiết yếu của người NCMT Hành vi sử dụng chung BKT có liên quan chặt chẽ tới khả năng tiếp cận hoặc nhận được BKT và việc giảm nguy cơ lây nhiễm HIV Vì vậy, việc người NCMT tiếp cận được BKT là một nhân tố góp phần làm giảm tỷ lệ dùng chung BKT Kết quả bảng 2 thấy tỷ lệ người NCMT dùng lại BKT là 30,83%, dùng chung BKT chiếm 28,61% Trên thực địa khi hỏi về vấn đề này thì những người NCMT có những câu trả lời khác nhau:

do không luôn có sẵn BKT, do có nhiều bạn chích cùng một lúc, do lên cơn vật thuốc bạn trích cho mình Sử dụng chung BKT là điều kiện để lây nhiễm các bệnh, nhất là HIV/AIDS Kết quả nghiên cứu về dùng chung BKT ở người NCMT của chúng tôi cũng tương đương với kết quả điều tra tại huyện Bắc Quang là 30,22% [3]

Trong số những người NCMT tái sử dụng BKT, chúng tôi chỉ khảo sát được ở 16 người xem có làm sạch BKT trước khi tái sử dụng hay không Kết quả thấy chỉ có 31,25 % số người cho biết có làm sạch BKT trong tất cả các lần dùng chung bằng các cách khác nhau: thường bằng nước nóng, một số trường hợp dùng nước lạnh, rất ít trường hợp dùng cồn sát trùng hay các dung dịch sát khuẩn Như vậy, những người NCMT dùng chung BKT dù có ý thức tự làm sạch thì cũng không thể khẳng định được các BKT có đảm bảo hoàn toàn vô trùng hay không, chưa kể đến còn hơn 2/3 trường hơp không hoặc chưa hoàn toàn có ý thức làm sạch BKT trước khi tái sử dụng Điều quan trọng

đề phòng tránh lây nhiễm HIV/AIDS, để tự bảo vệ mình

và những người xung quanh thì người NCMT cần phải ý thức được là không bao giờ dùng chung BKT Vì vậy, giải pháp can thiệp cần phải giáo dục và xây dựng các

Trang 4

Y học thực hành (857) - số 1/2013

6

phương thức để tạo điều kiện thuận lợi cho người

NCMT tiếp cận được với BKT một cách dễ dàng

Khảo sát về việc sử dụng BCS trong QHTD (biểu

đồ 3) thấy tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD

chiếm 69%, chưa từng sử dụng BCS là 23%, so với ở

thành phố Hà Giang thì tỷ lệ này là 12.3% và huyện

Bắc Quang là 11,7% Kết quả bảng 3 thấy lần quan hệ

gần đây nhất đối với vợ/chồng/người yêu cũng chỉ có

23,4% người NCMT là dùng BCS, thấp hơn nhiều so

với các huyện như: Bắc Quang là 53,23%, Vị Xuyên là

51,2% và thành phố Hà Giang là 75,89% Đối với

nhóm gái mại dâm/khách làng chơi tỷ lệ dùng BCS

chiếm 15,21% và đối với bạn tình bất chợt 61,75%,

cũng thấp hơn nhiêu so với các huyện khác như: Bắc

Quang là 91.36%, Vị Xuyên là 89,32% và thành phố

Hà Giang là 98,47% [3].Đặc biệt người NCMT không

chủ động dùng BCS trong QHTD mà do các đối tượng

QHTD chủ động chiếm tỷ lệ 11,98% Việc không sử

dụng BCS trong QHTD của người NCMT nhất là khi

quan hệ với nhiều đối tượng khác nhau là một trong

những nguy cơ làm tăng lây nhiễm HIV/AIDS, ngay cả

khi những đối tượng này có ý thức không dùng bơm

kim tiêm chung

KếT LUậN

NCMT tại huyện Mèo Vạc tỉnh Hà Giang chủ yếu

gặp ở nam giới, tuổi từ 20-40 chiếm 85%; chủ yếu là

học sinh chiếm 74,17%, dưới 20 tuổi rất thấp (2,45%)

Người NCMT có kiến thức về lây nhiễm HIV/AIDS ở

mức độ đạt chiếm 96,95%

Thực trạng hành vi lây nhiễm HIV của người NCMT:

tệ nạn ma túy gần đây có khuynh hướng giảm, tỷ lệ

người sử dụng ma túy dưới một năm thấp (08,43%) Tỷ

lệ người có thời gian tiêm chích dưới 1 năm cũng thấp

(7,63%), thời gian 5 năm là cao nhất (34,92%)

Khoảng gần 1/3 số người NCMT dùng lại BKT (30,83%) và dùng chung BKT (28,61%) Trong đó có 31,25 % số người đã làm sạch BKT trước khi tái sử dụng bằng các cách khác nhau nhưng không đảm bảo vô khuẩn Số còn lại là không hoặc chưa hoàn toàn có

ý thức làm sạch BKT khi tái sử dụng

Tỷ lệ người NCMT sử dụng BCS trong QHTD chiếm 69%, trong đó có 11,98% là không chủ động dùng mà

do các đối tượng QHTD chủ động dùng

TàI LIệU THAM KHảO

1 Chung á (1989), “ HIV/AIDS, Hiện nay và một vài khía cạnh xã hội, một số nét cơ bản về sự phát triển dịch bệnh trên thế giới và Đông Nam á“, tạp chí Thông tin Dược, số 12 trang 5

2 Dự án phòng chống HIV/AIDS Việt Nam do Ngân hàng thế giới tài trợ, Báo cáo điều tra đánh giá hành vi nguy cơ cao nhóm nghiện chích ma túy (2007), tỉnh Sơn

La, Bắc Giang, Lai Châu, Thái Nguyên, Vĩnh Long

3 Trung tâm phòng chống HIV/AIDS (2010), Báo cáo tổng kết công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2004 -

2010, Sở y tế Hà Giang

4 Lưu Thị Minh Châu, Trần Như Nguyên, Mai Thu Hiền (2004), Tỷ lệ nhiễm và hành vi lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy tại TP Hà Nội, báo cáo tham luận tại hội nghị Khoa Học Quốc gia về HIV/ AIDS lần thứ 3 ngày 24- 26/11/2005 TP Hồ Chí Minh

5 Nguyễn Trần Hiển, Nguyễn Thu Anh, Trần Việt Anh

và cộng sự (2002), Đánh giá các nguy cơ lây nhiễn HIV/AIDS trong số những người tiêm chích ma túy ở các tỉnh THanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,Bình Phước, Bình Dương, Long An và Sóc Trăng, tham luận tại HNKH Quốc gia về HIV/ AIDS lần thứ 3 ngày 24- 26/11/2005 TP Hồ Chí Minh.s

6 UBQG phòng chống AIDS (2003), Báo cáo dánh giá công tác phòng chống HIV/AIDS năm 2002, Hà Nội

Ngày đăng: 22/08/2015, 07:41

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Kiến thức về lây truyền HIV: - THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY cơ lây NHIỄM HIV AIDS TRONG NHÓM NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA túy tại HUYỆN mèo vạc   hà GIANG
Bảng 1. Kiến thức về lây truyền HIV: (Trang 2)
Bảng 2. Tình hình  sử dụng  BKT  của  ng−ời  NCMT  (n=360): - THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, HÀNH VI NGUY cơ lây NHIỄM HIV AIDS TRONG NHÓM NGƯỜI NGHIỆN CHÍCH MA túy tại HUYỆN mèo vạc   hà GIANG
Bảng 2. Tình hình sử dụng BKT của ng−ời NCMT (n=360): (Trang 2)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w