Ở nước ta du lịch làng nghề cũng được xác định là một trong những loại hình du lịch đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển phong phú, thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-*** -
TRẦN THỊ HỒNG HẠNH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ
TỈNH VĨNH PHÚC Chuyên ngành: Du lịch
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Hải
Hà Nội - 2014
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc của đề tài 9
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ 10
1.1 Các khái niệm liên quan 10
1.1.1 Làng nghề truyền thống 10
1.1.2 Du lịch làng nghề truyền thống 11
1.2 Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề 12
1.2.1 Điều kiện cung 12
1.2.2 Điều kiện cầu 15
1.2.3 Chính sách phát triển du lịch 16
1.3 Các đặc điểm của làng nghề truyền thống phục vụ du lịch 18
1.4 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề 20
1.5 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề 23
1.5.1 Du lịch làng nghề của Thái Lan 23
1.5.2 Du lịch làng nghề tại Hà Nội 25
1.5.3 Du lich làng nghề tại Thừa Thiên – Huế 27
1.5.4 Du lịch làng nghề tại Quảng Nam 29
1.5.5 Bài học cho phát triển du lịch làng nghề Vĩnh Phúc 30
Tiểu kết chương 1 31
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG DU LỊCH LÀNG NGHỀ TỈNH VĨNH
PHÚC 33
2.1 Giới thiệu khái quát tỉnh Vĩnh Phúc 33
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
2.1.2 Điều kiện kinh tế- xã hội 35
2.2 Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc 36
2.2.1 Điều kiện cung 36
2.2.2 Điều kiện cầu 44
2.2.3 Chính sách phát triển du lịch của tỉnhVĩnh Phúc 48
2.2.4 Đánh giá chung 49
2.3 Thực trạng hoạt động du lịch tại một số làng nghề 50
2.3.1 Giới thiệu làng nghề và các sản phẩm làng nghề 50
2.3.2 Khách du lịch 54
2.3.3 Doanh thu du lịch 56
2.3.4 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 57
2.3.5 Nguồn nhân lực du lịch tại các làng nghề 58
2.3.6 Công tác quảng bá 60
2.3.7 Thực trạng môi trường 57
2.3.8 Tác động của hoạt động du lịch tại các làng nghề 61
Tiểu kết chương 2 66
CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH LÀNG NGHỀ CỦA TỈNH VĨNH PHÚC 67
3.1 Định hướng phát triển 67
3.1.1 Cơ sở định hướng 67
3.1.2 Các định hướng chính 69
3.2 Giải pháp phát triển 70
3.2.1 Giải pháp về quy hoạch 70
Trang 63.2.2.Giải pháp về thị trường 71
3.2.3 Giải pháp về sản phẩm và liên kết các tuyến du lịch 73
3.2.4 Giải pháp về đầu tư vốn và cơ sở vật chất kỹ thuật 75
3.2.5 Giải pháp về hỗ trợ cộng đồng địa phương 77
3.2.6 Giải pháp về bảo tồn và phát huy giá trị làng nghề 79
3.2.7 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên môi trường 81
3.2.8 Giải pháp về xúc tiến, quảng bá 83
3.3 Một số kiến nghị 84
Tiểu kết chương 3 86
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 95
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
DLLN Du lịch làng nghề
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Các làng nghề truyền thống tỉnh Vĩnh Phúc 36
Bảng 2.2: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (2006 - 2013) 42
Bảng 2.3: Lao động trong ngành du lịch tỉnh Vĩnh Phúc (2007 - 2013) 43
Bảng 2.4: Điểm hấp dẫn du khách khi đến với làng nghề 48
Bảng 2.5: Lượng khách du lịch đến các làng nghề giai đoạn 2009-2013 54
Bảng 2.6: Hình thức đi du lịch của khách 55
Bảng 2.7: Số lần khách đến làng nghề 55
Bảng 2.8 : Doanh thu từ sản phẩm làng nghề giai đoạn 2008 – 2013 56
Bảng 2.9: Mức độ đáp ứng nhu cầu của khách 56
Bảng 2.10: Tình hình tiêu dùng các dịch vụ du lịch của làng nghề 57
Bảng 2.11: Kênh thông tin khách biết về làng nghề 60
Bảng 2.12 Lượng chất thải rắn phát sinh tại một số làng nghề 62
Bảng 2.13: Khách du lịch nội địa đến Vĩnh Phúc (Giai đoạn 2007- 2013) 95
Bảng 2.14: Khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc (Giai đoạn 2007- 2013) 95
Bảng 2.15: Cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc phân theo thị trường 96
Bảng 2.16: Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Vĩnh Phúc phân theo mục đích chuyến đi (Giai đoạn 2006 - 2013) 97
Bảng 2.17: Mức chi tiêu của khách du lịch 97
Bảng 2.18: Số ngày lưu trú trung bình của khách 98
Bảng 2.19: Doanh thu từ du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc 99
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Những năm gần đây, du lịch làng nghề đã và đang trở thành xu hướng phổ biến của nhiều quốc gia trên thế giới và khu vực Du lịch làng nghề còn được xem là sản phẩm đặc thù của các quốc gia đang phát triển
Việt Nam cũng như các nước đang phát triển trên thế giới phát triển du lịch chủ yếu dựa vào nguồn lực tự nhiên và sự đa dạng về bản sắc văn hóa dân tộc, coi đó là vốn để phát triển du lịch Ở nước ta du lịch làng nghề cũng được xác định là một trong những loại hình du lịch đặc thù, có thế mạnh và tiềm năng phát triển phong phú, thu hút nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế.Các làng nghề truyền thống với các sản phẩm độc đáo thiết thực luôn đem lại lợi ích kinh tế cho người lao động Sản phẩm làng nghề không chỉ phục vụ đắc lực cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân mà giờ đây chúng
đã trở thành những sản phẩm có giá trị xuất khẩu, mang lại thu nhập cao hơn cho người lao động, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Hiện nay, công việc khôi phục và bảo vệ các làng nghề là rất quan trọng Đó không phải
là công việc riêng của từng cá nhân của từng làng nghề mà là công việc chung của các cấp, các ngành có liên quan vì thực trạng làng nghề Việt Nam nói chung đang gặp nhiều khó khăn, cần có sự quan tâm giúp đỡ để giữ gìn, phát huy một nét đẹp văn hoá trong kho tàng văn hoá truyền thống của dân tộc
Làng nghề thủ công truyền thống với các bí quyết nghề nghiệp riêng là sản phẩm độc đáo của nền văn hóa Việt Nam Đó là một cộng đồng có sự liên kết chặt chẽ bởi những mối liên hệ khăng khít về lãnh thổ, kinh tế, văn hóa tâm linh Đây là nơi lưu giữ kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng quý giá, phong phú, nơi biểu hiện cụ thể, sinh động bản sắc văn hóa dân tộc
Trang 10Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường thì các làng nghề truyền thống cũng có những cơ hội phát triển Tuy nhiên, đi liền với sự phát triển của hoạt động sản xuất, nhiều giá trị văn hóa bị mai một, bí quyết nghề nghiệp bị thất truyền cùng với sự ra
đi của các nghệ nhân lớn tuổi
Xu hướng thương mại hóa do chỉ hướng tới mục tiêu lợi nhuận làm cho bản sắc văn hóa của làng nghề bị phai mờ Không phải ai cũng nhận thức rõ được rằng, đánh mất bản sắc văn hóa là điều nguy hiểm đối với sự tồn tại bền vững của mỗi một làng nghề Nếu chúng ta cứ chạy theo lợi nhuận kinh tế mà không lưu tâm bảo tồn giá trị văn hóa thì nguy cơ mai một các làng nghề sẽ không có cách nào chống đỡ nổi
Từ những thông tin khảo sát ban đầu về các làng nghề ở Vĩnh Phúc, tôi thấy cần có những nghiên cứu để có thể vừa khai thác các giá trị văn hóa của các làng nghề tại Vĩnh Phúc để tạo ra các sản phẩm phục vụ cho phát triển du lịch Bên cạnh đó cũng cần có những chính sách khai thác phù hợp, bảo tồn
và phát huy hơn nữa những giá trị văn hóa truyền thống của các làng nghề ở Vĩnh Phúc nói riêng và trong cả nước nói chung để tạo ra được các sản phẩm
du lịch làng nghề đặc trưng cho phát triển du lịch
Để có thể khôi phục, khai thác các làng nghề truyền thống tại Vĩnh Phúc phục vụ cho nhu cầu phát triển du lịch đồng thời đóng góp vào sự phát triển bền vững cho các làng nghề tại Vĩnh Phúc, tôi quyết định chọn đề tài
"Phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc" làm đề tài luận văn của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp nên có rất nhiều làng nghề truyền thống ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước Vì vậy, vấn đề làng nghề
Trang 11truyền thống được rất nhiều nhà khoa học quan tâm ở những góc độ khác nhau Khi nghiên cứu đề tài này, chúng tôi gặp nhiều thuận lợi khi được tiếp xúc với nguồn tài liệu rất phong phú về làng nghề truyền thống
Nghề và các làng nghề thủ công truyền thống luôn là đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực: Văn hóa, lịch sử, du lịch Trong du lịch, làng nghề thủ công truyền thống được xem như là một yếu tố của tài nguyên du lịch Vì vậy, những nghiên cứu về các làng nghề thì có nhiều, nhưng nghiên cứu để đánh giá nó như một tài nguyên cho ngành du lịch thì hầu như rất ít
Hiện nay, ở nước ta có nhiều quan điểm khác nhau về làng nghề Chúng tôi xin tập trung vào một số quan điểm chủ yếu sau:
Theo Trần Quốc Vượng, làng nghề được hiểu như sau: “Làng nghề là làng ấy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà…), cũng
có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương, làm đậu phụ…) song nổi trội một số nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định
“sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra cả thị trường nước ngoài Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu (có một quá khứ hàng trăm năm) “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, vào ca dao tục ngữ trở thành di dản văn hóa dân gian” [45]
Cùng với quan điểm của Trần Quốc Vượng, Bùi Văn Vượng cũng cho rằng: Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông (nông dân)
Trang 12nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng nghề truyền thống ngay tại làng quê của mình [44]
Trong những quan điểm trên, các tác giả đã đưa ra những dấu hiệu rất cụ thể để nhận biết về làng nghề nhưng dường như những dấu hiệu đó chỉ đúng với những làng nghề truyền thống, đã có lịch sử phát triển lâu đời mà chưa đúng với những làng nghề nói chung, đặc biệt là những làng nghề mới ra đời trong thời gian gần đây
Theo Dương Bá Phượng, “Làng nghề là làng ở nông thôn có một hay một số nghề thủ công tách hẳn khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập” Quan điểm này đã nêu được hai yếu tố là làng (ở nông thôn) và nghề (thủ công tách khỏi nông nghiệp và kinh doanh độc lập) nên có khả năng bao quát hơn về các làng nghề ở nước ta nói chung tuy nhiên nó không hoàn toàn phù hợp với hiện trạng các làng nghề ở Việt Nam vẫn tồn tại đan xen cả thủ công nghiệp và nông nghiệp, nhiều làng ở nước ta có nghề nhưng vẫn chưa được gọi là làng nghề [28]
Có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm làng nghề kèm theo những tiêu chí rất cụ thể về lao động và việc làm như: Làng nghề là những làng đã từng có từ 50 hộ hoặc từ 1/3 tổng số hộ hay lao động của địa phương trở lên làm nghề chiếm phần chủ yếu trong tổng thu nhập của họ trong năm Cùng với quan điểm này, trong Dự thảo Nghị định của Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển làng nghề nông thôn được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đệ trình tháng 5/2005, Làng nghề là thôn, ấp, bản có trên 35% số hộ tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn và thu nhập
từ ngành nghề nông thôn chiếm trên 50% tổng thu nhập của làng… Như vậy, các quan điểm này đã quan tâm đến tỷ lệ người làm nghề và thu nhập từ ngành nghề nhưng lại cố định tiêu chí xác định làng nghề Điều này sẽ tạo ra nhiều khó khăn trong việc hoạch định các chính sách phát triển khi chế độ ưu đãi với các làng nghề thay đổi
Trang 13Từ các quan niệm trên cho thấy, khái niệm về làng nghề được cấu thành từ hai yếu tố là làng và nghề Bởi vậy, không phải bất cứ làng nào có nghề cũng được gọi là làng nghề Quan niệm về làng nghề phải được thể hiện trên hai mặt định tính và định lượng Xét về mặt định tính, làng nghề phải thể hiện sự khác biệt so với các làng thuần nông hoặc so với các phố nghề ở thành thị Xét về mặt định lượng, làng nghề phải đạt đến quy mô nhất định và có tính ổn định tương đối cao Vì có điểm xuất phát là làng gắn với nông nghiệp nên quy mô của làng phải phát triển đến một mức độ nào đó mới được gọi là làng nghề Việc xác định sự phát triển của làng nghề vừa phải đặt nó trong quy mô làng về số hộ, số lao động, thu nhập từ hoạt động kinh tế của nghề, vừa phải xem xét bản thân hoạt động nghề của làng
Với một lịch sử phát triển lâu đời của làng xã, Việt Nam là một đất nước có rất nhiều làng nghề tồn tại và phát triển Có những làng chỉ có một nghề nhưng cũng có những làng tồn tại đan xen nhiều nghề Có những làng có nghề truyền thống, có lịch sử hàng trăm năm, gắn với những mặt hàng tinh xảo nhưng cũng có những làng nghề mới ra đời được vài chục năm gần đây trong thời kỳ đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường Sự tồn tại đan xen các làng nghề này đã tạo nên một diện mạo phong phú, nhiều vẻ cho nông thôn Việt Nam
Du lịch làng nghề là một biểu hiện đặc thù của phương Đông và là một thế mạnh của Việt Nam Điều đó phần nào phản ánh qua việc khái quát tình hình khai thác loại hình du lịch này ở một số nước châu Á, và đặc biệt là ở nước ta Nhưng
du lịch làng nghề Việt Nam vẫn còn trong tình trạng khai thác tự nhiên và đầu tư thăm dò Chưa có những nghiên cứu đầy đủ cũng như chưa có những hoạt động thực tiễn đem lại cho chúng ta một mô hình tốt trong vấn đề này Tuy vậy, du lịch làng nghề vẫn là một trong những hướng đi có nhiều triển vọng nhất của du lịch Việt Nam
Trong xu thế hội nhập và mở cửa, làng nghề truyền thống đang dần lấy lại vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của mỗi dân tộc mỗi quốc gia Những làng nghề này như một hình ảnh đầy bản sắc,
Trang 14khẳng định nét riêng biệt, độc đáo không thể thay thế Một cách giới thiệu sinh động về đất, nước và con người của mỗi vùng, miền, địa phương Phát triển du lịch làng nghề chính là một hướng đi đúng đắn và phù hợp, được nhiều quốc gia ưu tiên trong chính sách quảng bá và phát triển du lịch Những lợi ích to lớn của việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thể hiện ở những con số tăng trưởng lợi nhuận kinh tế, ở việc giải quyết nguồn lao động địa phương mà hơn thế nữa, còn là một cách thức gìn giữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của dân tộc Đó là những lợi ích lâu dài không thể tính được trong ngày một ngày hai
Du lịch làng nghề truyền thống ngày càng hấp dẫn du khách và đang là một hướng phát triển du lịch ở nhiều quốc gia trên thế giới Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, xã hội, hình thức du lịch này còn góp phần bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hoá độc đáo của từng vùng miền, địa phương
Một địa phương muốn thu hút khách du lịch, tạo ra nhiều loại hình du lịch hấp dẫn đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách thì phải bắt tay vào việc xây dựng và phát triển các sản phẩm du lịch gắn liền với việc khai thác có chiều sâu và khai thác đúng tài nguyên du lịch của địa phương đó
Làng nghề vừa là sản phẩm du lịch đặc trưng khi làng nghề đó có khả năng hấp dẫn, thu hút khách, vừa là sản phẩm du lịch bổ sung khi tạo ra những mặt hàng lưu niệm cho du khách
Trong những năm gần đây, loại hình du lịch làng nghề ở Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, bởi những giá trị văn hóa lâu đời và cách sáng tạo sản phẩm thủ công đặc trưng ở mỗi vùng
Đi dọc chiều dài đất nước hình chữ S, du khách gần như có thể dừng chân ở bất cứ địa phương nào để tìm hiểu về làng nghề truyền thống Theo thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, hiện nay cả nước có khoảng hơn
3000 làng nghề thủ công, thuộc 11 nhóm nghề chính là sơn mài, gốm sứ, thêu ren, mây tre đan, cói, dệt, giấy, tranh dân gian, gỗ, đá, kim khí
Trang 15Lợi thế của phần lớn các làng nghề là nằm trên trục giao thông thuận lợi, cả đường bộ lẫn đường sông nên thuận tiện để xây dựng các chương trình
du lịch kết hợp Có thể kế đến các địa phương khá năng động trong việc phát huy lợi thế làng nghề để phát triển du lịch như Hà Nội, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Bắc Ninh, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam
Tuy nhiên, các chuyên gia du lịch cho rằng, mặc dù ở một số làng nghề
cụ thể nói riêng như lụa Vạn Phúc (Hà Tây cũ), gốm Bát Tràng (Hà Nội), tranh Đông Hồ, mộc Đồng Kỵ (Bắc Ninh), làng đá mỹ nghệ Non Nước (Đà Nẵng)… và Du lịch làng nghề Việt Nam nói chung trên thực tế đã thu hút một lượng du khách đáng kể nhưng vẫn chỉ là những nỗ lực tự phát, chưa hình thành được cách làm chuyên nghiệp
Bởi vậy, vấn đề đi tìm các biện pháp để du lịch làng nghề thực sự phát huy tiềm năng và hiệu quả, đóng góp ngày một lớn bền vững hơn cho mục tiêu phát triển du lịch cũng như phát triển kinh tế, xã hội, bảo tồn các giá trị văn hóa… được coi là nhiệm vụ hết sức cấp thiết, nhất là trong giai đoạn Việt Nam đang từng bước hội nhập toàn diện cùng với châu lục và thế giới
Từ những đề tài mang tính chất chuyên biệt hóa nêu trên, tác giả luận văn mong muốn tìm hiểu một hướng đi chung cho hoạt động du lịch làng nghề ở tỉnh Vĩnh Phúc sao cho có hệ thống và ngày càng đa dạng hơn nữa trong du lịch Vĩnh Phúc nói chung và du lịch làng nghề nói riêng Vì thế học viên đã quyết định chọn đề tài "Phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc" làm luận văn tốt nghiệp Từ đề tài này có thể có cái nhìn khái quát về lịch sử các làng nghề ở Vĩnh Phúc, hiện trạng của các làng nghề, vấn đề môi trường, vấn đề phát triển kinh tế cũng như văn hóa các làng nghề, khai thác cho phát triển du lịch làng nghề
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích
Mục đích của luận văn là góp phần phát triển du lịch làng nghề ở tỉnh
Vĩnh Phúc cũng như góp phần bảo tồn di sản văn hóa trong kinh doanh du lịch
Trang 16- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu các làng nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, trong đó tập trung vào một số làng nghề tiêu biểu, có khả năng phát triển du lịch, là những điểm thu hút khách du lịch của tỉnh Vĩnh Phúc
+ Phạm vi về thời gian: số liệu, tài liệu sẽ thu thập từ thời điểm năm
2006 đến nay, các định hướng và giải pháp phát triển được đưa ra cho thời gian tới
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đặt ra, các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau đã được sử dụng:
Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp Các thông tin này được thu
thập từ các công trình nghiên cứu, giảng dạy như giáo trình, bài báo của các tác giả trong và ngoài nước
Phương pháp khảo sát thực địa (điền dã): Phương pháp này sử dụng nhằm điều tra tổng hợp về điều kiện tự nhiên, KTXH của khu vực nhằm bổ
Trang 17sung, chỉnh sửa, cập nhật số liệu, thông tin đã thu thập Đồng thời, việc trực tiếp tham quan, khảo sát tại các làng nghề đã giúp tác giả đánh giá sâu sắc hơn về điều kiện phát triển du lịch làng nghề tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, đồng thời giúp đề xuất một số giải pháp sát với thực tế của địa phương hơn
Phương pháp thống kê: Là phương pháp tổng hợp các số liệu của các hiện tượng để tiến hành phân tích, so sánh nhằm làm rõ những vấn đề thuộc bản chất của hiện tượng nghiên cứu Qua các số liệu thống kê, ta có thể thấy được tính quy luật của các hiện tượng và rút ra được nhận xét và kết luận đúng đắn
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch làng nghề Chương 2: Thực trạng du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch làng nghề tỉnh Vĩnh Phúc
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH LÀNG NGHỀ 1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Làng nghề truyền thống
Từ buổi ban đầu, ngay trong một làng, phần lớn người dân đều làm
nông nghiệp, càng về sau có những bộ phận dân cư sống bằng nghề khác, họ
liên kết chặt chẽ với nhau, khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một số tổ
chức theo kiểu nghề nghiệp, tạo thành các phường hội như phường gốm,
phường đúc đồng, phường dệt vải… Từ đó, các nghề được lan truyền và phát
triển thành các làng nghề Như vậy, làng xã Việt Nam là nơi sản sinh ra nghề
thủ công truyền thống và các sản phẩm mang dấu ấn tinh hoa của nền văn
hóa, văn minh dân tộc Quá trình phát triển của làng nghề là quá trình phát
triển của tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn Lúc đầu sự phát triển đó từ một
vài gia đình, rồi đến cả họ và sau đó lan ra cả làng Trải qua một thời gian dài
lịch sử, lúc thịnh, lúc suy, có những nghề được lưu giữ, có những nghề bị mai
một hoặc mất hẳn và có những nghề mới ra đời
Theo tác giả Mai Thế Hởn, làng nghề được quan niệm là một cụm dân
cư sinh sống trong thôn (làng) có một hay một số nghề được tách ra khỏi nông
nghiệp để sản xuất kinh doanh độc lập Thu nhập từ các nghề đó chiếm tỷ
trọng cao trong tổng giá trị sản phẩm của toàn làng [21, tr.11-13]
Làng nghề theo quan niệm của tác giả Mai Thế Hởn là những làng có
tuyệt đại đa dân số làm nghề cổ truyền Nó được hình thành, tồn tại và phát
triển lâu đời trong lịch sử, được nối tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác kiểu
cha truyền con nối hoặc ít nhất cũng tồn tại hàng chục năm Trong làng sản
xuất mang tính tập trung, có nhiều nghệ nhân tài hoa và một nhóm người có
tay nghề giỏi làm hạt nhân để phát triển nghề Cùng với thời gian, các làng
Trang 19nghề thủ công này đã trở thành nghề nổi trội, một nghề cổ truyền, tinh xảo, với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp đã chuyên tâm sản xuất, có quy trình công nghệ nhất định và sống chủ yếu bằng nghề đó Sản phẩm làm ra mang tính tiêu biểu độc đáo, tinh xảo, nổi tiếng và đậm nét văn hóa dân tộc [21, tr.13-15]
Làng nghề là một cụm dân cư sinh sống mà ở đó tập trung một số lượng lớn lao động vào làm một hoặc một số nghề nào đó, chiếm ưu thế
về thời gian làm việc và số thu nhập so với nghề nông
Theo tác giả, để xác định một làng là làng nghề thì cần có những tiêu chí sau:
- Số hộ và số lao động làm nghề truyền thống ở làng đạt từ 50% trở lên so với tổng số hộ và lao động của làng
- Giá trị sản xuất và thu nhập từ ngành nghề truyền thống ở làng đạt trên 50% tổng giá trị sản xuất và thu nhập của làng trong năm
- Sản phẩm làm ra có tính mỹ nghệ mang đậm nét văn hóa và bản sắc dân tộc Việt Nam
- Sản xuất có quy trình công nghệ nhất định, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.2 Du lịch làng nghề truyền thống
Nhìn chung, khái niệm du lịch làng nghề vẫn còn khá mới mẻ ở nước ta
Du lịch làng nghề thuộc loại hình du lịch văn hóa đang thu hút sự quan tâm của nhiều du khách trong và ngoài nước Bởi làng nghề là nơi chứa đựng kho tàng kinh nghiệm kỹ thuật, bí quyết nghề nghiệp từ việc sử dụng nguyên liệu,
kỹ thuật chế tác đến chủ đề sáng tạo trong việc tạo ra một sản phẩm thủ công truyền thống Đó chính là phần văn hóa phi vật thể Ngoài ra, làng nghề còn
có các giá trị văn hóa vật thể như: đình, chùa, các di tích có liên quan trực tiếp đến làng nghề, các sản phẩm thủ công
Trang 20Theo Phạm Quốc Sử, du lịch làng nghề là một loại hình du lịch sinh thái nhân văn được tiến hành tại một làng nghề tiêu biểu, mà ở đó còn lưu giữ tương đối nguyên vẹn những di sản văn hóa làng xã truyền thống (di tích lịch
sử văn hóa, phong tục, lễ hội ), đặc biệt là truyền thống công nghệ cổ, thông qua những nghệ nhân tài giỏi Đến với mỗi làng nghề, du khách sẽ được khám phá và thẩm nhận những giá trị văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc, vừa độc đáo, mang tính đặc thù địa phương Ngoài sự chứng kiến tận mắt những thao tác công nghệ do các thợ thủ công thực hiện, du khách có thể tìm hiểu sâu hơn
về truyền thống công nghệ ở các nghệ nhân, có thể mua đồ lưu niệm là những sản phẩm công nghệ với giá cả phải chăng, có thể tìm kiếm các cơ hội đầu tư, hợp tác kinh doanh ( nếu là du khách thương gia), đồng thời đó cũng là dịp để
du khách lấy lại cân bằng về tinh thần sau những bức xúc, căng thẳng do nếp sống công nghiệp và cuộc sống đô thị gây ra Thông qua chuyến viếng thăm làng nghề, du khách sẽ thu lượm được nhiều nhất những giá trị văn hóa Việt Nam truyền thống ( bởi tính điển hình của làng nghề), và có thể hiểu sâu sắc hơn về đất nước và con người Việt Nam [32, tr19,20]
Từ đó, ta có thể hiểu du lịch làng nghề như sau: du lịch làng nghề là loại hình du lịch văn hóa mà du khách muốn thẩm nhận các giá trị văn hóa vật thể
và phi vật thể có liên quan mật thiết đến một làng nghề của dân tộc
1.2 Các điều kiện phát triển du lịch làng nghề
Sự phát triển du lịch làng nghề chịu ảnh hưởng bởi nhiều điều kiện
1.2.1 Điều kiện cung
1.2.1.1 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch quan trọng nhất của du lịch làng nghề chính là các làng nghề Nét nổi trội của một làng nghề là tài nguyên văn hóa, với những tinh hoa công nghệ truyền thống, những di tích lịch sử văn hóa, những cảnh quan hài hòa giữa những vẻ đẹp tự nhiên và nhân văn, những phong tục, tập quán, lễ hội…
Đối với hoạt động du lịch, làng nghề được xem là một loại tài nguyên du lịch nhân văn Mỗi làng nghề là một môi trường văn hóa, kinh tế- xã hội và
Trang 21công nghệ truyền thống lâu đời có khả năng thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm tài nguyên du lịch, phong phú thêm các hoạt động du lịch để hấp dẫn du khách góp phần vào mục tiêu phát triển chung Có thể nói rằng, du lịch làng nghề sẽ là địa chỉ lý tưởng để du khách tham quan tìm hiểu các giá trị văn hóa, các phong tục tập quán, lễ hội, chiêm ngưỡng và mua sắm những sản phẩm thủ công truyền thống
Tài nguyên du lịch làng nghề bao gồm các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống, đội ngũ các nghệ nhân và thợ làng nghề, các di tích lịch sử - văn hóa gắn với hoạt động sản xuất của làng nghề; hệ thống đình, chùa; truyền thống văn hoá, phong tục tập quán của dân cư làng nghề (yếu tố này ảnh hưởng lớn đến tính đặc thù, tính nhân văn của sản phẩm [19, tr 43-56])
1.2.1.2 Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch
Hệ thống giao thông vận tải, điện, nước, thông tin liên lạc, cơ sở lưu trú,
ăn uống, vui chơi giải trí…có ảnh hưởng rất lớn đến phát triển du lịch ở các làng nghề Trong công cuộc CNH-HĐH, sự phát triển của du lịch làng nghề chịu ảnh hưởng rất lớn bởi hệ thống cung cấp điện nước, tiến bộ công nghệ thiết bị, máy móc hiện đại để đổi mới công nghệ cổ truyền nhằm tăng năng suất lao động, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm và làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường Ngoài ra, sự hoạt động của du lịch làng nghề trong nền kinh tế thị trường còn chịu tác động mạnh của yếu tố thông tin nói chung, bưu chính viễn thông nói riêng Nó giúp nắm bắt kịp thời, nhanh chóng, chính xác những thông tin về thị trường, giá cả, mẫu mã, quy cách sản phẩm … để từ đó có những ứng xử thích hợp đáp ứng nhu cầu thị trường nói chung và thị trường
du lịch nói riêng
Trong nền kinh tế thị trường, không chỉ có kinh nghiệm cổ truyền mà phải có khoa học công nghệ hiện đại Kết hợp các yếu tố truyền thống với khoa học công nghệ hiện đại để tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, giá thành hạ nhưng vẫn mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, được người tiêu dùng trong xã hội hiện đại chấp nhận và tăng tính hấp dẫn cho du khách
Trang 221.2.1.3 Nguồn nhân lực
Nghệ nhân và đội ngũ thợ làng nghề là yếu tố rất quan trọng trong việc
phát triển du lịch làng nghề Tài năng của các nghệ nhân, thợ cả đã tạo nên những sản phẩm làng nghề tinh xảo và độc đáo Chính người nghệ nhân, người thợ cả đã giữ cho làng nghề tồn tại, đã đào tạo những người thợ mà trước hết là con cháu của họ, rồi đến những người trong làng và từ đời này qua đời khác kế tiếp nhau Để đến ngày nay có những nghề và những làng nghề nổi tiếng với những sản phẩm có một không hai, tạo nên tính hấp dẫn cho du khách Khả năng cạnh tranh, sức sống của sản phẩm làng nghề chủ yếu phụ thuộc vào tài hoa, kinh nghiệm tay nghề của nghệ nhân, thợ cả Vì vậy, phát triển du lịch làng nghề tùy thuộc rất nhiều vào việc xây dựng đội ngũ các nghệ nhân của các làng nghề và truyền nghề cho những người lao động trẻ tuổi
Đội ngũ lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động du lịch có vai trò quan trọng thúc đẩy du lịch làng nghề phát triển Bởi họ chính là những người cung cấp các loại hình và sản phẩm cho du khách như hướng dẫn, phục vụ ăn uống, vận chuyển, Những trải nghiệm của du khách tại làng nghề phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ do người dân địa phương cung cấp Vì vậy, kỹ năng làm du lịch của người dân làng nghề (kỹ năng phát triển sản phẩm, kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng chăm sóc khách hàng, kỹ năng quản lý…) có ảnh hưởng rất lớn đến việc phát triển du lịch làng nghề
1.2.1.4 Hoạt động xúc tiến quảng bá
Ngày nay hoạt động xúc tiến đã trở nên phổ biến và có sức thuyết phục lớn đối với người tiêu dùng Hoạt động xúc tiến có tác dụng định hướng cho
sở thích và hình thành thị hiếu và hành vi tiêu dùng của khách hàng
Hoạt động xúc tiến góp phần nâng cao giá trị sử dụng của sản phẩm, kích thích lòng mong muốn và hướng dẫn người tiêu dùng giúp họ tự tin lựa chọn hàng hóa và dịch vụ một cách thông minh và hiệu quả hơn
Trang 23Xúc tiến tuyên truyền quảng bá du lịch là biện pháp quan trọng để tạo lập và nâng cao hình ảnh của du lịch Việt Nam cả trong và ngoài nước nhằm thu hút khách, giáo dục du lịch toàn dân, góp phần thực hiện tuyên truyền đối ngoại và đối nội, cần được chú trong thời gian tới, tập trung vào:
- Nghiên cứu tâm lý, thị hiếu tập quán, thói quen tiêu dùng của các đối tượng khách để có những sản phẩm phù hợp với thị trường thông qua các hình thức tuyên truyền quảng cáo
- Tham gia thường xuyên các hội trợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo du lịch quốc tế ở nước ngoài; đồng thời tổ chức hội chợ, triển lãm, hội nghị, hội thảo du lịch quốc tế ở trong nước; phối hợp các ngành, địa phương, đơn vị liên quan tiến hành các chiến dịch phát động thị trường
- Tiến hành thiết lập Đại diện Du lịch Việt Nam ở những nước là đầu mối giao lưu quốc tế và thị trường trọng điểm
- Tăng cường tuyên truyền quảng bá trên các phương tiện truyền thông, thông tin đại chúng với các loại hình khác nhau
- Phối hợp với các lực lượng làm thông tin đối ngoại, tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài và hỗ trợ quốc tế để công tác xúc tiến quảng bá
Trang 24toàn dân, mạng lưới thương nghiệp của khu dân cư, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới điện, các rạp chiếu phim, nhà hát, viện bảo tàng
Đối với ngành du lịch thì yếu tố cơ sở hạ tầng kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ
sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Mặt khác phát triển du lịch cũng là một yếu tố tích cực thúc đẩy, nâng cao mở rộng cơ sở hạ tầng kỹ thuật du lịch của một vùng hay của cả đất nước
Hệ thống giao thông
Hệ thống giao thông vận tải, hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp, thoát nước; hệ thống cung cấp điện có tầm quan trọng đặc biệt vì nó nằm sát ngay nơi du lịch, nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong chừng mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch
1.2.3 Chính sách phát triển du lịch
Để du lịch làng nghề thực sự phát triển Chính phủ cần có hệ thống chính sách phát triển du lịch phù hợp trong chiến lược quy hoạch, các chương trình, các chương trình, đề án phát triển du lịch Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của đất nước; bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức mạnh cạnh tranh, tạo động lực phát triển kinh tế- xã hội
Chính sách dài hạn
- Nhóm chính sách khuyến khích du lịch: tạo điều kiện thuận lợi cho khách quốc tế đến Việt Nam; tăng cường năng lực, ứng dụng công nghệ cao, đơn giản hóa thủ tục xuất, nhập cảnh, miễn thị thực; khuyến khích đầu tư khu vực tư nhân vào các lĩnh vực, ngành nghề du lịch, đặc biệt
là cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất du lịch; ưu đãi đối với vùng sâu, vùng
xa có tiềm năng du lịch nhưng khả năng tiếp cận hạn chế; khuyến khích phát triển sản phẩm mới, sản phẩm đặc thù, sản phẩm/ dịch vụ mang
Trang 25tính chiến lược; hình thành quỹ thời gian nghỉ ngơi khuyến khích du lịch, tăng cường du lịch MICE, du lịch giáo dục, du lịch công đoàn, thanh niên và du lịch bởi nhóm xã hội; chú trọng du lịch cao cấp, điều tiết hợp lý du lịch đại chúng
- Nhóm chính sách kiểm soát chất lượng du lịch: nâng cao nhận thức, kiến thức về quản lý chất lượng, áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, hệ thống kiểm định, công nhận chất lượng phát triển; phát triển tôn vinh thương hiệu, thúc đẩy nhượng quyền thương hiệu; hình thành
và tôn vinh hệ thống danh hiệu, nhãn hiệu
- Nhóm chính sách phát triển du lịch bền vững: khuyến khích bằng công
cụ tài chính và hỗ trợ đối với các mô hình tiết kiệm năng lượng, sử dụng nguyên vật liệu địa phương, ứng dụng công nghệ sạch; khuyến khích ưu đãi đối với các dự án phát triển du lịch có sử dụng nhiều lao động địa phương; khuyến khích, hỗ trợ thực hiện chương trình giám sát môi trường tại các khu, tuyến điểm và cơ sở dịch vụ du lịch; cơ chế lập quỹ bảo tồn và phát huy các giá trị tự nhiên và nhân văn phục vụ hoạt động du lịch Khuyến khích hỗ trợ các loại hình du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm xã hội và môi trường
Chính sách cấp bách
- Chính sách đầu tư tập trung cho các khu du lịch trọng điểm quốc gia có sức cạnh tranh cao trong khu vực và quốc tế: ưu đã bằng các công cụ tài chính, thu hút FDI, hỗ trợ trực tiếp từ nhà nước về cơ sở hạ tầng, phát triển sản phẩm, phân cấp quản lý đối với du lịch quốc gia
- Chính sách đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng vùng, quốc gia
có sức mạnh khu vực và quốc tế; tăng cường nghiên cứu thị trường, xây dựng chiến lược sản phẩm; khuyến khích sản phẩm mới có tính chiến
Trang 26lược; hỗ trợ xây dựng và quảng bá thương hiệu du lịch vùng, thương hiệu quốc gia, sản phẩm đặc trưng; liên kết khai thác gia strij văn hóa, sinh thái và những tài nguyên du lịch nổi bật của vùng, quốc gia.
- Chính sách bảo vệ môi trường tại các khu, tuyến điểm, cơ sở dịch vụ:
áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường, kiểm tra xử lý vi phạm môi trường du lịch; kiểm định, đánh giá, tôn vinh những thương hiệu, nhãn hiệu du lịch “xanh”; xây dựng nếp sống văn minh du lịch
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực: khuyến khích đào tạo và chuyên gia kỹ năng tại chỗ; thu hút chuyên gia, nhân tài, nghệ nhân trong và ngoài nước phục vụ cho đào tạo du lịch; tăng cường chuẩn hóa kỹ năng, chương trình đào tạo; đẩy mạnh thẩm định, công nhận kỹ năng; tạo điều kiện di chuyển, chuyển đổi nghề nghiệp; hình thành mã ngành đào tạo du lịch ở các cấp đào tạo; sử dụng phí dịch vụ việc đào tạo và phát triển nhân lực
- Chính sách về xúc tiến quảng bá tại các thị trường trọng điểm: tăng cường nghiên cứu thị trường, phân đoạn các thị trường mục tiêu; hỗ trợ
về tài chính với các thị trường trọng điểm; hình thành các kênh quảng
bá toàn cầu đối với thị trường trọng điểm
- Chính sách phát triển du lịch cộng đồng: hỗ trợ phát triển các loại hình
du lịch dựa vào cộng đồng, du lịch nông thôn, nông nghiệp, làng nghề truyền thống, du lịch sinh thái dự vào cộng đồng, tăng cường năng lực tham gia của cộng đồng; tuyên truyền nâng cao nhận thức, hướng dẫn
kỹ thuật, hỗ trợ trang thiết bị cơ bản; tăng cường trách nhiệm kinh tế, chia sẻ lợi ích với cộng đồng
1.3 Các đặc điểm của làng nghề truyền thống phục vụ du lịch
- Hoạt động tổ chức sản xuất kinh doanh của làng nghề gắn liền với hoạt động du lịch
Trang 27Ngày nay, với xu hướng con người ngày càng thích những hình thức du lịch hướng về giá trị cội nguồn thì du lịch làng nghề đang dần được ưa chuộng; và làng nghề phục vụ cho phát triển du lịch trở thành một tài nguyên
du lịch quan trọng Vì vậy, các làng nghề phục vụ cho phát triển du lịch sẽ có
xu hướng phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh gắn liền với hoạt động
du lịch của du khách Quy mô sản xuất kinh doanh của các làng nghề này sẽ được mở rộng hơn với nhiều hình thức sản xuất, dịch vụ đa dạng Trong kế hoạch dài hạn, hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề phục vụ cho phát triển du lịch sẽ gắn liền với hoạt động của du lịch trong tỉnh, quốc gia Chính vì vậy, cần có sự liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa làng nghề phục vụ du lịch với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch và các tổ chức khác trong lĩnh vực du lịch nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch - các làng nghề
- Phát triển đa dạng về quy mô, cơ cấu ngành nghề và các dịch vụ khác phục vụ du lịch
Các làng nghề ở nước ta đều ra đời và tách dần từ nông nghiệp Ban đầu
do nhu cầu việc làm và thu nhập, người lao động ở nông thôn đã làm thêm nghề thủ công bên cạnh làm nông nghiệp Khi lực lượng sản xuất phát triển thì thủ công nghiệp tách ra thành ngành độc lập, vươn lên thành ngành sản xuất chính ở một số làng Sự kết hợp đa nghề này thường thể hiện trong một làng hay trong từng gia đình bởi người thợ thủ công vốn là người nông dân tách ra làm nghề thủ công
Cơ cấu ngành nghề đã có sự thích ứng với cơ chế thị trường và trở nên rất đa dạng,phong phú; đã có nhiều ngành nghề phát triển mạnh như sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản - thực phẩm,…Ở các địa phương khác nhau thì tỉ lệ ngành nghề cũng khác nhau do nhu cầu tiêu dùng khác nhau Đối với làng nghề phục vụ phát triển du lịch không chỉ tập trung vào khâu sản xuất nhằm tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, độc đáo, phù hợp với sở thích của khách du lịch; mà còn phải phát triển các dịch vụ du lịch khác như dịch
Trang 28vụ lưu trú, ăn uống, tham quan, trưng bày, trải nghiệm, tiếp thị, vận chuyển…Đặc biệt là phải liên kết với các công ty du lịch để khách du lịch có thể tiếp cận với sản phẩm du lịch của làng nghề
Về quy mô, đại bộ phận các cơ sở sản xuất kinh doanh trong làng nghề
có quy mô nhỏ, vốn ít Tính đặc thù của làng nghề là phát triển với nhiều mô hình sản xuất, hình thức tổ chức của các đơn vị sản xuất cũng mang đậm sắc thái nông nghiệp nông thôn (các hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã…) Trong sản xuất
có sự kết hợp đan xen yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại trên cơ sở tận dụng tiềm năng và lợi thế lao động của mỗi địa phương
- Sản phẩm du lịch của làng nghề được cụ thể hóa thành sản phẩm thủ công mỹ nghệ theo hướng thỏa mãn nhu cầu của du khách
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ của làng nghề đều là sản phẩm của phương pháp thủ công tinh xảo với sự sáng tạo nghệ thuật của nghệ nhân Vì thế các sản phẩm thủ công truyền thống vừa mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc vừa mang tính đặc thù riêng của mỗi làng nghề Tuy nhiên để tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút khách du lịch đến với làng nghề thì các sản phẩm của làng nghề cần phải phù hợp và đáp ứng được nhu cầu của du khách như
về mẫu mã, kích thước, trọng lượng, độ bền, sự an toàn…
- Các làng nghề phục vụ du lịch là sự kết tinh giá trị văn hóa lâu đời của
dân tộc
Làng nghề không chỉ là đơn vị kinh tế, thực hiện mục tiêu sản xuất mà còn thể hiện đời sống sinh hoạt, cảnh quan thiên nhiên và phong tục tập quán của mỗi miền quê mang đậm nét đặc trưng của nền văn hóa dân tộc, của cộng đồng làng xã qua từng thời kỳ lịch sử
1.4 Ý nghĩa của việc phát triển du lịch làng nghề
Việc phát triển du lịch làng nghề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -xã hội và môi trường ở địa phương
- Phát triển du lịch làng nghề góp phần khai thác các nguồn lực về tài
nguyên, vốn đầu tư, cơ sở vật chất - kỹ thuật ở địa phương
Trang 29Hệ thống các làng nghề với các đặc điểm đặc trưng riêng có ngày càng cung cấp và đáp ứng nhu cầu du lịch nhân văn của khách du lịch nhiều hơn Điều này đã biến các làng nghề trở thành điểm đến du lịch hấp dẫn, góp phần làm phong phú thêm tài nguyên du lịch cho địa phương
Làng nghề thường có quy mô sản xuất nhỏ, sử dụng bí quyết và công nghệ sản xuất truyền thống là chủ yếu nên phù hợp với khả năng huy động vốn và các điều kiện vật chất của các hộ gia đình, các chủ thể sản xuất kinh doanh Đây được xem là là lợi thế để các làng nghề phục vụ du lịch huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, cải thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật, góp phần phát triển du lịch của địa phương
- Phát triển du lịch làng nghề góp phần tăng nhu cầu và đa dạng hóa các
sản phẩm du lịch cho địa phương
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch Mỗi sản phẩm của làng nghề phục
vụ du lịch là sự kết hợp của văn hóa nghệ thuật và tinh thần Tuy nhiên, sự phát triển của làng nghề phục vụ du lịch cũng chịu sự tác động của nền kinh
tế thị trường Hoạt động sản xuất và kinh doanh ở đây đã nhạy bén hơn với cơ chế thị trường trong việc cải tiến mẫu mã, chất lượng và linh hoạt thay đổi hướng sản xuất Vì vậy, sản phẩm của làng nghề phục vụ du lịch phát triển phong phú cả hình thức vật thể (sản phẩm thủ công mỹ nghệ) và phi vật thể (các loại hình dịch vụ du lịch) Điều này góp phần làm đa dạng hóa sản phẩm
du lịch của địa phương, đáp ứng nhu cầu của du khách
Du lịch làng nghề đã góp phần tạo nên những điểm đến du lịch mới, hấp dẫn du khách hơn; đồng thời mở rộng sự liên kết, hợp tác trong phát triển du lịch ở địa phương, và với các công ty du lịch lữ hành để thực hiện tour du lịch làng nghề cho khách du lịch
-Phát triển du lịch làng nghề góp phần giải quyết việc làm cho người lao
động ở nông thôn và xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại
Trang 30Việc phát triển du lịch làng nghề không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất của làng nghề phát triển mà còn kéo theo sự phát triển của nhiều loại hình dịch vụ khác như lưu trú, hướng dẫn, ăn uống, vận chuyển…để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch Điều này đồng nghĩa với việc tạo nhiều việc làm hơn, không chỉ thu hút lao động ở làng nghề mà còn thu hút được nhiều lao động
từ các địa phương khác đến Qua đó, người lao động địa phương có việc làm
ổn định, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống
Sự phát triển du lịch làng nghề yêu cầu phải có cơ sở hạ tầng - kỹ thuật phát triển để đáp ứng nhu cầu của du khách Đồng thời khi du lịch làng nghề phát triển tạo một nguồn thu nhập cho người dân và địa phương làng nghề Từ
đó kích thích sự đầu tư phát triển cơ sở vật chất- kỹ thuật Thêm nữa, khi phát triển du lịch làng nghề người dân địa phương có điều kiện mở rộng sự hiểu biết và nâng cao dân trí thông qua việc tiếp xúc với khách du lịch và thông qua việc họ làm du lịch Vì thế, có thể nói rằng phát triển du lịch làng nghề góp phần thúc đẩy quá trình xây dựng nông thôn mới văn minh, hiện đại; thu dần khoảng cách giữa thành thị với nông thôn
- Phát triển du lịch làng nghề góp phần gìn giữ, bảo tồn giá trị, bản sắc
văn hóa
Lịch sử làng nghề gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa của dân tộc Việt Nam, nó vừa là nhân tố góp phần tạo nên nền văn hóa ấy, vừa là sự biểu hiện tập trung nhất bản sắc của dân tộc Việt Nam Những phong tục tập quán, các di tích lịch sử, đền thờ, miếu mạo … của mỗi làng nghề vừa có nét chung của văn hóa dân tộc, vừa có nét riêng độc đáo Sản phẩm của làng nghề vừa
là sự kết tinh các giá trị văn hóa của dân tộc vừa mang nét đặc sắc riêng biệt
mà các thế hệ cha ông ta đã truyền lại cho thế hệ con cháu đời sau Với những đặc điểm đặc biệt ấy sản phẩm thủ công của làng nghề không còn là hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa với tính nghệ thuật cao Thông qua hoạt động du lịch, các sản phẩm của mỗi làng nghề đến được với du
Trang 31khách Từ đó sản phẩm của làng nghề được quảng bá rộng rãi và được nhiều người biết đến hơn.Chính vì vậy, phát triển du lịch làng nghề góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc
- Phát triển du lịch góp phần bảo vệ môi trường của các làng nghề
Trong kinh doanh du lịch, môi trường tự nhiên cũng như xã hội là tài sản chính của người làm du lịch Một cách trực giác, tài nguyên được chế biến thành sản phẩm du lịch cho khách tiêu dùng không hề thấy mất đi hay hao mòn Nhưng trên thực tế, tài nguyên đó, kể cả tự nhiên cũng như nhân văn đang bị hao mòn Thiên nhiên bị xâm hại do sự có mặt thường xuyên của du khách Xã hội, nguồn tài nguyên nhân văn đang bị biến đổi từng ngày bởi hoạt động du lịch Khi tự nhiên không còn đa dạng, phong phú, tương phản, hoang sơ, khi môi trường không còn trong lành; khi văn hóa bản địa không còn nét riêng của mình, khi tệ nạn xã hội phát triển, thiếu an toàn thì du lịch
sẽ mất dần ý nghĩa
1.5 Một số bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch làng nghề
1.5.1 Du lịch làng nghề của Thái Lan
Việc tổ chức lại các làng nghề ở Thái Lan đã tạo ra giá trị nhiều mặt: bảo tồn và nâng cao kỹ năng tay nghề nghệ nhân, gìn giữ văn hóa truyền thống, tạo công ăn việc làm ở nông thôn ngăn chặn làn sóng di cư vào đô thị, tạo ra sản phẩm xuất khẩu, sản phẩm du lịch
Thái Lan có khoảng 70.000 làng nghề thủ công Để khai thác kỹ năng của các làng nghề, tạo ra thêm thu nhập, giải quyết lao động địa phương, từ năm
2001, Chính phủ Thái Lan đã thực hiện dự án OTOP (One Tambon One Product: mỗi làng nghề một sản phẩm) Đây là chương trình chiến lược từ sáng kiến của Cục xúc tiến xuất khẩu (DEP) thuộc Bộ Thương mại Thái Lan Mỗi làng nghề một sản phẩm không có nghĩa là mỗi làng chỉ có một sản phẩm
mà mỗi làng có kỹ năng, văn hóa, truyền thống riêng kết tinh trong sản phẩm trở thành đặc trưng riêng của làng nghề trong sản phẩm Chính phủ hỗ
Trang 32trợ kết nối địa phương với toàn cầu, thông qua việc hỗ trợ tiêu chuẩn hóa sản phẩm, hoàn tất đóng gói, tiếp thị, tổ chức kênh phân phối ở hải ngoại
Ý tưởng ‘mỗi làng một sản phẩm’ (One Village One Product Movement) viết tắt là OVOP được Morihiko Hiramatsu khởi xướng và bắt đầu triển khai
ở quận Oita (Nhật Bản) từ năm 1979 Sau đó, một số nước ở Châu Á đã áp dụng mô hình này và được đổi thành OTOP (One Town One Product, hoặc One Tambon One Product), có nghĩa là mỗi thị trấn hay mỗi địa phương một sản phẩm Những sản phẩm này dựa vào nguồn nguyên liệu ở địa phương, cộng với kỹ năng, kỹ xảo được truyền từ đời này sang đời khác của người dân địa phương để làm ra các loại sản phẩm thủ công đặc trưng của từng địa phương như đồ mỹ nghệ, hàng may mặc, đồ gốm, đồ gia dụng, thực phẩm, vv phục vụ người tiêu dùng, khách du lịch, kể cả xuất khẩu Tùy nơi, hàng hóa mang nhãn hiệu OTOP được chính phủ giảm thuế, hoặc miễn thuế
Trong chương trình một tour du lịch hiện đại, việc đưa du khách đến mua sắm ở những cửa hàng OTOP là việc làm cần thiết Sự phong phú và hấp dẫn của các sản phẩm này đã làm cho du khách không còn thời gian để cân nhắc hầu bao của mình
Thái Lan là nước phát triển OTOP rất thành công Với chính sách khuyến khích và hỗ trợ của cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra, hiện nay ở Thái Lan có khoảng 36.000 mô hình OTOP, mỗi mô hình tập hợp từ 30 đến 3.000 thành viên tham gia Sự phát triển OTOP đã giúp nghề thủ công truyền thống của Thái Lan được duy trì Nó đã giúp cho người dân Thái giải quyết được công ăn việc làm, làm ra nhiều sản phẩm đặc sắc của từng địa phương, góp phần tăng thu nhập cho người dân tham gia và điều quan trọng là giữ được giá trị tri thức truyền thống trong văn hóa lâu đời của họ Thủ tướng Thaksin cho biết chính phủ Thái Lan sẽ tiếp tục giúp các cộng đồng địa phương nâng cao chất lượng sản phẩm theo chương trình OTOP để
Trang 33có thể tăng doanh thu thông qua việc chỉ thị cho các trường đại học mở các phòng vi-tính tạo phần mềm thiết kế các mẫu sản phẩm OTOP, đồng thời lập
ra các trang thông tin nhằm giúp khách hàng nước ngoài có thể đặt mua hàng qua mạng Ngoài ra, chính phủ cũng sẽ giúp tổ chức các chuyến du lịch tới các làng nghề để du khách nước ngoài có thể tận mắt thấy được các sản phẩm OTOP được sản xuất như thế nào
Ngoài mục đích phát triển du lịch, một khía cạnh tích cực hơn, mô hình OTOP cần khuyến khích người dân sử dụng nguồn nguyên liệu có sẵn tại chỗ, dựa vào tri trức truyền thống bản địa để làm ra sản phẩm đặc trưng của địa phương mình Ngoài ý nghĩa kinh tế, đây là cách bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên ở địa phương, và giữ gìn tri thức bản địa một cách hiệu quả
1.5.2 Du lịch làng nghề tại Hà Nội
Đến nay với việc tiếp nhận toàn bộ địa bàn tỉnh Hà Tây - vùng đất được mệnh danh là “đất trăm nghề” - Hà Nội đã trở thành nơi hội tụ của sự tài hoa, khéo léo trong ngành thủ công mỹ nghệ cả nước Những làng nghề không chỉ mang lại việc làm cho nhân dân, sản xuất hàng hóa phục vụ xã hội mà còn góp phần đáng kể vào công cuộc phát triển kinh tế, thay đổi diện mạo nông thôn, đặc biệt đã và đang trở thành những khu, vùng, điểm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước
Trong quá trình phát triển làng nghề, từ đòi hỏi thực tiễn, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân được nâng cao, nhiều công trình văn hóa xã hội được xây mới, cải tạo, các di tích lịch sử, văn hóa cũng được quan tâm trùng tu, tạo tiền đề cho hoạt động du lịch làng nghề Hơn nữa, hoạt động sản xuất làng nghề phát triển còn là động lực thúc đẩy phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin, y tế giáo dục… tác động trở lại, tạo điều kiện phát triển mạnh hơn nghề truyền thống của địa phương
Trang 34Để phát triển du lịch làng nghề đòi hỏi phải có sự kết nối sâu rộng hơn giữa các làng nghề để khai thác triệt để những tiềm năng còn bỏ ngỏ Đây còn
là phương thức nhân lên sức mạnh thương hiệu, góp phần giải quyết mối quan
hệ giữa bảo tồn và phát triển làng nghề trong hội nhập Nhưng trên thực tế, những người lao động trong các làng nghề vốn chưa quen làm du lịch, dịch
vụ, nên còn hạn chế trong cung cách phục vụ Do đó, vấn đề cần được quan tâm khi phát triển loại hình du lịch này là cần có định hướng và sự hỗ trợ tích cực từ các cấp, ngành hữu quan Đặc biệt là phát triển và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, có giải pháp quản lý chất lượng dịch vụ từ các khâu chuyên chở, phục vụ, đón tiếp, hướng dẫn và điều hành, đồng thời có biện pháp hữu hiệu để loại bỏ các tệ nạn trong khu vực di tích, lễ hội, nhằm tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho du khách Bên cạnh đó, xây dựng từng loại hình du lịch phù hợp, tạo ra các sản phẩm du lịch đa dạng, đáp ứng nhu cầu của từng đối tượng khách du lịch
Được biết, thời gian qua, Hà Nội đã đưa vào khai thác tour thăm quan các làng nghề, song nhìn chung khách đi tour này còn quá ít Theo đánh giá, hiện việc phát triển các tour du lịch làng nghề trên địa bàn Thủ Đô còn nhiều khó khăn, nhất là vấn đề cơ sở hạ tầng, giao thông, phong cách phục vụ thiếu sự chuyên nghiệp…Để hỗ trợ các làng nghề phát triển nhanh, mạnh và bền vững, nhất là khai thác tiềm năng du lịch, dịch vụ, trong năm 2009, Sở Công Thương Hà Nội đã thực hiện nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ phát triển nghề và làng nghề, điển hình như thực hiện đánh giá thực trạng môi trường làng nghề lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy Tổ chức thu thập thông tin về các làng nghề để xuất bản sách và sản xuất phim giới thiệu về tiềm năng phát triển nghề và làng nghề… Đặc biệt, từ nguồn kinh phí khuyến công quốc gia và khuyến công địa phương, Trung tâm Khuyến công Hà Nội đã tổ chức được 45 lớp đào tạo truyền nghề, nhân cấy nghề mây tre đan, thêu ren, sơn mài, dệt khăn, điêu khắc… cho 2.250 học viên, triển khai 7 chương trình lớn tập trung vào công
Trang 35tác truyền nghề, nhân cấy và nâng cao tay nghề, hỗ trợ đổi mới công nghệ tại các làng nghề, nâng cao kỹ năng quản trị cho các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…; tổ chức cho doanh nghiệp tham gia hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm Làng nghề nhằm quảng bá và xúc tiến đầu tư, liên kết kinh doanh, hợp tác sản xuất giữa các vùng và địa phương, tạo tiền đề quan trọng để các làng nghề bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa ngày càng hiệu quả
1.5.3 Du lich làng nghề tại Thừa Thiên – Huế
Với định hướng phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Thừa Thiên Huế đang phấn đấu thực hiện mục tiêu đề ra: đón ba triệu khách vào năm 2015, trong đó có gần 50% khách quốc tế Để đạt mục tiêu trên, vấn đề đặt ra là đẩy mạnh liên doanh, liên kết, tích cực thu hút các nguồn vốn trong nước
và ngoài nước để triển khai lồng ghép các tour, tuyến du lịch gây ấn tượng
Mấy năm gần đây, tỉnh quan tâm đến tour du lịch làng nghề, xem đây là loại hình du lịch văn hóa tổng hợp đưa du khách tham quan, thẩm nhận các giá trị văn hóa và mua sắm những hàng hóa đặc trưng của các làng nghề Toàn tỉnh hiện có 88 làng nghề, trong đó có 69 làng nghề thủ công truyền thống có thể xây dựng và phát triển thành các tour du lịch làng nghề với nét đặc trưng riêng như làng gốm Phước Tích, làng thêu Thuận Lộc, làng nón Phú Cam, đúc đồng Phường Đúc, điêu khắc Mỹ Xuyên, đan lát Bao La…
Vào những năm lẻ, Thừa Thiên Huế có festival nghề truyền thống là dịp phô diễn, quảng bá sản phẩm thủ công mỹ nghệ Đây cũng là điểm nhấn để hình thành tour du lịch làng nghề Điểm lại hoạt động khai thác tuyến du lịch làng nghề, thấy rằng công việc hãy còn là sự khởi động ban đầu Làng nghề
và thế mạnh nghề truyền thống thì đã quá rõ, nhưng điều đặt ra là chất lượng sản phẩm, đầu ra cho các làng nghề chưa được khơi thông Một vài làng nghề
tự mày mò chào bán sản phẩm mang tính tự phát chưa định hình bền vững nên chưa phát huy tốt tiềm năng của mình Chưa có sự kết nối, đó là vấn đề được đặt ra ở nhiều hội nghị, hội thảo Làng nghề kết nối với doanh nghiệp du
Trang 36lịch, công ty lữ hành là điều kiện tốt nhằm phát huy thế mạnh của du lịch làng nghề Do vậy, để phát triển được loại hình du lịch này cần có sự góp sức rất nhiều từ các nhà làm chính sách, các cấp chính quyền cùng cư dân làng nghề; mấu chốt vẫn là các doanh nghiệp trong ngành du lịch Khi doanh nghiệp quan tâm đến loại hình du lịch này, nó sẽ là cơ hội tốt để doanh nghiệp quảng
bá hình ảnh của mình đến với du khách
Các nhà quản lý chuyên ngành du lịch cho rằng, tuyến du lịch làng nghề là
xu hướng thu hút du khách, nó tạo sự hấp dẫn, mới lạ Rất nhiều du khách đã
về tận các làng nón để được tận mắt chứng kiến và tham gia vào các công đoạn của nghề làm nón Du khách đã thật sự bất ngờ, thích thú khi được người thợ nón lưu tên, ảnh của họ vào chiếc nón bài thơ mang về làm vật kỷ niệm của chuyến du lịch về vùng đất Cố đô Huế Qua các kỳ festival, tour du lịch “Hương xưa làng cổ” đã làm sống lại một làng nghề gốm cổ của làng quê Phước Tích nằm bên dòng sông Ô Lâu hiền hòa thơ mộng Làng nghề Phước Tích còn là một ngôi làng cổ độc đáo, cả làng sống nhờ nghề gốm Bao nhiêu năm khó khăn do nghề gốm trên đường mai một, nay qua tuyến du lịch
“Hương xưa làng cổ” Phước Tích đang mở ra cơ hội mới phục hồi làng nghề Tuy nhiên, để phục hồi làng nghề không phải là chuyện ngày một ngày hai Làng nghề muốn phát triển cần có sự quy hoạch tổng thể, quy hoạch điểm nhấn, gắn phát triển sản xuất với du lịch và đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, đăng ký bản quyền cho sản phẩm làng nghề Khi các làng nghề đã có thương hiệu trên thị trường sẽ tạo nên sức mạnh giúp giải quyết được một lượng lớn lao động thu nhập thấp ở nông thôn có việc làm ổn định, tăng thu nhập Đây cũng là hướng đi góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông thôn theo hướng xây dựng hình ảnh nông thôn mới
Phát triển ngành nghề truyền thống, chú ý tour du lịch làng nghề cần có cơ chế chính sách hỗ trợ cho làng nghề bảo tồn và phát triển Đây là vấn đề đặt ra cho nhiều ngành, nhiều cấp Một vài hình ảnh mà Công ty Du lịch Hương Giang, Công ty lữ hành Hương Giang khi xây dựng tour du lịch sinh thái làng
Trang 37quê đã nối kết được với sự phát triển của nghề truyền thống, nó khơi dậy trong người dân những suy nghĩ mới về nghề nghiệp của mình
Phát triển du lịch làng nghề vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như hiệu quả kinh doanh của du lịch vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có; tính bền vững chưa cao, sản phẩm làng nghề còn đơn điệu, chưa mang tính cạnh tranh… Đó là những vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định chiến lược phát triển du lịch suy nghĩ, tìm hướng phát triển để khai thác tốt nhất thế mạnh dịch vụ - du lịch của Thừa Thiên Huế Du lịch làng nghề phải được xem là dự
án phát triển trong tầm nhìn chiến lược phát triển du lịch tổng thể của tỉnh để thế mạnh này không chỉ là những nhà hàng, khách sạn, lăng tẩm trên địa bàn thành phố Huế mà nó được mở rộng ra về các làng nghề, đô thị mới ở các huyện, thị xã; làm phong phú địa chỉ tham quan du lịch, hấp dẫn du khách bốn phương
1.5.4 Du lịch làng nghề tại Quảng Nam
Quảng Nam hiện có 61 làng nghề, đa dạng về quy mô và loại nghề truyền thống Những làng nghề này sau khi khôi phục hoạt động khá tốt còn trở thành những điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước
Làng rau Trà Quế (thôn Trà Quế, xã Cẩm Hà, thành phố Hội An) là một trường hợp điển hình Cũng những công việc hàng ngày như cuốc đất, vun luống, bón phân, gieo hạt, trồng rau… nhưng ngoài thu hoạch sản phẩm, nhà vườn ở đây còn có nguồn thu đáng kể từ du lịch Từ năm 2003, khi tour "Một ngày làm cư dân phố cổ" ra đời, nhiều du khách, đặc biệt là du khách nước ngoài, đã đến thăm Trà Quế và trực tiếp tham gia việc trồng rau với các nhà vườn "Sau gần 5 năm đưa vào khai thác, đến nay đã có hàng ngàn du khách trong và ngoài nước đến thăm làng rau Trà Quế và tỏ ra rất thích thú với điểm du lịch này", giám đốc một công ty du lịch cho biết
Tại làng gốm Thanh Hà, nằm bên bờ sông Thu Bồn, thuộc xã Cẩm Hà, cách phố cổ Hội An khoảng 2km về hướng Tây, người dân nơi đây đã mở ra các dịch vụ như hướng dẫn du khách cách làm gốm từ khâu nhào đất sét, nắn hình thù đến cách nung sao cho có màu bóng đẹp không bị cháy, bị chai Du
Trang 38khách đến đây, ngoài việc tha hồ lựa chọn các sản phẩm lưu niệm bằng gốm độc đáo, còn được tận mắt chứng kiến những thao tác điêu luyện từ những bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề này Gốm Thanh Hà được sản xuất hoàn toàn bằng thủ công, sản phẩm chủ yếu là đồ dùng phục vụ đời sống sinh hoạt hằng ngày như chén, bát, chum, vại, bình hoa, chậu cảnh, Điểm đặc biệt của sản phẩm gốm Thanh Hà là nhẹ hơn so với các sản phẩm cùng loại của những địa phương khác
Làng đúc đồng Phước Kiều cũng vậy, nằm kề bên quốc lộ 1A, thuộc xã Điện Phương huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam Đây là một làng nghề đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước với các sản phẩm bằng đồng phục vụ trong các dịp
tế lễ, hội hè như chuông, chiêng, kiểng, mõ, phèng la; các vật dụng thông thường trong đời sống như lư hương, chân đèn, nồi niêu, xoong chảo, chén bát và cả các loại binh khí cổ như gươm, dao, giáo, mác Ông Trần Văn Quang, cán bộ phụ trách làng nghề thuộc phòng Công Thương huyện Điện Bàn cho biết, hiện phòng đã tận dụng nguồn quỹ khuyến công của huyện đầu tư mở các lớp đào tạo nghề cho thợ trẻ, nhằm gìn giữ Làng nghề có từ lâu đời này
Một số làng nghề khác như làng nghề dệt Mã Châu, làng dệt chiếu cói Bàn Thạch cũng khá nổi tiếng Để duy trì được các làng nghề này, ngoài việc gắng giữ nét độc đáo truyền thống của làng nghề mình, người dân và chính quyền địa phương còn phải luôn tạo ra những sản phẩm mới mẻ, dịch vụ đa dạng để có thể thu hút được du khách
Hiện lãnh đạo địa phương và người dân của những làng nghề này đang
nỗ lực trong việc tiếp cận với khách du lịch nhằm tạo thêm nguồn thu cho người dân làng nghề, điều mà các làng nghề như làng rau Trà Quế, gốm Thanh Hà đã làm rất hiệu quả
1.5.5 Bài học cho phát triển du lịch làng nghề Vĩnh Phúc
Trên cơ sở kinh nghiệm của một số địa phương, có thể rút ra một số bài học đối với tỉnh Vĩnh Phúc trong phát triển du lịch làng nghề như sau:
- Phát triển du lịch làng nghề phải gắn với xu hướng phát triển du lịch hiện đại Trong chương thình một tour du lịch hiện đại thì việc đưa du khách đến các làng nghề để tham quan, trải nghiệm và mua sắm là cần thiết
Trang 39- Tôn vinh các nghệ nhân, đồng thời chú trọng đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở các làng nghề theo yêu cầu của thị trường và của việc phát triển du lịch làng nghề
- Hướng dẫn và đào tạo cho cư dân ở các làng nghề cách thức, kỹ năng làm du lịch [12, tr59-78]
- Từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm cho từng làng nghề phục vụ
du lịch theo phương châm “mỗi làng nghề một sản phẩm” [8]
Trang 40TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Chương 1 luận văn đã giải quyết được hai vấn đề: Cơ sở lý luận và cơ
sở thực tiễn của du lịch làng nghề
Như vậy, làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công có lịch sử phát triển lâu đời Đây là trung tâm sản xuất hàng thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống
Du lịch làng nghề là một hoạt động du lịch vừa có tính chất của du lịch thôn quê, vừa có tính chất của du lịch văn hóa đồng thời có cả yếu tố của du lịch sinh thái Hoạt động du lịch diễn ra trong không gian làng nghề thủ công truyền thống vừa có giá trị văn hóa lẫn giá trị kinh tế Đây là hoạt động giúp nâng cao hiểu biết của khách du lịch về lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề góp phần tăng thêm tình yêu quê hương đất nước, tình yêu cuộc sống mang lại lợi ích kinh tế - xã hội cho địa phương
Mặc dù du lịch làng nghề có nhiều ưu điểm nhưng không phải làng nghề thủ công truyền thống nào cũng có thể phát triển loại hình du lịch này
Để phát triển, cần đến một số điều kiện nhất định bao gồm các điều kiện để bản thân làng nghề có thể tồn tại và phát triển lâu dài và các điều kiện cho hoạt động du lịch phát triển
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng du lịch Bắc Bộ của đồng bằng sông Hồng, nơi có nhiều tài nguyên về du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn Trong đó làng nghề thủ công truyền thống cũng là một tài nguyên quan trọng góp phần phát triển du lịch Vĩnh Phúc có một số làng nghề có tiềm năng phát triển du lịch như làng gốm Gốm Hương Canh, làng đục đá Hải Lựu, làng mây tre đan Triệu Đề, làng Rắn Vĩnh Sơn Các làng nghề này đều
có những vị trí thuận lợi đó là nằm gần kề các khu du lịch lớn của tỉnh, đồng thời cũng lưu giữ những giá trị văn hóa thuận lợi cho việc phát triển làng nghề gắn với du lịch