1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chính sách ngôn ngữ ở nhật bản thời cận đại

95 848 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vừa tồn tại và hành chức với tư cách là một loại phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy của con người, biến đổi và phát triển theo những quy luật khách quan của riêng mình, ngôn ngữ c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng

cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào trước đây Các bài trích dẫn tài liệu đều là những tài liệu đã được công nhận

Hà Nội, tháng 01 năm 2015

Học viên

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đại học Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập tại trường

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Thị Việt Thanh, người thầy hướng dẫn đã đào tạo, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm, cùng toàn thể các thầy các

cô trong khoa Đông phương học, Trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn đã chỉ bảo, cung cấp những kiến thức quí báu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, Ban giám hiệu Trường Đại học Hà Nội, Khoa tiếng Nhật Trường Đại học Hà Nội đã giúp đỡ và tạo mọi điều thuận lợi cho tôi hoàn thành tốt khóa học

Tôi xin chân thành cảm ơn những ý kiến đóng góp và sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn này

Cuối cùng, với lòng biết ơn sâu sắc nhất tôi xin gửi lời cám ơn tới toàn thể gia đình tôi đã luôn ở bên cạnh động viên, giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt luận văn này

Hà Nội, tháng 01 năm 2015

Học viên

Trần Thị Thanh Thủy

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 6

1.1 Chính sách ngôn ngữ 6

1.1.1 Khái niệm chính sách ngôn ngữ 6

1.1.2 Các hệ vấn đề của chính sách ngôn ngữ ………10

1.1.3 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ 13 1.1.4 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ 18

1.2 Cảnh huống ngôn ngữ 18

Tiểu kết 19

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI CÁCH NGÔN NGỮ Ở NHẬT BẢN GIAI ĐOẠN CẬN ĐẠI 21

2.1 Cảnh huống ngôn ngữ Nhật Bản 21

2.1.1 Bối cảnh lịch sử Nhật Bản giai đoạn cận đại……… 21

2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ - tộc người của Nhật Bản……… 24

2.1.3 Những đặc điểm cơ bản trong cấu trúc nội tại của tiếng Nhật… 26

2.2 Các tổ chức chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất chính sách ngôn ngữ giai đoạn cận đại 33

2.3 Các đề xuất cải cách ngôn ngữ 35

2.3.1 Các đề xuất liên quan tới việc sử dụng chữ Kana 36

2.3.2 Đề xuất sử dụng hệ chữ Latinh (Rōmaji) 40

2.3.3 Đề xuất sử dụng chữ viết mới 45

2.3.4 Đề xuất hạn chế số lượng chữ Hán 46

2.3.5 Đề xuất xóa bỏ tiếng Nhật thay thế sử dụng tiếng Anh 48

Tiểu kết 49

Trang 6

CHƯƠNG 3: CÁC QUYẾT ĐỊNH CỦA CHÍNH QUYỀN VỀ CHÍNH

SÁCH NGÔN NGỮ VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN 52

3.1 Các chính sách nhằm nâng cao vị thế và khả năng hoạt động của tiếng Nhật trong xã hội 52

3.1.1 Công cuộc cải cách giáo dục 52

3.1.2 Các chính sách ngôn ngữ trong giáo dục 55

3.2 Chính sách nhằm cải tiến tiếng Nhật cho hợp lý, khoa học, dễ sử dụng 65

3.2.1 Chính sách về chữ viết 66

3.2.2 Vấn đề từ vựng 74

3.2.3 Vấn đề phương ngữ và ngôn ngữ chuẩn 78

3.3 Ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ đến một số lĩnh vực 79

3.3.1 Ảnh hưởng đến văn học Nhật Bản 79

3.3.2 Ảnh hưởng đến thơ ca Nhật Bản 80

Tiểu kết 81

KẾT LUẬN 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 7

Trong chính sách ngôn ngữ, ngôn ngữ là đối tượng chịu tác động chủ yếu nhất Vừa tồn tại và hành chức với tư cách là một loại phương tiện giao tiếp, phương tiện tư duy của con người, biến đổi và phát triển theo những quy luật khách quan của riêng mình, ngôn ngữ còn chịu những tác động rất lớn của các yếu tố bên ngoài như thể chế chính trị, điều kiện xã hội, tình trạng dân cư…, thường được gọi chung bằng thuật ngữ “cảnh huống ngôn ngữ”, trong đó góp phần không nhỏ là yếu tố chủ quan của con người, đặc biệt là những nhà cầm quyền muốn sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện thực thi các chủ trương mang tính chủ quan nhằm thực hiện những mục tiêu chính trị nhất định

Chính sách ngôn ngữ là những quy định không thể thiếu đối với bất cứ một quốc gia Song nội dung của chính sách ngôn ngữ của các quốc gia lại luôn khác nhau, phụ thuộc vào những điều kiện, hoàn cảnh riêng Ngay trong một quốc gia, chính sách ngôn ngữ, cũng giống như các loại chính sách xã hội khác, luôn có sự thay đổi ở những mức độ khác nhau tùy trong các giai đoạn lịch sử, tùy thuộc vào điều kiện chính trị - xã hội và thái độ, mục tiêu của nhà cầm quyền khi sử dụng ngôn ngữ phục vụ mục đích của mình

Trang 8

2

Nhật Bản là một quốc đảo nằm ở phía Đông của lục địa châu Á trên biển Thái Bình Dương Đây là một quốc gia với những điều kiện tự nhiên hết sức độc đáo với gần 4.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 4 đảo chính là: Hokkaido, Honshu, Shikoku và Kyushu, tổng diện tích là 377.914 km2, dân

số hơn 126 triệu người, trong đó 3/4 đất đai là đồi núi, sông ngòi, chỉ có hai đồng bằng lớn ven biển mang tên Kanto và Kansai

Có thể nói Nhật Bản là một quốc gia đơn dân tộc bởi tuyệt đại đa số cư dân sống trên nước này là người Nhật, hiện đang sinh sống trên tất cả các hòn đảo và sử dụng chung một ngôn ngữ duy nhất là tiếng Nhật Do vậy, khác với nhiều quốc gia đa ngôn ngữ như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia , Nhật Bản là một quốc gia đơn ngữ, tiếng Nhật vừa là tiếng nói của người Nhật, vừa là ngôn ngữ chính thức và là ngôn ngữ quốc gia của Nhật Bản với tên gọi là “Quốc ngữ” (国語 - Kokugo) Hiện nay, tiếng Nhật là ngôn ngữ được sử dụng chính thức ở tất cả các cơ quan nhà nước, trong giáo dục, trên tất cả các hệ thống thông tin đại chúng và trong đời sống hàng ngày Tuy vậy,

để có một vị thế và khả năng đảm nhiệm tất cả các chức năng xã hội như hiện

có, tiếng Nhật đã trải qua những giai đoạn phát triển lâu dài, với những biến động lớn dưới tác động của nhiều thời đại, nhiều thể chế chính trị, trong đó, một trong những giai đoạn có tác động quan trọng tới sự phát triển và định hình chức năng, vị thế và qua đó ảnh hưởng tới bản thân cấu trúc nội tại tiếng Nhật là giai đoạn cận đại bắt đầu từ thời đại Minh Trị (明治時代 - Meiji jidai)

Thời đại Minh Trị (bắt đầu năm 1868), một giai đoạn có vai trò hết sức quan trọng trong lịch sử Nhật Bản đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều công trình nghiên cứu tại Nhật Bản và quốc tế, từ những góc độ khác nhau như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa Ở Việt Nam cũng có không ít nhà nghiên cứu lấy giai đoạn cận đại này của Nhật Bản làm đối tượng nghiên cứu của mình Tuy nhiên, khảo sát những đặc trưng của giai đoạn này từ

Trang 9

3

góc độ chính sách ngôn ngữ với những quyết định có tầm ảnh hưởng quyết định đến không chỉ sự phát triển của tiếng Nhật với tư cách là ngôn ngữ quốc gia mà còn ảnh hưởng tới nhiều phương diện của đời sống xã hội, có thể nói vẫn thiếu những nghiên cứu chuyên sâu Đó chính là lý do chúng tôi lựa chọn vấn đề chính sách ngôn ngữ Nhật Bản giai đoạn cận đại làm đối tượng nghiên cứu của mình

- Tìm hiểu vai trò của chính sách ngôn ngữ tác động đến sự phát triển,

vị thế và hoạt động của tiếng Nhật trong các phạm vi giáo dục, khoa học, văn hóa, hành chính và đến chính sự biến đổi các phương diện của tiếng Nhật (từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp) trong giai đoạn cận đại và cả những giai đoạn phát triển sau của Nhật Bản

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Chính sách ngôn ngữ là một trong những vấn đề quan trọng đối với mọi quốc gia, phải được đề cập tới và xây dựng dưới dạng quy định chặt chẽ của nhà nước ngay từ khi quốc gia mới được thành lập Đối với không ít quốc gia trên thế giới, đặc biệt là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo, chính sách ngôn ngữ liên quan chặt chẽ với những quyết sách về chính trị, xã hội, tôn giáo của nhà cầm quyền, liên quan tới vị thế của dân tộc hay tầng lớp giữ vai trò lãnh đạo

xã hội Với tầm quan trọng như vậy, chính sách ngôn ngữ được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhằm tìm hiểu không chỉ các vấn đề thuộc về ngôn ngữ,

mà rộng hơn là những vấn đề liên quan đến quan điểm chính trị, chiến lược

Trang 10

4

phát triển đất nước, trong đó có văn hóa, giáo dục, khoa học, thông tin… là những lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ với tư cách là phương tiện thực hiện hay truyền tải

Tại Nhật Bản, chính sách ngôn ngữ luôn là một cấu phần quan trọng trong các công trình nghiên cứu tiếng Nhật từ góc độ đồng đại và lịch đại,

trong đó có thể kể đến như: “Lịch sử tiếng Nhật” (日本語の歴史 - Nihongo

no rekishi) của Yamaguchi Nakami (2006); “Chính sách ngôn ngữ ở Nhật

Bản” (日本 の 言語 政 策 - Nihon no gengoseisaku) của Shiota Norikazu

(2005)…

Ở Việt Nam, cũng đã có một số bài viết giới thiệu về chính sách ngôn

ngữ ở Nhật Bản như “Nhật Bản - nhịp cầu chuyển tải tư tưởng và văn minh

phương Tây vào phương Đông” của Nguyễn Thị Việt Thanh, “Chính sách ngôn ngữ ở Nhật Bản thời kì cận - hiện đại” của Fukuda Yasuo và một số

nghiên cứu khác Tuy nhiên các bài viết và nghiên cứu này chủ yếu dừng ở bước giới thiệu các phân kì cơ bản chính sách ngôn ngữ hay giới thiệu ảnh hưởng của chính sách ngôn ngữ giai đoạn cận đại Nhật Bản đối với Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX trong phong trào Đông Du hay Tân Thư Còn thực tế, cho tới nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào tập trung nghiên cứu chuyên sâu về chính sách ngôn ngữ giai đoạn này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chính sách ngôn ngữ

Phạm vi nghiên cứu là giai đoạn cận đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành mục đích nghiên cứu trên, luận văn này sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chính là: tổng hợp tư liệu, tài liệu văn bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ, đến hiện trạng thực thi chính sách Thực hiện thủ pháp phân tích, tổng hợp trên cơ sở cứ liệu nhằm đưa ra các kết luận

Trang 11

5

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 1 sẽ trình bày những quan điểm của các nhà nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ và một số vấn đề có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời với chính sách ngôn ngữ như: mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ, mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhà nước đối với việc tác động nhằm định hướng, điều chỉnh sự phát triển hoặc sử dụng ngôn ngữ theo một cách nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nào đó

Chương 2: Một số đề xuất cải cách ngôn ngữ ở Nhật Bản giai đoạn cận đại Chương 2 sẽ mô tả bức tranh về điều kiện lịch sử - xã hội và những mục tiêu chính trị tác động đến sự hình thành chính sách ngôn ngữ của Nhật Bản giai đoạn cận đại Trước tình hình tiếng Nhật chưa ổn định và thống nhất, các học giả, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra các đề xuất phương án cải cách chữ viết trong tiếng Nhật như: đề xuất xóa bỏ chữ Hán chỉ sử dụng chữ Kana,

đề xuất sử dụng chữ cái Latinh, đề xuất sử dụng kiểu chữ mới, đề xuất hạn chế

số lượng chữ Hán, đề xuất sử dụng tiếng Anh

Chương 3: Các quyết định của chính quyền về chính sách ngôn ngữ và kết quả thực hiện

Chương 3 sẽ trình bày nội dung chính sách ngôn ngữ mà chính quyền Nhật Bản đã ban hành trên cơ sở các nghiên cứu, đề xuất của các tổ chức và các nhà khoa học Nội dung của các chính sách ngôn ngữ nhằm nâng cao vị thế tiếng Nhật trong xã hội và cải tiến tiếng Nhật về các phương diện, nhằm hướng tới mục đích nhanh chóng xây dựng một nước Nhật hùng cường

.

Trang 12

6

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Chính sách ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm chính sách ngôn ngữ

Thuật ngữ “Chính sách ngôn ngữ” (Language policy) đã được đề cập đến với tư cách là một thuật ngữ công cụ quan trọng trong ngôn ngữ học xã hội từ những năm 70 của thế kỷ trước Thuật ngữ này đã được đưa ra trong các nghiên cứu của Joshua Aaron Fishman (1970) trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội” (Sociolinguistics) (bằng tiếng Anh), của Rafael Ninyoles (1975) trong tác phẩm “Cấu trúc xã hội và chính sách ngôn ngữ” (Estructura Social y Political Linguista) và của Helmut Gluck (1981) trong tác phẩm “Cấu trúc ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ” (Sprach Theorie und Sprachien Politik) (bằng tiếng Đức và tiếng Pháp) Tiếp sau đó, trong hàng loạt công trình nghiên cứu, chính sách ngôn ngữ, cùng với đó là kế hoạch hóa ngôn ngữ, chuẩn hóa ngôn ngữ, ngôn ngữ và dân tộc… là những đề mục không thể thiếu trong nhiều công trình thuộc địa hạt ngôn ngữ học xã hội ở nhiều nước, tiêu biểu là Nga, Đức, Anh, Mỹ, Tiệp Khắc…

Tại Việt Nam, thuật ngữ “Chính sách ngôn ngữ” đã trở nên quen thuộc với các nhà ngôn ngữ và các nhà hoạch định chính sách từ những năm 60 của thế kỷ trước trong những nghiên cứu đề xuất xây dựng các chính sách ngôn ngữ phù hợp cho một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ phức tạp như Việt Nam Có thể kể đến một số tác giả có nhiều bài viết nổi tiếng về chính sách ngôn ngữ như Hoàng Tuệ, Hoàng Phê, Hoàng Văn Hành, Nguyễn Văn Khang, Trần Trí Dõi…

Theo từ điển Tiếng Việt thì chính sách là “Sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [29; 173] Như vậy, khái niệm chính sách ngôn ngữ là

Trang 13

7

một trong những khái niệm của rất nhiều các khái niệm về chính sách mà nhà nước, chính phủ đề ra về vấn đề ngôn ngữ nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ phục vụ những mục đích mang tính quốc gia

Như mọi chính sách, chính sách ngôn ngữ gồm hai mặt: “Mặt lý thuyết

là những cơ chế của sự giao tiếp ngôn ngữ, về chức năng, bản chất và quy luật phát triển của ngôn ngữ Mặt hành động thực tiễn là những chủ trương của nhà nước và đồng thời là những chương trình, kế hoạch thực hiện những chủ trương ấy nhằm tác động vào sự phát triển của ngôn ngữ” [15; 62]

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Khang có khá nhiều định nghĩa hay cách hiểu về “Chính sách ngôn ngữ” Tựu chung có các trường phái chính như sau: [10; 145-146]

“Chính sách ngôn ngữ là phạm trù khái niệm thuộc lĩnh vực chính trị -

xã hội, biểu thị hệ thống những quan điểm, những chủ trương và biện pháp của một nhà nước hay của một tổ chức chính trị - xã hội, nhằm tác động một cách có ý thức theo một định hướng nhất định vào sự hành chức và phát triển của ngôn ngữ, phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ và bối cảnh chính trị - xã hội của đất nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định, nhằm phục vụ cho lợi ích của đất nước, của các giai tầng xã hội mà nhà nước ấy, hay tổ chức chính trị - xã hội ấy làm người đại diện” (Hoàng Văn Hành, 2002)

“Nói đến chính sách ngôn ngữ là nói đến sự can thiệp có ý thức, có tổ chức, có cơ sở khoa học của xã hội vào sự hoạt động và phát triển của ngôn ngữ Nói cách khác, chính sách ngôn ngữ là sự lãnh đạo những yêu cầu ngôn ngữ học của xã hội dựa trên sự hiểu biết khoa học về những quy luật của ngôn ngữ, đưa ngôn ngữ vào quỹ đạo phát triển chung của xã hội, làm cho ngôn ngữ phục vụ ăn khớp với sự phát triển của xã hội” (Nguyễn Hàm Dương, 1975)

“Chính sách ngôn ngữ là các chủ trương chính trị của một nhà nước, chính xác hơn là của giai cấp thống trị nhà nước, một đảng phái, một nhóm xã

Trang 14

8

hội về vấn đề ngôn ngữ và các biện pháp thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đích nhất định Tính quy định chính trị là cơ sở để phân biệt và đánh giá tính chất tiến bộ và phản tiến bộ của chính sách ngôn ngữ trong các nước có chế độ xã hội khác nhau Nó cũng là chỗ dựa để phân biệt các khái niệm chính sách ngôn ngữ, xây dựng ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ vốn đang được dùng như là khái niệm đồng nghĩa trong các khuynh hướng ngôn ngữ học xã hội gần đây” (Nguyễn Như Ý, 1985)

“Chính sách ngôn ngữ, hiểu theo nghĩa rộng “là các nguyên tắc mang tính ý thức và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia”, còn chính sách ngôn ngữ theo nghĩa hẹp “là hệ thống các biện pháp nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ, hoặc làm thay đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ” (Nguyễn Văn Lợi, 2002)

thủ” (Nikolskij, L.B, 1982)

Trên cơ sở tổng hợp các ý kiến nêu trên, tác giả nhận thấy: chính sách ngôn ngữ là một bộ phận không thể thiếu trong chính sách dân tộc chung của một đất nước Đây là một hệ thống những quan điểm, chủ trương, biện pháp

Trang 15

Chính sách ngôn ngữ phụ thuộc vào chính sách dân tộc của nhà nước Cùng với văn hóa, ngôn ngữ là một trong hai tác nhân quan trọng có khả năng vừa tụ hợp, bảo vệ dân tộc vừa để chống lại sự xâm nhập và đồng hóa dân tộc Chính sách ngôn ngữ là khái niệm bao trùm lên toàn bộ vấn đề ngôn ngữ của một quốc gia, thậm chí vượt ra ngoài ranh giới của một quốc gia

Để thực thi những quan điểm của chính sách ngôn ngữ đòi hỏi phải có chiến lược về ngôn ngữ quốc gia Chính sách ngôn ngữ và chiến lược ngôn ngữ quốc gia đều là những vấn đề chính trị xã hội, đòi hỏi được giải quyết trong quá trình phát triển của một quốc gia trên cơ sở cảnh huống ngôn ngữ của quốc gia đó Giữa chính sách ngôn ngữ và cảnh huống ngôn ngữ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, chỉ có chính sách ngôn ngữ mà tính đến tất

cả các nhân tố của cảnh huống ngôn ngữ thì mới có kết quả

Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong sự

ổn định và phát triển của một dân tộc một quốc gia Tuy nhiên, nội dung chính sách ngôn ngữ ở các quốc gia khác nhau thường không giống nhau

Ở các quốc gia đơn dân tộc, đơn ngữ, chính sách ngôn ngữ có nhiệm vụ chính là phát triển và hoàn thiện các chức năng xã hội và chuẩn hóa ngôn ngữ quốc gia như giải quyết những vấn đề về chuẩn mực ngôn ngữ, mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngoại ngữ… Trong khi đó, các quốc gia đa dân tộc,

đa ngữ thì nhiệm vụ của chính sách ngôn ngữ phức tạp hơn nhiều như lựa chọn ngôn ngữ quốc gia, giải quyết mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và

Trang 16

10

ngôn ngữ các dân tộc khác, giải quyết những vấn đề liên quan đến giáo dục ngôn ngữ, hành chức và hoạt động ngôn ngữ trong những phạm vi, bối cảnh

xã hội khác nhau

Như vậy, chính sách ngôn ngữ là một bộ phận hay một nội dung trong

hệ thống chính sách chính trị - xã hội của một quốc gia Chính sách ngôn ngữ

là một hệ thống các biện pháp, có thể là biểu hiện dưới dạng các văn bản pháp luật, các đường lối chủ trương, các kế hoạch, quy chế… nhằm tác động vào các quá trình phát triển của cảnh huống ngôn ngữ, tạo phương hướng cho ngôn ngữ phát triển phù hợp với các nhu cầu của xã hội Chính sách ngôn ngữ cũng chính là kế hoạch phát triển ngôn ngữ có liên quan đến kế hoạch phát triển xã hội, tộc người; có liên quan đến chính sách phát triển văn hóa, giáo dục của nhà nước Kế hoạch phát triển ngôn ngữ thường được thể hiện ra bằng một loạt biện pháp như: Quy định ngôn ngữ quốc gia, xác định ngôn ngữ chuẩn, giải quyết các mối quan hệ giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói, giải quyết mối quan hệ của ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ nước ngoài, xác định các chuẩn ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, chính tả…

Với mọi quốc gia trên thế giới thì chính sách ngôn ngữ có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội Muốn phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa,

xã hội… thì vấn đề đầu tiên cần lưu tâm với mỗi dân tộc là vấn đề phát triển ngôn ngữ Một chính sách ngôn ngữ phù hợp sẽ đảm bảo cho sự ổn định xã hội và thúc đẩy nền kinh tế đất nước phát triển Chính sách ngôn ngữ thực chất là nhằm giải quyết các vấn đề: Quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, giữa ngôn ngữ văn học và ngôn ngữ nói, giữa ngôn ngữ bản địa và ngôn ngữ nước ngoài

1.1.2 Các hệ vấn đề của chính sách ngôn ngữ

Thứ nhất, chính sách ngôn ngữ là một trong những nhân tố của quá

trình phát triển ngôn ngữ Bởi vì chính sách ngôn ngữ tác động đến sự phân

Trang 17

11

bố chức năng giữa các thực thể ngôn ngữ trong quốc gia bao gồm quan hệ giữa các ngôn ngữ, giữa các phương ngữ, giữa các hình thức ngôn ngữ nói, viết… Hơn nữa chính sách ngôn ngữ còn tác động đến sự phát triển của hệ thống ngôn ngữ Cả hai tác động trên đều diễn ra theo hai hướng là kích thích

sự phát triển và kiềm chế sự phát triển Trong phạm vi giữa các ngôn ngữ có thể kích thích sự phát triển của ngôn ngữ ở vị trí hàng đầu đồng thời cản trở

sự mở rộng và hạn chế phạm vi chức năng của một số ngôn ngữ khác, tạo nên

sự phân bố chức năng theo kiểu đa thể ngữ giữa các ngôn ngữ trong một quốc gia Có thể thấy chính sách ngôn ngữ liên quan đến việc lựa chọn ngôn ngữ, lựa chọn hình thức tồn tại của ngôn ngữ và lựa chọn các đơn vị ngôn ngữ để đạt được mục đích giao tiếp nhất định

Thứ hai, chính sách ngôn ngữ được xây dựng để giải quyết những vấn

đề ngôn ngữ nảy sinh trong xã hội Đó là những vấn đề đa dạng và phức tạp, tuy nhiên có thể đưa về hai dạng chính: dạng vĩ mô và dạng vi mô Thuộc dạng vĩ mô là những vấn đề liên quan đến sự phân bố các thực thể ngôn ngữ theo phạm vi giao tiếp Vấn đề lựa chọn ngôn ngữ cho mục đích giao tiếp nào

đó không chỉ bao gồm quá trình lựa chọn thể trạng ngôn ngữ mà còn bao gồm

cả quá trình tuyển lựa các đơn vị ngôn ngữ trong qua trình chuẩn hóa, qui hoạch ngôn ngữ Thuộc dạng vi mô là những vấn đề nảy sinh trong quá trình giao tiếp của các thực thể riêng rẽ Nghiên cứu các vấn đề thuộc vĩ mô và vi

mô một mặt giúp cho ta hiểu rõ hơn nội dung cụ thể của chính sách ngôn ngữ

và mặt khác tạo cơ sở khách quan cho chính sách ngôn ngữ

Thứ ba, nhìn từ góc độ xã hội học, chính sách ngôn ngữ là một phần

chính sách đối nội của một quốc gia nào đó Điều này thể hiện ở chỗ, cần xem xét chính sách ngôn ngữ được đưa ra thể hiện lợi ích của toàn xã hội hay chỉ thể hiện lợi ích của giai cấp cầm quyền Ở đây một lần nữa cho thấy vai trò vô cùng quan trọng của chính sách ngôn ngữ Vì thế, một chính sách ngôn ngữ

Trang 18

12

phù hợp với cảnh huống ngôn ngữ là phải làm cho ngôn ngữ trở thành một biểu tượng của sự thống nhất cộng đồng về mặt chính trị, văn hóa xã hội và dân tộc và làm cho ngôn ngữ trở thành công cụ đoàn kết chính trị các cộng đồng ngôn ngữ dân tộc khác nhau trong phạm vi quốc gia

Khi nói đến các yếu tố hình thành dân tộc thì ngôn ngữ được coi là một trong những yếu tố quan trọng, là linh hồn của dân tộc Nhìn rộng ra, ở các quốc gia đa dân tộc, ngôn ngữ cùng với dân tộc, tôn giáo là một trong những vấn đề nóng bỏng nhưng lại hết sức nhạy cảm và tế nhị Không ít những cuộc chiến tranh xảy ra trong nội bộ một quốc gia đa dân tộc do nguyên nhân xung đột dân tộc mà yếu tố ngôn ngữ vừa là nguyên nhân vừa như hệ quả

Vì thế, bất kì một quốc gia nào cũng coi trọng vấn đề ngôn ngữ bằng việc đưa ra một chính sách ngôn ngữ phù hợp để góp phần vào duy trì, củng

cố nền độc lập, thống nhất quốc gia, đẩy mạnh phát triển kinh tế, củng cố chính quyền cũng như sự đoàn kết thống nhất giữa các dân tộc hay trong nội

bộ một dân tộc

Việc xác định ngôn ngữ quốc gia và chính sách ngôn ngữ quốc gia trong mối quan hệ với ngôn ngữ các dân tộc khác là không đơn giản Chính sách ngôn ngữ được đặc trưng bởi sự định hướng vào ngôn ngữ của một nhóm dân tộc trong quốc gia đa dân tộc và tạo cho ngôn ngữ này một địa vị

ưu tiên; còn trong quốc gia đơn dân tộc thì chính sách ngôn ngữ tập chung chống lại việc sử dụng các yếu tố ngôn ngữ nước ngoài, những yếu tố duy nhất được chấp nhân là yếu tố gốc bản ngữ

Vì vậy, khi làm chính sách ngôn ngữ cần tính đến những nội dung như: lợi ích lâu dài của giai cấp vốn quy định bản chất giai cấp của chính sách ngôn ngữ, lợi ích của cộng đồng dân tộc, mục đích văn hóa, quan điểm tôn giáo

Trang 19

13

1.1.3 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với kế hoạch hóa ngôn ngữ

1.1.3.1 Khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ

Kế hoạch hóa ngôn ngữ (còn gọi là quy hoạch ngôn ngữ) có thể được hiểu là công việc quản lý ngôn ngữ Thuật ngữ này ra đời vào những năm cuối thập niên 50 đầu thập niên 60 của thế kỷ XX Kế hoạch hóa ngôn ngữ chịu tác động rất lớn của bối cảnh ngôn ngữ xã hội lúc đó Hay nói cách khác, chính bối cảnh ngôn ngữ xã hội khi đó là cơ sở xã hội ngôn ngữ cho sự ra đời, hình thành và phát triển của công việc kế hoạch hóa ngôn ngữ

Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một bộ phận của chính sách ngôn ngữ, hay nói cách khác đó là sự thực thi chính sách Nghĩa là giữa kế hoạch hóa ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ có một mối quan hệ vô cùng chặt chẽ

Sau đại chiến thế giới thứ II, nhiều quốc gia trên thế giới giành được độc lập, vấn đề di dân cũng nổi lên có liên quan đến sử dụng ngôn ngữ… tất

cả tạo nên một bức tranh đa tạp về văn hóa, ngôn ngữ và chính trị Nhưng có

lẽ đối với chính quyền hành chính thì sự phức tạp trở nên bội phần là xử lí các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ Bởi vậy, kế hoạch hóa ngôn ngữ có tầm quan trọng to lớn đối với sự ổn định về chính trị, phát triển về kinh tế, văn hóa của một quốc gia Thực tế chứng minh rằng, ngôn ngữ phát triển hợp lí sẽ tạo đà tốt cho sự phát triển quốc gia, dân tộc Ngược lại nó sẽ cản trở sự phát triển hưng thịnh của quốc gia và rất dễ dẫn đến các xung đột dân tộc có nguyên nhân từ xung đột ngôn ngữ

Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một phản ứng điều tiết có chủ động, có tổ chức, có kế hoạch đối với hoạt động của ngôn ngữ, bao gồm ba nội dung lớn

là kế hoạch địa vị ngôn ngữ, kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ và kế hoạch hóa

uy tín ngôn ngữ Như vậy, kế hoạch hóa ngôn ngữ là tác động của con người vào ngôn ngữ nhưng sự tác động đó không phải là tùy tiện mà có tổ chức

Trang 20

14

1.1.3.2 Một số định nghĩa về kế hoạch hóa ngôn ngữ

Theo tác giả Robert Coopercó rất nhiều cách hiểu khác nhau của các nhà nghiên cứu về kế hoạch hóa ngôn ngữ như sau: [61; 29-35]

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ là quản lí để hoàn thiện ngôn ngữ vốn có, sáng tạo ra ngôn ngữ chung của cộng đồng ngữ, ngôn ngữ khu vực và ngôn ngữ quốc tế” (P.S Ray)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự hoạt động điều chỉnh và cải thiện các ngôn ngữ sẵn có hoặc tạo ra những ngôn ngữ mới” (V Tauli)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ nhằm chỉ những hoạt động cũng như những

cố gắng tập trung vào việc tạo nên những thay đổi có chủ ý hoặc có kế hoạch đối với ngôn ngữ, đối với cách sử dụng ngôn ngữ, tác động đến hành vi ngôn ngữ” (R.L Cooper)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ là một sự theo đuổi có tổ chức những giải pháp cho vấn đề ngôn ngữ, điển hình là ở cấp độ quốc gia” (Joshua Aaron Fishman)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự thay đổi ngôn ngữ một cách có chủ ý; nghĩa là, thay đổi trong những hệ thống mã ngôn ngữ hay những hệ thống tiếng nói hay cả hai được quy hoạch bởi những tổ chức” (J Rubin)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ là lựa chọn nền tảng của giao tiếp, được sự thừa hưởng quyền của nhà nước mà cố gắng một cách không ngừng, có ý thức

để thay đổi chức năng của ngôn ngữ trong xã hội” (Weinstien)

“Kế hoạch hóa ngôn ngữ bao hàm những quyết định có quan hệ tới việc dạy và sử dụng ngôn ngữ, cùng với những quy tắc do những người có thẩm quyền quy định để hướng dẫn mọi người thực hiện” (Markee)

Với các định nghĩa trên, tác giả nhận thấy: điểm quan trọng nhất về kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự quan tâm có hệ thống, có tổ chức, mang tính xã hội tới các vấn đề ngôn ngữ Nó bao hàm cả những quy định có quan hệ tới việc

Trang 21

cụ của ngôn ngữ Còn theo quan điểm của tác giả J Rubin thì kế hoạch hóa ngôn ngữ xuất phát từ sự biến đổi theo hướng phát triển ngôn ngữ một cách

có ý thức thông qua tác động của yếu tố con người và một điều quan trọng hơn là ở định nghĩa này tác giả đã chỉ ra được sự khác nhau giữa sự biến đổi của ngôn ngữ là do kế hoạch hóa ngôn ngữ mang lại so với sự biến đổi ngôn ngữ do cá nhân mang đến Tác động của một cá nhân thường là không tự giác,

ở một qui mô nhỏ hẹp còn tác động kiểu kế hoạch hóa ngôn ngữ là có qui mô, mang tính chính thức và có ý thức rõ rệt

Bên cạnh đó, quan điểm của Weinstein lại có những điểm mới khi cho rằng kế hoạch ngôn ngữ là một nỗ lực cụ thể, có hệ thống nhằm giải quyết các vấn đề ngôn ngữ và nhằm giải quyết các vấn đề ngôn ngữ và nhằm đạt một mục tiêu có liên quan thông qua sự can thiệp có tổ chức về mặt thể chế đối với việc sử dụng kế hoạch ngôn ngữ Sau Weinstein, Markee lại bổ sung thêm một nội dung nữa trong kế hoạch hóa ngôn ngữ, đó là vấn đề giảng dạy, giáo dục ngôn ngữ, bao gồm ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ dân tộc và ngoại ngữ như là những nội dung quan trọng, không thể thiếu

Qua một số định nghĩa trên cũng như những cách giải thích mang tính định nghĩa, có thể thấy xung quanh khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ bên cạnh những quan điểm trùng nhau thì giữa các tác giả còn có cái nhìn khác nhau Sự khác nhau đó tập trung vào ba nội dung với ba câu hỏi sau: Ai làm

kế hoạch hóa ngôn ngữ; kế hoạch hóa ngôn ngữ là gì và kế hoạch hóa ngôn ngữ như thế nào

Trang 22

16

Có thể nói, kế hoạch hóa ngôn ngữ là những cố gắng tác động vào chức năng của ngôn ngữ, cái cách thức người ta sử dụng ngôn ngữ Kế hoạch hóa đặc biệt hướng tới việc sử dụng ngôn ngữ trong chức năng nghi thức hay công cộng hơn là trong giao tiếp thông thường hàng ngày, nơi mà ở đó sự lựa chọn được quyết định bởi các nhân tố tâm lý, xã hội, tự nhiên chi phối hoàn cảnh nói năng Do vậy có thể hình dung khái niệm kế hoạch hóa ngôn ngữ bao gồm: sự can thiệp, tính rõ ràng, tính hướng đích, tính hệ thống, sự lựa chọn các giải pháp và sự điển chế hóa

Kế hoạch hóa ngôn ngữ bao gồm hai nội dung lớn là kế hoạch hóa địa

vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ

- Kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ được hiểu là làm thay đổi chức năng xã hội của một ngôn ngữ hay một phương ngữ Ở trong xã hội đa ngữ hay đa phương ngữ, địa vị của một ngôn ngữ hay phương ngữ được xác lập nhờ mối quan hệ của nó đối với các ngôn ngữ và các phương ngữ khác Địa vị này thường được xem xét từ chức năng giao tiếp của ngôn ngữ hay phương ngữ

đó Vì tính chất quan trọng liên quan đến sinh mệnh của từng ngôn ngữ cũng như quyền lợi của các thành viên trong xã hội nên kế hoạch địa vị ngôn ngữ là vấn đề thuộc phạm vi quan tâm của nhà nước dưới các hình thức chính phủ trực tiếp chỉ đạo hoặc giao cho tổ chức thừa quyền

- Kế hoạch bản thể ngôn ngữ nhằm chuẩn hóa và phát triển bản thân ngôn ngữ Đây là nhằm giải quyết mối quan hệ nội tại trong bản thân ngôn ngữ, cụ thể là việc cải tạo theo hướng tích cực bản thân ngôn ngữ ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, chữ viết Muốn thực thi kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ được quyết định bởi hai nhân tố Một là xác định mức độ phát triển của ngôn ngữ cần được kế hoạch hóa bản thể; thứ hai là xác định nhu cầu trong xã hội của từng ngôn ngữ Tùy thuộc vào bản thân từng ngôn ngữ

để đưa ra những nội dung kế hoạch hóa cho phù hợp Đối với các ngôn ngữ

Trang 23

17

đã ở mức độ tương đối phát triển thì kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ chủ yếu tập trung vào mặt chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ Trong khi đó đối với ngôn ngữ chưa có truyền thống chữ viết hoặc ở mức độ phát triển thấp thì kế hoạch hóa ngôn ngữ lại tập trung chủ yếu vào mở rộng, nâng cao năng lực thực hiện chức năng của bản thể ngôn ngữ (qua các yếu tố từ vựng, ngữ pháp)

Bên cạnh hai nội dung cơ bản trên, trong một số quốc gia còn phải bổ sung thêm nội dung kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ, tức là hướng tới xây dựng những giá trị hoặc uy tín của một (hoặc một số ngôn ngữ) nào đấy trong xã hội, nhằm những mục tiêu chính trị hay xã hội cho cộng đồng sử dụng ngôn ngữ đó Đối với những quốc gia có vấn đề về sắc tộc hoặc dân tộc, nhiều khi những cố gắng của kế hoạch hóa địa vị ngôn ngữ và kế hoạch hóa bản thể ngôn ngữ sẽ không thành công nếu thiếu kế hoạch hóa uy tín ngôn ngữ

Như vậy, giữa chính sách ngôn ngữ và kế hoạch ngôn ngữ có mối quan

hệ chặt chẽ, phụ thuộc với nhau Kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự vận dụng của chính sách ngôn ngữ trong thực tế hoặc cũng có thể coi chính sách ngôn ngữ như một khung pháp lý và việc kế hoạch hóa ngôn ngữ là sự triển khai một cách tổng thể, hệ thống các hoạt động nhằm xác định rõ và bảo đảm vị thể nào

đó cho một hoặc một số ngôn ngữ

Tuy vậy, về vấn đề này có những sự khác biệt đáng kể giữa các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ và nhà nghiên cứu châu Âu Các nhà nghiên cứu Hoa

Kỳ có xu thế hướng nhấn mạnh chủ yếu đến mặt kĩ thuật của việc can thiệp vào cảnh huống ngôn ngữ tạo thành kế hoạch hóa, trong khi đó những nhà nghiên cứu Châu Âu lại chú trọng tới vai trò hoặc quyền lực của chính quyền đối với ngôn ngữ, tức là coi trọng sự can thiệp của con người vào ngôn ngữ Tuy nhiên, cả hai trường phái đều thống nhất kế hoạch hóa ngôn ngữ không chỉ thuộc về bản thân ngôn ngữ mà còn chịu ảnh hưởng lớn của

Trang 24

18

quyết sách chính trị của chính quyền và khả năng triển khai, thực hiện các quyết sách chính trị đó

1.1.4 Mối quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ

Khi nói đến chính sách ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc đến những quy định trong hiến pháp về ngôn ngữ, các pháp lệnh, bộ luật… và rất nhiều điều khoản, quy định khác Đó là các quy định mang tính cưỡng chế về quyền lợi, nghĩa vụ và mục tiêu thực hiện Thông qua pháp luật để quy định quyền lợi và nghĩa vụ của một ngôn ngữ

Nói chung, luật pháp về ngôn ngữ thường ít khi can thiệp vào các lĩnh vực sử dụng ngôn ngữ phi chính thức hoặc cá nhân mà tập trung vào lĩnh vực

sử dụng ngôn ngữ chính thức như:

- Xác định vị thế quốc gia của ngôn ngữ quốc gia

- Xác định vị thế pháp lý của các ngôn ngữ khác trong quốc gia

- Xác định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với ngôn ngữ

- Xác định trách nhiệm của nhà nước và các cơ quan pháp luật đối với vấn đề ngôn ngữ

- Quy định cụ thể về sử dụng từng ngôn ngữ ở phạm vi đối nội (trong hành chính công quyền, trong giáo dục, xuất bản, phương tiện thông tin đại chúng ) và đối ngoại (trong ngoại giao, trong các tổ chức quốc tế…)

- Quy định về chuẩn mực ngôn ngữ như cách đọc, cách viết, ngữ pháp… (thường đối với ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ chính thức…) và việc xây dựng chữ viết, điều chỉnh chữ viết, chọn chữ viết đối với các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

1.2 Cảnh huống ngôn ngữ

Chính sách ngôn ngữ là phạm trù thuộc lĩnh vực chính trị - xã hội, cảnh huống ngôn ngữ là phạm trù thuộc văn hóa tinh thần Tuy nhiên, cảnh huống ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ có một mối quan hệ vô cùng khăng khít,

Trang 25

Nguyễn Như Ý thì cho rằng cảnh huống ngôn ngữ là: “Toàn bộ các ngôn ngữ hoặc toàn bộ các hình thức tồn tại của một ngôn ngữ có các quan

hệ tương hỗ về mặt lãnh thổ và xã hội, có sự tác động qua lại với nhau về mặt chức năng trong phạm vi một vùng địa lý hoặc một thể thống nhất về chính trị - hành chính nhất định Thông thường cảnh huống ngôn ngữ được hiểu là toàn bộ các hình thái tồn tại (kể cả các phong cách) của một ngôn ngữ hay của các ngôn ngữ trong một quốc gia hay một khu vực địa lý nhất định” [31; 30]

Từ những định nghĩa trên, chúng ta thấy rằng: cảnh huống ngôn ngữ chính là các chức năng và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ có liên quan chặt chẽ với các điều kiện xã hội, kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước Cảnh huống ngôn ngữ của một quốc gia hay một khu vực luôn chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong việc xác định địa vị của các ngôn ngữ Để xây dựng và thực thi chính sách ngôn ngữ một cách hiệu quả thì cần thiết phải xác định được cảnh huống ngôn ngữ, bao gồm các nhân tố: dân tộc - nhân khẩu, các nhân tố ngôn ngữ học, các nhân tố vật chất và nhân tố con người

Tiểu kết

Chính sách ngôn ngữ là một vấn đề của ngôn ngữ - xã hội, thuộc lĩnh vực nghiên cứu của ngôn ngữ học xã hội Chính sách ngôn ngữ là một bộ

Trang 26

20

phận hay một nội dung quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của một quốc gia Việc xây dựng chính sách ngôn ngữ là một trong những vấn đề hàng đầu trong sự phát triển của đất nước Những vấn đề lý thuyết về chính sách ngôn ngữ và những khái niệm như kế hoạch hóa ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ, cảnh huống ngôn ngữ là những vấn đề lý luận cơ bản, sẽ được sử dụng như những công cụ lý thuyết cho những nghiên cứu ở những phần sau

Chương 1 đã trình bày những quan điểm của các nhà nghiên cứu về chính sách ngôn ngữ và một số vấn đề có liên quan chặt chẽ, không thể tách rời với chính sách ngôn ngữ như vấn đề kế hoạch hóa ngôn ngữ, quan hệ giữa chính sách ngôn ngữ với lập pháp ngôn ngữ, trong đó nhấn mạnh vai trò của nhà cầm quyền (nhà nước hoặc đại diện cho tổ chức chính trị - xã hội nào đó) đối với việc tác động nhằm định hướng, điều chỉnh sự phát triển hoặc sử dụng ngôn ngữ theo một cách nhất định nhằm thực hiện những mục tiêu nào đó

Trang 27

21

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CẢI CÁCH NGÔN NGỮ Ở NHẬT BẢN

GIAI ĐOẠN CẬN ĐẠI 2.1 Cảnh huống ngôn ngữ Nhật Bản

2.1.1 Bối cảnh lịch sử Nhật Bản giai đoạn cận đại

Trước năm 1868, Nhật Bản trải qua khoảng 200 năm với chính sách

“bế quan tỏa cảng” (鎖国 - Sakoku), còn được một số nhà nghiên cứu gọi là

“chính sách tỏa quốc” Đây là một hệ thống với các chính sách nghiêm ngặt được Mạc Phủ áp đặt cho lĩnh vực thương mại và ngoại giao Với chính sách này, việc buôn bán hay quan hệ với bên ngoài bị hạn chế, trừ hoạt động của một số thương điếm của Hà Lan ở đảo Dejima (Nagasaki) Ngoài ra một số hoạt động thương mại khác với Trung Quốc, Triều Tiên cũng chỉ được tiến hành trong phạm vi hạn chế ở Nagasaki, Kagoshima, Hokkaido Do người Nhật chỉ có điều kiện tiếp xúc với người nước ngoài, chủ yếu là các thương nhân tại những vùng đất có đặc quyền riêng nên những ảnh hưởng về văn hóa của bên ngoài đối với Nhật Bản cực kỳ ít ỏi, nếu không nói là hầu như không có

Chính sách “bế quan tỏa cảng” kéo dài đến năm 1853, khi hải quân Hoa Kỳ cùng với 4 chiến hạm vào vịnh Edo (Tokyo) và ép Nhật Bản mở lại cửa trong quan hệ với phương Tây Năm sau đó, với "Hiệp định hòa bình và hữu nghị" quan hệ ngoại giao chính thức giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ chính thức được thiết lập Trong vòng 5 năm tiếp theo, Nhật Bản đã kí các hiệp định tương tự với một số quốc gia phương Tây khác

Năm 1868, Nhật Bản bắt đầu giai đoạn cải cách chính trị phục hưng, tập trung quyền lực cai trị cả nước Nhật về tay Thiên hoàng Minh Trị và giải thể hệ thống Mạc Phủ Tokugawa Cuộc khôi phục hoàng quyền vào thời kỳ Minh Trị là một cuộc thay đổi chính trị rất lớn trong lịch sử Nhật Bản

Trang 28

22

Fukuzawa Yukichi (福澤 諭吉/1835-1901) là một nhà tư tưởng Nhật, đã đưa ra kế hoạch cải cách Nhật Bản bằng cách thay đổi hoàn toàn hệ thống chính trị, xóa bỏ những tư tưởng hủ lậu cũ kỹ, dồn sức canh tân kỹ thuật để theo kịp Tây phương, đồng thời mở rộng tầm ảnh hưởng của Nhật đối với các nước láng giềng, hướng tới thúc đẩy Nhật Bản vào đường lối chính trị thực tiễn, thoát khỏi những tư tưởng có tính chất tình cảm hay lý tưởng không tưởng, kêu gọi người dân Nhật thoát khỏi vòng suy nghĩ Á châu, học hỏi theo Tây phương

Việc nối lại quan hệ với phương Tây đã dẫn đến những đổi thay lớn lao đối với xã hội Nhật Bản Sau Chiến tranh Mậu Thìn năm 1868, quyền lực của Thiên hoàng được khôi phục Cuộc Minh Trị Duy Tân tiếp theo đó đã mở đầu cho nhiều đổi mới Hệ thống quản trị cũ bị hủy bỏ và thay vào đó là nhiều thể chế theo kiểu phương Tây, trong đó có hệ thống luật pháp phương Tây và một chính quyền gần giống kiểu lập hiến nghị viện Các thái ấp phong kiến bị bãi

bỏ Quyền lực tập trung trong tay Thiên hoàng Các đẳng cấp trong xã hội phong kiến bị huỷ bỏ Công nghiệp hiện đại được khởi đầu với các nhà máy

do nhà nước xây dựng và điều hành, sau này được chuyển sang sở hữu tư nhân Quan hệ buôn bán với Triều Tiên và Trung Quốc được thiết lập Nhà nước đã nỗ lực hết sức để sửa đổi những hiệp ước bất bình đẳng đã được ký kết với các nước phương Tây

Với sự hủy bỏ hiệp định cuối cùng trong các "Hiệp định bất bình đẳng" với các đế quốc phương Tây năm 1898, vị thế mới của Nhật Bản trên thế giới

đã được thay đổi cơ bản Trong vài thập kỉ tiếp theo, bằng cách cải tổ và hiện đại hóa các hệ thống xã hội, giáo dục, kinh tế, quân sự, chính trị và công nghiệp, "cuộc cách mạng có kiểm soát" của triều đình Minh Trị đã biến Nhật Bản từ một nước phong kiến và bị cô lập thành một cường quốc trên thế giới

Trang 29

23

Một dấu ấn hết sức quan trọng trong giai đoạn đầu thời Minh Trị là cuộc cải cách toàn diện và rộng lớn, góp phần biến đổi xã hội một cách toàn diện được gọi là Minh Trị Duy Tân (明治維新 - Meiji ishin) Cuộc cải cách này bao gồm các mặt chính trị, kinh tế - xã hội, quân sự, văn hóa giáo dục Nhật Bản kiên quyết tiến hành công cuộc Minh Trị Duy Tân với khẩu hiệu

“học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt qua phương Tây” (Seiyō wo manabi, Seiyō ni oitsuki, Seiyō wo oninuku) để thực hiện công nghiệp hóa,

hiện đại hóa đất nước, thực hiện thành công sự nghiệp “phú quốc cường binh”

(富国強兵 - Fukoku kyōhei), xây dựng một đất nước giàu có về kinh tế, hùng mạnh về quân sự

Cải cách văn hóa, giáo dục là một trong những nội dung quan trọng trong những chính sách của Minh Trị Duy Tân Ngay sau khi lật đổ Mạc Phủ Tokugawa, Thiên hoàng Minh Trị đã tiến hành những chương trình cải cách phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh mới của Nhật Bản, tạo nên những bức thang vững chắc cho những cải cách triệt để sau này Trong những năm đầu tiên, Minh Trị đã quyết định xóa bỏ nền giáo dục cũ đã lỗi thời, thiếu tính quần chúng của Mạc Phủ, mở rộng đối tượng tiếp nhận tại các trường công lập vốn chỉ dành cho tầng lớp giàu có trong xã hội Bên cạnh đó, việc thành

lập Bộ giáo dục (文部省 - Monbushō), thiết lập các khu vực giáo dục và phân

các cấp giáo dục thành tiểu học, trung học, đại học là những quyết sách rất vĩ đại và táo bạo của vua Minh Trị trong điều kiện một nước Nhật Bản nghèo nàn, lạc hậu lúc bấy giờ

Để mở mang dân trí cũng như phát triển khoa học kỹ thuật phục vụ phát triển đất nước, chính quyền lúc bấy giờ cũng ban hành hàng loạt quy định liên quan tới việc nâng cao khả năng hành chức của tiếng Nhật, thống nhất sử dụng tiếng Nhật trong hệ thống giáo dục, xây dựng những chuẩn mực cần thiết cho ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Để thực hiện chủ trương trên,

Trang 30

24

việc biên soạn những bộ sách giáo khoa đầy đủ phục vụ việc giảng dạy tiếng Nhật ở các cấp học được triển khai nhanh chóng Ngoài ra, cùng với việc cử nhiều thanh niên ưu tú sang phương Tây tiếp thu kiến thức khoa học mới, chủ trương dịch các công trình khoa học của các tác giả châu Âu sang tiếng Nhật cũng là một giải pháp tích cực giúp người dân Nhật Bản nhanh chóng tiếp thu được các tri thức hiện đại của thế giới

2.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ - tộc người của Nhật Bản

Nhật Bản là một đất nước có lịch sử lâu đời, nhưng cho đến tận ngày nay vẫn chưa có cơ sở khoa học chắc chắn về xuất xứ và thời gian xuất hiện của những cư dân đầu tiên trên quần đảo Nhật Bản Phần đông các học giả

có quan điểm cho rằng tổ tiên của người Nhật đến từ nhiều nơi, chủ yếu là nhóm đến từ miền Bắc của đại lục châu Á, ngoài ra cũng có những nhóm từ Đông Nam Á và miền Nam Trung Hoa đến sinh sống trên đất Nhật ngay từ thời đại đồ đá cũ Những cư dân đầu tiên đặt chân lên quần đảo Nhật Bản là người thuộc dân tộc ít người có tên Ainu, thuộc giống người da trắng nguyên thủy (Proto - Caucasian) Tuy nhiên, dần dần dân tộc này bị đẩy về phương Bắc và hiện tại chỉ còn rất ít người gốc Ainu còn sống ở đảo Hokkaido phía bắc Nhật Bản Vì vậy có thể nói người Nhật là dân tộc duy nhất hiện sinh sống ở Nhật Bản

Về nguồn gốc của tiếng Nhật có rất nhiều công trình nghiên cứu Mặc

dù về mặt loại hình học, các nhà nghiên cứu đều thống nhất xếp tiếng Nhật vào loại hình chắp dính, giống một số ngôn ngữ như tiếng Triều Tiên, Indonesia, Thổ Nhĩ Kỳ… Song hiện nay việc khẳng định tiếng Nhật thuộc ngữ hệ nào vẫn chưa thực sự thống nhất, đòi hỏi cần phải được chứng minh thêm Nhưng tựu trung có hai quan điểm chính: quan điểm xếp tiếng Nhật vào ngữ hệ Altai và quan điểm coi tiếng Nhật nằm trong họ Nam Đảo (thuyết Mãlai - Đa đảo)

Trang 31

25

- Lý do xếp tiếng Nhật vào ngữ hệ Altai vì trong vốn từ vựng tiếng Nhật có một số lượng nhất định các từ phát âm gần giống với những từ có nghĩa tương tự trong một số ngôn ngữ họ Altai như: かに (kani - con cua), ゆ

き (yuki - tuyết), たび (tabi - chuyến đi bằng thuyền)…

- Lý do coi tiếng Nhật thuộc về họ Nam Đảo (thuyết Mãlai - Đa đảo) có hai quan điểm Thứ nhất: tiếng Nhật là kết quả của một sự Altai hóa một ngôn ngữ Mãlai - Đa đảo Thứ hai: tiếng gốc là tiếng Altai còn tiếng Mãlai - Đa đảo

là tiếng xen vào sau này

Trong quan hệ với tộc người, Nhật Bản là một quốc gia đơn dân tộc,

do vậy cũng là một quốc gia đơn ngữ Tiếng Nhật là ngôn ngữ được sử dụng với tư cách là ngôn ngữ quốc gia, vừa là ngôn ngữ dân tộc, có một hệ thống từ vựng, ngữ pháp và chữ viết hoàn chỉnh, đủ khả năng đáp ứng các nhu cầu của

xã hội Tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức trong tất cả các phạm vi hoạt động

xã hội như hành chính, pháp luật, giáo dục, thông tin truyền thông, tôn giáo

Ở Nhật Bản tồn tại một hệ thống phương ngữ vô cùng phong phú và đa dạng của các vùng khác nhaudo một thời gian dài sinh sống ở quần đảo, địa hình đảo, những dãy núi chia cắt từng phần lãnh thổ, và lịch sử lâu dài sống tách biệt với bên ngoài lẫn bên trong của nước Nhật Các phương ngữ này khác nhau về mặt ngữ điệu, hình thái biến đổi, về mặt vốn từ vựng, và cách dùng các trợ từ

Tiếng Nhật có sự phân biệt, chủ yếu về phương diện từ vựng và một số quy tắc ngữ pháp, khi giao tiếp trong những hoàn cảnh khác nhau (chính thức hoặc không chính thức), phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người nói và người nghe (về mặt tuổi tác, vị thế xã hội), gọi là sự phân biệt dạng thức trung hòa, thân mật và kính ngữ Bên cạnh đó, một đặc điểm trong hoạt động ngôn ngữ của tiếng Nhật là có sự phân biệt phụ thuộc vào giới tính của người sử dụng (nam hoặc nữ)

Trang 32

26

Giáo dục ngoại ngữ tại Nhật Bản được coi trọng, đặc biệt trong các trường đại học, trong đó chủ yếu là tiếng Anh Song vị thế của tiếng Anh không quá được coi trọng, chưa bao giờ có quyền thay thế tiếng Nhật

Hiện nay, do những quan hệ về phương diện ngoại giao, giáo dục, khoa học kỹ thuật, việc giảng dạy tiếng Nhật như một ngoại ngữ được thực hiện và

mở rộng ở nhiều nước trên thế giới, như Indonesia, Philippin, Thái Lan, Trung Quốc, Việt Nam và một số nước châu Âu

Tiếng Nhật là một ngôn ngữ được hơn 130 triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới Là ngôn ngữ đứng thứ 9 trong số 10 ngôn ngữ có nhiều người sử dụng nhất trên thế giới, sau tiếng Hoa, tiếng Hindu, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Anh, tiếng Ả rập

2.1.3 Những đặc điểm cơ bản trong cấu trúc nội tại của tiếng Nhật

Có thể nói tiếng Nhật là một ngôn ngữ vô cùng độc đáo bởi nhiều lý do

Thứ nhất, về lớp từ nguyên của tiếng Nhật được hình thành từ sự pha

trộn, kết hợp giữa hai hay ba ngôn ngữ, khác với các lớp từ nguyên của nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới vốn được phát triển bằng cách tách ra từ ngôn ngữ mẹ

Thứ hai, về hệ thống chữ viết thì phức tạp bởi trong tiếng Nhật cùng

tồn tại 4 loại chữ viết: (1) Chữ Kanji (漢字 - Hán tự) kiểu chữ giống chữ tượng hình Trung Quốc được gọi là chữ Hán; (2) Chữ Hiragana (平仮名 - Bình giả danh) được gọi là chữ mềm, (3) Chữ Katakana (片仮名 - Phiến giả danh) được gọi là chữ cứng, (4) Chữ Rōmaji (ローマ字 - La mã tự) được gọi

là chữ La tinh

Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, ở Nhật đã có những quy ước đối với việc sử dụng các loại văn tự này

1) Chữ Hán(漢字 - Hán tự)

Trang 33

27

Vào đầu công nguyên, trong các quốc gia Đông Á thì chỉ có Trung Quốc là nước có chữ viết Người Nhật do không có chữ viết riêng nên ban đầu mượn âm chữ Hán để ghi chép câu nói của mình và soạn thảo văn bản.

表 (happyō - phát biểu), các từ thuần Nhật và tên riêng (tên người, đại danh) như 山田 (yamada - anh Yamada), 新宿 (shinjyuku - quận Shinjyuku) Về cách đọc của chữ Hán thì có 2 cách: đọc theo kiểu Trung Quốc “onyomi” (音

読み - âm đọc gốc của chữ Hán ở Trung Quốc có phần được biến đổi phù hợp với cách đọc của tiếng Nhật) và cách đọc theo kiểu Nhật “kunyomi” (訓読み-

âm đọc cố hữu của tiếng Nhật)

Đến thời Heian (794-1192), người Nhật dựa trên chữ Hán tạo thành 2 loại chữ Kana để ghi chép câu nói, đó là chữ Hiragana và Katakana

2) Chữ Hiragana (平仮名 - Bình giả danh)

Chữ Hiragan ra đời vào khoảng cuối thế kỷ IX, đầu thế kỷ X, là hệ chữ

phiên âm chính được cấu tạo từ chữ Hán, là dạng chữ viết thảo hoặc viết đơn giản đi của chữ Hán Chữ Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành

tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ… như tính từ 赤い(akai - màu đỏ)

3) Chữ Katakana (片仮名 - Phiến giả danh)

Chữ Katakana cũng có nguồn gốc từ chữ Hán, là chữ được tạo ra trên

cơ sở viết giản lược các chữ Hán, ghi giữ lại một bộ tiêu biểu của mỗi từ để làm ký tự biểu âm cho tiếng Nhật vào khoảng thế kỷ IX và được sử dụng nhiều trong văn học Nhật vào thế kỷ X Ngày nay, chữ Katakana được dùng

để ghi các từ ngoại lai được vay mượn từ nước ngoài (trừ các từ vay mượn từ Trung Quốc); ghi các danh từ riêng của nước ngoài như tên nước, tên địa danh, người…; ghi từ chuyên môn trong các lĩnh vực như khoa học kĩ thuật,

Trang 34

28

thương mại, điện tử; ghi các từ tượng thanh, tượng hình; ghi các từ bình thường với dụng ý nhấn mạnh

4) Chữ Latinh (ローマ字 - Rōmaji)

Chữ Latinh là hệ thống chữ cái dùng để ký âm tiếng Nhật được các nhà

truyền giáo người Bồ Đào Nha và Tây Ba Nha truyền vào Nhật Bản khoảng thế kỷ thứ XVI - XVII Họ sử dụng hệ thống chữ cái Latinh của tiếng Bồ Đào Nha hoặc tiếng Hà Lan để biểu ký tiếng Nhật Chữ Latinh dùng để viết tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, lời bài hát

Nói đến giao thoa văn hóa là nói đến quá trình trao đổi, vay mượn các yếu tố văn hóa và ngôn ngữ Tiếng Nhật vay mượn một số lượng lớn từ vựng của tiếng Hán Sự vay mượn thứ nhất xảy ra trước thời Nara khi Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản năm 538 Cách phát âm theo âm Go on (呉音 - Ngô âm) đã góp phần vào sự hình thành cho sự vay mượn giai đoạn này Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng âm Go on (呉音 - Ngô âm) được mô phỏng theo ngôn ngữ thuộc miền nam Trung Quốc thời cổ đại

Sự vay mượn từ Hán lần thứ hai diễn ra suốt thời Nara, khi nhiều sinh viên và quan chức tòa án Nhật Bản đến học tập ở Lạc Dương và Trường An là

hai thành phố lớn vào triều đại nhà Đường Cách phát âm theo âm Kanon (漢

音 - Hán âm) là cách phát âm được du nhập vào tiếng Nhật trong suốt thời kì này và được coi là âm chuẩn của thời nhà Đường thế kỷ VIII

Tiếp đến thế kỷ XIV, tiếng Nhật được tiếp xúc với một lớp từ vựng mới với cách phát âm do các tín đồ phái Thiền của Phật giáo mang lại Những

cách phát âm mới này có xuất xứ từ Hàng Châu, với tên gọi âm Tō on (唐音 -

Đường âm) và âm Sō on (宋音 - Tống âm)

Chính vì tình trạng vay mượn từ tiếng Hán vào tiếng Nhật xảy ra trong những giai đoạn lịch sử khác nhau như vậy nên không ít chữ có ba cách đọc

Trang 35

29

phản ánh ba giai đoạn vay mượn khác nhau Đa số các từ hiện nay được phát

âm theo âm Go on (呉音 - Ngô âm) hoặc âm Tō on (唐音 - Đường âm) và âm

Sō on (宋音 - Tống âm) Phát âm theo âm Go on (呉音 - Ngô âm) thuộc dòng

Phật giáo, phát âm theo âm Kanon (漢音 - Hán âm) thuộc đạo Khổng và các học giả bình dân, phát âm theo âm Tō on (唐音 - Đường âm) - âm Sō on (宋

音 - Tổng âm) do phái Thiền đạo Phật tạo ra Tuy nhiên, do các âm này được vay mượn vào Nhật Bản từ rất lâu cùng với những vốn từ vựng phong phú được người Nhật sử dụng hàng trăm năm nên ngày nay người Nhật không quan tâm lắm đến nguồn gốc của các cách phát âm như thế này

Nhật Bản đã tiếp xúc giao lưu với Trung Quốc kéo dài hàng thế kỷ nên

đã tiếp thu và chịu ảnh hưởng rất lớn về văn hóa của Trung Quốc, một trong

số đó là sự tồn tại của lớp từ Hán Nhật (漢語 - Kango - Hán ngữ) chiếm đến hơn 60% vốn từ chung Tiếp đến từ cuối thế kỷ XIX, sau khi Mỹ vào Nhật, chính sách bế quan tỏa cảng được chính quyền Mạc Phủ phế bỏ, Nhật Bản

mở rộng giao lưu kinh tế, thương mại, kỹ thuật đối với các nước châu Âu

Do đó, các từ nước ngoài như tiếng Anh, Pháp, Đức, Ý cũng đã nhanh chóng du nhập vào Nhật, tạo ra một lớp từ ngoại lai (外来語 - Gairaigo - Ngoại lai ngữ)

Như vậy, về cơ bản hiện nay trong vốn từ tiếng Nhật gồm có 3 lớp từ:

từ thuần Nhật (和語 - Wago - Hòa ngữ) chiếm khoảng 27%, từ Hán Nhật (漢

語 - Kango - Hán ngữ) chiếm khoảng 60% và từ ngoại lai (外来語 - Gairaigo- Ngoại lai ngữ) chiếm khoảng 13% [22; 46]

a Lớp từ thuần Nhật (和語 - Wago - Hòa ngữ)

Lớp từ thuần Nhật là lớp từ tạo nên vốn từ cơ bản của tiếng Nhật Các

từ gốc Nhật được chia làm 2 tiểu nhóm thực từ (mang nghĩa từ vựng) và tiểu nhóm hư từ (thực hiện các chức năng ngữ pháp)

Trang 36

30

Tiểu nhóm thực từ có các từ thuộc loại danh từ, chủ yếu là các từ biểu thị khái niệm cụ thể như: くも (kumo - mây), かぜ (kaze - phong), やま (yama - núi), あめ (ame - mưa) ; các động từ như: 聞く (kiku - nghe), 話す (hanasu - nói), 読む (yomu - đọc), 書く (kaku - viết) ; các tính từ như: 高い (takai - cao), 低い (hikui - thấp), 長い (nagai - dài), 短い (mijikai - ngắn)

Tiểu nhóm hư từ biểu thị ý nghĩa ngữ pháp (các phân từ ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, từ nối ) cũng đều là từ gốc Nhật

b Lớp từ Hán Nhật (漢語 - Kango - Hán ngữ)

Lớp từ Hán Nhật là những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, được vay mượn từ Trung Quốc từ những thế kỷ đầu công nguyên Phần lớn các từ Hán Nhật đều bao gồm 2 hoặc nhiều hơn 2 hình vị (được biểu thị bằng từ 2 chữ Hán trở lên) Ví dụ: 平等 (byōdō - bình đẳng), 独立 (dokuritsu - độc lập), 自

由 (jiyū - tự do), 研究 (kenkyū - nghiên cứu), 研究所 (kenkyūjo - viện nghiên cứu) Về mặt từ loại, phần lớn các từ Hán Nhật là danh từ, trong đó chủ yếu

là các danh từ biểu thị khái niệm trừu tượng như: 観念 (kannen - quan niệm),

哲学 (tetsugaku - triết học), 主義 (shugi - chủ nghĩa), 極端 (kyokutan - cực đoan) Khi các danh từ có nghĩa hành động muốn hoạt động với tư cách là động từ thì buộc phải kết hợp với một từ thuần Nhật có chức năng chuyên biệt

là する (suru), tạo thành các động từ như 研究する(kenkyūsuru - nghiên cứu), 勉強する(benkyōsuru - học tập) Ngoài ra có một số ít từ gốc Hán được sử dụng trong tiếng Nhật với tư cách là tính từ như 便利 (benri - tiện lợi), 有名 (yūmei - nổi tiếng)

Do các từ Hán vào tiếng Nhật trong các giai đoạn khác nhau nên ngoài

sự phức tạp về âm đọc, ngay cả nguồn gốc của các từ này cũng không phải luôn được người Nhật ý thức như nhau Nhiều từ được du nhập vào Nhật Bản

Trang 37

31

từ rất xa xưa nên người Nhật quên mất cả nguồn gốc Hán của chúng như: 菊 (kiku - hoa cúc), 勿論 (mochiron - tất nhiên, 幕 (maku - màn sân khấu)

Thêm vào đó, các từ gốc Hán biểu thị khái niệm trừu tượng vốn không

có trong tiếng Nhật gốc nên buộc phải vay mượn, người Nhật cón du nhập cả các từ Hán biểu thị các sự vật, khái niệm cụ thể vốn có trong tiếng Nhật gốc

Do đó, có thể sử dụng đồng thời cả hai từ: một từ thuần Nhật và một từ Hán Nhật để biểu thị một sự vật hay khái niệm Ví dụ: từ “rừng” trong lớp từ thuần Nhật là 森 (mori); trong lớp từ Hán Nhật là 森林 (shinrin) Tuy vậy, các từ này thường phân biệt nhau về phạm vi sử dụng: từ thuần Nhật thường được sử dụng trong ngôn ngữ nói thân mật hàng ngày, từ Hán Nhật thường được sử dụng trong ngôn ngữ viết, trong bối cảnh trang trọng, lịch sự

c Lớp từ ngoại lai (外来語 - Gairaigo - Ngoại lai ngữ)

Lớp từ ngoại lai là một bộ phận quan trọng trong vốn từ vựng tiếng Nhật Như các ngôn ngữ khác, tiếng Nhật khi ra đời và phát triển đã luôn tiếp xúc và cọ xát với nhiều ngôn ngữ khác để rồi tạo ra một lớp từ vay mượn rất lớn trong vốn từ vựng của mình ở nhiều lĩnh vực như văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật, thương mại… Ở các nước như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên có giao lưu và ảnh hưởng của nền văn minh Trung Quốc từ xa xưa thì từ ngoại lai được xếp thành 2 loại lớn là: một loại đến từ Trung Quốc

từ thời xa xưa và một loại là những từ vay mượn từ các ngôn ngữ của các nước phương Tây, các nước Âu Mỹ có nền văn minh tiên tiến trong thời cận đại Tuy nhiên, các từ Hán được du nhập từ Trung Quốc vào Nhật từ xa xưa không được xếp vào nhóm này Từ ngoại lai được viết bằng chữ Katakana để phân biệt với lớp từ thuần Nhật và lớp từ Hán Nhật

Trong vốn từ ngoại lai đến từ các nước Âu Mỹ thì từ ngoại lai bắt nguồn từ tiếng Anh xuất hiện nhiều nhất chủ yếu trong các lĩnh vực công

Trang 38

32

nghệ, khoa học, kỹ thuật như マシン (mashin - máy khâu)… du nhập vào Nhật từ thời Edo nhưng phát triển mạnh từ sau thời Minh Trị Từ ngoại lai đầu tiên xuất hiện ở Nhật Bản là vào thế kỷ XVI (thời Muromachi) chủ yếu là các từ trong cuộc sống hàng ngày như: カステラタ (kasutera - bánh trứng xốp), タバコ (tabako - thuốc lá) Đến thời Edo (thế kỉ XVI - XVII), khi Nhật Bản bắt đầu giao dịch buôn bán với Hà Lan thì xuất hiện các từ ngoại lai vay mượn từ tiếng Hà Lan trong các lĩnh vực địa lý, thiên văn học, y học, hóa học như: ガス (gasu - khí ga), ゴム (gomu - cao su) Ngoài ra, các từ ngoại lai gốc tiếng Pháp phần lớn liên quan đến lĩnh vực nghệ thuật, thời trang; các

từ ngoại lai từ tiếng Đức liên quan đến y học, khoa học, thể thao; các từ gốc Ý liên quan đến âm nhạc và đều vào Nhật từ thời Edo nhưng du nhập một số lượng lớn vào thời Minh Trị

Theo Viện nghiên cứu Quốc ngữ (国語研究所 - Kokugo kenkyūjo),

hiện nay có khoảng 2.964 từ ngoại lai được sử dụng trong 90 tạp chí hiện đại của Nhật, có xuất xứ từ nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới [25; 57] Song thực tế số lượng từ ngoại lai đang được người Nhật sử dụng lớn hơn nhiều và trong trạng thái liên tục được bổ sung, phát triển rất mạnh mẽ và được chuyên dụng hóa phạm vi sử dụng Vai trò của từ ngoại lai ngày càng được khẳng định

Để có một ngôn ngữ với những đặc điểm về cấu trúc và khả năng hành chức như trên, tiếng Nhật đã trải qua những giai đoạn phát triển rất lâu dài, trong đó vai trò của các nhà cầm quyền Nhật Bản giai đoạn cận đại, bắt đầu từ cuộc cải cách toàn diện của Thiên hoàng Minh Trị, trong việc hoạch định, chỉ đạo triển khai các chính sách liên quan đến ngôn ngữ nhằm tăng cường khả năng hành chức, nâng cao vị thế của tiếng Nhật trong các lĩnh vực hoạt động

xã hội, giữ chức năng như một đòn bẩy mang tính quyết định Tiếng Nhật

Trang 39

33

được coi như một công cụ hết sức quan trọng để thực hiện hiện đại hóa, trong

đó có hiện đại hóa lĩnh vực giáo dục và khoa học nhằm nâng cao dân trí, bởi giáo dục được coi là “một bộ phận then chốt trong việc hình thành hình thái ý thức, sẽ cho phép Nhật Bản trở thành một quốc gia độc lập giàu có và hùng mạnh và giáo dục tạo điều kiện thuận lợi tiếp thu tri thức kỹ thuật hiện đại làm phương tiện thực hiện mục đích đó” [7; 39]

2.2 Các tổ chức chịu trách nhiệm nghiên cứu, đề xuất chính sách ngôn ngữ giai đoạn cận đại

Như phần trên đã trình bày, với quan niệm chính sách ngôn ngữ là các chủ trương mang tính chính trị của một nhà nước hay của giai cấp thống trị nhà nước đối với ngôn ngữ và các biện pháp thực hiện các chủ trương đó nhằm hướng sự hoạt động của ngôn ngữ và các hình thức tồn tại của ngôn ngữ theo những mục đích nhất định, việc xác định các cơ quan trực tiếp giúp nhà nước (hay chính quyền) chịu trách nhiệm đề xuất hoặc quản lý việc thực thi chính sách ngôn ngữ giai đoạn cận đại ở Nhật Bản là không thể thiếu Trên

cơ sở tổ chức hành chính đặc thù của giai đoạn này, có thể dẫn cử một số tổ chức cơ bản sau:

1) Với mục đích tập trung hoàn toàn quyền lực vào tay chính quyền trung ương để dễ dàng thực thi cải cách, tháng 7 năm 1871 Chính phủ Minh

Trị đã thành lập Bộ giáo dục (文部省 - Monbushō) để quản lý và phát triển

giáo dục trong cả nước và hướng đến một nền giáo dục cho toàn dân

Bộ giáo dục là cơ quan chịu trách nhiệm về hoạt động của các ngành

thuộc lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, tôn giáo và là cơ quan tối cao trong lĩnh vực giáo dục nên mọi thể chế, phương pháp giáo dục ở tất cả các

bậc học đều do Bộ giáo dục biên soạn và chế định Việc sử dụng tiếng Nhật

với tư cách là ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong tất cả các bậc học

Trang 40

34

đều thực hiện dưới sự điều hành và giám sát trực tiếp của Bộ giáo dục nhằm đạt hiệu quả cao nhất

2) Uỷ ban điều tra quốc ngữ (国語調査委員会 - Kokugo chōsa iinkai)

là cơ quan điều tra, nghiên cứu về ngôn ngữ đầu tiên ở Nhật Bản trực thuộc

Bộ giáo dục được thành lập tháng 4 năm 1902 Ủy ban này hoạt động trong vòng 11 năm từ năm 1902-1913, gồm 14 thành viên là các giáo sư, tiến sĩ của các trường đại học lớn, trong đó giữ vai trò chủ tịch Ủy ban là tiến sĩ Katō Hiroyuki (加藤 弘之/1836-1916), thư ký là tiến sĩ Ueda Kazutoshi (上田 万年/1867-1937) giáo sư khoa Văn học, Đại học đế quốc Tokyo

Nhiệm vụ chính của Uỷ ban điều tra quốc ngữ là tổ chức khảo sát điều

tra, nghiên cứu nhằm hệ thống hóa tiếng Nhật ở các phương diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, văn tự; nghiên cứu đặc trưng nhằm thống nhất ngôn ngữ nói

và ngôn ngữ viết; xác lập bảng chữ cái tiếng Nhật và hệ thống phiên âm; khảo sát sự khác biệt giữa các vùng phương ngữ để đề xuất các tiêu chí cho tiếng phổ thông

3) Ủy ban điều tra quốc ngữ lâm thời (臨時国語調査委員会 - Rinji

kokugo chōsa iinkai) được thành lập vào năm 1921 và tồn tại tới năm 1934

Ủy ban này được thành lập và hoạt động giống với Uỷ ban điều tra quốc ngữ

ở giai đoạn trước thực hiện các nghiên cứu, điều tra, khảo sát nhằm đề xuất cho chính phủ những chính sách liên quan đến cấu tạo và sử dụng ngôn ngữ

4) Hội đồng thẩm định quốc ngữ (国語審議会 - Kokugo shingikai) được thành lập vào năm 1934 khi Ủy ban điều tra quốc ngữ lâm thời bị giải

tán Đây là cơ quan tham mưu, tư vấn về các chính sách ngôn ngữ của Nhật

Bản cho Bộ trưởng Bộ giáo dục Chủ tịch Hội đồng là ông Minami Hiroshi

(南 弘/1869-1946), nguyên Bộ trưởng Bộ thông tin của Nhật Bản

Ngày đăng: 21/08/2015, 20:03

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp 3 hệ phiên âm trong tiếng Nhật - Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chính sách ngôn ngữ ở nhật bản thời cận đại
Bảng t ổng hợp 3 hệ phiên âm trong tiếng Nhật (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w