Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tổn thương tâm lý của trẻ em phải chịu do bạo lực gia đình, chỉ ra phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em.. Những nghiên cứu cũng đã đưa ra
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
================
VŨ MINH PHƯƠNG
NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, QUẬN THANH XUÂN VÀ QUẬN BẮC TỪ LIÊM – HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ CÔNG TÁC XÃ HỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
================
VŨ MINH PHƯƠNG
NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG (NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP TẠI QUẬN HOÀN KIẾM, QUẬN THANH XUÂN VÀ QUẬN BẮC TỪ LIÊM – HÀ NỘI)
LUẬN VĂN THẠC SỸ Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60900101
Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thị Kim Thanh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân và Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội)” là kết quả nghiên cứu của Học viên, không sao chép của ai và kết quả được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí, các trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Học viên
Vũ Minh Phương (CH - CTXH 4)
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu “Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân và Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội)”, tôi đã nhận được nhiều
sự khích lệ từ phía gia đình, thầy cô và bạn bè
Trước hết, tôi xin cảm ơn Nhà trường cùng các Thầy Cô giáo trong khoa xã hội học nói chung, và bộ môn Công tác xã hội nói riêng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bài luận văn này
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến TS Mai Thị Kim Thanh đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè đã luôn luôn động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Sự khích lệ của mọi người là nguồn sức mạnh giúp tôi có thể hoàn thành tốt luận văn
Vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn khó có thể tránh khỏi những sai sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự thông cảm và đóng góp ý kiến từ phía các thầy cô cũng như những người có quan tâm đến đề tài nghiên cứu này
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Học viên
Vũ Minh Phương (CH - CTXH 4)
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
4 BVCSGDTE Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em
11 ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học Xã hội & Nhân Văn
Trang 630 TNTP Thiếu niên tiền phong
33 UBBVCSTEVN Ủy ban bảo vệ chăm sóc Trẻ em Việt Nam
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 6
3 Ý nghĩa của nghiên cứu 18
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 20
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 20
6 Câu hỏi nghiên cứu 21
7 Giả thuyết nghiên cứu 21
8 Phương pháp nghiên cứu 22
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH 24
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 24
1.1 Cơ sở lý luận 24
1.1.1 Lý thuyết hệ thống 24
1.1.2 Lý thuyết nhu cầu 25
1.1.3 Lý thuyết trị liệu nhận thức – hành vi 26
1.2 Cơ sở thực tiễn 27
1.2.1 Mô hình trung tâm công tác xã hội trẻ em 27
1.2.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em 28
1.2 Khái niệm công cụ 30
1.3 Tổng quan địa bàn nghiên cứu 35
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI TRẺ EM VÀ HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG 38
2.1 Một số nét về thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em trên địa bàn một số phường ở Hà Nội 38
2.1.1 Thực trạng bạo lực gia đình 38
2.1.2 Thực trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em 43
2.2 Hậu quả của bạo lực gia đình đối với trẻ em 51
Trang 82.2.2 Gây nên lo âu trầm cảm, suy giảm sức khỏe tâm thần 53
2.2.3 Hậu quả về hành vi 54
2.3 Thực trạng hoạt động của cộng đồng bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình 57
2.3.1 Nhu cầu, nguyện vọng của trẻ và gia đình trong môi trường bạo lực gia đình 57
2.3.2 Mức độ hoạt động can thiệp của cộng đồng với trẻ khi bị bạo lực gia đình 62
2.3.3 Mô hình hoạt động của cộng đồng bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình 71
2.3.4 Những yếu tố tác động đến hiệu quả của hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng 74
Tiểu kết chương 2 78
CHƯƠNG 3MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ TRẺ EM KHỎI BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI CỘNG ĐỒNG 79
3.1 Những hoạt động từ nhân viên công tác xã hội nhằm hỗ trợ và bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng 79
3.2 Một số giải pháp từ thành viên trong cộng đồng góp phần làm giảm thiểu bạo lực gia đình đối với trẻ em 85
3.2.1 Giải pháp tăng cường công tác tuyên truyền – giáo dục 85
3.2.2 Tăng cường hoạt động xóa đói giảm nghèo cho gia đình bạo lực 86
3.2.3 Chính quyền và các tổ chức xã hội tăng cường sâu sát các gia đình tại khu dân cư 88
3.2.4 Tăng cường liên kết giữa nhà trường và gia đình 89
3.2.5 Tăng cường các hình thức và biện pháp cứng rắn đối với bạo lực gia đình với trẻ em 89 3.2.6 Tăng cường tổ chức các hoạt động và dịch vụ xã hội cho trẻ em 90
Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
Trang 9DANH MỤC CÁC HỘP, BIỂU ĐỒ, BẢNG
Hộp 1: Công ước của LHQ về quyền trẻ em 9
Hộp 2: Giới thiệu về Trung tâm giúp đỡ TE có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn 72
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Tình hình BLGĐ tại địa bàn nghiên cứu khảo sát 41
Bảng 2.2 Các hình thức BLGĐ đối với trẻ em (Thông qua ý kiến khảo sát của cha mẹ, cán bộ địa phương và thầy cô giáo) 47
Bảng 2.3: Trẻ em nói về các hình thức BLGĐ đối với bản thân 48
Bảng 2.4: Ý kiến của cha mẹ và cộng đồng về những ảnh hưởng của BLGĐ đối với TE 51
Bảng 2.5: Những suy nghĩ của trẻ em sau BLGĐ 52
Bảng 2.6: Nhu cầu và nguyện vọng của TE nhằm góp phần làm giảm BLGĐ 58
Bảng 2.7: Mức độ hoạt động can thiệp của cộng đồng đối với TE khi bị BLGĐ 63
DANH MỤC BIỂU Biểu đồ 2.1: Mối quan hệ giữa hoàn cảnh làm việc với BLGD 42
Biểu đồ 2.2: Tình hình BLGĐ đối với TE trên địa bàn Hà Nội (Quan điểm của cha mẹ) 43
Biểu đồ 2.3: Ảnh hưởng của hoàn cảnh việc làm đến BLGĐ đối với TE 44
Biểu đồ 2.4: Sự khác biệt của trình độ học vấn ở mức độ BLGĐ 46
Biểu đồ 2.5: Sự khác biệt của địa bàn khảo sát ở mức độ BLGĐ 46
Biểu đồ 2.6: Những nguyên nhân khác quan gây ra BLGĐ (Theo quan điểm của cha mẹ) 50
Biểu đồ 2.7: Những nguyên nhân chủ quan gây ra BLGĐ đối với TE ( Theo quan điểm cha mẹ) 50
Biểu đồ 2.8: Trạng Thái lo âu, trầm cảm 53
Biểu đồ: 2.9: Hành vi gây hấn ở thiếu niên 56
Biểu đồ 2.10: Những người đến giúp đỡ trẻ khi bị BLGĐ 64
Trang 10PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Bạo lực gia đình là một hiện tượng xã hội tồn tại dai dẳng từ xưa đến nay, ở mọi quốc gia, mọi dân tộc, mọi vùng miền [4] Hành vi bạo lực gia đình rất phong phú, đa dạng và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho cá nhân, gia đình và xã hội Bạo lực gia đình không những để lại hậu quả nghiêm trọng cho các cá nhân nói chung, mà còn gây ảnh hưởng không nhỏ đối với trẻ em Theo các số liệu khảo sát
xã hội học: Bạo lực gia đình ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của trẻ chiếm 91,0%; gây tổn hại về sức khỏe, thể chất: 87,5%; gây tổn thương về tâm lý, tinh thần: 89,4%; gây tan vỡ gia đình: 89,7% và làm rối loạn trật tự, an toàn xã hội: 89% Với trẻ em hậu quả nguy hại nhất là làm cho các em mất niềm tin vào các thành viên gia đình, từ đó chán học, sa ngã vào các tệ nạn xã hội hoặc có hành vi phạm pháp [28] Bởi vậy can thiệp hợp lý và kịp thời đối với bạo lực gia đình sẽ giúp đỡ rất nhiều cho trẻ em, tránh gây nên những hậu quả suốt đời đối với trẻ, giúp trẻ có một không gian an toàn lành mạnh để sống học tập, thúc đẩy sự phát triển hài hòa và toàn diện đối với trẻ
Dulamdary Enkhtor và cộng sự (2007), nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em đã chỉ ra rằng khi bị bố mẹ trừng phạt, trẻ cảm thấy buồn, ân hận, hối lỗi, đau khổ [4] 10/11 phân tích của Gershoff cho thấy sự trừng phạt của cha
mẹ (hoặc BLGĐ) có liên quan đến những hành vi không mong muốn đối với trẻ sau đây: giảm tính cách đạo đức, tăng gây hấn ở trẻ em, tăng phạm tội trẻ em và hành vi chống đối xã hội, giảm chất của mối quan hệ giữa cha mẹ và trẻ em, giảm sức khỏe tâm thần trẻ em, tăng nguy cơ là nạn nhân của lạm dụng thể chất, tăng nguy cơ xâm hại của người lớn đối với trẻ, tăng hành vi tội phạm và chống xã hội, và gia tăng nguy cơ lạm dụng trẻ em hoặc vợ/chồng/bạn tình Nghiên cứu của Graham – Bermann và Levendosky (1998); Moore và Pepler (1998) cũng chỉ ra rằng trẻ em sống trong gia đình có bạo lực gặp vấn đề về mặt cảm xúc, giao tiếp xã hội, nhận thức bản thân và hành vi [4]
Trang 11Theo kết quả Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thực hiện cùng các đối tác cho thấy có khoảng 21.2 % các cặp vợ chồng xảy ra các hiện tượng bạo lực như đánh, mắng chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu cầu Tình trạng bạo lực xảy ra với cả người vợ và người chồng
Tỷ lệ chồng đánh vợ chiếm 3.4 % trong khi tỷ lệ vợ đánh chồng là 0.6 % [4] Tình trạng bạo lực giữa bố mẹ cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của trẻ Nhìn chung bạo lực gia đình gây trở ngại rất lớn đến sức khỏe và sự phát triển của trẻ Quả vậy, trẻ em trong xã hội hiện đại chịu nhiều sức ép và áp lực hơn so với các thời đại trước đây Chứng kiến bạo lực gia đình và trực tiếp phải chịu sự trừng phạt của bố mẹ đôi khi là quá khắt khe, đẩy trẻ em vào tình huống rủi ro, ảnh hưởng đến thể chất và tâm lý của trẻ Điều này đòi hỏi cần phải có sự lên tiếng của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em
“Trẻ em là tương lai của đất nước”, nếu không được bảo vệ và chăm sóc sẽ gây nên những hậu quả không tốt cho gia đình và xã hội Bảo vệ trẻ em là phải bảo
vệ một cách toàn diện trẻ nhiều mặt, nhiều chiều cạnh của cuộc sống Trẻ em có quyền được bảo vệ khỏi lạm dụng, bỏ bê, khai thác và phân biệt đối xử [16] Nó bao gồm quyền có nơi an toàn để vui chơi; cách nuôi dạy mang tính xây dựng và nhận thức về khả năng phát triển của trẻ em Bởi vậy, nhà nước ta luôn coi trọng công tác Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em bằng nhiều hình thức như: ban hành luật BVCSGDTE, luật Hôn Nhân và Gia Đình… hay các chương trình dự án về sức khỏe trẻ em, về bảo vệ trẻ em Từ trước đến nay, có rất đề tài dự án khoa học nghiên cứu đánh giá về công tác bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em Trong công tác nghiên cứu xã hội, nhóm trẻ em trong các gia đình bạo lực được nhắc đến nhiều Các nghiên cứu này đã chỉ ra những tổn thương tâm lý của trẻ em phải chịu do bạo lực gia đình, chỉ ra phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em Những nghiên cứu cũng đã đưa ra những phương pháp tiếp cận để trị liệu tâm lý, tâm thần một cách cá nhân cho trẻ em khi phải chứng kiến bạo lực gia đình.Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào phân tích và giải quyết dưới góc độ công tác xã hội nhằm phục vụ việc bảo vệ trẻ em trực tiếp khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng được tốt hơn
Trang 12Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi hình thành tính cách và nhân cách cho trẻ Xây dựng các thiết chế gia đình bền vững được xem là giải pháp nội lực để phòng tránh bạo lực gia đình Vì vậy đòi hỏi các tổ chức Đảng, chính quyền, mặt trận đoàn thể xây dựng được quy chế, quy ước nhằm hạn chế mâu thuẫn có thể bùng
nổ thành xung đột, tạo dựng hình ảnh gia đình chuẩn mực: no ấm, bình đẳng, tiến
bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững [29]
Hà Nội là thủ đô của Việt Nam, đồng thời, là một trung tâm kinh tế - chính trị - văn hóa của cả nước Nhiều thành tựu về kinh tế, xã hội đã phát triển và thành công tại Hà Nội Nền dân trí và sự hiểu biết của người Hà Nội cao hơn so với các vùng khác trong cả nước Tuy vậy, tình trạng BLGĐ ở Hà Nội vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, trẻ em trong một số gia đình tại Hà Nội vẫn phải chịu những sự trừng phạt nặng nề của tệ nạn BLGĐ Những trẻ em này là đối tượng quan trọng cần được bảo vệ của công tác xã hội Là một ngành khoa học ứng dụng và là một nghề trợ giúp xã hội nên công tác xã hội không thể không chú ý tới nhóm trẻ em bị BLGĐ
Sự quan tâm của gia đình đã giúp cho trẻ em được an toàn, tránh nhiều sự nguy hiểm trong xã hội Tuy nhiên tệ nạn BLGĐ đã gây ra nhiều tổn hại về sức khỏe và tinh thần cho trẻ em Hoạt động bảo vệ trẻ em cần phải được xuất phát từ chính các gia đình mà đặc biệt từ những gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực
Công tác BVCSGDTE ở Việt Nam luôn được đặt trong mối quan hệ khăng khít giữa gia đình – nhà trường – xã hội Vì vậy, vai trò của cộng đồng, của CTXH nhằm ngăn chặn tác động xấu từ BLGĐ đến trẻ em luôn là vấn đề cần thiết và cấp bách Vấn đề này ở Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng đã có sự quan tâm của các cấp các ngành Song để đạt được kết quả tốt hơn, cần có những nghiên cứu để
đề ra những giải pháp hữu hiệu hơn
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn “Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình tại cộng đồng (Nghiên cứu trường hợp tại Quận Hoàn Kiếm, Quận Thanh Xuân và Quận Bắc Từ Liêm – Hà Nội)”
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Lịch sử phát triển công tác bảo vệ trẻ em trên thế giới
Trên thế giới, làn sóng cứu trợ trẻ em được hình thành vào những năm cuối
Trang 13hiện đầu tiên của dịch vụ bảo vệ trẻ em với một uỷ quyền hợp pháp can thiệp để bảo
vệ trẻ em khỏi bị lạm dụng và bỏ bê xuất hiện vào cuối thế kỷ 19 Hoạt động này ban đầu diễn ra dưới hình thức của những nỗ lực từ thiện và nhân đạo (Jeffreys & Stevenson, 1996), trong một trường hợp xảy ra bạo lực với trẻ em bởi người chăm sóc Trẻ em, là nạn nhân của bạo lực gia đình đó - Mary Ellen đặt trong một trại trẻ
mồ côi và người chăm sóc cô bị giam cầm Sự kiện này sớm đã dẫn đến việc thành lập Hiệp hội New York về Phòng chống tàn ác đối với trẻ em (NYSPCC) NYSPCC được thành lập vào tháng 12 năm 1874, là cơ quan bảo vệ trẻ em đầu tiên trên thế giới (NSPCC, 2000; NYSPCC, 2000) Việc thành lập các NYSPCC cũng dẫn đến hình thành các thiết chế pháp luật bảo vệ trẻ em và ra đời tòa án vị thành niên ở Hoa
Kỳ (Fogarty, 2008) [39]
Nhãn quan bảo vệ trẻ em thay đổi đáng kể trong những năm đầu 1960s - gọi
là làn sóng thứ hai của phong trào giải cứu đứa trẻ Sự quan tâm chuyên nghiệp và hiện đại về BVCSTE vào đầu những năm 1960 Hoạt động này đã được thúc đẩy bởi nhiều nghiên cứu nổi tiếng, trong số đó là một nghiên cứu ở Mỹ do tiến sĩ Henry Kempe (Fogarty, 2008) Kempe, Silverman, Steele, Droegemueller (1962) đặt ra thuật ngữ "hội chứng đánh đập con" bằng việc mô tả bằng chứng về chấn thương thể chất không được điều trị do lạm dụng thân thể của người chăm sóc [34] Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của các nhà chức trách và của chính bố
mẹ, gia đình – người chăm sóc trẻ
Mặc dù được hình thành vào những năm 60 nhưng vào cuối những năm 1980
và 1990 hoạt động này tiếp tục được thay đổi theo mỗi tiểu bang của Mĩ Hầu hết các quốc gia chuyển sang "chuyên nghiệp hóa" ứng phó với tình trạng lạm dụng và
bỏ bê trẻ em Điều này dẫn đến việc áp dụng rộng rãi các hoạt động chuyên nghiệp
ra quyết định hỗ trợ, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá rủi ro của việc ngược đãi trẻ
em (Holzer & Bromfield, 2008)
Vào cuối những năm 1990, dịch vụ bảo vệ trẻ em trong tất cả các tiểu bang
và vùng lãnh thổ Úc đã gặp khó khăn để đối phó với một số lượng lớn các báo cáo nghi ngờ lạm dụng và bỏ bê trẻ em Cách tiếp cận pháp luật/pháp y đã bị chỉ trích vì gia đình có nguy cơ thấp phải chịu sự rủi ro để điều tra không cần thiết, trong khi
Trang 142009) Điều này khiến chính phủ các nước và các dịch vụ bảo vệ trẻ em phải tìm kiếm các giải pháp thay thế trong thế kỷ 21 Mô hình mới của bảo vệ trẻ em và hỗ trợ gia đình đã được thông qua ở hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ ở Úc (Bromfield & Holzer, 2008) Phương pháp bảo vệ trẻ em vào đầu thế kỷ 21 ghi nhận sự đóng vai trò quan trọng của hệ thống gia đình, các thiết chế và tổ chức xã hội khác và phúc lợi gia đình rộng lớn hơn trong việc hỗ trợ các gia đình và do đó ngăn ngừa sự lạm dụng và bỏ bê trẻ em Mô hình bảo vệ trẻ em mới tìm cách để đạt được một sự cân bằng giữa các dịch vụ bảo vệ trẻ em theo luật định và các dịch vụ
hỗ trợ gia đình Theo mô hình này, các dịch vụ bảo vệ trẻ em theo luật định, trở thành một khía cạnh trong một hệ thống phúc lợi xã hội tổng thể cho trẻ em và gia đình của họ (Bromfield & Holzer, 2008) Điều này đã dẫn đến các dịch vụ bảo vệ trẻ em và dịch vụ hỗ trợ gia đình làm việc cộng tác nhiều hơn để đánh giá nhu cầu của gia đình Trong khi làm việc cộng tác nhiều hơn với các dịch vụ phúc lợi xã hội khác trong gia đình, người bảo vệ trẻ em đã có nhiều lựa chọn hơn khi trả lời một báo cáo nghi ngờ lạm dụng hoặc bỏ bê trẻ em Điều này đã giúp cho họ đáp ứng tốt hơn nhu cầu nhận thức của gia đình chứ không phải là qua đánh giá hội đồng quản trị các rủi ro về lạm dụng trẻ em và bỏ bê thực tế (Tomison, 2001)
Các phong trào chống bạo lực trên thế giới
Phong trào biện hộ cho quyền trẻ em
Phong trào đề cao quyền công dân
Phong trào lưỡng quyền
Kinh nghiệm của một số nước phát triển về bảo vệ trẻ em hiện nay
Hệ thống bảo vệ trẻ em cũng có xu hướng thay đổi trong thời điểm gần đây trên toàn thế giới Hướng tới việc đưa ra một mô hình thực hành công tác xã hội để bảo vệ trẻ
em, đề tài hướng tới tìm hiểu những mô hình ở các nước phát triển như Autralia, Thụy Điển, Hồng Kông để là một gợi ý cho việc hình thành mô hình tại Việt Nam
Xây dựng hệ thống luật pháp chính sách liên quan đến phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em
Luật pháp là một trong những cơ sở quan trọng nhất để thực thi pháp luật, giúp xã hội ổn định trật tự Hệ thống luật pháp của LHQ và các nước phát triển trên
Trang 15trẻ em và những điều cấm đối xử ngược đãi hoặc bạo lực đối với trẻ em Hệ thống luật pháp về hoạt động bảo vệ trẻ em được hoàn thiện thường xuyên để mang tính cập nhật và giải quyết kịp thời
Hộp 1: Công ước của LHQ về quyền trẻ em
Ở Autralia hệ thống luật pháp, chính sách quy định rất cụ thể về bảo vệ chăm
Công ước của LHQ về quyền trẻ em được Đại Hội đồng Liên hợp quốc chính thức thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1989, theo Nghị định 44/25 Công ước có hiệu
lực và trở thành Luật quốc tế từ ngày 2 tháng 9 năm 1990, khi đã có 20 nước phê
chuẩn Nước đầu tiên trên thế giới phê chuẩn Công ước là Gana Tính đến năm 2002 đã
có 191 nước ký và phê chuẩn, tham gia Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á đã ký cam kết thực hiện Ngay sau ký cam kết, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống các văn bản pháp luật cũng như xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở bảo đảm cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em được thực hiện ngày càng có hiệu quả
Công ước gồm 54 điều khoản với nội dung quy định các quyền dân sự, chính
trị, kinh tế, văn hóa, nêu rõ các nguyên tắc, các quyền khác nhau, các cơ chế theo dõi
và thực hiện Trong đó, 41 điều khoản đề ra các quyền của tất cả trẻ em, các quyền đó
là không thể chia tách Các điều khoản bao gồm cả những nội dung các quyền về tự do dân sự, môi trường gia đình và các biện pháp thay thế trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, các hoạt động văn hóa giải trí, các biện pháp bảo vệ đặc biệt [25]
Công ước này đã
Nhắc lại rằng, trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người, LHQ đã công bố
rằng trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt
Tin tưởng rằng, gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản của môi trường tự nhiên
cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên, nhất là trẻ em, cần có sự bảo vệ và giúp
đỡ cần thiết để có thể đảm đương được đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng
Công nhận, để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, trẻ em cần được
trưởng thành trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và thông cảm
(Theo Vũ Ngọc Bình, NXB Chính trị Quốc Gia) [1]
Trang 16phạm pháp luật hay trong trường hợp trẻ em là nạn nhân của các hành vi bạo lực, xâm hại thì áp dụng các hình thức điều tra, xét hỏi, xử lí tại toà án như thế nào
để không gây tổn hại cho trẻ em Một số nước có phòng điều tra xét hỏi riêng, toà
án gia đình và trẻ em riêng để chuyên điều tra, xét hỏi và phán quyết đối với trẻ em phạm tội hoặc trẻ em là nạn nhân của các hành vi xâm hại, bạo lực
Phát triển nguồn nhân lực thực hành công tác xã hội với trẻ em
Nguồn nhân lực thực hành công tác xã hội với trẻ em có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển hệ thống bảo vệ trẻ em, vì đây là lực lượng trực tiếp và quan trọng nhất làm nhiệm vụ cung cấp dịch vụ và kết nối cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em
ở cộng đồng, chính họ cũng là người trực tiếp thực hành công tác quản lý ca, xây dựng chương trình, kế hoạch trợ giúp trẻ em, gia đình và phát triển cộng đồng Hầu hết các nước phát triển và đang phát triển đã công nhận công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp giống như các nghề luật sư, bác sỹ, giáo viên Hồng Kông, Thuỵ Điển, Australia… đều đã thành lập Hiệp hội CTXH, Hiệp hội các trường đào tạo cán bộ xã hội
trong mạng lưới bảo vệ trẻ em
Hầu hết các quốc gia đều chú trọng phát triển hệ thống Trung tâm CTXH với trẻ em ở cấp huyện hoặc ở cụm xã để thực hành cung cấp dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Cộng hoà liên bang Nga, Thuỵ Điển là những quốc gia có nhiều trung tâm công tác xã hội trẻ em nhất, riêng thành phố Stockhol của Thuỵ Điển, từ năm 2006,
đã có tới 27 trung tâm CTXH với trẻ em, các trung tâm này được ngân sách của các quận cung cấp và đặt dưới sự điều hành của các quận Đây là nơi các em và cha mẹ, người chăm sóc trẻ thường xuyên lui tới, nhất là trẻ em có vấn đề về tâm lý xã hội, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, bị sao nhãng, bị xâm hại, bị bạo lực Ngoài giờ đi học các em có thể đến trung tâm để được tư vấn, trị liệu tâm lí xã hội, được tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, thậm chí tạm lánh một vài ngày nếu môi trường gia đình
có nguy cơ không an toàn Cán bộ CTXH thực hành tư vấn, tham vấn, trị liệu tâm lí
xã hội cho cả trẻ em và cả cha mẹ, người chăm sóc trẻ tại trung tâm; ngoài ra họ còn
Trang 17đề Trong trường hợp các chuyến đến thăm không thành công và ít nhất là 3 lần liên tục trong khoảng thời gian một tháng mà cha mẹ, người chăm sóc trẻ vẫn không chuyển biến về nhận thức và hành động, trẻ vẫn bị sao nhãng, có nguy cơ bị bạo lực, bị xâm hại thì cán bộ xã hội có thể báo cáo với cấp chính quyền địa phương ra văn bản triệu tập những người này đến ở trung tâm công tác xã hội dành riêng cho các gia đình có vấn đề xã hội, thời gian ít nhất là 3 ngày, một tuần, dài hơn có thể đến một tháng Trong quá trình ở trung tâm CTXH các gia đình còn được tham gia các buổi học tập, toạ đàm dành cho người lớn về tâm lý của trẻ em, kỹ năng chăm sóc trẻ, đặc biệt là kỹ năng ứng xử, chăm sóc trẻ em cá biệt…
Cộng hoà liên bang Nga cũng là một trong số những quốc gia phát triển mạnh mẽ mạng lưới tổ chức bảo vệ trẻ em, điển hình là Bang Costonia, trong năm
2009, toàn bang chỉ có khoảng 1,1 triệu dân nhưng có tới 26 trung tâm CTXH trẻ
em và có tới 700 cán bộ công tác xã hội, bình quân 1500 dân có một cán
bộ CTXH và khoảng 500 trẻ em có một cán bộ CTXH Họ thuộc biên chế và do các trung tâm CTXH trả lương nhưng vừa làm việc ở trung tâm vừa thực hành trực tiếp tại cộng đồng Đặc biệt, nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và có nguy cơ bị tổn hại được quản lý và cập nhật thông tin quản lý hàng tháng, toàn bộ thông tin được kết nối mạng để phục vụ cho việc chỉ đạo điều hành từ cơ quan bảo vệ chăm sóc trẻ em cấp tỉnh Nói chủ quan, việc áp dụng công nghệ thông tin quản lý trẻ em ở bang Costonia, có lẽ là tốt nhất thế giới Bên cạnh đó, việc tìm kiếm gia đình chăm sóc thay thế và ngăn ngừa nguy cơ trẻ em bị xâm hại, bạo lực, sao nhãng được các cán
bộ CTXH đặc biệt quan tâm, bởi ở bang này có khá nhiều bậc phụ huynh nghiện rượu, vì vậy trẻ em dễ rơi vào nguy cơ cao bị sao nhãng, bạo lực Việc đưa trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em bị xâm hại vào các trung tâm chăm sóc nuôi dưỡng tập trung chỉ là giải pháp cuối cùng và mang tính tạm thời khi mà trẻ chưa tìm được gia đình chăm sóc thay thế [31]
Một số chương trình dịch vụ bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ đã và đang tồn tại Chương trình kết nối gia đình (Family Connections Program)
Chương trình kết nối gia đình ở Baltimore, Maryland được thiết kế bởi Văn
Trang 18trẻ bởi một quá trình đánh giá nghiêm ngặt Kết nối gia đình can thiệp với trẻ em từ
5 đến 11 tuổi mà ở đó trẻ em được xem là có nguy cơ bị lạm dụng và sao nhãng, nhưng chưa được can thiệp Chương trình hỗ trợ an toàn cho trẻ và gia đình bằng việc đáp ứng nhu cầu và xây dựng điểm mạnh Kết quả là 90% trẻ em trong can thiệp được bảo vệ an toàn, tránh khỏi nguy cơ làm dụng và sao nhãng
Chương trình trao quyền cho cha mẹ (Parent Empowerment Program)
Năm 1996, trung tâm Bảo vệ trẻ em của Phòng Cộng Đồng của trung tâm Y
Tế ở thành phố New York đã thành lập chương trình Trao Quyền cho Cha Mẹ, chương trình nhằm can thiệp hỗ trợ giáo dục xã hội cho những người mẹ trẻ đơn thân ở South Bronx Chương trình tập trung đánh giá các dịch vụ y tế và xây dựng
hệ thống hỗ trợ xã hội Thực hành bao gồm các nội dung vãng gia, tập huấn làm cha
mẹ để đáp ứng nhu cầu của người tham gia và chia sẻ các dịch vụ y tế và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho trẻ
Các cuốn sách, tài liệu về bảo vệ trẻ em
Tác giả Richard L Davis với “Domestic Violence – intervention, prevention, policies and solutions”, nghiên cứu đề cập đến giải pháp để giải quyết BLGĐ Trong đó có nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong việc bảo vệ trẻ em
khỏi BLGĐ Tuy vậy, cuốn sách cũng chỉ ra những hạn chế trong việc bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ chỉ nhắm tới đối tượng trẻ em và nạn nhân, mà chưa quan tâm đến làm việc với người gây bạo lực
and Teaching Children to Protect Themselves – Gavin de Becker” Đây là cuốn
sách khẳng định vai trò và tầm quan trọng của gia đình đối với việc giáo dục và bảo
vệ trẻ Cuốn sách hướng dẫn cha mẹ cách bảo vệ và giáo dục trẻ một cách tốt nhất nhằm đạt hiệu quả và an toàn Đây là gợi ý cho việc xây dựng hoạt động và dịch vụ bảo vệ trẻ em tập trung gia đình
đề cập đến khái niệm lạm dụng thể chất và tinh thần Cuốn sách đề cập đến vai trò của cha mẹ trong việc bảo vệ trẻ Do cha mẹ là những người tiếp xúc trực tiếp và
Trang 19nhất đối với trẻ Do đó, những giải pháp hướng tới đối tượng là cha mẹ như tập huấn về quyền trẻ em, tập huấn về các nội dung của pháp luật, phương pháp giáo dục trẻ em cho cha mẹ là những nội dung quan trọng nhằm giúp giảm thiểu bạo lực gia đình đối với trẻ
Cuốn sách “Social Work – a profession of many faces” (tác giả: Armando
T Morales, Bradford W Sheafor và Malcolm E Scott) nêu bật những khía cạnh chuyên môn cần can thiệp của một ca trong công tác xã hội Việc thực hành phải dựa trên nhiều chiều cạnh tồng hợp và toàn diện Ở chương 17, cuốn sách đề cập đến thực hành công tác xã hội riêng đối với trẻ em và thanh thiếu niên Tác giả cuốn sách đã đưa đến cho người đọc cách thức để thực hành can thiệp đối với trẻ em gặp phải những tổn thương về thể chất và tinh thần Cuốn sách cũng nêu lên mô hình sinh thái phân tích các rối nhiễu chức năng xã hội của trẻ em Từ cơ sở đó, tác giả luận văn đã xây dựng những hoạt động phủ hợp và hiệu quả nhất cho trẻ em nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những rối nhiễu tâm lý và hành vi trong bối cảnh bạo lực gia đình
Những cuốn sách đã đề cập đến tệ nạn BLGĐ và những hậu quả của BLGĐ Đồng thời, các cuốn sách cũng nêu rõ những hậu quả nghiêm trọng của BLGĐ đối với trẻ em và những nạn nhân Thêm vào đó, đã có nhiều cuốn sách nói đến những giải pháp nhằm giúp đỡ trẻ em khỏi bạo lực gia đình, trong đó có giải pháp quan trọng nhất là liên kết chặt chẽ với gia đình của trẻ Đây là những cơ sở lý luận quan trọng trong việc xây dựng giải pháp giúp đỡ trẻ em trong môi trường bạo lực gia đình mà luận văn sẽ đề cập ở phần sau
Đã có nghiên cứu ở cấp Nhà Nước được tiến hành để xây dựng “Báo cáo quốc gia tình hình thực hiện Công ước quốc tế về quyền trẻ em lần 1 và lần 2 của Việt Nam” cho Uỷ ban quyền trẻ em của Liên Hợp quốc, UNICEF do Uỷ ban Dân Số Gia Đình Trẻ em trước đây thực hiện
Nghiên cứu này đã đánh giá tình hình thực hiện cả bốn nhóm quyền trẻ em được
Trang 20quốc tế, nỗ lực thực hiện các cam kết quốc tế Hiện nay, Việt Nam đang nghiên cứu
để xây dựng “Báo cáo lần 3 và 4 về tình hình thực hiện Công ước LHQ về Quyền Trẻ em” [16]
Nghiên cứu về “tình trạng lạm dụng trẻ em tại Việt Nam” do UNICEF thực hiện
năm 2003 Nghiên cứu này đã xác định khái niệm, bản chất và phạm vi vấn đề lạm dụng trẻ em Theo nghiên cứu này khái niệm về lạm dụng trẻ em phải được hiểu một cách toàn diện, lạm dụng bao gồm các loại hình khác nhau như lạm dụng thân thể, lạm dụng tình dục, sao nhãng, đối xử tàn tệ về thể chất và tinh thần, bạo lực, bóc lột vì mục đích tình dục, mại dâm trẻ em, du lịch tình dục
Nghiên cứu được tiến hành tại ba tỉnh Hà Nội, An Giang và Lào Cai để phản ánh các đặc điểm khác nhau về địa lý, văn hoá, xã hội Nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong đời sống tồn tậi rất nhiều loại hình bạo lực đối với trẻ em
Phát hiện đáng chú ý nhất của nghiên cứu là tình trạng đánh trẻ em nhằm
“giáo dục”, hay kỷ luật là khá phổ biến, trong khi các bậc cha mẹ đều ý thức được rằng phương pháp dạy dỗ này là đã lạc hậu và khó chấp nhận, nhưng trên thực tế phương pháp này vẫn được áp dụng rộng rãi Tình trạng lạm dụng tình dục hay chứng kiến bạo lực cũng là những vấn đề mà trẻ em Việt Nam phải đối mặt ngày càng nhiều [16]
Nghiên cứu về “thực trạng xâm hại trẻ em qua một khảo sát nhanh tại Hà Nội”
trong chương trình phòng chống xâm hại tình dục trẻ em Hà Nội của tổ chức SCAP
đã tìm hiểu các hình thức xâm hại trẻ em tại một số trường trong nội thành Khảo sát được tiến hành với 674 em trong độ tuổi từ tiểu học đến trung học cơ sở Mặc dù nghiên cứu được tiến hành tại trường học với mục đích tìm hiểu các hình thức xâm hại trẻ em nói chung, nhưng kết quả đã chỉ ra một số hình thức xâm hại trẻ em tại gia đình Cụ thể, các em bị người nhà đánh đập là 11%, bị sao nhãng 4.2% Nghiên cứu đã đưa ra kết luận rằng, tất cả các hình thức xâm hại đều xảy ra tại các địa bàn được nghiên cứu, ngay cả hình thức sao nhãng, bỏ mặc Trẻ em nhỏ lại phải gánh chịu các hình thức xâm hại nhiều hơn, đặc biệt là bạo lực gia đình và xâm hại tình dục [16]
Trang 21Đỗ Thị Ngọc Phương (2012) “Một số kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt
ra đối với việc phát triển dịch vụ CTXH trong công tác bảo vệ trẻ em” đề cập đến
những điều cần biết để bảo vệ trẻ em và cơ sở CTXH để phát triển các dịch vụ
Hoàng Bá Thịnh (2007) cũng đề cập đến “BLGĐ đối với trẻ em và một số giải pháp phòng ngừa” ở tạp chí Tâm Lý Học tháng 6 năm 2007 Trong bài viết, tác giả
đã khẳng định chưa có một nghiên cứu cụ thể qui mô và toàn diện về thực trạng BLGĐ đối với TE và những hậu quả của BLGĐ Tác giả cũng có đề cập đến vấn đề BLGĐ đối với TE thông qua một số nghiên cứu nhanh của các tổ chức trong nước
và phi chính phủ Kết quả khảo sát 514 TE (6 – 18 tuổi) và 571 người lớn đã thống
kê một vài con số về thực trạng BLGĐ đối với TE quan trọng như có 30,7% TE bị đánh đòn ngay sau khi mắc lỗi, 46,1% TE bị đánh bằng các vật dụng như roi vọt, gậy, 46,8% TE bị tát, đánh vào mông, 18,2% bị đấm đá vào người và 37,7% TE bị cấu, véo tai Ở đây, tác giả cũng thống kê được 2 hình thức bạo lực đối với trẻ em nhiều nhất và phổ biến nhất là bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần Đồng thời, tác giả bài báo cũng nêu lên hậu quả của BLGĐ đối với TE bao gồm những hậu quả về thể chất, tinh thần và hành vi Ngoài ra, nếu không được phát hiện và giúp đỡ kịp thời, TE sẽ gặp phải những hậu quả rất nghiêm trọng có thể gây dị tật và tổn thương suốt cuộc đời Từ đó, tác giả bài báo đã đề cập đến một số giải pháp toàn diện để
khắc phục tình trạng BLGĐ đối với TE trong bối cảnh xã hội hiện nay Thứ nhất,
gia đình cần thực hiện tốt chức năng của mình trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục con cái Mỗi thành viên trong GĐ cần ý thức được những hình thức và hậu quả nghiêm trọng của BLGĐ để có phương pháp giáo dục con cái hiệu quả thay vì sử
dụng bạo lực Thứ hai, những NVCTXH và những nhà hoạt động trong lĩnh vực bảo
vệ trẻ em cần sử dụng các kiến thức và kỹ năng chuyên môn nhằm trị liệu thành công mối quan hệ cha mẹ - con cái Điều này giúp GĐ có không khi hòa thuận yên
ấm, là giải pháp trực tiếp cho hoạt động giảm thiểu BLGĐ tại từng GĐ Thứ ba, đối
với TE bị bạo hành, nhà nước và các tổ chức xã hội cần quan tâm và thực hiện tư vấn, chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho các em Nhờ vậy, trẻ em sẽ có sức khỏe về thể chất và tinh thần tốt nhất để có khả năng ứng phó với những hoàn cảnh
Trang 22đồng, xã hội Thứ tư, nhà nước và các phương tiện thông tin đại chúng cần có
những hoạt động truyền thông, giáo dục ý thức cộng đồng nhằm giúp các bậc cha
mẹ và những thành viên trong cộng đồng có hành vi đúng đắn trong cư xử với con cái và tham gia vào hoạt động chống BLGĐ đối với TE Thứ năm, nhà trường cần phát huy vai trò trong việc bảo vệ và giáo dục nhân cách cho trẻ em TE cần hiểu và năm được quyền và bổn phận của mình để có thái độ và hành vi cư xử đúng đắn
trong GĐ để tránh khỏi sự tức giận và đòn roi từ các bậc phụ huynh Thứ sáu, mỗi
địa phương cần thành lập các trung tâm tư vấn, tham vấn hỗ trợ cho trẻ em là nạn
nhân của BLGĐ Thứ bảy, các cơ sở đào tạo và tổ chức giáo dục cần bổ sung, đào
tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và tâm huyết trong việc thực hành giúp
đỡ TE có hoàn cảnh khó khăn Thứ tám, vai trò của nhà nước và các tổ chức xã hội
cần phát huy nhằm giúp đỡ và can thiệp hiệu quả đối với những phụ nữ và TE bị bạo hành Nhứng giải pháp trên nhằm đảm bảo can thiệp và giúp đỡ hiệu quả và toàn diện đối với những trường hợp TE bị bạo lực Kết thúc bài báo, tác giả cũng khẳng định cần có những nghiên cứu và đề tài khoa học chuyên sâu nhằm tìm hiểu
và đánh giá thực trạng và những giải pháp giúp đỡ TE khỏi BLGĐ, là vấn đề được
đề cập trong luận văn Điều này thể hiện phần nào tính cấp thiết của luận văn
Tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng có bài viết “Biến đổi chức năng gia đình và vấn
đề giáo dục TE hiện nay” được đăng trên tạp chí GĐ và TE vào tháng 10 năm 2006
Giáo dục trẻ em thời hiện đại là một vấn đề phức tạp, và được nhiều sự quan tâm của giới chuyên môn cũng như toàn thể cộng đồng Bài báo cũng đã khẳng định
“Để phát triển đầy đủ và hài hòa nhân cách của mình, TE cần được trưởng thành trong môi trường GĐ” Do đó, sự thay đổi về mặt kinh tế, chức năng tình cảm ảnh hưởng rất lớn đối với việc giáo dục trẻ Bài báo khẳng định vai trò quan trọng của
GĐ trong việc giáo dục trẻ và những biến đổi của GĐ có thể liên quan mật thiết đối với việc hình thành nhân cách ở trẻ Từ đó, là cơ sở để hình thành giải pháp giáo dục trẻ em từ GĐ trong thời đại mới Chỉ khi GĐ có nhận thức tích cực và đúng đắn việc giáo dục trẻ em mới có hiệu quả và tránh được những hình thức bạo lực đối với trẻ
Tác giả Hoàng Bá Thịnh cũng đề cập đến “BLGĐ, nhận thức và thực trạng”
Trang 23quan trọng về nhận thức của người dân về thực trạng BLGĐ, hình thức BLGĐ và hậu quả của BLGĐ Khi được hỏi “Ông/bà đã từng nghe nói về BLGĐ chưa?”, tỷ lệ trả lời có ở nam cao hơn nữ (Nam – 63,4%, nữ - 47,6%) Kết quả khảo sát của bài báo cũng cho thấy những người biết về BLGĐ có tỷ lệ thuận với trình độ học vấn Những hình thức BLGĐ được biết đến bao gồm bạo lực thể chất và bạo lực tinh thần Từ kết quả khảo sát, tác giả bài báo khẳng định nhận thức về BLGĐ của các cán bộ chính quyền địa phương và các tổ chức xã hội còn rất hạn chế Đa số cán bộ địa phương quan niệm BLGĐ là chuyện của từng gia đình hoặc nếu GĐ không yêu cầu thì không cần can thiệp Có những người cũng cho rằng BLGĐ chưa đến mức can thiệp thì chưa can thiệp Bài báo cũng đưa ra kết luận về hậu ủa nghiêm trong nhất của BLGĐ là có thể gây tự sát đối với nạn nhân Kết quả khảo sát của bài báo cũng cung cấp góc nhìn về nhận thức của người dân về BLGĐ, đặc biệt là nhận thức của các cán bộ địa phương, là một trong những nội dung quan trọng của bài luận văn
Tác giả Vũ Trùng Dương cũng đã nhắc đến “Bảo vệ trẻ em và người chưa thành niên trong thời kỳ mới - Tiếp cận theo lý thuyết hệ thống và phát triển bền vững” ở
Tạp Chí GĐ & TE (Kỳ I - tháng 1 – năm 2007) Ở bài viết, tác giả đã đề cập đến những giải pháp mang tính hệ thống vĩ mô nhằm bảo vệ trẻ em trong thời kỳ mới Những giải pháp đó được chia thành 3 nhóm đề án: Nhóm đề án về xây dựng và hoàn thiện hệ thống khung luật pháp, chính sách nhằm thực hiện các quyền được bảo vệ của TE và người chưa thành niên; Nhóm đề án về xây dựng và kiện toàn hệ thống mang lưới BVTE và người chưa thành niên dựa vào cộng đồng; Nhóm đề án
về xây dựng dịch vụ xã hội của các cấp trợ giúp TE và người chưa thành niên hướng đến phát triển an toàn và bền vững Những nhóm giải pháp được tác giả bài báo đề cập là những gợi ý quan trọng trong việc xây dựng giải pháp nhằm giảm thiểu BLGĐ đối với TE tại cộng đồng mà luận văn đề cập
Tác giả Đặng Cảnh Khanh với cuốn sách “GĐ, TE vá sự kế thừa các giá trị truyền thống” cũng nói đến vấn đề giáo dục TE trong thời đại mới Việc giáo dục
trẻ em trong bối cảnh xã hội hiện nay chủ yếu dựa vào gia đình Để trẻ em có sự
Trang 24yên ấm, hạnh phúc, thực hiện tốt các chức năng của GĐ là chiếc nôi vững vàng giúp trẻ em bước vào cuộc sống Cuốn sách giúp tạo cơ sở lý luận vững chắc cho luận văn khi tìm kiếm những sự giúp đỡ cho GĐ mỗi khi GĐ có bạo lực
Các nghiên cứu đã đề cập đến thực trạng BLGĐ và những hậu quả của BLGĐ Đồng thời, có nghiên cứu đưa ra cơ sở để hình thành và phát triển dịch vụ bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em trong bối cảnh hiện nay Tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu cụ thể có qui mô và toàn diện về BLGĐ, hậu quả của BLGĐ và những giải pháp nhằm giảm thiểu BLGĐ đối với trẻ em Đồng thời, chưa có nghiên cứu đưa được dịch vụ cần thiết, quan trọng nhất nhằm bảo vệ TE khỏi BLGĐ Đây là những nội dung nghiên cứu của luận văn
3 Ý nghĩa của nghiên cứu
3.1 Ý nghĩa lý luận
Nghiên cứu vận dụng một số lý thuyết của xã hội học và công tác xã hội để làm cơ sở cho kết quả thu được Các lý thuyết này sẽ được dùng để kiểm chứng việc trợ giúp, đáp ứng nhu cầu của xã hội đối với trẻ em bị xâm hại Thực tế, nghiên cứu
sử dụng lý thuyết hệ thống, lý thuyết nhu cầu và lý thuyết trị liệu nhận thức – hành
vi làm cơ sở Thông qua lý thuyết hệ thống, nghiên cứu xem xét việc hỗ trợ trẻ em
thông qua các hoạt động toàn diện ở phường Thêm vào đó, xem xét hệ thống gia
đình với nhiều đối tượng có liên hệ mật thiết tới mô hình thực hành Còn lý thuyết nhu cầu cho biết trẻ em cần gì để có nội dung hoạt động hỗ trợ phong phú và hiệu quả hơn
Lý thuyết nhu cầu còn sử dụng để đánh giá nhu cầu của gia đình để có sự đáp ứng kịp
thời Lý thuyết trị liệu nhận thức – hành vi cung cấp các kỹ năng và nguyên tắc nhằm
tăng cường nhận thức cho TE và GĐ để họ có những hành vi cư xử đúng đắn Các lý thuyết này cũng được kiểm nghiệm trong quá trình thực hành thực tế tại cơ sở nghiên cứu Bởi vậy, nghiên cứu có ý nghĩa lý luận sâu sắc Nó làm phong phú cho tri thức ngành công tác xã hội về lĩnh vực bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc Đề tài có tác động toàn diện đến mọi đối tượng trong cộng đồng về nhận thức, thái độ và hành động nhằm bảo vệ trẻ em
Trang 25một cách tốt nhất Nghiên cứu là cơ sở vững vàng cho các hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ tại các phường trên địa bàn thành phố Hà Nội trong tương lai
Đối với trẻ em được hưởng lợi
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, mặt trái của
nó là không ít trẻ em không được quan tâm, không được đối xử tốt trong các môi trường làm việc căng thẳng Không ít gia đình, bố mẹ bỏ bê và sao nhãng con cái Trong khi đó chưa có một mô hình bảo vệ trẻ em nào được thực hiện tại các phường
để trực tiếp hỗ trợ, giúp đỡ cuộc sống của các em Do đó, xây dựng một mô hình của cộng đồng bảo vệ trẻ em tại phường trên địa bàn các thành phố là một việc làm cần thiết Mục tiêu của mô hình hướng tới sự giúp đỡ phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, bảo vệ các em tránh khỏi những nguy hiểm và tổn thương trong cuộc sống Giúp các em có tiền đề và cơ sở thuận lợi cho những giai đoạn phát triển tiếp theo của cuộc đời
Đối với gia đình trẻ em
Trẻ em là nguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là niềm tin và niềm hy vọng của các bậc cha mẹ Trẻ em cũng là nguồn vui, niềm hứng khởi cho cuộc sống gia đình Nhưng trên thực tế trong không ít gia đình, trẻ em không được quan tâm, chăm sóc, thậm chí bị đối xử một cách rất tồi tệ Bên cạnh số ít gia đình bố mẹ không quan tâm tới con cái, phần lớn các gia đình bố mẹ còn bận rộn cho công việc kiếm tiền hoặc vì thiếu sự hiểu biết đến tâm lý của trẻ và còn nhiều nguyên nhân khác mà trẻ bị thiếu đi sự yêu thương, quan tâm chăm sóc Điều này sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của các em trong những giai đoạn tiếp theo của cuộc đời Luận văn sẽ đánh giá mức độ nhận thức và hành động của cha mẹ về việc BVCSGD trẻ em Từ đó đưa ra mô hình phòng ngừa phù hợp ở mọi cấp độ để nâng cao nhận thức của cha mẹ trong việc hỗ trợ trẻ, tránh tình trạng bạo lực gia đình đối với trẻ em
Đối với các nhà chức trách
Dưới sự phát triển của đề án 32, công tác xã hội được đưa về tận các phường
xã để trợ giúp trực tiếp thân chủ Tuy vậy, chưa có một nghiên cứu nào về việc trợ
Trang 26phố Nghiên cứu gợi ý cho các nhà chức trách về việc đưa mô hình công tác xã hội nhằm bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ tại cộng đồng như thế nào cho hợp lý và hiệu quả
Đối với cộng đồng
Nghiên cứu có tác dụng giúp cộng đồng hiểu rõ các quyền và bổn phận của trẻ
em, các luật và qui định có liên quan đến việc BVCSGD trẻ em Họ sẽ hiểu về tâm lý
và các đặc điểm về lứa tuổi của trẻ thơ Từ đó góp phần thay đổi nhận thức, thái độ của cộng đồng và có hành vi phù hợp để giúp đỡ trẻ tránh khỏi bạo lực gia đình
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ ra thực trạng hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ của cộng đồng, từ đó đề xuất mô hình can thiệp nhằm hỗ trợ trẻ em trong môi trường bạo lực của gia đình
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tổng quan về lịch sử hoạt động bảo vệ trẻ em trên thế giới và các hoạt động bảo
vệ trẻ em khỏi BLGĐ ở Việt Nam
Điều tra thực trạng BLGĐ và hậu quả của BLGĐ đối với trẻ em tại 3 quận của thành phố Hà Nội
Thực trạng hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ của cộng đồng trên địa bàn nghiên cứu
Đề xuất mô hình lấy gia đình làm trung tâm để hỗ trợ trẻ em trong các gia đình bạo lực
5 Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ tại cộng đồng
5.2 Khách thể nghiên cứu
Trẻ em
Cha mẹ và người thân trong gia đình
Cán bộ phường xã và thầy cô giáo
Cán bộ phụ trách công tác trẻ em, Hội Phụ Nữ, Đoàn Thanh Niên… (Các
tổ chức xã hội tại phường)
Trang 275.3 Phạm vi nghiên cứu
5.3.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu tìm hiểu thực trạng BLGĐ và những hậu quả đối với trẻ em hiện nay tại 3 quận thuộc thành phố Hà Nội Thực trạng BLGĐ được đánh giá chủ yếu qua nhận thức, thái độ và hành vi của cha mẹ đối với trẻ Thêm vào đó, từ các mô hình trong công tác xã hội dưới các chức năng cụ thể, đề xuất mô hình lấy gia đình làm trung tâm được coi phù hợp nhất tại các phường, quận nhằm bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ
5.3.2 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành trong khoảng 1 năm từ tháng 8
năm 2013 đến tháng 8 năm 2014
5.3.3 Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được triển khai tại một số phường trên
địa bàn thành phố Hà Nội tại 3 quận Cụ thể:
Phường Kim Giang thuộc quận Thanh Xuân
Phường Chương Dương thuộc quận Hoàn Kiếm
Phường Cổ Nhuế 1 thuộc quận Bắc Từ Liêm
6 Câu hỏi nghiên cứu
Thực trạng BLGĐ đối với trẻ em diễn ra hiện nay tại các phường khảo sát của các quận trên Hà Nội như thế nào và hậu quả của BLGĐ đối với trẻ em ra sao?
Thực trạng hành động của cộng đồng bảo vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình như thế nào?
Mô hình nào được coi là hiệu quả và phù hợp để can thiệp hỗ trợ trẻ em trong bạo lực gia đình trong bối cảnh xã hội hiện nay?
7 Giả thuyết nghiên cứu
BLGĐ đối với trẻ em hiện nay đang là vấn đề nhức nhối và gây nhiều hậu quả nghiêm trọng đến trẻ em
Hoạt động bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ của cộng đồng còn nhiều hạn chế và mức
độ tiếp cận các hoạt động này của trẻ em và GĐ vẫn còn thấp
Mô hình thực hành lấy gia đình làm trung tâm là một mô hình can thiệp hiệu quả
Trang 288 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp thu thập thông tin
8.1.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đối tượng: Phương pháp điều tra bảng hỏi được tiến hành trên 3 đối tượng: trẻ
em, cha mẹ, cán bộ các phường/ thầy cô giáo
Đối tượng cha mẹ:
- Quận Hoàn Kiếm: khảo sát 50 phiếu
- Quận Thanh Xuân: khảo sát 50 phiếu
- Quận Bắc Từ Liêm: khảo sát 59 phiếu
Đối tượng trẻ em:
- Quận Hoàn Kiếm: khảo sát 78 phiếu
- Quận Thanh Xuân: khảo sát 90 phiếu
- Quận Bắc Từ Liêm: khảo sát 81 phiếu
Đối tượng cán bộ phường xã và thầy cô giáo:
- Quận Hoàn Kiếm: khảo sát 76 phiếu
- Quận Thanh Xuân: khảo sát 43 phiếu
- Quận Bắc Từ Liêm: khảo sát 30 phiếu
Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu khảo sát được xử lý và thống kê dựa vào phần mềm SPSS 20.0
8.1.2 Phương pháp phân tích tài liệu
Các tài liệu luận văn sử dụng:
Luận văn, luận án liên quan đến lĩnh vực bảo vệ trẻ em khỏi BLGĐ
Các nghiên cứu trong lĩnh vực có liên quan đến nội dung của luận văn
Đề tài dự án trong và ngoài nước có liên quan đến luận văn
Trang 29 Các báo cáo tổng kết của các bộ, ngành và địa phương có nội dung liên quan đến luận văn
Google, thư viện
Trang 30PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1 Cơ sở lý luận
Để có cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu nâng cao hoạt động bảo vệ trẻ
em khỏi BLGĐ tại cộng đồng, tác giả luận văn sử dụng một số lý thuyết của xã hội học và công tác xã hội làm nền tảng
cơ chế thích nghi để giúp nó có được trạng thái thăng bằng
Với lý thuyết này, chúng tôi tìm hiểu sự hợp tác giữa các thành viên trong cộng đồng như một hệ thống tổng thể hoạt động có mục tiêu, kiểu mẫu và cơ chế hoàn thiện Muốn trẻ em được hỗ trợ tốt nhất cần phát huy sự hợp tác của toàn cộng đồng Thêm vào đó, vận dụng lý thuyết hệ thống để phân tích sơ đồ hệ thống hỗ trợ đối với gia đình cho trẻ để bảo vệ trẻ một cách tốt nhất khỏi bạo lực gia đình
Trong quan điểm của lý thuyết hệ thống, còn cần phải đề cập đến lý thuyết
hệ thống gia đình được thực hiện trong một bối cảnh chức năng Đó là hệ thống mà bao gồm ngôn ngữ, vai trò, thước đo, giá trị, niềm tin, nhu cầu và kiểu mẫu Mỗi thành viên trong hệ thống có một vai trò trong đó và tất nhiên chịu ảnh hưởng của toàn hệ thống Vấn đề được giải quyết bằng việc tập trung vào sự thay đổi cách mà
hệ thống thực hiện với những thành viên đặc biệt (ở đây có thể là trẻ em, người chịu bạo lực, người gây ra bạo lực…) [23]
Tiếp cận hệ thống liên quan đến sự ảnh hưởng của các hệ thống nhỏ và những môi trường có chức năng riêng biệt như nhà trường, tổ dân phố, phường, tòa
án và các tổ chức chính quyền khác…) Cách tiếp cận này cho rằng mỗi tổ chức có
Trang 31vấn đề Mô hình can thiệp gia đình trọng tâm liên quan đến việc thực hành và lưu giữ kết nối giữa các tổ chức này
1.1.2 Lý thuyết nhu cầu
Lý thuyết nhu cầu của Maslow
Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn (humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs) của con người
Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản (basic needs): ăn uống, hít thở không khí…
- Nhu cầu về an toàn (safety needs): tình yêu thương, nhà ở, việc làm…
- Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hoà nhập
- Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs): được chấp nhận có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội…
- Nhu cầu được thể hiện mình (self - actualizing needs): nhu cầu được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình…
Lý thuyết nhu cầu gia đình của Weltner (1985, 1986)
Dựa trên thang nhu cầu của Maslow, Weltner (1985, 1986) đề ra bốn tầng nhu cầu của gia đình, tương tự như cấu trúc của một ngôi nhà, và các phương pháp tiếp
Trang 32 Tầng một (nền móng):
Gồm những nhu cầu vật chất căn bản cần thiết cho sự sống còn của gia đình như nhà ở, thực phẩm, an toàn, y tế, sự thương yêu chăm sóc đùm bọc lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình… Vấn nạn của tầng 1 xảy ra khi gia đình ở trong hoàn cảnh nghèo túng, khó khăn, khủng hoảng, khiến cho những nhu cầu sống còn cơ bản của các thành viên không được thỏa mãn
Tầng hai (sườn và mái):
Gia đình ở tầng hai được thỏa mãn thích đáng những nhu cầu cơ bản liên quan đến sinh tồn, tuy nhiên cấu trúc không vững chắc, thẩm quyền không được phân chia và quy định rõ rệt, cha mẹ bất hòa hoặc không biết phối hợp hành động để hỗ trợ lẫn nhau, thiếu khả năng dạy dỗ con cái
Tầng ba (tường vách, phòng ốc, và cửa nẻo):
Gia đình ở tầng ba được thỏa mãn các nhu cầu vật chất cơ bản liên quan đến sinh tồn, có tổ chức, có kỷ luật trên dưới, tuy nhiên vấn nạn của những gia đình này thường là cấu trúc cứng nhắc, kỷ luật quá chặt chẽ và độc đoán, khiến cho các thành viên không thể phát triển một cách đầy đủ và lành mạnh
Tầng bốn (giường tủ, bàn ghế, bình hoa, tranh ảnh trang trí):
Con người sống trong gia đình vẫn cảm thấy thiếu sót một cái gì đó: sự bình yên, cảm giác được thương yêu một cách nồng nàn, cảm giác muốn được thừa nhận, muốn được tôn trọng một cách thích đáng, muốn được vươn tới cái tôi cao thượng nhất, được thỏa mãn về tâm linh… Mục đích của tham vấn gia đình ở đây là giúp gia đình ý thức được những niềm vui trên cuộc hành trình đến hạnh phúc [15] Thang bậc trên nhằm mục đích đánh giá chính xác những nhu cầu của gia đình, những thiếu hụt thiếu sót cần được bổ sung để có sự can thiệp hợp lý và phù hợp nhất
1.1.3 Lý thuyết trị liệu nhận thức – hành vi
Lý thuyết trị liệu hành vi là một trong những lý thuyết cơ bản của công tác xã hội Những người theo trường phái này được xem như vừa là nhà lý luận vừa là nhà kỹ thuật Giả thuyết cơ bản của trường phái này cho rằng những hành vi tập nhiễm có
Trang 33Trị liệu hành vi tập trung chú ý tới việc thay đổi hành vi hiện tại và tạo lập chương trình hành động
Dựa trên quan điểm của lý thuyết trị liệu nhận thức – hành vi, nghiên cứu tập trung làm thay đổi nhận thức, hành vi của người dân Gia đình thường xuyên có bạo lực với trẻ sẽ hiểu được hậu quả của việc BLGĐ để giảm thiểu những hành vi gây hại đến bản thân trẻ em Từ đó, họ sẽ có những hành động đúng đắn như sử dụng phương pháp dạy con khoa học hơn, hay dùng phương pháp trò chuyện để uốn nắn con… nhằm giảm thiểu việc gây ra BLGĐ Đồng thời, lý thuyết cũng được vận dụng nhằm thay đổi nhận thức – hành vi của trẻ em cho phù hợp với gia đình và xã hội nhằm giảm thiểu việc bị đánh đập Từ đó, góp phần giảm thiểu BLGĐ
Các dịch vụ trực tiếp cho các cá nhân, gia đình nhóm
Đề xuất việc áp dụng chính sách hỗ trợ văn hóa, học nghề cho trẻ em bị xâm hại, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em bị ngược đãi
Phối hợp các ngành y tế để chăm sóc sức khỏe cho các em bị tổn thương về thể chất
Phối hợp các chuyên gia để trị liệu và tham vấn cho trẻ em bị xâm hại, ngược đãi, về tình cảm tâm lý
Hỗ trợ các em đến trường
Vận động cộng đồng tìm gia đình thay thế cho trẻ em, thực hiện các thủ tục nhằm đảm bảo cho trẻ em có một môi trường sống tốt nhất
Trang 34Tổ chức các hoạt động hướng nghiệp, hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm cho các trẻ em bị bạo lực
Giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng
Tuyên truyền GD cộng đồng về BLGĐ, về quyền và bổn phận của trẻ em về các luật pháp liên quan đến BVCSGDTE thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động sinh hoạt, hội họp tại địa phương và các khu dân cư
Phát triển các chương trình dịch vụ trong cộng đồng
Tiếp tục thực hiện các chương trình hỗ trợ trẻ em lang thang, trẻ em bị bạo lực, trẻ em bị xâm hại trong cộng đồng như chương trình tư vấn gia đình ở Quận Hoàn Kiếm, chương trình “mái ấm”, mô hình gia đình thay thế
Tiếp tục thực hiện các dự án, đề án về bạo lực và xâm hại trẻ em
1.2.2 Các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ trẻ em
1.2.2.1 Các văn bản pháp lý quốc tế
Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1989)
Tuyên ngôn của LHQ về quyền trẻ em (1989)
Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc (Công ước 138) (1973)
Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong vấn đề con nuôi giữa các nước (1993)
Tuyên bố của Liên Hợp Quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc thu xếp con nuôi ở trong và ngoài nước (1986)
Những Qui tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Quy tắc Bắc Kinh) (1985)
Hướng dẫn của LHQ về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (Hướng dẫn Riyadh) (1990)
Những Qui tắc tối thiểu phổ biến của Liên Hợp Quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước quyền tự do (1990)
Trang 351.2.2.2 Quan niệm của Đảng và chủ trương chính sách của Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề bảo vệ trẻ em
Việt Nam là một trong những nước quan tâm nhất về lĩnh vực bảo vệ chăm sóc trẻ em Ai trong chúng ta đều đã thuộc lòng câu nói của Bác Hồ “Trẻ
em như búp trên cảnh” hay “Trẻ em là tương lai của đất nước” Việc giáo dục
và bảo vệ trẻ em đã trở thành ý thức hệ lâu đời của dân tộc và vẫn được phát huy lưu truyền đến ngày nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy “Vì lợi ích trăm năm trồng người” đã có tác động sâu sắc đến tư tưởng giáo dục và trở thành khẩu hiệu hành động tại các trường học phổ thông Nhờ đó, quá trình cải cách giáo dục đã đem đến một hình thức dạy học lấy người học làm trung tâm Đây là một trong những phương pháp giáo dục giúp cho trẻ em năng động sáng tạo, phương thức mới để giáo dục trẻ
Việt Nam cũng dành một khoảng ngân sách không nhỏ chi cho các dự án, đề tài mô hình về bảo vệ trẻ em, trong đó có bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, bảo
vệ trẻ em khỏi bạo lực gia đình, bảo vệ trẻ em trong các gia đình ly hôn… Những đề tài nghiên cứu này có ý nghĩa đề cao sự quan tâm của nhà nước tới lĩnh vực trẻ em
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của LHQ về quyền trẻ em Điều này thể hiện sự quan tâm của Đảng và nhà nước đến công tác chăm sóc và giáo dục trẻ em
Mặt khác, Việt Nam cũng ban hành luật Giáo Dục, luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo Dục trẻ em 2004, Luật Hôn Nhân và gia đình 2000 Luật Phòng chống BLGĐ… để nêu ra trách nhiệm của nhà nước và cộng đồng trong việc giáo dục trẻ
Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em (2004) Luật này đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2011 quy định:
Điều 12 Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng
Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
Điều 15 Quyền được chăm sóc sức khoẻ
1 Trẻ em có quyền được chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ
Trang 362 Trẻ em dưới sáu tuổi được chăm sóc sức khoẻ ban đầu, được khám bệnh, chữa bệnh không phải trả tiền tại các cơ sở y tế công lập
Điều 16 Quyền được học tập
Điều 5 Trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân Trong mọi hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân có liên quan đến trẻ em thì lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu
Luật Hôn Nhân và Gia đình (2000) quy định:
Điều 37 Nghĩa vụ và quyền giáo dục con
1 Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con học tập
Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm, hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con
2 Cha mẹ hướng dẫn con chọn nghề; tôn trọng quyền chọn nghề, quyền tham gia hoạt động xã hội của con
3 Khi gặp khó khăn không thể tự giải quyết được, cha mẹ có thể đề nghị cơ quan, tổ chức hữu quan giúp đỡ để thực hiện việc giáo dục con
1.2 Khái niệm công cụ
Bạo lực gia đình
Trang 37Điều 1, Luật Phòng chống Bạo lực Gia đình đã nêu rõ: “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”
Bạo lực gia đình có thể xảy ra với mọi người, mọi dân tộc, tôn giáo, tuổi tác, giới tính Bạo lực gia đình gây ảnh hưởng đến mọi người thuộc mọi tầng lớp kinh tế
- Lăng mạ hoặc có hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm;
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà
và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở
Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 điều 2 trong luật này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng
Các hình thức BLGĐ: BLGĐ thường thể hiện qua các hình thức sau:
Trang 38Bạo lực thế hệ phản ánh xử lý các quan hệ và mâu thuẫn thế hệ trong quá trình thực hiện các chức năng của gia đình Nó biểu hiện trong những quan niệm và hành vi ứng xử của ông bà, cha mẹ đối với con cháu hoặc ngược lại Bạo lực thế hệ thường diễn ra dưới dạng cha mẹ chửi mắng, đánh đòn hoặc trừng phạt con cái hoặc con cái bỏ rơi, đối xử tàn bạo, đánh đập cha mẹ, ông bà
Bạo lực giới trong gia đình thường diễn ra dưới dạng vợ chồng dùng sức mạnh và bạo lực trong việc xử lý các mối quan hệ giữa họ với nhau Thông thường bạo lực giới thường là bạo lực của người chồng đối với người vợ, trường hợp ngược lại có diễn ra những không phổ biến
Bạo lực thân thể là những hành vi mang tính chất hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ thể chất và tình thần, tính mạng Bạo lực lao động hoặc kinh tế là việc dùng sức mạnh để đe dọa, chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình; cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc
về tài chính;
Bạo lực tâm lý là những lời nói, hành vi, thái độ hoặc các hành vi cố ý khác của một hoặc nhiều thanh viên trong gia đình nhằm lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe tâm thần của một hay nhiều thành viên khác trong gia đình Bạo lực tâm lý cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người
Bạo lực tình dục là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa mãn tình dục của một người hoặc một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác trong gia đình Hành vi này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra trong cả mối quan hệ vợ chồng hoặc bạn tình Bạo lực tình dục còn bao hàm cả việc cưỡng ép vợ sinh nhiều con hoặc đẻ con trai Nó có thể diễn ra một cách kín đáo,
âm thầm vừa có thể diễn ra công khai nhưng nhìn chung cả đạo đức và pháp luật khó có thể can thiệp [4]
Trang 39Bạo lực gia đình đối với trẻ em
BLGĐ đối với trẻ em diễn ra dưới 2 hình thức: Thứ nhất, trẻ chứng kiến
BLGĐ xảy ra giữa cha mẹ hoặc giữa những thành viên khác trong gia đình Bạo lực giữa cha mẹ xảy ra giữa nhiều hình thức: thân thể, tinh thần, tình dục, kinh tế Tuy nhiên, với trẻ em, bạo lực giữa cha mẹ phổ biến nhất là bạo lực thân thể và tinh thần Đó là hành vi đánh, mắng chửi, dọa nạt lẫn nhau mà trẻ quan sát thấy Các hình thức bạo lực tình dục, kinh tế giữa cha mẹ trẻ em khó nhận biết và chứng kiến Nghiên cứu của luận văn chỉ ra rằng hơn một nửa số phụ nữ từng bị bạo lực thể xác
do chồng gây ra cho biết, con cái họ đã chứng kiến cảnh bạo lực diễn ra 22,3% trong số này nói rằng con cái họ đã từng chứng kiến bạo lực thể xác giữa bố mẹ 1 lần; 23% cho biết việc đó xảy ra 2 - 5 lần và 8,8% cho biết điều đó xảy ra nhiều hơn 5 lần
Thứ hai, trẻ bị cha mẹ, người lớn trong gia đình đối xử một cách đầy bạo lực
Các nghiên cứu của luận văn cho thấy, gần ¼ trẻ dưới 15 tuổi phải hứng chịu HVBL từ người cha trong đời và 1/5 trẻ hứng chịu hành vi này trong 12 tháng tính
từ thời điểm điều tra Các nghiên cứu còn chỉ ra rằng, khu vực nông thôn, tỷ lệ trẻ bị cha mẹ trừng phạt cao hơn so với thành thị trong suốt cuộc đời và trong 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm phỏng vấn BLGĐ đối với trẻ em phổ biến nhất là HVBL tinh thần: chửi mắng, sỉ nhục, dọa đuổi khỏi nhà, bắt đứng xó nhà, bỏ đói,
bỏ rơi; tiếp đến là các HVBL thân thể như đánh bằng roi, đánh bằng gậy, cốc vào đầu, véo tai, nhốt, đập đầu vào tường, trói vào cột nhà, nằm sấp trên nền nhà và
bị đánh
Tác giả nước ngoài Fantuzzo và Mohr (1999), Mabanglo (2002) chỉ ra rằng, có mối tương quan thuận giữa trẻ em chứng kiến BLGĐ và trẻ em bị đối xử một cách ngược đãi 45 – 70% trẻ em chứng kiến cảnh bạo lực giữa hai cha mẹ cũng là nạn nhân của hành vi xâm hại thể chất của cha mẹ Wolfe và cộng sự (2003), những trẻ
em vừa chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ vừa bị cha mẹ đối xử một cách tồi tệ, xâm hại thể chất và tinh thần gặp vấn đề về cảm xúc và hành vi nghiêm trọng hơn những trẻ khác [5]
Trẻ em
Trang 40Ở Việt Nam do đặc điểm tâm sinh lý, Nhà nước ta qui định trẻ em Việt Nam có lứa tuổi ít hơn Luật BVCSGDTE năm 2004 và sửa đổi năm 2011 qui định: “Trẻ em
là công dân Việt Nam dưới mười sáu tuổi” [8]
Tuy nhiên trong luận văn này, chúng tôi chỉ khảo sát trẻ em từ 6 đến 16 tuổi
Bảo vệ trẻ em
Thuật ngữ “bảo vệ” được sử dụng một cách rộng rãi và trong các tình huống khác nhau, nhưng một cách chung nhất có thể hiểu bảo vệ trẻ em là bảo đảm quyền của mọi trẻ em không bị xâm hại, đảm bảo cho các em những gì chúng cần để tồn tại, phát triển và lớn khôn
Trong hoạt động bảo vệ, có việc thực hiện các quyền hay nói cách khác là bảo
vệ quyền cho trẻ em Quyền được bảo vệ trong công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em xuất phát từ nhận thức rằng, trẻ em là những người non nớt về mặt thể xác và tinh thần, các em dễ bị rủ rê vào những việc làm trái với pháp luật, dễ bị lợi dụng sức lao động và lợi dụng tình cảm, bị sao nhãng, bỏ rơi…
Vì vậy, Công ước LHQ về Quyền Trẻ em quan tâm đến việc TE được bảo vệ khỏi:
- Sự bỏ rơi: Bao gồm cả sự bỏ rơi của bố, mẹ, người thân hoặc của toàn xã hội
mà có thể tước đi sự nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục
- Các tình huống nguy hiểm và chiến tranh: Bao gồm những gì gây ra những đe
doạ khẩn cấp đối với sự sống còn và phát triển của trẻ em Trẻ em tị nạn, trẻ em sống trong bối cảnh xung đột vũ trang và trẻ em làm trái pháp luật là những đối tượng thuộc nhóm này Trong bối cảnh hoà bình như Việt Nam hiện nay, nguy cơ chiến tranh, xung đột vũ trang đối với trẻ em là không có
- Sự bạo lực, lạm dụng, ngược đãi và bóc lột: bao gồm tất cả các hình thức xâm
hại, đối xử gây tổn hại về mặt thể chất và tinh thần đối với trẻ em, làm ảnh hưởng đến sự phát triển một cách toàn diện của các em
- Sự phân biệt đối xử: Công ước LHQ về quyền trẻ em quy định không được
phân biệt đối xử với trẻ em gái, trẻ em tàn tật, trẻ em bị nạn, trẻ em dân tộc thiểu số, trẻ em bản xứ Tất cả các đối tượng trẻ em này cần được đưa ra khỏi bất cứ hình