1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương ninh bình

106 747 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

này thể hiện một cách tiếp cận căn bản khác đến tư duy về các vấn đề sử dụng cho hoạt động du lịch, nhưng đã thực sự liên kết chặt chẽ với công việc chính của các nhà quản lý hoạt động d

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-o0o -

PHẠM MAI ANH

BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA LAC

(LIMITS OF ACCEPTABLECHANGE –GIỚI HẠN CỦA NHỮNG

THAY ĐỔI CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC) TRONG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH TẠI VQG CÚC PHƯƠNG – NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

o0o

PHẠM MAI ANH

BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA LAC

(LIMITS OF ACCEPTABLECHANGE –GIỚI HẠN CỦA NHỮNG

THAY ĐỔI CÓ THỂ CHẤP NHẬN ĐƯỢC) TRONG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH TẠI VQG CÚC PHƯƠNG – NINH BÌNH

Chuyên ngành: Du lịch

(Chương trình đào tạo thí điểm)

LUẬN VĂN THẠC SỸ DU LỊCH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN THỊ SƠN

Hà Nội – 2014

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU - 6

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỨC CHỨA DU LỊCH - 14

1.1 Một số vấn đề lý luận về sức chứa du lịch -14

1.1.1 Khái niệm sức chứa du lịch -14

1.1.2 Một số công thức tính sức chứa du lịch -17

1.2 Phương pháp quản lý du lịch thông qua mô hình quản lý sức chứa du lịch 20 1.2.1 Khái niệm phương pháp mô hình du lịch sức chứa du lịch -20

1.2.2 Mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC -22

1.3 Hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia và vấn đề quản lý sức chứa du lịch tại Vườn Quốc Gia -33

1.3.1 Khái niệm Vườn Quốc Gia -33

1.3.2 Khoanh vùng sử dụng du lịch đối với Vườn quốc gia -34

1.3.3 Tác động của du lịch tới Vườn Quốc Gia -37

1.4 Kinh nghiệm áp dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC tại Hoa Kỳ -41

CHƯƠNG 2: CÁC ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG TỚI QUẢN LÝ SỨC CHỨA DU LỊCH VÀ BƯỚC ĐẦU ỨNG DỤNG MÔ HÌNH QUẢN LÝ SỨC CHỨA DU LỊCH LAC TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG- 45 2.1 Các điều kiện và hiện trạng du lịch ở Vườn quốc gia Cúc Phương ảnh hưởng đến quản lý sức chứa du lịch -45

2.1.1 Khái quát về Vườn quốc gia Cúc Phương -45

2.1.2 Tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn -47

2.1.3 Các điều kiện giao thông, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ du lịch -56

2.1.4 Hiện trạng hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương 59

Trang 4

2.2 Bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC tại Vườn quốc gia Cúc Phương -69

2.2.1 Xác định mâu thuẫn cần giải quyết -70 2.2.2 Khoanh vùng để áp dụng và xây dựng một số tiêu chí đánh giá điều kiện du lịch -71 2.2.3 Xây dựng bảng hỏi điều tra ý kiến du khách về hiện trạng du lịch tại tuyến thăm quan cây Chò ngàn năm -73 2.2.4 Phân tích ý kiến du khách về hiện trạng du lịch tại tuyến thăm quan cây Chò ngàn năm -73

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG MÔ HÌNH LAC VÀ MỘT

SỐ KIẾN NGHỊ CHO VIỆC QUẢN LÝ SỨC CHỨA DU LỊCH TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG - 843.1 Định hướng ứng dụng mô hình LAC cho việc quản lý sức chứa du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương -843.2 Một số kiến nghị -88KẾT LUẬN - 92

Trang 5

NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN DLST: Du lịch sinh thái

HDV: Hướng dẫn viên

LAC Limits of acceptable change

Giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Đa dạng sinh học ở một số VQG khu vực lân cận 50 Bảng 2.2 Thành phần dân tộc của cộng đồng sống ở khu

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Biểu đồ mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động

môi trường

16

Hình 1.3 Mô hình các vùng sử dụng du lịch cho một VQG 35 Hình 2.1 Tỉ lệ khách thăm quan trung bình các tháng từ năm

2008 đến năm 2013

65

Hình 2.2 Cơ cấu doanh thu của Trung tâm DLST VQG Cúc

Phương từ năm 2008 đến năm 2014**

66

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Ngày nay, đi cùng với sự phát triển của kinh tế văn hóa xã hội, ngành kinh doanh du lịch lữ hành được mở rộng và đạt được những kết quả ấn tượng Dường như, cuộc sống càng phát triển thì sự quan tâm của từng cá nhân và cộng đồng dành cho du lịch càng được đề cao và trở thành một nhu cầu thường xuyên hơn Tuy nhiên sự phát triển của du lịch cũng đi cùng với những tác động đa chiều không thể phủ nhận, từ đó dẫn đến việc cần phải đề xuất ra những cách thức quản lý, điều phối hiệu quả nhằm hạn chế tác động tiêu cực và hướng tới mục tiêu phát triển du lịch bền vững Việc quản lý sức chứa du lịch có ý nghĩa quan trọng trong cuộc này Du lịch là ngành mang định hướng tài nguyên rõ rệt, khai thác các ưu thế của tài nguyên để đưa vào sản phẩm của mình Bản thân các loại tài nguyên này thì lại mang những giới hạn tự nhiên và tính nhạy cảm nên ảnh hưởng khá nhiều tới mức độ khai thác

du lịch Nếu như việc khai thác du lịch vượt quá những giới hạn tự nhiên đó thì sẽ gây ra những ảnh hưởng đôi khi là không thể khắc phục được

Trong nhiều nghiên cứu đã từng được thực hiện, việc xác định sức chứa thường là việc tìm ra một con số xác định duy nhất - dựa trên những tính toán vật lý - để tạo ra một giới hạn trong đón tiếp khách du lịch Việc tính toán xác định ra con số này dựa trên những giả thuyết, những số liệu cố định và ít nhiều thiếu mất sự thích ứng linh hoạt với sự thay đổi liên tục của điều kiện môi trường – xã hội cũng như hệ thống tài nguyên du lịch Hơn nữa, những tính toán này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu của nhà quản lý, mà không xét trên nhu cầu và đánh giá của du khách cũng như những yếu tố đặc biệt của tài nguyên tự nhiên, môi trường xã hội Vì thế đặt ra yêu cầu có một phương thức linh hoạt hơn, hữu hiệu hơn trong việc quản lý sức chứa tại điểm du lịch Thay vì bắt đầu việc quản lý sức chứa bằng câu hỏi :“Bao nhiêu du khách đến

Trang 9

đây là quá nhiều?”, thì giờ đây câu hỏi đầu tiên được đưa ra sẽ là: “Điều kiện môi trường của điểm du lịch cần được duy trì ở mức độ như thế nào thì chấp nhận được?” Từ đó, bản chất vấn đề “đảm bảo sự bền vững” sẽ được giải quyết theo hướng đi từ việc đạt được những mục tiêu tổng quát rồi sau đó đi đến những yếu tố nhỏ hơn cụ thể hơn Đây chính là phương pháp tiếp cận của các mô hình lập kế hoạch quản lý sức chứa nói chung và sức chứa du lịch nói riêng Các mô hình lập kế hoạch quản lý sức chứa không dựa trên các giả thuyết khoa học mà là sự kết hợp giữa khoa học, sự tham gia của cộng đồng

và kinh nghiệm của nhà quản lý Một trong số những mô hình như thế được lựa chọn để giới thiệu trong đề tài này là LAC (viết tắt của Limits of acceptable change) – Những giới hạn của thay đổi có thể được chấp nhận, không chỉ cung cấp những câu trả lời đơn giản cho những câu hỏi phức tạp và khó khăn mà phát triển du lịch bền vững đưa ra, mà còn giải quyết một phức hợp những vấn đề nhỏ để cùng hướng tới mục tiêu chung

Hệ thống quy hoạch theo phương pháp LAC ban đầu được thiết kế để giải quyết các vấn đề quản lý du khách tại Hệ thống bảo tồn vùng hoang dã quốc gia Hoa Kỳ và là một sản phẩm của nhận thức sâu rộng rằng việc đánh giá năng lực chịu tải một cách máy móc đã thất bại trong việc đặt được những mục tiêu của mình Trong khi đó có rất nhiều lý do giải thích tại sao mô hình năng lực chịu tải lại thất bại, và lý do cơ bản nhất được nhắc tới đó là nó đã hướng các nhà quản lý theo một câu hỏi sai “Bao nhiêu là quá nhiều?” Năng lực chịu tải về bản chất là một thuật ngữ định lượng, nhưng nghiên cứu đã cho thấy rằng những vấn đề của việc sử dụng tài nguyên cho hoạt động du lịch không liên quan quá nhiều về số lượng người, mà về hành vi của họ Trong khí đó, phương pháp LAC giải quyết những câu hỏi khác nhau đáng kể: “Điều kiện tài nguyên và điều kiện xã hội nào phù hợp (hoặc có thể chấp nhận được), và làm thế nào để chúng ta đạt được những điều kiện đấy? Câu hỏi

Trang 10

này thể hiện một cách tiếp cận căn bản khác đến tư duy về các vấn đề sử dụng cho hoạt động du lịch, nhưng đã thực sự liên kết chặt chẽ với công việc chính của các nhà quản lý hoạt động du lịch – đó là bảo vệ các giá trị mà vì đó một khu vực được thành lập - hơn so với mô hình năng lực chịu tải

Nhận thấy đây là một hướng mới, hữu ích trong việc giải quyết vấn đề quản lý phát triển du lịch bền vững ở các vùng hoang dã, đề tài đã mạnh dạn tiếp cận nội hàm của mô hình LAC và bước đầu áp dụng những kiến thức đã tìm hiểu được để nghiên cứu áp dụng tại một địa điểm tại Việt Nam đó là VQG Cúc Phương Ở Việt Nam nói chung và tại VQG Cúc Phương nói riêng,

đã có nhiều công trình nghiên cứu, định hướng về phát triển du lịch sinh thái – du lịch bền vững, thể hiện sâu sắc mối quan tâm của chính phủ và các nhà khoa học tới vấn đề này Với mức độ phát triển ngày càng mạnh mẽ của hoạt động du lịch, càng cần có thêm những công cụ tối ưu để quản lý việc phát triển sao cho đạt được hiệu quả cao nhưng vẫn mang tính bền vững Và LAC được kì vọng sẽ đóng góp hữu hiệu vào công cuộc này

2 Lịch sử nghiên cứu đề tài

Vào tháng 1/1985, “Hệ thống giới hạn những thay đổi có thể chấp nhận được (LAC) dành cho việc quy hoạch các vùng hoang dã” được Cục Kiểm lâm xuất bản [19] Vào tháng 4/1985, ứng dụng đầu tiên của Phương pháp LAC – cho Khu tổ hợp Hoang dã Bob Marshall – đã được chứng minh bằng tài liệu trong 1 bản chỉnh sửa quy hoạch rừng Báo cáo và quy hoạch này là đỉnh cao của một nỗ lực, khởi nguồn từ đầu những năm 1980, để xây dựng và thực hiện một phương pháp nhằm giải quyết vấn đề năng lực chịu tải các hoạt động du lịch ở các vùng hoang dã Tiền đề của nỗ lực này bắt đầu từ những năm 1930 khi các nhà quản lý lần đầu tiên khẳng định cần thiết phải giữ cho mức độ sử dụng cho hoạt động du lịch ở dưới “năng lực chịu tải” hoặc ở

“điểm bão hòa” của một khu vực Từ năm 1985 đến nay, một số phương pháp

Trang 11

liên quan nhằm giải quyết năng lực chịu tải các hoạt động du lịch đã được phát triển – ví dụ, phương pháp “Đánh giá năng lực chịu tải”, “Quản lý tác động của du khách” , “Bảo vệ tài nguyên và trải nghiệm của du khách” Kể từ năm 1985, phương pháp LAC và các phương pháp liên quan đã có một sự ảnh hưởng được công nhận lên việc quy hoạch quản lý du lịch ở Hoa Kỳ và ngày càng tăng trên khắp thế giới Sự hiệu quả về các phương pháp này đã khiến cho có rất nhiều lời kêu gọi áp dụng các phương pháp này một cách rộng rãi cho các vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên

Từ đó đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn về vấn đề này Đi đầu trong việc nghiên cứu này là hai tác giả Hoa Kỳ Stephan F McCool và George H Stankey

Sau hơn 10 năm áp dụng tại Hoa Kỳ, Stephan F McCool và cộng sự đã xuất

bản cuốn sách “Limits of Acceptable Change and Related Planning Processes: Progress and Future Directions” [14], là một đánh giá tổng hợp

quá trình áp dụng, những ưu điểm, yếu điểm, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, cùng phương hướng tương lai của phương pháp này

Gần đây hơn, vào năm 2007, Stephan và nhóm tác giả đã cho ra đời

cuốn sách “An Assessment of Frameworks Useful for Public Land Recreation Planning” là một công trình tương đối hoàn chỉnh, bao gồm việc đánh giá tất

cả các phương pháp quản lý sức chứa mới nổi bật như LAC, VERP, ROS Đồng thời ghi nhận lại các áp dụng thực tiễn của các phương pháp trên tại Hoa Kỳ

Ngoài Hoa Kỳ, cũng có nhiều quốc gia đã áp dụng phương pháp LAC với nhiều cấp độ khác nhau tuy nhiên, chưa có một quốc gia nào mà LAC được nghiên cứu và áp dụng một cách hoàn chỉnh như ở Hoa Kỳ

Tại Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu có nhắc tới phương pháp LAC như một khả năng áp dụng bổ sung cho quản lý du lịch sinh thái tại

Trang 12

VQG [7,tr.120], tuy nhiên trong phạm vi tìm hiểu của tác giả luận văn, chưa

có công trình nào nghiên cứu riêng về vấn đề này

Đối với VQG Cúc Phương là một điểm đến thu hút nhiều nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực như sinh học, địa lý, khảo cổ, du lịch, văn hóa Tuy nhiên các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực du lịch được thực hiện tại Vườn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu về du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Chưa có nghiên cứu cụ thể nào về việc quản lý sức chứa thông qua mô hình LAC tại Cúc Phương nói riêng và tại Việt Nam nói chung mà tác giả luận văn được tham khảo

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của công trình nghiên cứu là bước đầu tìm hiểu và áp dụng mô hình quản lý sức LAC tại VQG Cúc Phương nhằm hỗ trợ nâng cao năng lực quản lý sức chứa du lịch đây

Để đạt tới mục đích nghiên cứu trên, luận văn đã thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu bao gồm: Thứ nhất, luận văn đã giới thiệu về mô hình quản lý sức chứa LAC, bao gồm các vấn đề lý luận và thực tiễn Thứ hai, luận văn tiến hành đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại VQG Cúc Phương và nêu

ra những vấn đề tồn tại cần giải quyết Thứ ba, luận văn thực hiện một số khảo sát xã hội học đối tượng du khách thăm quan tại VQG Cúc Phương để đánh giá nhận thức du khách về các vấn đề tồn tại ở đây, Thứ tư, Luận văn cũng đưa ra những khuyến nghị hợp lý cho việc khai thác du lịch bền vững tại nơi đây Xa hơn nữa luận văn đưa ra đề xuất xây dựng một lộ trình áp dụng LAC trong quản lý sức chứa du lịch tại VQG Cúc Phương vào thời gian tiếp theo Theo thống kê trong nhiều năm, VQG Cúc Phương luôn là một trong những VQG thu hút lượng khách đến thăm quan đông nhất trong cả nước Kéo theo đó là những tác động của hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên tại vườn cũng thể hiện tương đối rõ rệt Từ đó, thông qua việc thống kê nguồn

Trang 13

lực và lấy ý kiến từ du khách và các bên liên quan, cần tìm ra một điều kiện tự nhiên và xã hội có thể chấp nhận được để vừa duy trì hoạt động du lịch vừa đáp ứng yêu cầu bảo tồn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu khái quát các vấn đề của mô hình quản lý sức chứa LAC Đồng thời chọn VQG Cúc Phương là điển hình thực tế để bước đầu áp dụng mô hình LAC Khởi thủy của mô hình LAC được xây dựng trước hết để giải quyết các vấn đề trong quản lý sử dụng các khu vực tự nhiên hoang dã Vì thế, VQG Cúc Phương có sự tương đồng cao về tiêu chí áp dụng Nơi đây cũng là địa điểm có hoạt động du lịch đã được duy trì và phát triển trong một thời gian dài Tuy nhiên với quy mô rộng lớn gồm nhiều khu vực và tuyến khai thác du lịch thì việc áp dụng mô hình quản lý sức chứa LAC cho toàn bộ VQG Cúc Phương đòi hỏi một lộ trình đánh giá lâu dài với

sự tham gia của nhiều đối tượng liên quan mới có thể bao quát hết các vấn đề đang đặt ra tại Vườn Vì vậy trong phạm vi đề tài này, với chuyên môn và mức độ hiểu biết giới hạn của tác giả, đề tài chỉ tập trung vào xây dựng một bảng hỏi nhằm khảo sát ý kiến của du khách về điều kiện tự nhiên và điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật – dịch vụ mà du khách cảm thấy chấp nhận được

và mong muốn được duy trì tại tuyến thăm quan từ trung tâm Bống tới cây Chò ngàn năm Đây là tuyến thăm quan chính thu hút hơn 80% du khách tới thăm vườn Nơi đây có cây Chò ngàn năm là biểu tượng của Vườn nhưng đồng thời điểm thăm quan này cũng nằm trong vùng lõi của Vườn, nơi hệ sinh thái vô cùng nhạy cảm và cần sự bảo vệ nghiêm ngặt Các giải pháp và kiến nghị đưa ra trong đề tài nghiên cứu được áp dụng cho thời kỳ đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu dự kiến thực hiện

Dự kiến trong quá trình thực hiện công trình nghiên cứu, tác giả sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 14

- Phương pháp tiếp cận hệ thống

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở đưa ra những lý luận chung về mối quan hệ giữa du lịch và du lịch cộng đồng và các tác động của du lịch về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội lên cộng đồng người Mường trong phát triển du lịch ở đây

- Phương pháp khảo cứu tài liệu

Tiến hành thu thập thông tin và các tài liệu thứ cấp thông qua việc sưu tầm, tham khảo và xử lý các tài liệu sẵn có như: các công trình nghiên cứu khoa học, sách, tạp chí khoa học, văn bản pháp luật, một số báo in và báo điện tử liên quan tới các vấn đề ….đặc biệt là nguồn tài liệu nghiên cứu chuyên

ngành bằng tiếng Anh Bên cạnh đó còn có các số liệu tổng kết hoạt động kinh doanh du lịch tại VQG Cúc Phương do Trung tâm DLST và giáo dục môi trường cung cấp

- Phương pháp nghiên cứu điền dã

Đây là một trong những phương pháp quan trọng trong nghiên cứu du lịch vì

nó cho kết quả mang tính xác thực Đồng thời do đặc thù của đề tài, đây được coi là phương pháp then chốt để thực hiện đề tài Quá trình khảo sát thực địa

và điều tra xã hội học diễn ra từ ngày 19/09/2014 đến ngày 22/09/2014 tại VQG Cúc Phương Bảng hỏi được xây dựng gồm 21 câu, sử dụng để điều tra đối tượng là khách du lịch đang thực hiện hoạt động thăm quan tại đây Số lượng phiếu điều tra phát ra là 170 phiếu, số phiếu thu về là 169 phiếu

6 Kết cấu luận văn

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch và sức chứa du lịch Chương 2: Các điều kiện ảnh hưởng tới quản lý sức chứa du lịch và bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC tại Vườn quốc gia Cúc Phương

Trang 15

Chương 3: Định hướng ứng dụng và một số kiến nghị cho việc quản lý sức chứa du lịch tại Vườn quốc gia Cúc Phương

Kết luận

Trang 16

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SỨC

CHỨA DU LỊCH 1.1 Một số vấn đề lý luận về sức chứa du lịch

1.1.1 Khái niệm sức chứa du lịch

Sức chứa du lịch là một khái niệm hàng đầu trong quản lý du lịch do Hội đồng Du lịch và môi trường Anh đề xuất vào năm 1960 [2, tr.39] Có nhiều nỗ lực của các học giả trong và ngoài nước trong việc xây dựng khái niệm sức chứa du lịch Hai học giả Middleton và Hawkins Chamberlain đưa

ra định nghĩa sức chứa du lịch là: “Mức độ hoạt động của con người mà một khu vực có thể đáp ứng mà không làm tổn hại tới môi trường, không làm ảnh hưởng tới cuộc sống của cộng đồng địa phương, hoặc chất lượng trải nghiệm của du khách bị suy giảm.” [13, pg 54]

Tổ chức du lịch thế giới (WTO) đưa ra khái niệm: “Sức chứa du lịch là

số du khách tối đa có thể đến thăm một điểm du lịch tại cùng một thời điểm

mà không gây tổn hại tới môi trường vật lý, kinh tế, văn hóa xã hội và ảnh hưởng tới chất lượng trải nghiệm của du khách.”[21]

Luc Hens định nghĩa sức chứa du lịch là: “Số lượng người lớn nhất sử dụng cùng một khu vực cung cấp dịch vụ du lịch mà không gây tác động ngoài ý muốn lên nguồn tài nguyên môi trường nhưng vẫn đảm bảo được nhu cầu của du khách” [16]

Tác giả Trần Nghị và cộng sự lại định nghĩa rằng: Sức chứa du lịch là khả năng chịu lực cao nhất của một hệ thống tự nhiên, môi trường và kinh tế -

xã hội, trong đó số lượng tối đa của khách du lịch không có ảnh hưởng đến phát triển bền vững của toàn bộ hệ thống và sự hài lòng của khách du lịch vẫn còn trong giai đoạn cao điểm du lịch [19, pg 80]

Bách khoa toàn thư DLST định nghĩa sức chứa du lịch là “Số lượng các hoạt động liên quan tới du lịch mà một khu vực hoặc một điểm đến có thể đủ

Trang 17

sức cung cấp; thường được ước lượng theo dạng số lượt khách hoặc số đêm khách lưu trú trong một khoảng thời gian, hoặc bằng số lượng phòng trống” [22, pg 178]

Các định nghĩa trên đều có một điểm chung đó là coi sức chứa là một điểm thể hiện số lượng du khách mà nếu vượt qua điểm đó thì sẽ dẫn tới những tác động có hại tới điểm thăm quan.Theo đó, sức chứa du lịch bao gồm

ba nội dung: Sức chứa sinh thái, sức chứa xã hội và sức chứa kinh tế

* Sức chứa sinh thái: là số lượng du khách có thể thực hiện hoạt động

trong một khu vực du lịch mà không gây suy giảm chất lượng môi trường tự nhiên xuống dưới mức cho phép Trong trường hợp tính toán sức chứa sinh thái, giới hạn an toàn của hệ thống sinh thái thường được sử dụng thông qua các dấu hiệu chỉ thị của tự nhiên, mức độ ô nhiễm môi trường, mức độ đa dạng sinh học…

* Sức chứa xã hội: bao gồm hai khía cạnh: Một là, mức độ chấp nhận

của cộng đồng địa phương được phản ảnh bằng số lượng tối đa du khách đến thăm quan mà không gây sự khó chịu cho du khách địa phương

* Sức chứa kinh tế: là khả năng của khu du lịch có thể đáp ứng các nhu

cầu về kinh tế của du khách tại địa phương

Tuy nhiên mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và tác động xã hội, tác động lý sinh tương đối phức tạp và không phải là một đường thẳng tuyến tính

do nó chịu sự tác động can thiệp của nhiều biến số thay đổi [21, pg69] Đồ thị Hình 1.1 dưới đây chỉ ra khả năng của mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và mức độ tác động lên tự nhiên và xã hội

Đường đồ thị C đại diện cho trường hợp mà ở đó các tác động đến môi trường tăng lên không đáng kể khi mức độ sử dụng tăng dần Tuy nhiên, tới một “ngưỡng” nhất định của mức độ sử dụng thì sự ổn định của môi trường bị phá vỡ và do đó các mức độ tác động lên môi trường tăng nhanh một cách đột

Trang 18

ngột Ở trường hợp này, đòi hỏi phải quản lý mức độ sử dụng ở một “ngưỡng” nhất định và kiểm soát chặt chẽ việc này

Đường đồ thị B đại diện cho trường hợp mà ở đó tác động đến môi trường và mức độ sử dụng là một đường tuyến tính tăng dần đều Khi đó mức

độ sử dụng càng tăng thì tác động lên môi trường càng lớn Tuy nhiên điều này dường như khó xảy ra trong thực tế và thường chỉ đúng với những trường hợp có quy mô nhỏ và đơn giản trong cấu thành Ở đây, bằng những công thức cố định, nhà quản lý có thể tính toán chính xác được để duy trì được mức

độ tác động nào thì cần kiểm soát mức độ sử dụng ở con số bao nhiêu lượt sử dụng

Đường đồ thị A đại diện cho trường hợp mà ở đó chỉ với một mức độ

sử dụng nhỏ cũng có thể gây nên sự tác động lớn đối với môi trường Tuy nhiên, sau đó mức độ tác động dường như tăng không đáng kể khi mức độ sử dụng lớn dần Điều này thường xảy ra với một khu vực sinh thái nguyên sơ được đưa vào khai thác du lịch Các hoạt động khai phá ban đầu sẽ gây nên sự xáo trộn lớn đối với toàn khu vực nhưng sau đó khi đã đưa vào hoạt động ổn định, khu vực sẽ không có thêm quá nhiều sự xáo trộn khác nào đáng kể

Trang 19

Chính sự phức tạp trong mối quan hệ giữa mức độ sử dụng và tác động thực tế dẫn tới việc khó khăn trong kiểm soát và cân bằng hai yếu tố trên Từ

đó tạo tiền đề cho những phương pháp

PCC = A D.Rf (1)

- Trong đó A là diện tích của khu vực, điểm tham quan dự kiến

- D là diện tích cần thiết để đáp ứng nhu cầu khách đến tham quan hay nói cách khác là mật độ khách được đáp ứng trên một mét vuông

- Rf là số lượng khách tham quan tối đa cho 01 ngày

Thường Rf (Rotation factor) được tính bằng số thời gian được phép lưu

lại điểm, khu vực tham quan/ số thời gian khách lưu lại tham quan tại điểm đó

Rf = T cp/ Ttq (2)

- Trong đó Tcp là thời gian cho phép tham quan

- Ttq là thời gian khách lưu lại tham quan

Đối với diện tích thường được xem xét trong một phạm vi nhất định được giới hạn bởi đối tượng tài nguyên mà khách du lịch tham quan du lịch như một khu vườn, một nơi nuôi động vật hoặc khu vực sinh sống của thực vật, có thể

là một khu vực để tổ chức các cuộc vui chơi giải trí

Trang 20

 Hiệu quả chịu tải thực tế (ERCC- Effective Real Carrying Cappacity) là

số lượng khách và thời gian tham quan tối đa phù hợp với điều kiện khu vực cho phép, đủ khả năng kiểm soát tình hình khu vực của các nhà quản lý nhưng đạt được sự thỏa mãn dộng cơ mục đích và nhu cầu

đi tham quan của khách du lịch

Công thức được tính như sau:

ERCC = PCC-Cf1- Cf2- Cf3- - Cfn (3)

- Trong đó: Cfi (Conrrective factor) thường được gọi là hệ số giới hạn

cho phép hay là hệ số các yếu tố tiêu cực cần phải loại trừ để khỏi tác động đến khu vực thường được áp dụng các tiêu chuẩn hoặc các ngưỡng giới hạn cho phép khi áp dụng cho việc tính toán đến tác động ảnh hưởng Các hệ số này được tính theo tỷ lệ phần trăm Vì vây, có thể viết lại như sau:

Trong thực tế chỉ số giới hạn Cf1 thường căn cứ vào các yếu tố nhạy

cảm của các tài nguyên tại khu vực điểm tham quan như vấn đề môi trường, mức độ chịu đựng của hệ sinh thái, các yếu tố nhạy cảm về kinh tế hay là các yếu tố xã hội con người cuộc sống phong tục tập quán, nhận thức tại khu vực Tuy nhiên, trong số trường hợp có thể định hình tính toán các yếu tố bất lợi cho việc phát triển du lịch và thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch

 Một số hệ số giới hạn thường gặp trong hoạt động của khách du lịch tại các khu du lịch sinh thái

Trang 21

Các khu du lịch sinh thái ở những khu vực rừng núi hoang dã, là nơi thường xuyên xảy ra mưa, bão lụt và thời tiết bất thường và khắc nghiệt, điều kiện đi đến lại khó khăn do hệ thống cơ sở hạ tầng và công tác đầu tư, quản lý của Nhà nước còn hạn chế Do đó không phải lúc nào điều kiện cơ bản để tính toán sức chứa cũng là điều kiện hoàn toàn thuận lợi Những hệ số giới hạn trong tính toán sức chứa thường bao gồm:

- Hệ số giới hạn về thời tiết:

+ Hệ số giới hạn về mưa bão trong năm thường xẩy ra tại các khu vực làm cản trở hoạt động đến khách du lịch tham quan, ví dụ khu vực miền trung thường có 2 tháng có yếu tố này nên M về thời tiết là: 30 ngày x 2 tháng = 60 ngày

+ Hệ số giới hạn về độ dài rét, mưa phùn và gió bắc Ảnh hưởng đến độ quan sát, ẩm ướt gây khó chịu ở miền Bắc thường ra Tết kéo dài 2-3 tháng

+ Hệ số giới hạn về giờ nắng trong năm gây ra khó chịu cho khách như mùa gió Lào của khu vực miền Trung kéo dài 3 tháng hè

- Hệ số giới hạn về môi trường:

+ Hệ số giới hạn về mức độ ô nhiễm từ chất thải, rác thải, nước thải trong thời gian nhất định nào đó tác động ức chế đối với khách

+ Hệ số giới hạn về tiếng ồn từ các động cơ ô tô, xe máy, động cơ thuyền hay đám đông gây ảnh hưởng đến nhu cầu khách, yếu tố hệ số này thường được xác định thông qua điều tra xã hội học để tính tỷ lệ phần trăm người không tán thành được hỏi so với số người được điều tra

+ Hệ số giới hạn về tai biến và sự cố môi trường gây nguy hiểm cho khách tham quan tại các điểm du lịch sinh thái thường được xác định số vụ xảy trong thời gian nhất định tháng hoặc năm

Trang 22

+ Hệ số chất lượng nguồn nước bao gồm nước sinh hoạt, nước biển hệ số này được xác định thông qua số lượng thời gian quan trắc các thành phần đảm bảo tiêu chuẩn không

1.2 Phương pháp quản lý du lịch thông qua mô hình quản lý sức chứa du lịch

1.2.1 Khái niệm phương pháp mô hình du lịch sức chứa du lịch

Khái niệm mô hình quản lý (trong tiếng Anh là “Framework”) được hiểu như là một quy trình bao gồm một chuỗi nhiều bước dẫn dắt nhà quản lý

và người lập kế hoạch phát triển một vấn đề cụ thể Một mô hình quản lý trong trường hợp này không cần thiết đưa đến một công thức trả lời cho một vấn đề nhưng nó cung cấp nền tảng lý thuyết mà thông qua đó vấn đề có thể được giải quyết thành công Có khá nhiều các mô hình quản lý khác nhau tồn tại và có chung các đặc tính nhưng được phát triển trong các chính sách và bối cảnh quản trị riêng biệt ảnh hưởng đến các yếu tố hoặc thành phần liên quan Không phải mọi mô hình quản lý đều thích hợp cho mọi vấn đề thách thức vùng du lịch và có những vấn đề mà không có mô hình nào thích hợp để giải quyết Tuy nhiên những người ra quyết định phải đánh giá sự phù hợp của một mô hình cho việc giải quyết một vấn đề nhất định

Có 5 tiêu chuẩn để tiếp cận một mô hình thích hợp cho một vấn đề:

- Đầu tiên cần quan tâm đến đặc điểm nổi trội của mô hình đối với vấn

đề đặc biệt trong hoàn cảnh của việc lập kế hoạch Không phải tất cả các mô hình đều được thiết kế để giải quyết tất cả các vấn đề đang được đặt ra Ngoài

ra có rất nhiều các vấn đề tồn tại vì thế bước đầu tiên mô hình nên cung cấp một quy trình chấp nhận những vấn đề đặc biệt đang đặt ra Đặc biệt mô hình nên làm sang tỏ vấn đề và hệ thống nó một cách thích hợp

- Tiêu chuẩn thứ hai là mô hình nên có nền tảng lý thuyết dựa trên những lý luận khoa học được cập nhật

Trang 23

- Mô hình cũng nên đáp ứng những tiêu chuẩn kỹ thuật chính và dễ dàng áp dụng vào thực tế

- Mô hình lập kế hoạch cũng phải đáp ứng những tiêu chuẩn đạo đức nói chung, đó là nó nên xác định được sự phân bổ kết quả của một quyết định Quản lý vùng đất công tự nhiên đó là việc phân bổ những dòng chảy lợi ích, một cách lý tưởng nhất khi mà những lợi ích được tối ưu hóa Nhưng những lợi ích như vậy không đến nếu không có những sự trả giá về cả tài chính và xã hội Nên những nhóm hoặc những giá trị nào có thể được lợi từ một quyết định cụ thể? Và ai sẽ phải trả những chi phí hoặc bị chế hoặc bị ảnh hưởng Một mô hình lập kế hoạch sẽ giúp đỡ người quản lý giải đáp câu trả lời này

- Cuối cùng, một mô hình lập kế hoạch phải có hiệu quả kinh tế lẫn xã hội Đó là một tiêu chuẩn quan trọng vì mô hình giúp cho người ra quyết định phân bổ những nguồn tài chính hạn hẹp và nguồn lực con người cho những nhiệm vụ quan trọng và nổi bật

Trên thế giới hiện tồn tại nhiều mô hình lập kế hoạch được sử dụng với mục đích quản lý mức độ sử dụng và trải nghiệm của du khách đồng thời bảo

vệ tài nguyên thiên nhiên tại điểm khai thác du lịch Tùy theo mục đích và bối cảnh quản trị mà các mô hình được phát triển và biến đổi Một số mô hình lập

kế hoạch quản lý sức chứa được biết đến và ứng dụng nhiều trong thực tế gồm:

- ROS (Recreation Opportunity Spectum): Sự phân bổ cơ hội sử dụng du lịch

- LAC (Limits of Acceptable Change): Những giới hạn của thay đổi có thể chấp nhận được

- VERP (Visitor Experiences and Resource Proctection): Sự bảo vệ những trải nghiệm của du khách và tài nguyên

LAC và VERP tương tự với ROS ở chỗ được xây dựng cho những vùng đất công sử dụng cho du lịch như khu hoang dã hoặc VQG nhưng hai

Trang 24

mô hình này được mở rộng bao gồm các dấu hiệu chỉ thị, tiêu chuẩn và sự giám sát Cả ba mô hình đều dựa trên tiền đề của một hệ thống phân cấp nhu cầu, mà ở đó mọi người tham gia trong những hoạt động với những sự sắp xếp chắc chắn để đạt được những mục tiêu ở đầu ra Thành công đạt được ở đầu ra dẫn tới những lợi ích xác định Mặc dù LAC và VERP được phát triển ban đầu được xây dựng cho những khu vực được thiết kế chính thức, nhưng chúng cũng có thể được áp dụng trong những tình huống khác

LAC là mô hình được đưa ra phát triển để đối phó với những lỗi sai trong lý thuyết và thực tế tính sức chứa Mô hình này được phát triển bởi Hiệp hội dịch vụ lâm nghiệp Hoa Kỳ trong thập kỷ 80 Mô hình này dựa trên ý tưởng thay vì chỉ chú trọng vào con số du khách thăm quan, mà thực tế thì bất

cứ hoạt động du lịch nào cũng có tác động lên môi trường và do đó hoạt động quản lý nên dựa trên việc giám sát liên tục khu vực tự nhiên cũng như những mục tiêu được đặt ra cho khu vực đó Trong mô hình LAC hoàn toàn có thể thiết lập được giới hạn lượng khách nhưng những giới hạn như vậy chỉ là một công cụ có sẵn Tuy nhiên cần lưu ý rằng, có sự khác biệt giữa lý thuyết LAC

và việc sử dụng LAC như một mô hình lập kế hoạch

Mô hình VERP dựa trên ý tưởng rằng không có một sự quan tâm đúng mức đến trải nghiệm và quan điểm của du khách đối với chất lượng của môi trường Mô hình này giống với bản chất của LAC nhưng nó được thiết kế ban đầu để giải quyết nhu cầu về pháp lý, chính sách và quản trị của dịch vụ VQG tại Hoa Kỳ

1.2.2 Mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC

1.2.1.1 Khái niệm mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC

Khái niệm LAC như định nghĩa trong Bách khoa toàn thư DLST là:

“Một lý thuyết quản lý vùng thông qua việc chỉ ra các dấu hiệu chỉ thị của chất lượng môi trường và tác động của du lịch, và chỉ ra ngưỡng giới hạn mà

Trang 25

ở đó có thể đạt được các mục tiêu bảo tồn tại khu vực được bảo vệ” [22, pg 140] LAC là một mô hình lập kế hoạch và không chỉ đơn thuần quan tâm đến mức độ sử dụng và tác động của du lịch mà còn xác định điều kiện môi trường và xã hội được mong muốn cho hoạt động thăm quan Quy trình này đòi hỏi liệt kê các điều kiện đang tồn tại và xác định giới hạn tối ưu cho cả điều kiện vật lý và điều kiện xã hội Giới hạn những thay đổi có thể chấp nhận được như là một hệ thống quy hoạch được xem như là một cách cho các nhà quản lý đối mặt và giải quyết các vấn đề phức tạp về quản lý du khách không chỉ cung cấp về những trải nghiệm mà họ đang tìm kiếm mà còn giải quyết các vấn đề về tác động xã hội và sinh học

1.2.1.1 Nội dung mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC

Hệ thống quy hoạch theo phương pháp giới hạn những những thay đổi

có thể chấp nhận được đã được xây dựng và phát triển trong những năm 80 với mục đích giải quyết các vấn đề về quản lý các hoạt động du lịch trong các khu bảo tồn quốc gia và gồm 04 phần chính khớp nối với nhau:

(1) việc chỉ rõ các điều kiện xã hội và nguồn tài nguyên có thể đạt được và chấp nhận được đã được xác định nghĩa bằng một loạt các tham số có thể đo lường được;

(2) một sự phân tích về mối quan hệ giữa điều kiện hiện tại và những điều được đánh giá là có thể chấp nhận được;

(3) việc xác định hành động quản lý là cần thiết để đạt được những điều kiện này; (4) một chương trình giám sát và đánh giá tính hiệu quả của công tác quản lý.[20,pg 19]

LAC được thực hiện thông qua 9 bước cụ thể như sau:

Trang 26

(1) Xác định những giá trị, vấn đề và mối quan tâm đặc biệt

của khu vực

(2) Xác định và mô tả các vùng cơ hội cho hoạt động du lịch

(3) Lựa chọn các dấu hiệu chỉ thị thể hiện các điều kiện về

nguồn lực tự nhiên và xã hội

(4) Kiểm kê nguồn

tài nguyên tự nhiên và điều kiện xã hội

(5) Định rõ những tiêu chuẩn cho các điều kiện về tự nhiên

và xã hội cho từng hạng cơ hội

(6) Nhận diện các cấp độ khả năng thay thế có thể được cho

phép

(7) Xác định các hoạt động quản lý cho mỗi cấp độ khả năng

thay thế

(8) Đánh giá và lựa chọn biện pháp thay thế tốt hơn

(9) Thực hiện các hành động giám sát điều kiện

(Nguồn: Stephen F McCool [18, pg3]

Hình 1.2: 9 bước thực hiện của LAC

Trang 27

* Diễn giải nội dung 9 bước

1) Xác định những giá trị, vấn đề và mối quan tâm đặc biệt của khu vực Trong bước này dân cư địa phương và nhà quản lý phải gặp nhau để xác định xem những đặc điểm hay chất lượng đặc biệt nào của khu vực cần được quan tâm, những vấn đề hay mối quan tâm nào về quản lý cần được giải quyết, vấn đề nào được dư luận cho là quan trọng trong việc quản lý khu vực,

và khu vực đó có vai trò gì đối với bối cảnh theo vùng và quốc gia Các nhà khoa học cũng tham gia bởi vì họ thường nắm giữ các thông tin chưa được công bố rộng rãi cho các nhà quản lý và công chúng Cuộc đối thoại giữa các nhà khoa học, các nhà quản lý và công chúng (không chỉ có những cư dân địa phương mà thậm chí là cả sự tham gia của những người có mối quan tâm sâu sắc tới khu vực như những đơn vị lữ hành thường có đoàn khách tới thăm quan khu vực hay những khách du lịch thường xuyên của khu vực) giúp thống nhất về các giá trị và các vấn đề quan trọng

Bước này khuyến khích sự hiểu biết cao hơn về cơ sở nguồn tài nguyên thiên nhiên (ví dụ như sự nhạy cảm hệ sinh thái đối với việc sử dụng cho hoạt động du lịch và phát triển du lịch), một khái niệm chung về việc các nguồn lực được quản lý như thế nào, và một sự tập trung vào các vấn đề quản lý chính Phương pháp LAC thực sự mang tính chất của một quá trình nhằm vào việc giải quyết vấn đề - các vấn đề được mô tả ở đây sẽ được giải quyết trong những bước tiếp theo

2) Xác định và mô tả các các vùng cơ hội cho hoạt động du lịch:

Ða số các khu VQG dù ở các quy mô khá nhau nhưng thường chung nhau đặc điểm về sự đa dạng các quần thái sinh vật, các khu vực có mức độ phát triển khác nhau và mức độ về sự cư trú, tác động của con người Cũng tương tự như vậy, các điều kiện xã hội, như mức độ và hình thức sử dụng, và các loại trải nghiệm hoạt động du lịch, khác nhau ở từng khu vực Do đó loại

Trang 28

hình quản lý cần thiết có thể khác nhau trong các khu vực Các hạng cơ hội

mô tả các tiểu vùng hoặc các vùng có tài nguyên thiên nhiên – nơi những điều kiện về xã hội, nguồn lực hoặc quản lý sẽ được duy trì

Ví dụ, đối với một khu vực sinh thái biển đang được khai thác du lịch, những khu vực có vách đá sâu hơn sẽ đòi hỏi cần phải có thiết bị bình khí trong khi ở những khu vực nông hơn, việc sử dụng ống thở là phù hợp Những khu vực nông hơn có thể cũng chịu nhiều tác động từ việc sử dụng của con người như ảnh hưởng lên san hô hơn là những khu vực sâu Ở trường hợp này, độ sâu và độ phức tạp của địa hình sẽ là căn cứ của việc xác định một loạt các điều kiện đa dạng trong khu vực biển đó Và, trong khi đích hướng tới ở đây là sự đa dạng, việc chỉ ra các điều kiện được thấy trong tất cả các trường hợp cần phải phù hợp với các mục tiêu đặt ra trong định hướng phát triển của khu vực Trong bước này, số lượng các lớp, cũng như các điều kiện

về tài nguyên, xã hội và quản lý nói chung cũng được xác định

3) Lựa chọn các dấu hiệu chỉ thị thể hiện các điều kiện về nguồn lực và xã hội

Các dấu hiệu chỉ thị thể hiện là những yếu tố cụ thể của các nguồn lực

và các điều kiện xã hội được lựa chọn để thể hiện (hoặc để làm công cụ phản ánh) các điều kiện được coi là thích hợp và có thể chấp nhận được trong từng hạng cơ hội Vì người ta không thể đo được các điều kiện này và những thay đổi trong từng nguồn lực hay đặc điểm xã hội trong một khu vực sinh thái được bảo tồn, nên một số tiêu chí đã được lựa chọn như cách thức đo lường chung và thường xuyên hơn là những đánh giá chuyên sâu Giống như khi chúng ta liên hệ tới việc theo dõi tình trạng sức khỏe chung, chúng ta thường giám sát tương đối thường xuyên huyết áp (dễ đo lường thường xuyên, mức

độ phản ánh tổng quát) của chúng ta hơn là các xét nghiệm toàn diện về hóa máu (phức tạp, đòi hỏi những đánh giá chuyên sâu và nhiều thời gian)

Trang 29

Các tiêu chí nên đơn giản để đo lường được, liên quan đến các điều kiện được quy định trong các hạng cơ hội và phải phản ánh những thay đổi có liên quan tới việc sử dụng cho hoạt động du lịch Các chỉ tiêu là một phần quan trọng của khung phương pháp LAC do nó phản ánh toàn diện điều kiện được thấy xuyên suốt một hạng cơ hội Tuy nhiên một tiêu chí đơn lẻ không thể phản ánh đúng và đầy đủ điều kiện của một khu vực Cần đưa ra nhiều tiêu chí khác nhau khi giám sát các điều kiện

4) Kiểm kê nguồn tài nguyên tự nhiên và điều kiện xã hội

Công tác kiểm kê có thể tốn rất nhiều thời gian và là một phần tốn kém của công tác quy hoạch Trong phương pháp LAC, việc kiểm kê được thực hiện dựa trên các tiêu chí đã được lựa chọn trong bước 3 Và, thông tin kiểm

kê sau này sẽ rất có ích khi đánh giá kết quả của các lựa chọn thay thế Việc kiểm kê cũng giúp các nhà quản lý thiết lập các phương án thay thế đạt được

và mang tính thực tế Bằng cách đặt việc kiểm kê ở bước 4, các nhà hoạch định sẽ tránh được việc thu thập dữ liệu không cần thiết

5) Định rõ những tiêu chuẩn cho các điều kiện về tự nhiên và xã hội cho từng hạng cơ hội

Trong bước này, chúng ta xác định hàng loạt các điều kiện cho mỗi tiêu chuẩn được xem là phù hợp và có thể chấp nhận được ở từng hạng cơ hội Các tiêu chuẩn sẽ giúp cho việc xác định “các giới hạn những thay đổi có thể chấp nhận được” Chúng là những điều kiện cho phép tối đa mà sẽ được phép trong một hạng cơ hội cụ thể Chúng không cần thiết phải là những mục tiêu

để đạt tới vì một hạng cơ hội sẽ được đánh giá tốt hơn khi các tiêu chuẩn được duy trì trên mức tối thiểu có thể chấp nhận được Các dữ liệu kiểm kê được thu thập trong bước 4 đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các tiêu chuẩn Mong muốn được hướng tới là các tiêu chuẩn xác định hàng loạt các điều kiện có thể chấp nhận được trong từng hạng cơ hội sẽ có tính thực tế và

Trang 30

có thể đạt tới; chúng ta cũng muốn chúng làm được nhiều hơn các điều kiện đang có (không thể chấp nhận được)

6) Xác định các cấp độ khả năng thay thế có thể được cho phép

Trong bước này, chúng ta bắt đầu xác định một số kiểu lựa chọn thay thế khác nhau Sử dụng các thông tin từ bước 1 (các vấn đề và mối quan tâm của khu vực) và bước 4 (kiểm kê các điều kiện hiện tại), các nhà quản lý và công chúng có thể bắt đầu cùng khám phá xem các phân bổ hạng cơ hội khác nhau có thể giải quyết những lợi ích mối quan tâm, các vấn đề và các giá trị trái ngược tốt đến mức độ nào

7) Xác định các hoạt động quản lý cho mỗi cấp độ khả năng thay thế

Các lựa chọn thay thế được đề xuất trong bước 6 chỉ là bước đầu tiên trong quá trình phát triển một phương thức thay thế tối ưu được lựa chọn Ngoài các loại điều kiện sẽ đạt được, cả nhà quản lý và công chúng đều cần phải biết các hoạt động quản lý nào cần phải có để dẫn dắt sự phát triển của khu vực đến mục tiêu là các điều kiện mong muốn Bước 7 đòi hỏi việc phân tích các chi phí, đã được xác định rộng rãi, sẽ được áp dụng bằng mỗi phương thức thay thế

Ví dụ, nhiều người có thể thấy thu hút với phương thức lựa chọn thay thế để bảo vệ một khu vực cụ thể nào đó khỏi bất kỳ sự phát triển và khôi phục nào đối với điều kiện ban đầu bất kỳ tác động nào Tuy nhiên, phương pháp thay thế có thể đòi hỏi qúa nhiều cam kết về tài chính cho việc đạt được

và thực hiện mục đích đó đến nỗi mà phương thức thay thế này dường như không còn hấp dẫn nữa

8) Đánh giá và lựa chọn biện pháp thay thế tốt hơn

Với các chi phí và lợi ích khác nhau của các biện pháp thay thế, các nhà quản lý và công chúng có thể tiến đến giai đoạn đánh giá, và cơ quan quản lý, dựa trên cơ sở những ý kiến đóng góp của công chúng, có thể lựa chọn một

Trang 31

phương thức thay thế phù hợp hơn Việc đánh giá phải được xem xét ở nhiều yếu tố, nhưng các ví dụ phải có sự sẵn sang đáp ứng của từng biện pháp thay thế đối với những vấn đề được xác định tại bước một, các yêu cầu về quản lý của Bước 7, và ý kiến của công chúng Quan trọng là các yếu tố được đưa vào

sử dụng trong quá trình đánh giá và mức độ ảnh hưởng của chúng phải được làm rõ và công khai cho công chúng biết để kiểm chứng

9) Thực hiện các hành động và giám sát các điều kiện

Với một phương thức thay thế cuối cùng đã được lựa chọn và được thông qua thành một chính sách bởi những người ra quyết định, các hoạt động quản lý cần thiết (nếu có) sẽ có hiệu lực và một chương trình giám sát được hình thành Thường thì, một kế hoạch thực hiện, chi tiết các hành động, chi phí, lịch trình và trách nhiệm, cần phải được bảo đảm thực hiện đúng thời gian quy định Chương trình giám sát nên tập trung vào các tiêu chí được lựa chọn trong Bước 3, và so sánh điều kiện của những tiêu chí này với những tiêu chí được quy định trong các tiêu chuẩn Thông tin này có thể được sử dụng để đánh giá sự thành công của các hoạt động đó Nếu các điều kiện không được cải thiện, các hoạt động quản lý cần được tăng cường hoặc nên áp dụng các hoạt động quản lý khác

1.2.1.3 Các đánh giá cốt lõi của LAC

Ba đánh giá đặc biệt quan trọng được thực hiện trong khuôn khổ của LAC : (1) Lựa chọn và định hình mục đích và những kết quả cần đạt được tại một địa điểm nhất định

(2) Xác định và xếp thứ tự ưu tiên những vấn đề và mối quan tâm được giải quyết thông qua mô hình lập kế hoạch

(3) Thiết lập các tiêu chuẩn cho những gì được định nghĩa là chấp nhận được hoặc điều kiện không thể chấp nhận được

Trang 32

LAC cuối cùng dẫn đến việc thiết lập những tiêu chuẩn chính thức của

sự thay đổi có thể chấp nhận Các tiêu chuẩn này được áp dụng cho các dấu hiệu chỉ thị - những biến số định lượng được theo dõi định kỳ và có hệ thống theo thời gian và không gian phản ánh một tập hợp các điều kiện xã hội hay sinh thái Các dấu hiệu chỉ thị được kết hợp với các tiêu chuẩn – đã được định nghĩa là một chính thức – khẳng định rõ giới hạn lớn nhất của những thay đổi

có thể chấp nhận được do con người gây ra đối với một dấu hiệu chỉ thị Mỗi dấu hiệu chỉ thị có một tiêu chuẩn đi kèm Một tiêu chuẩn thể hiện một giới hạn có thể chấp nhận được của thay đổi Nói chung, các tiêu chuẩn hữu ích nhất là các khẳng định định lượng về các điều kiện tối thiểu chấp nhận được cho một lớp cơ hội Vì vậy, một tiêu chuẩn cho điều kiện khu cắm trại có thể

là viết là “không hơn 100 mét vuông đất trống” hoặc “xác suất 80% rằng một

du khách sẽ không gặp phải nhiều hơn 2 nhóm khác đã cắm trại trong phạm vi

có thể nhìn thấy hoặc nghe thấy tiếng động “ Các tiêu chuẩn này truyền đạt

rõ ràng những điều kiện được chấp nhận hay không chấp nhận được Chúng phản ánh một đánh giá quan trọng về sự cân bằng giữa tiếp cận du lịch và bảo

vệ điều kiện sinh thái – xã hội

1.2.1.4 Điểm mạnh và điểm yếu của mô hình quản lý sức chứa du lịch LAC a- Điểm mạnh:

Thứ nhất trong số đó là tính rõ ràng Bản thân sự quản lý du lịch liên quan tới nhiều ý kiến – những lựa chọn giữa những ý kiến trái ngược của quần chúng LAC bắt buộc sự cân nhắc giữa những lựa chọn và ý kiến phải rõ ràng, do đó chúng phải đáng chú ý và có mối liên hệ với nhau Lối trình bày logic the chuỗi các bước nối tiếp khiến những người xem xét LAC cảm thấy

rõ ràng Những sự mô thuẫn trong quyết định giữa các bước sẽ nhanh chóng

bị lộ ra Nói tóm lại, đây là một quá trình mở và dễ hiểu Đặc tính này cũng

Trang 33

hàm ý rằng những quyết định là phụ thuộc lẫn nhau bởi dòng thông tin logic được theo vết từ bước này tới bước khác

Thứ hai, LAC được phát triển dựa trên các nguyên lý và nội dung mang tính khoa học, đặc biệt với sự tôn trọng dành cho việc quản lý nhu cầu sử dụng du lịch Đây là một ví dụ điển hình của việc áp dụng các giá trị khoa học

để cung cấp thông tin cho các quyết định trong quản lý Và mặc dù LAC đại diện cho một quá trình mang tính khoa học, thì sản phẩm của quá trình này chỉ được thông tin tư vấn, chứ không phải được quyết định bằng khoa học LAC mặc dù là một quá trình lập kế hoạch mang tính kỹ thuật thuần túy, nhưng đã được áp dụng như một hệ thống mở, bao gồm trong quá trình này là những kiến thức khoa học phối hợp với sự thành thạo trong quản lý và những kinh nghiệm và am hiểu của cộng đồng

Thứ ba, LAC đại diện cho một quá trình lý tính và có hệ thống, ở đó dòng chảy của thông tin và các kinh nghiệm qua từng bước rất dễ hiểu, hiệu quả và hữu dụng Mặc dù, với một số đối tượng có thể cảm thấy mô hình này phức tạp, nhưng khi nhìn vào từng bước của mô hình LAC, thì có thể nhanh chóng nắm bắt không chỉ sự logic đằng sau mỗi bước mà cả toàn bộ chuỗi các bước thực hiện Là một quy trình mang tính hệ thống, nó nhất quán từ trong từng bước, do đó nó giúp người dân và nhà quản lý am hiểu tốt hơn khi tiếp cận tới việc đưa ra quyết định quan trọng Khả năng thích ứng cũng là một một thuộc tính có ý nghĩa đặc biệt trong sự kiểm tra giám sát cấu thành mô hình LAC Thông qua việc xây dựng sự giám sát ở trong mô hình và thi hành

nó đối với toàn mô hình, những sự thay đổi trong quản lý có thể xảy ra và mang lại bài học thông qua hệ thống giám sát và đánh giá những điều kiện Điều đó khiến cho LAC có khả năng trở thành một mô hình lập kế hoạch có hiệu quả cao

Trang 34

Thứ tư, mô hình này tập trung vào những điều kiện tồn tại có thật, tình trạng có thật, địa điểm có thật và vấn đề có thật Những sự tập trung này đi xa hơn những sơ đồ của những lớp cơ hội khác nhau, tiến tới bao gồm một sự hiểu biết hơn về những mối quan hệ về mặt không gian trong đó hợp nhất những số liệu thống kê, những mục tiêu và tiêu chuẩn Điều này cung cấp sự chỉ dẫn điều gì nên thực hiện trong mỗi tình huống được đưa ra và giúp tạo nên một sự hiểu biết tốt hơn về hệ quả của những hoạt động quản lý xét trên tổng thể không gian Nó cung cấp sự giúp đỡ tới cả người quản lý và cộng đồng nói chung

b- Điểm yếu

Xét về các điểm yếu và những nhận xét chưa tích cực về LAC có thể kể đến đó là LAC thường được xem là quá phức tạp và tốn kém về thời gian tiền bạc đối với người quản lý khi áp dụng mô hình này tại khu vực Thêm vào đó,

sự tham gia của cộng đồng thường có nhiều hạn chế, do ở nhiều vùng hoang

dã, trình độ của người dân bản địa còn thấp, nên đòi hỏi người nghiên cứu sự khéo léo và kiên trì trong tiếp cận các nhóm đối tượng này để thu thập được những thông tin đóng góp hữu ích

Thách thức của việc thực hiện LAC không phải là việc ngăn chặn bất

cứ thay đổi nào của con người tới vùng được quan tâm mà chính là ở việc quyết định bao nhiêu thay đổi sẽ được cho phép hiện diện và hiện diện ở khu vực nào trong vùng, đồng thời xác định những hành động nào cần thiết để kiểm soát sự thay đổi này Quá trình này đòi hỏi quyết định loại điều kiện nào

là có thể chấp nhận được và quy định những hành động để bảo vệ hoặc giúp đạt được những điều kiện đó Nếu một khu vực không đạt được điều kiện có thể chấp nhận được thì những hành động quản lý sẽ phải được thực hiện để thay đổi điều đó và giúp cho khu vực đạt được tới mức tiêu chuẩn có thể chấp nhận được Một ví dụ đơn giản, nếu một khu vực tiếp nhận lượng khách cắm

Trang 35

trại đêm quá nhiều dẫn đến những thiệt hại ở mức không cho phép tới nguồn tài nguyên thì khu vực có thể bị đóng cửa và chờ để phục hồi

1.3 Hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia và vấn đề quản lý sức chứa du lịch tại Vườn Quốc Gia

1.3.1 Khái niệm Vườn Quốc Gia

Theo định nghĩa của Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên quốc tế (IUCN) thì VQG là một lãnh thổ tương đối rộng trên đất liền hay trên biển mà:

- Ở đó có một hay vài hệ sinh thái không bị thanh đổi lớn do sự khai thác hoặc hiếm lĩnh của con người Các loài động-thực vật, các đặc điểm hình thái, địa mạo và nơi cư trú của các loài, hoặc các cảnh quan thiên nhiên đẹp trong đó là mối quan tâm cho nghiên cứu khoa học, cho giáo dục và giải trí

- Ở đó có ban quản lý thực hiện các biên pháp ngăn chăn hoặc loại bỏ càng nhanh càng tốt sự khai thác hoặc chiếm lĩnh và tăng cường sự tôn trọng những đặc trưng về sinh thái, hình thái học và cảnh quan

- Ở đó cho phép khách du lịch đến thăm, dưới những điều kiện đặc biệt, cho các mục đích nghiên cứu, giáo dục, văn hóa, giải trí và lòng ngưỡng mộ Mục tiêu chủ yếu của việc thiết lập các VQG là:

- Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai,

- Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực và

- Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về Quy chế quản lý rừng thì VQG là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau:

Trang 36

- VQG là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít

từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp

- VQG được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng

và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và DLST

- VQG được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn

Trên thế giới, xét về lịch sử phát triển thì mãi đến thế kỷ thứ XIX, cùng với nhịp độ phát triển công nghiệp và khoa học kỹ thuật, cảnh quan thiên nhiên và các tài nguyên thiên nhiên bị tàn phá rất nặng nề, con người mới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến bảo tồn Năm 1872, VQG đầu tiên trên thế giới

có tên là Yellow Stone được thành lập ở Mỹ Sau đó, năm 1879, VQG thứ 2 được thành lập ở Australia – VQG Hoàng Gia Từ những năm 20 thế kỷ XX trở đi, các nước khác trên thế giới cũng lần lượt thiết lập các VQG và các khu bảo tồn của mình Điều này thể hiện việc nhận thức về bảo tồn trên thế giới đã dần dần được nâng cao

Tại Việt Nam, tính đến tháng 8/2010, cả nước có 30 VQG tổng diện tích các VQG khoảng 10.350,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), chiếm khoảng 2,93% diện tích lãnh thổ đất liền Ngày 7/7/1962 chính phủ nước Việt Nam đã phê duyệt khu rừng cấm Cúc PHương là VQG đầu tiên của Việt Nam Từ đó đến nay, các VQG tại Việt Nam đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ nguyên tài nguyên thiên nhiên của quốc gia đồng thời cũng trở thành những điểm tham quan hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước đến trải nghiệm DLST, khám phá tự nhiên

1.3.2 Khoanh vùng sử dụng du lịch đối với Vườn quốc gia

Theo Gunn (1994), đối với một VQG khi bắt đầu đưa vào khai thác du lịch, cần được khoanh vùng sử dụng một cách rõ ràng Ông đề xuất một mô

Trang 37

Nguồn: (Gunn -1994) Hình 1.3 Mô hình các vùng sử dụng du lịch cho một Vườn quốc gia

hình khoanh vùng trong đó một VQG được phân thành 3 phân khu: (1) phân

khu bảo vệ nghiêm ngặt, (2) phân khu phục hồi sinh thái, (3) phân khu hành

chính – dịch vụ Ông khẳng định, việc khoanh vùng các khu vực của VQG để

lượng khách chủ yếu tập trung trong những trung tâm dịch vụ, sẽ không gây

tác động lớn đến nguồn tài nguyên nhạy cảm và quý hiếm [7,tr 34]

Các khu dịch vụ dành cho hoạt động tham quan, giải trí và trụ sở cơ

quan quản lí có thể thiết kế đường sá, vườn cây, hồ nước và công trình phục

vụ khách tham quan Để bảo đảm an toàn việc bảo tồn các hệ động vật, hệ

1 Vùng tài nguyên bảo vệ

Trang 38

thực vật, hệ sinh thái vùng đệm được thiết lập bao quanh Vườn Vùng đệm là vùng đất đai được phép khai thác hạn chế vì mục đích dân sinh nằm liền kề với VQG hay khu bảo tồn thiên nhiên, là hành lang an toàn bảo vệ, kiểm soát, ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài vào VQG

Theo như mô hình này, hoạt động du lịch phổ thông chỉ được phép tiếp cận một phần nhỏ phía bên ngoài của VQG Các tiếp cận sâu, các hoạt động chuyên biệt hơn thường bị hạn chế về số lượng và cách thức tiếp cận (hạn chế

số người, tiếp cận bằng cách đi bộ hoặc bằng thuyền mộc trong các đường mòn, suối nhỏ,…) Đặc biệt, đối với phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, hoạt động thăm quan du lịch bị nghiêm cấm tuyệt đối nhằm đảm bảo không có bất cứ một tác động nào dù nhỏ nhất ảnh hưởng tới vùng này

Việc khoanh vùng với mục đích sử dụng khác nhau, là một mô hình khoa học, có tính thực tiễn cao giúp đảm bảo hài hòa các mục tiêu hoạt động của VQG Việc này sẽ là cơ sở quan trọng trong việc tổ chức, quản lý hoạt động và sức chứa du lịch phù hợp với mục tiêu bảo tồn trong các VQG, giúp cho VQG vừa có thể khai thác phục vụ cho du lịch nhưng vẫn có thể hạn chế được tối đa các tác động có hại của hoạt động du lịch tới nguồn tài nguyên quý giá và nhạy cảm nơi đây

Quá trình phân vùng sử dụng này đòi hỏi không chỉ các nội dung về địa

lý, sinh vật, cảnh quan môi trường… rộng lớn, mà còn là hành động mang tính chất hành chính toàn diện hơn Nghĩa là cần có sự hợp tác của nhiều nhà khoa học cũng như các nhà chức trách của các cấp ngành có liên qua, kể cả chính quyền Việc phân tích về hệ thực – động vật, các yếu tố văn hóa có thể cung cấp cơ sở cho việc phân vùng khu vực sử dụng

Các vùng được phân ra với mức độ sử dụng khác nhau: từ những nơi mà

sự xâm nhập của con người nên bị cấm đến những nơi có thể có sự tập trung khách tham quan thông qua việc quy hoạch và quản lý chặt chẽ Với việc quy hoạch chặt chẽ phân chia ra các vùng với mục đích sử dụng khác nhau và

Trang 39

được giám sát, quản lý tốt sẽ là cơ sở quan trọng trong việc lập kế hoạch cụ thể cho DLST trong VQG

1.3.3 Tác động của du lịch tới Vườn Quốc Gia

Dù được xem như một ngành “công nghiệp không khói” và là mũi nhọn kinh tế của nhiều vùng miền, nhưng song song với sự phát triển rộng khắp của mình thì thực tế cũng đã chứng minh được những tác động tiêu cực của hoạt động du lịch tới môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội nói chung

và đối với các Vườn quốc gia nói riêng

Hoạt động phát triển du lịch đồng nghĩa với việc gia tăng lượng khách

du lịch, tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ và gia tăng nhu cầu sử dụng tài nguyên từ đó dẫn đến sự gia tăng áp lực của du lịch đến môi trường Trong nhiều trường hợp, do tốc độ phát triển quá nhanh của hoạt động du lịch vượt ngoài nhận thức và năng lực quản lý nên đã tạo sức ép lớn đến khả năng đáp ứng của tài nguyên và môi trường, gây ô nhiễm cục bộ và nguy cơ suy thoái lâu dài Tác động của hoạt động du lịch đến môi trường sẽ có thể dẫn đến những hậu quả làm thay đổi đặc điểm sử dụng tài nguyên, hay đặc tính của môi trường

Xét về các tác động đến tài nguyên thiên nhiên thì phát triển du lịch và các hoạt động có liên quan góp phần làm cho các tài nguyên thiên nhiên bị xuống cấp về mặt môi trường Đó là hậu quả của việc sử dụng đất đai, xây dựng các cơ sở dịch vụ du lịch và các hoạt động liên quan đến việc vận hành

và bảo dưỡng các công trình du lịch cần thiết để duy trì các hoạt động giải trí cho du khách Tác động tới môi trường của hoạt động du lịch đối với tài nguyên thiên nhiên được thể hiện một cách rõ nét nhất là những bộ phận: tài nguyên nước, tài nguyên không khí, tài nguyên đất, tài nguyên sinh học Mặt khác du lịch cũng là yếu tố không nhỏ tác động đến cộng đồng dân cư sở tại Bởi vì du lịch là tổng thể của những hiện tượng và những mối quan hệ phát

Trang 40

sinh do sự tác động qua lại giữa khách du lịch, người kinh doanh du lịch, chính quyền sở tại và cộng đồng dân cư địa phương và thu hút khách du lịch Các chủ thể này tác động qua lại lẫn nhau trong mối quan hệ với các hoạt động du lịch mà du khách là trung tâm Hoạt động du lịch cũng đã và đang có nhiều tác động khi triển khai tại những Vườn quốc gia bao gồm cả tác động tích cực và tiêu cực

du lịch sinh thái bền vững

- Các nguồn thu từ hoạt động du lịch nếu được sử dụng đúng mục đích,

có thể hỗ trợ việc duy trì các nhiệm vụ, chức năng của VQG, chi phí cho các dịch vụ và trang thiết bị phục vụ du khách (như việc thu gom xử lý rác, đầu tư cho hệ thống thông tin…)

- Du lịch tạo ra các cơ hội để du khách được tham quan, tiếp xúc và có những kinh nghiệm lý thú với môi trường thiên nhiên, từ đó có thể làm thay đổi thái độ của họ đối với môi trường và có thể biến họ trở hành những người không chỉ ngưỡng mộ, trân trọng thiên nhiên mà còn ủng hộ tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường

- Phát triển du lịch ở các VQG, nhất là những vùng đất có ít giá trị nông nghiệp, những lợi ích thu được từ du lịch tạo cho các vùng đó trở nên có giá trị hơn Đồng thời, những khu vực này nếu trở thành những khu vực tham quan có ý nghĩa địa phương hoặc quốc gia, các cấp chính quyền có thể sẵn

Ngày đăng: 21/08/2015, 20:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên (2006), Du lịch sinh thái, NXB Khoahọc và kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái
Tác giả: Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên
Nhà XB: NXB Khoahọc và kỹ thuật
Năm: 2006
2. Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu (2001), Du lịch bền vững, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch bền vững
Tác giả: Nguyễn Đình Hòe, Vũ Văn Hiếu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2001
3. Nguyễn Thị Hải (2000), Xác định giá trị giải trí của VQG Cúc Phương bằng phương pháp chi phí du hành, Kỷ yếu hội nghị khoa học nữ lần thứ 5,tr. 239-244, NXB Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định giá trị giải trí của VQG Cúc Phương bằng phương pháp chi phí du hành
Tác giả: Nguyễn Thị Hải
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
4. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái – những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái – những vấn đề về lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
5. Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Ngọc Khánh (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương, Đặng Duy Lợi, Vũ Tuấn Cảnh, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Ngọc Khánh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
6. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2005), Luật du lịch, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch
Tác giả: Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Nguyễn Thị Sơn (2001), Cở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở VQG Cúc Phương, luận án Tiến sĩ, Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cở khoa học cho việc định hướng phát triển du lịch sinh thái ở VQG Cúc Phương
Tác giả: Nguyễn Thị Sơn
Nhà XB: Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2001
8. Trần Đức Thanh (2005), Nhập môn khoa học du lịch, Nxb ĐHQG Hà Nôi, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn khoa học du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nôi
Năm: 2005
9. Trần Đức Thanh (2006), Địa lý du lịch, Tài liệu lưu hành nội bộ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý du lịch
Tác giả: Trần Đức Thanh
Nhà XB: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Năm: 2006
10. Trung tâm du lịch sinh thái và giáo dục môi trường VQG Cúc Phương (2014), Báo cáo kết quả hoạt động du lịch từ năm 2008 đến tháng 8 năm 2014 Khác
11. Nguyễn Minh Tuệ, Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Phạm Xuân Hậu Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1  Đa dạng sinh học ở một số VQG khu vực lân cận  50  Bảng 2.2  Thành  phần  dân  tộc  của  cộng  đồng  sống  ở  khu - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Bảng 2.1 Đa dạng sinh học ở một số VQG khu vực lân cận 50 Bảng 2.2 Thành phần dân tộc của cộng đồng sống ở khu (Trang 6)
Hình 1.1  Biểu đồ mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Hình 1.1 Biểu đồ mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động (Trang 7)
Hình 1.1: Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động  môi trường [21, pg69] - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Hình 1.1 Biểu đồ thể hiện mối liên hệ giữa mức độ sử dụng và tác động môi trường [21, pg69] (Trang 18)
Hình 1.2: 9 bước thực hiện của LAC - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Hình 1.2 9 bước thực hiện của LAC (Trang 26)
Hình khoanh vùng trong đó một VQG được phân thành 3 phân khu: (1) phân - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Hình khoanh vùng trong đó một VQG được phân thành 3 phân khu: (1) phân (Trang 37)
Bảng 2.1: Đa dạng sinh học ở một số VQG khu vực lân cận  VQG: - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Bảng 2.1 Đa dạng sinh học ở một số VQG khu vực lân cận VQG: (Trang 52)
Bảng 2.4 Số lượng khách thăm quan VQG Cúc Phương (2008-2014) - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Bảng 2.4 Số lượng khách thăm quan VQG Cúc Phương (2008-2014) (Trang 62)
Hình 2.1: Tỉ lệ khách thăm quan trung bình các tháng (từ 2009-2013) - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Hình 2.1 Tỉ lệ khách thăm quan trung bình các tháng (từ 2009-2013) (Trang 64)
Hình  2.2: Cơ cấu doanh thu du lịch VQG Cúc Phương (2009 – 2014**) - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
nh 2.2: Cơ cấu doanh thu du lịch VQG Cúc Phương (2009 – 2014**) (Trang 65)
Bảng 2.5: Mức độ hải lòng của du khách - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Bảng 2.5 Mức độ hải lòng của du khách (Trang 82)
Bảng 2.6: Ý kiến du khách về các hạng mục cần cải thiện - Luận văn thạc sĩ bước đầu ứng dụng mô hình quản lý sức chứa LAC (limits of acceptablechange   giới hạn của những thay đổi có thể chấp nhận được) trong phát triển du lịch tại VQG cúc phương  ninh bình
Bảng 2.6 Ý kiến du khách về các hạng mục cần cải thiện (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w