DƯƠNG VĂN MẠNH Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ VÀ GIÁ THỂ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY HOA PHONG LỮ THẢO TRỒNG CHẬU TẠI THÁI NGUYÊN
Trang 1DƯƠNG VĂN MẠNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ VÀ GIÁ THỂ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY HOA PHONG LỮ THẢO TRỒNG CHẬU TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hoa viên cây cảnh
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2DƯƠNG VĂN MẠNH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁ VÀ GIÁ THỂ TRỒNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÂY HOA PHONG LỮ THẢO TRỒNG CHẬU TẠI THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành : Hoa viên cây cảnh
Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thế Huấn
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và ban chủ nhiệm khoa Nông học, em tiến hành thực hiện đề tài : “Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số loại phân bón lá và giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên“
Để có được kết quả như hôm nay trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, cùng các thầy giáo, cô giáo trong trường, trong khoa đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt
thời gian học tập và rèn luyện tại nhà trường, đặc biệt là thầy giáo TS.Nguyễn Thế
Huấn người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện đề
tài Đồng thời em cũng xin cảm ơn sự động viên của gia đình và các bạn trong lớp
đã luôn cổ vũ, động viên và đồng hành cùng em trong suốt thời gian thực tập
Do còn hạn chế về thời gian, về trình độ và kinh nghiệm thực tế của bản thân nên không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 18 tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Dương Văn Mạnh
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân tích dinh dưỡng bón lá ở Phong lữ thảo 11 Bảng 2.2: Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến hoa Phong lữ thảo 12 Bảng 4.1: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra nụ (80%) và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 22 Bảng 4.2: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá trên cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 24 Bảng 4.3: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 27 Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 29 Bảng 4.5: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng phân cành nhánh của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 32 Bảng 4.6: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 34 Bảng 4.7: Mức độ gây hại của sâu bênh hại trên cây hoa phong lữ thảo khi sử dụng một số loại phân bón lá khác nhau: 37 Bảng 4.8: Sơ bộ hoạch toán kinh tế các công thức thí nghiệm khi sử dụng một số loại phân bón lá khác nhau 38 Bảng 4.9: Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến thời gian ra nụ (80%) và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 39 Bảng 4.10: Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến động thái tăng trưởng số lá trên cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 41 Bảng 4.11: Ảnh hưởng của một số loại giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 42 Bảng 4.12: Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 44
Trang 5Bảng 4.13: Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến khả năng phân cành của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 46 Bảng 4.14: Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng khác nhau đến các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất và chất lượng của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 47 Bảng 4.15: Mức độ gây hại của một số loại sâu, bênh hại trên cây hoa phong lữ thảo khi sử dụng các loại giá thể trồng khác nhau 49 Bảng 4.16: Sơ bộ hoạch toán kinh tế các công thức thí nghiệm khi sử dụng các loại giá thể trồng khác nhau 50
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng số lá trên cây của các công thức thí nghiệm 25 Hình 4.2 Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây của các công thức thí nghiệm 27 Hình 4.3: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của các công thức thí nghiệm 30 Hình 4.4: Biểu đồ động thái tăng trưởng số cành nhánh/cây của các công thức thí nghiệm 32 Hình 4.5: Biểu đồ động thái tăng trưởng số lá/cây của các công thức thí nghiệm 41 Hình 4.6: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều cao cây của các công thức thí nghiệm 43 Hình 4.7: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của các công thức thí nghiệm 44 Hình 4.8: Biểu đồ động thái tăng trưởng số cành nhánh/cây của các công thức thí nghiệm 46
Trang 8MỤC LỤC
PHẦN I: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá 4
2.1.2 Nguồn gốc, vị trí, phân loại của cây hoa Phong lữ thảo 5
2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa Phong lữ thảo 5
2.1.4 Yêu cầu ngoại cảnh của cây hoa Phong lữ thảo 6
2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam 7
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới 7
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm ở Việt Nam 8
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa ở Việt Nam và trên thế giới 9
2.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa trên thế giới 9
2.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa tại Việt Nam 13
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 16
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu 16
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 17
3.1.3 Thời gian nghiên cứu 17
3.2 Nội dung nghiên cứu 17
3.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Trang 93.4 Các chỉ tiêu theo dõi 19
3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển 19
3.4.2 Các chỉ tiêu về chất lượng hoa 20
3.5 Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc đối với cây hoa Phong lữ thảo 21
3.5.1 Đất, giá thể và chậu trồng 21
3.5.2 Phân bón 21
3.5.3 Tưới nước, làm cỏ, xới xáo 21
3.6 Phương pháp phân tích và sử lý số liệu 21
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 22
4.1.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra nụ (80%) và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 22
4.1.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá trên cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 23
4.1.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 26
4.1.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 29
4.1.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng phân cành của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 31
4.1.6 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của cây hoa phong lữ thảo 33
4.1.7 Mức độ gây hại của một số loại sâu, bệnh hại chính trên cây hoa phong lữ thảo 36 4.1.8 Hiệu quả kinh tế khi phun phân bón lá cho cây hoa phong lữ thảo 37
4.2 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 39
4.2.1 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến thời gian ra nụ (80%) và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 39
Trang 104.2.2 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến động thái tăng trưởng số lá trên
cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 40
4.2.3 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 42
4.2.4 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến động thái tăng trưởng chiều rộ lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 44
4.2.5 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến khả năng phân cành của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 45
4.2.6 Ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến các yếu tố cấu thành năng suất , năng suất và chất lượng của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên 47
4.2.7 Mức độ gây hại của một số loại sâu, bệnh hại chính trên cây hoa phong lữ thảo khi sử dụng các loại giá thể trồng khác nhau 49
4.2.8 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại giá thể trồng khác nhau cho cây hoa phong lữ thảo 50
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 51
5.1 KẾT LUẬN 51
5.2 ĐỀ NGHỊ 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 57
Trang 11Xã hội ngày càng phát triển, điều kiện kinh tế ngày càng cao, thì nhu cầu thưởng thức cái đẹp ngày càng được chú trọng Trên thế giới hiện nay, việc thiết kế các vườn cảnh, công viên kiến trúc đô thị, khách sạn… được quan tâm đầu tư, phát triển Ở Việt Nam, các thành phố lớn trong các ngày lễ tết,việc trang trí hoa chậu, hoa thảm là một trong những khâu quan trọng làm tôn thêm vẻ đẹp uy nghi, trang trọng trong con mắt du khách trong và ngoài nước đến thăm Với nhu cầu trang trí cảnh quan ngày càng lớn, nên việc sản xuất hoa cây cảnh, đặc biệt là hoa chậu, hoa thảm là một trong những vấn đề cấp thiết mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng hoa
Phong lữ thảo (Pelargonium Sp) là một loài hoa đẹp, với những chiếc lá to
tròn, mềm mại, dịu dàng, vẻ đẹp của cây với màu sắc hoa phong phú đa dạng đỏ,vàng, trắng, phấn hồng…Cụm hoa Phong lữ thảo càng rực rỡ thêm khi vươn thẳng trên đám lá xanh mướt, hoa có độ bền lâu, hài hoà với thân cành nên có giá trị thẩm mỹ cao khi được trồng ở chậu hay trang trí trong gia đình, khuôn viên, vườn hoa… và đặc biệt hơn, những nơi có khí hậu mát mẻ như Sapa, Tam đảo thì cây sinh trưởng và phát triển tốt và cho hoa quanh năm Thích hợp trồng vào vụ Đông Xuân tại Thái Nguyên
Mặc dù mới du nhập vào nước ta, song nhờ các đặc điểm ưu việt trên mà hoa Phong lữ thảo đã được người sản xuất cũng như người tiêu dùng rất ưa chuộng
và hiện đang là một trong những loại hoa trồng chậu đang được phát triển, có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, năng suất cũng như chất lượng hoa cung cấp cho thị trường
Trang 12còn rất hạn chế bởi do Phong lữ thảo là giống hoa mới nhập Vì vậy việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật để làm tăng năng suất chất lượng hoa như lựa chọn các loại giá thể, chế độ dinh dưỡng, kỹ thuật chăm sóc phù hợp cho cây sinh trưởng, phát triển tốt mang lại hiệu quả kinh tế cao hiện đang là vấn đề cấp thiết mà người trồng hoa rất quan tâm nhằm triển khai rộng giống hoa mới này cho sản xuất
Để giải quyết những hạn chế nêu trên và đưa ra được các biện pháp kỹ thuật phù hợp phát triển giống hoa Phong lữ thảo, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và giá thể trồng đến khà năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Xác định được loại phân bón lá và giá thể trồng thích hợp cho sinh trưởng, phát triển của cây hoa Phong Lữ Thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá ảnh hưởng của một số loại phân bón lá và một số loại giá thể trồng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
- Đánh giá tình hình sâu bệnh hại của cây hoa phong lữ thảo
- Đánh giá chất lượng hoa của cây hoa phong lữ thảo tham gia thí nghiệm
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá và giá thể trồng cho cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Đối với học tập : Giúp sinh viên củng cố kiến thức đồng thời biết vận
dụng những kiến thức đã được học vào thực tế Biết cách thực hiện một khóa luận tốt nghiệp, có thêm kiến thức và kinh nghiệm sản xuất
Trang 13- Đối với nghiên cứu khoa học: Giúp sinh viên tiếp cận với công tác nghiên cứu khoa học, nâng cao trình độ chuyên môn đồng thời tạo cho mình tác phong làm việc đúng đắn, nghiêm túc, sáng tạo, đúc rút được những kinh nghiệm thực tế
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng
và chăm sóc hoa phong lữ thảo, bước đầu xác định được loại phân bón lá và giá thể trồng có ảnh hưởng như thế nào đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của hoa phong lữ thảo Làm tăng hiệu quả sản xuất, nâng cao thu nhập cho người trồng hoa
Trang 14PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá
- Phân bón lá là một trong 4 yếu tố quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông
nghiệp Bón phân qua lá được sử dụng để bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây hoa một cách kịp thời các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng
- Phân bón lá có tác dụng làm tăng năng suất, tăng cường khả năng kháng
sâu bệnh cho cây, tính trống hạn và cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm Phân bón lá giúp cây nhanh chóng phục hồi sau trồng hoặc sau khi trải qua các hiện tượng thời tiết bất thuận như nóng nắng, lạnh, khô hạn, ngập úng,…( Nguyễn Học Thúy, 2001) [23]
- Theo Hoàng Minh Tuấn (2006) [22], trong thế giới thực vật nói chung lá
cây ngoài chức năng là thoát hơi nước, quang hợp còn có vai trò quan trọng trong việc hấp thu các chất dinh dưỡng cho cây, sự hấp thu này được thể hiện qua lỗ khí khổng và các khoảng gian bào, các chất dinh dưỡng được di chuyển theo hướng từ trên xuống dưới với tốc độ 30 cm/giờ, chất dinh dưỡng di chuyển một cách tự do trong cây
- Các kết quả nghiên cứu đều khẳng định rằng khi bón phân qua lá dạng hòa
tan, 95% lượng phân phun lên lá sẽ được đồng hóa hết Đối với lân, sau khi phun 30 giờ cây đã đồng hóa hết, đối với đạm urê chỉ vài giờ
Tuy nhiên hiệu quả của phân bón lá phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây, loại phân, nồng độ phân, liều lượng và thời gian sử dụng
Tóm lại, sự ra đời của phân bón lá đã giúp cây trồng ngăn ngừa được các bệnh ngay trong giai đoạn cây đang sinh trưởng, làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
Trang 152.1.2 Nguồn gốc, vị trí, phân loại của cây hoa Phong lữ thảo
Phong lữ thảo (Pelargonium sp) có nguồn gốc tại Nam Phi, cũng như
Reunion, Madagascar, Ai Cập và Maroc, sau đó mới được phát triển ra các nước
Châu Âu như Ý, Tây Ban Nha và Pháp vào thế kỷ 17
Hiện nay hoa Phong lữ thảo phân bố rộng rãi trên khắp thế giới, đặc biệt là vùng ôn đới và khu vực miền núi của vùng nhiệt đới Địa Trung Hải rất thích hợp cho loại hoa này phát triển
Phong lữ thảo có tên khoa học là Pelargonium sp, thuộc chi Pelargonium, họ
Geraniaceae (Mỏ hạc), bộ Geraniales
2.1.3 Đặc điểm thực vật học của cây hoa Phong lữ thảo
2.1.3.1 Lá
Lá của cây Phong lữ thảo thường có hình dạng lá tròn, lá xẻ thuỳ với
răng cưa nhỏ, bên trong mặt lá có các vòng tròn thẫm, kích thước bản lá to, màu xanh sẫm
2.1.3.2 Hoa
Hoa của cây Phong lữ thảo có dạng chùm, cánh hoa có hình bầu dục, mỗi
bông hoa là một cụm hoa dạng đầu, bao gồm những bông con tập hợp lại với nhau
Tập hợp nhiều bông hoa trên một cành hoa
2.1.3.3 Quả và hạt
Quả của cây Phong lữ thảo có dạng quả nang, quả dài và mảnh, trên một cành hoa có nhiều bông hoa, mỗi bông sau khi tàn chỉ có duy nhất một quả và có một hạt màu đen bên trong Bình quân mỗi cành hoa cho từ 10 - 20 hạt
2.1.3.4 Thân
Cây Phong lữ thảo thuộc dạng thân bụi, chiều cao trung bình từ 20 đến 50cm, có khả năng phân cành mạnh nên trong sản xuất phải cắt tỉa cành để tập trung dinh dưỡng cho các cành chính phát triển và tạo tán cho cây phù hợp với yêu cầu trồng chậu
Trang 162.1.3.3 Rễ
Rễ cây Phong lữ thảo không ăn sâu và có nhiều rễ nhỏ, phát triển theo chiều ngang ở tầng mặt đất, với số lượng rễ nhiều nên khả năng hút nước và chất dinh dưỡng của cây rất mạnh, nên khi trồng chậu cho Phong lữ thảo đường kính chậu thích hợp sẽ giúp cho bộ rễ phát triển tốt, tránh được những ảnh hưởng bất thường của thời tiết như
2.1.4.2 Nhiệt độ
Nhiệt độ tối ưu trong ngày phụ thuộc vào cường độ ánh sáng Phong lữ thảo
là cây có nguồn gốc ôn đới nên thích hợp ở những nơi có khí hậu mát mẻ, có biên
độ nhiệt độ ngày và đêm cao cây sẽ sinh trưởng, phát triển tốt Độ ẩm không khí thích hợp 80 - 85%, nhiệt độ thích hợp 18 đến 22 0C ban ngày, ban đêm 15 đến 17
0C là tốt nhất
2.1.4.3 Đất và dinh dưỡng
Giá thể đối với Phong lữ thảo hết sức quan trọng, giá thể có thể là trấu hun,
xơ dừa, mùn cưa…giá thể giúp cho cây đứng vững và là nơi giữ, cung cấp nước, dinh dưỡng cho cây trong suốt quá trình sinh trưởng, phát triển Ngoài ra còn phải cung cấp dinh dưỡng qua đất bằng cách bón các loại phân trực tiếp vài đất trồng và cung cấp dinh dưỡng qua lá bằng cách phun các loại phân bón lá thích hợp
Trang 17Đối với đất, Phong lữ thảo có thể trồng trên bất cứ một loại đất nào, tuy nhiên đất phải có cấu trúc tốt và thoát nước Trong suốt quá trình trồng, đất phải luôn tơi xốp
và bề mặt đất phải đủ ẩm Nhìn chung, Phong lữ thảo ưa đất có thành phần cơ giới nhẹ, nhiều mùn và có hàm lượng dinh dưỡng cao như đất mùn trên núi, đất phù sa… để đạt được hiệu quả trang trí cao thì việc phối hợp giữa các giá thể xơ dừa, mùn, trấu hun
và đất là một trong những khâu hết sức quan trọng để hoa Phong lữ thảo đạt năng suất chất lượng cao
2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới và ở Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới
Ngày nay sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và đã trở thành một ngành thương mại cao Sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm đã mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa, cây cảnh, trong đó có các nước Châu Á
Năm 2000 lượng tiêu thụ hoa chậu trên thế giới vào khoảng 20 đến 23 tỷ USD Mỹ nhập khẩu khoảng 1/3 lượng hoa chậu trên thế giới, sau đó là Đức 20%, rồi đến Pháp và Ý Các nước xuất khẩu hoa chậu lớn nhất thế giới là Hà Lan, Đan Mạch và Bỉ khoảng 1,75 tỷ USD năm 1995 (Lê Xuân Tảo, 2004) [21]
Theo Terril A Nell (2004) [51], hoa trồng chậu chiếm một phần quan trọng trong sản xuất trồng hoa ở Mỹ (20,3% của ngành trồng hoa) trong đó năm tiểu bang
là California, Florida, Texas, Pennsylvania, New York chiếm tới 53% sản xuất hoa trồng chậu ở nước này Thời vụ chủ yếu là vào mùa xuân và mùa hè, đặc biệt là tháng tư và tháng sáu thì hoa Phong lữ thảo được sản xuất và bán ra thị trường rất lớn Phong lữ thảo trồng chậu được xếp hạng là một trong số các loại hoa trồng chậu tiêu thụ cao ở thị trường nước Mỹ
Ở Châu Á, Nhật Bản là nước sản xuất hoa trồng chậu lớn nhất (chủ yếu phục
vụ nội tiêu) năm 1994 diện tích hoa cắt cành khoảng 18.000ha, diện tích hoa trồng chậu 2000ha) Tiếp theo là Isarael, Ấn độ và một số nước Đông Nam Á và Nam Á khác như Thái Lan, Maylaysia, Hàn Quốc và Trung Quốc Hiện nay, Trung Quốc
có xu hướng phát triển mạnh hoa trang trí, bao gồm các loại hoa như: hoa Báo xuân
Trang 18(Primula), Trạng nguyên, Thu hải đường (Begonia) với diện tích khoảng trên 60.000ha, các loại cây này chủ yếu xuất khẩu sang một số nước Asean, trong đó có miền Bắc Việt Nam
Thành phố Côn Minh là thủ phủ của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, với lợi thế
về thiên nhiên và khí hậu tương tự như Sapa, có thể thấy Côn Minh tràn ngập đủ loại hoa và đủ màu sắc khác nhau Trên hè phố, trong các ô vuông trồng cây lấy bóng mát cũng được trang trí bằng các chậu hoa nhỏ, màu sắc rất sặc sỡ Sản xuất hoa có thể xem là ngành chủ chốt của Côn Minh, nơi cung cấp 70% hoa tươi cho Trung Quốc
2.2.2 Tình hình sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm ở Việt Nam
Tại Việt Nam, sản xuất hoa chậu chủ yếu tập trung ở một số tỉnh phía Nam như Gò Vấp, Thủ Đức, Vĩnh Long, Tiền Giang, Thành Phố Hồ Chí Minh Đà Lạt là nơi sản xuất hoa nổi tiếng của nước ta, năm 2003 diện tích trồng hoa của Đà Lạt chỉ 743ha, đến năm 2005 diện tích đã tăng lên 1063ha hoa các loại và đến nay năm
2009 xấp xỉ 3000ha Hiện Đà Lạt có nhiều cá nhân và công ty sản xuất hoa chậu như Công ty TNHH Bonie Farm, công ty TNHH Lang Biang, Công ty quản lý công trình đô thị, công ty TNHH Ánh Minh, Công ty Dalat Hasfarm và các nông hộ chuyên bán hoa chậu dọc đường Nguyễn Thị Minh Khai, khu Hoà Bình, các điểm
du lịch Hoa chậu Đà Lạt không những cung cấp cho nhu cầu của địa phương mà còn đáp ứng người tiêu dùng nhiều tỉnh, thành trong cả nước Mỗi độ xuân về, hoa chậu Đà Lạt theo những chuyến xe đi khắp neo đường đất nước để đến với Hà Nội,
Đà Nẵng, Nha Trang… đem niềm vui, hương sắc của những loại hoa ôn đới, làm tô đẹp thêm không gian của nhiều ngôi nhà
Sa Pa, là vùng du lịch nổi tiếng ở khu vực phía Bắc với điều kiện thiên nhiên thuận lợi nên có tiềm năng phát triển hoa rất lớn Ngoài các loại hoa ôn đới như Hồng, Lay ơn, Cẩm chướng, Địa Lan … thì việc sản xuất hoa trồng chậu, trồng thảm ở Sapa đã và đang phát triển tuy nhiên còn khá khiêm tốn Thị trường hoa cao cấp mới chỉ phát triển trong địa bàn tỉnh Lào Cai, chưa có thị trường và thương hiệu
ở các vùng tiêu thụ lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quang Ninh…
Trang 19Một số giống hoa trồng chậu hiện được thị trường trong nước ưa chuộng
như: hoa Mào gà (Celosia argentea), Cúc lá nho (Cineraria), Mai Địa thảo (Impatiens walleriana), Dạ yên thảo (Petunia), Phong lữ thảo (Pelargonium sp.), Thu hải đường (Begonia)….Trong đó 3 loại hoa Dạ yến thảo, Phong lữ thảo, Thu
hải đường có thể trồng được quanh năm ở những nơi có khí hậu mát mẻ như Đà Lạt, Sapa, Mộc Châu Ngoài ra, 3 loại hoa này cũng có thể trồng và trang trí ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng… trong các dịp lễ tết như: 30/4, 1/5, 20/10, tết Dương lịch, Âm lịch… Phong lữ thảo là một trong những loài hoa đẹp, hoa dày lộ trên mặt tán, rực rỡ trên chậu cộng với chiều cao vừa phải, rất thích hợp cho trang trí trong phòng khách, cửa sổ…, tuy nhiên yêu cầu về nhiệt độ của loài hoa này không quá khắt khe, Phong lữ thảo yêu cầu nhiệt độ sinh trưởng phát triển tốt khoảng 18 – 220C ban ngày và khoảng 15 – 170 C vào ban đêm
Hà Nội là nơi tiêu thụ, trang trí hoa trồng chậu nhiều nhất qua các ngày lễ lớn của đất nước Hoa được trang trí khắp nơi trên địa bàn Hà Nội như: Hồ Gươm, Công viên, các đường phố lớn Các giống hoa trồng chậu dùng để trang trí chủ yếu
là Phong lữ thảo, Thu hải đường, Trạng nguyên…được lấy từ trong nước là Đà Lạt, Sapa và một số ít là từ hoa Côn Minh ở Trung Quốc
Rõ ràng, hoa trồng chậu, trồng thảm đang là một trong những xu hướng phát triển mới của người trồng hoa khi mà nhu cầu chơi hoa, trang trí khuôn viên, khách sạn ngày càng tăng Hoa Phong lữ thảo đã và đang trở thành đối tượng được các nhà nghiên cứu và sản xuất trong và ngoài nước quan tâm
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa ở Việt Nam và trên thế giới
2.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa trên thế giới
2.3.1.1 Nghiên cứu về giá thể
Tác giả Bunt (1965) [30], đã sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (tính theo thể tích) 1 than bùn + 1 cát + 2,4 kg/m3 đá vôi nghiền đều cho cây con mập, khoẻ
Theo JR Keseler, đại học Auburn (1998) [49], để Phong lữ thảo bền đẹp và hoa lâu tàn thì cần chú ý trong việc lựa chọn kích thước đường kính chậu hợp lý, cắt xén tỉa rễ khi cây sang năm thứ 2, bên cạnh đó để giá thể trồng chậu cũng cần được
Trang 20thay mới và pH 5,8-6,2 Giá thể tốt cho Phong lữ thảo là phải tơi xốp, nhẹ và thoát nước tốt như rêu, than bùn, rong biển, đá trân châu, vỏ thông hoặc đất sét nung trộn đều và thêm một ít đá vôi dolomitic, supe lân, các vi chất dinh dưỡng
Theo George Kueper (2004) [51] xơ Dừa là một sản phẩm cung cấp giá thể tốt cho hoa trồng chậu của Mỹ Hầu hết xơ dừa được nhập từ Ấn Độ, SriLanka, Philippines, Indonesia và Trung Mỹ So với than bùn thì xơ dừa có pH từ 5,5-6,8 và thường chứa các hàm lượng kali, natri, clo cao hơn than bùn Thời gian sử dụng xơ dừa cũng tăng lên gấp 2-4 lần so với than bùn, phân và nước giữ ẩm tốt hơn than bùn vì không có cutin sáp ngăn cản
Kết quả nghiên cứu của Jiang Qing Hai (2004) [31] cho thấy, để cây sinh trưởng, phát triển tốt khi phối chế các vật liệu trồng cây cần chú ý các điều kiện cơ bản gồm các tính chất:
- Tính chất vật lý, chủ yếu là mức độ tơi xốp, thông thoáng khí, khả năng hấp thu, khả năng hút nước và độ dày của vật liệu
- Tính chất hoá học, chủ yếu là độ chua (trị số pH) và mức độ hút dinh dưỡng Nếu vật liệu có khả năng hấp thu giữ các ion dinh dưỡng khó bị nước rửa trôi mới
có thể giải phóng dinh dưỡng cung cấp cho cây, hoặc vật liệu trồng có lượng trao đổi ion khá cao có thể tích nhiều dinh dưỡng Nếu lượng trao đổi ion khá thấp chỉ tích được một ít dinh dưỡng thì cần phải thường xuyên bón phân Đồng thời, lượng trao đổi ion cao còn có thể hạn chế tốc độ biến đổi trị số pH
- Tính chất kinh tế, chủ yếu là mức độ hữu hiệu của vật liệu nuôi cấy có thể
sử dụng lại, dễ lấy, tiện cho việc trộn, sạch sẽ, không mùi, giá cả rẻ
Tác giả Northen (1974) [45] cho rằng, giá thể gồm 3 phần vỏ thông xay nhuyễn + 1 phần cát (hoặc 8 phần osminda xay nhuyễn) + một phần than vụn, phù hợp cho việc cấy cây phong lan con lấy từ ống nghiệm Giá thể này cho tỉ lệ sống của cây lan con cao và sinh trưởng, phát triển tốt
2.3.1.2 Những nghiên cứu về phân bón và chế phẩm dinh dưỡng
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy chế phẩm phân bón hỗn hợp có tác dụng đối với cây trồng tốt hơn so với từng loại vi sinh vật riêng rẽ như E2001 Các sản
Trang 21phẩm phân bón thế hệ mới chứa đựng một tập hợp các vi sinh vật như cố định nitơ
tự do, kích thích sinh trưởng, phân giải phosphate khó tan, kiểm soát vi sinh vật gây bệnh Hiệu quả sử dụng của các chế phẩm hỗn hợp này đối với từng loại cây trồng
và từng tổ hợp vi sinh vật không giống nhau, do sự phong phú đa dạng của hệ vi sinh vật đất và tác động qua lại của các vi sinh vật với nhau, cũng như đối với cây trồng và điều kiện môi trường
Khi nghiên cứu về dinh dưỡng cho Phong lữ thảo, các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Aubum, Hoa Kỳ đã nhận thấy: để Phong lữ thảo cho hoa thường xuyên và đạt năng suất cao thì việc thử nghiệm, phân tích và mô tả những thành phần quan trọng như đất, dinh dưỡng, nước…là những yếu tố thúc đẩy, khắc phục kịp thời để tốc độ tăng trưởng của cây không bị ảnh hưởng bất lợi Các thành phần dinh dưỡng như Nitơ, Photpho, Kali đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây, chúng phải được bổ sung theo một tỷ lệ nhất định, kết quả được trình bày ở bảng 2.1
Bảng 2.1 Phân tích dinh dƣỡng bón lá ở Phong lữ thảo Dinh dƣỡng Tỷ lệ (%) Dinh dƣỡng Đơn vị (ppm)
(Nguồn: Phòng thí nghiệm đất, đại học Auburn, Alabama, Hoa kỳ (4/1998))
Theo JR Keseler, đại học Auburn (1998) [49]: Cycocel (chlormequat) là chất
làm chậm tăng trưởng, thường được sử dụng trên cây hoa Phong lữ thảo để giảm bớt chiều cao cây Tiến hành phun cho cây vào ngày thứ 14 sau trồng và lần thứ 2
áp dụng cho 14 ngày sau đó khi cây đã hồi phục và sung sức Cần chú ý thời tiết, đặc biệt là ánh sáng, nên chọn thời gian ánh sáng yếu vào lúc mờ sáng hoặc chiều
Trang 22mát, phun sương tránh không phun tạo thành dòng chảy trên mặt lá Trong quá trình phun, có thể làm cho những lá non bị vàng nhưng sẽ sớm phục hồi trong vòng vài tuần
Khi nghiên cứu yếu tố dinh dưỡng đến hoa Phong lữ thảo, nhà nghiên cứu Brian E Whipker (1998) [34] đã xác định, hoa Phong lữ thảo yêu cầu cung cấp đầy
đủ các chất dinh dưỡng thiết yếu và pH hơi chua Nếu thành phần các chất dinh dưỡng thiếu hụt sẽ ảnh hưởng tới sinh trưởng, phát triển cây hoa, đặc biệt là quá trình sinh sản của hoa Phong lữ thảo Các triệu chứng thiếu hoặc thừa dinh dưỡng không chỉ làm cho cây chậm tăng trưởng, còi cọc hay lá già sớm bị úa tàn… mà còn gây ngộ độc gây ảnh hưởng tới khả năng tăng trưởng, ra hoa, giảm khả năng hấp thụ các chất như K, Mg, Ca… Kết quả được trình bày ở bảng 2.2
Bảng 2.2 Ảnh hưởng của dinh dưỡng đến hoa Phong lữ thảo
Dinh
dưỡng
Triệu chứng thiếu dinh dưỡng Các triệu chứng cây ngộ độc
Nitơ Chậm tăng trưởng, cây
Cây chậm phát triển, nếu Phốt pho cao làm thiếu hụt Sắt, Kẽm, đồng và Mangan
Kali Cây chậm phát triển, cây yếu Quá mức Kali làm giảm hấp thu
Canxi, Magiê, Mangan và Kẽm
Canxi Chồi và rễ kém phát triển Quá cao làm giảm hấp thu Kali,
Magiê Magiê Lá già sớm bị úa vàng và rụng Quá mức sẽ làm giảm hấp thu Caxi
Trang 232.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa tại Việt Nam
2.3.2.1 Những nghiên cứu về giá thể
Các nhà sinh học tại Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt đã nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giá thể tổng hợp trồng hoa Lan và cây cảnh từ các phụ phế phẩm nông nghiệp có ở Lâm Đồng Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Duy Hạng đã sử dụng các loại phụ phế phẩm như bã mía, lõi ngô, vỏ đậu phộng, vỏ cà phê… đều có thể tận dụng để sản xuất phân hữu cơ nhờ các chủng vi sinh ưa nhiệt, có khả năng phân giải các phụ phế phẩm này thành các giá thể để trồng hoa, không chỉ hoa Địa Lan mà còn có thể áp dụng cho nhiều loại hoa khác nhau và cây cảnh, thay thế cho các giá thể truyền thống Nhóm tác giả thiết lập quy trình sản xuất giá thể tổng hợp trồng hoa lan từ các phụ phế phẩm nông nghiệp bằng biện pháp lên men vi sinh Loại giá thể tổng hợp này được sản xuất từ các chất hữu cơ có nguồn thực vật, hệ vi sinh vật hiếu khí và các chất khoáng đa lượng, trung - vi lượng nên rất thích hợp cho việc nuôi trồng lan và các loại hoa, cây cảnh khác Dạng giá thể tổng hợp này
có thể sản xuất dưới dạng viên hoặc sợi với thành phần dinh dưỡng gồm: chất hữu
cơ 47%; Nitơ tổng số 0,8%; Phosphor 0,7%; Kali tổng số 1%; Oxid calci 0,3%; Oxid ma-nhê 0,3%; S (lưu huỳnh) 0,1% và thành phần vi lượng như Zn, Mo, Mn,
Cu, B… Ngoài ra, trong giá thể còn có các hợp chất với tính sinh học cao, giúp cho cây trồng chậu có tính kháng bệnh Một số hệ vi sinh vật có ích có khả năng ức chế một số loại nấm gây bệnh ở rễ
Năm 2006, tác giả Huỳnh Thanh Hùng đã nghiên cứu các vật liệu làm giá thể trồng lan Dendrobium tại Thủ Đức ở Thành phố Hồ Chí Minh Nguyên vật liệu thí nghiệm gồm phân giun đất nguyên chất, than gỗ (làm đối chứng), xơ dừa, mụn xơ dừa, mạt cưa, rễ lục bình và dớn Chậu trồng Lan (bằng đất nung) có kích thước 11,5cm x 6,5cm x 8cm Giá thể được phối trộn các vật liệu và chất kết dính được nén chặt tạo thành khối Sau 5 tháng nghiên cứu theo dõi ảnh hưởng của giá thể trồng Lan, tác giả có kết luận, trong các vật liệu phối trộn phân bùn với xơ dừa, rễ lục bình và dớn cho cây Lan Dendrobium sinh trưởng tốt nhất
Trang 24Hiện nay, nhiều loại hoa được nhân giống bằng phương pháp Invitro , giai đoạn sau nuôi cấy trong ống nghiệm quyết định tỷ lệ sống và chất lượng cây, giá thể giâm đóng vai trò quan trọng Yêu cầu của giá thể là vừa đảm bảo độ tơi xốp,
có khả năng thoát nước tốt, có tính giữ ẩm cao đồng thời phải hoàn toàn sạch các mầm bệnh
Năm 2006, tác giả Lê Xuân Tảo [21] đã tiến hành làm thí nghiệm để nghiên cứu loại giá thể thích hợp cho 2 loại hoa trồng chậu là hồng tiểu muội, cúc Indo Các tác giả đã đưa ra kết luận, giá thể thích hợp dùng để trồng cúc Indo trong chậu gồm: 1/4 trấu hun +1/4 vụn dừa + 1/4 phân chuồng giúp cho cây sinh trưởng phát triển tốt, tỷ lệ nở hoa trên cây và độ bền tự nhiên ngày của cây cao
Sở Nông nghiệp & PTNT Hà Nội (2003), với nghiên cứu bước đầu đã xác định 3 công thức phối trộn giá thể thích hợp cho 3 loại cây hoa như sau:
+ Hồng Đà Lạt: 76,5% than bùn + 13,5% bèo dâu + 10% đất
+ Cây cảnh: 76,5% than bùn + 6,75% trấu + 6,75% bèo dâu + 10% đất + Hoa giống: 45% than bùn + 22,5% trấu + 22,5% bèo dâu + 10% đất
2.3.2.2 Những nghiên cứu về phân bón và chế độ dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những yếu tố tác động mạnh đến sự sinh trưởng, phát triển cây trồng nói chung và cây hoa nói riêng Việc cung cấp dinh dưỡng hợp
lý là biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất chất lượng hoa
Gần đây, trong sản xuất người ta áp dụng phổ biến phương pháp dưỡng ngoài rễ
chủ yếu là bằng cách phun lên lá Phương pháp này có những đặc điểm sau:
- Tiết kiệm được phân
- Tiết kiệm được nhiên liệu
- Tiết kiệm được thời gian và sức lao động
Thường nên phun vào lúc cây còn non khi màng lớp cutin chưa thật phát triển, hoặc vào lúc cây sắp đạt cường độ cực đại của quá trình trao đổi (Hoàng Minh
Tấn, Nguyễn Quang Thạch, Trần Văn Phẩm, 2000) [20]
Pomior là một loại phân bón qua lá được phối hợp nhiều chất dinh dưỡng đa, trung và vi lượng, được phối hợp với các chất phức hoạt nhằm tăng khả năng bám
Trang 25dính và khả năng thẩm thấu nhanh chất dinh dưỡng vào trong cây Tác giả Hoàng Ngọc Thuận [27] đã kết luận, việc bón phân Pomior qua lá cho hoa cúc và các loại hoa trồng chậu là rất cần thiết, làm giảm tỉ lệ rụng nụ, tăng cường quá trình trao đổi
chất, hình thành và phát triển nụ rất tốt
Khi nghiên cứu sử dụng chế phẩm phân bón lá nhằm giảm lượng phân bón gốc cho hoa đồng tiền trồng tại Hải Phòng, tác giả Nguyễn Thị Kim Thanh, Phạm Thị Thanh Thuỷ (2008) [24] đã khẳng định: hoa đồng tiền được bón bằng phân bón
lá có thể giảm lượng 1/3 lượng phân bón gốc mà không ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cũng như chất lượng của hoa đồng tiền Các tác giả cũng xác định: trong các chế phẩm nghiên cứu, chế phẩm Pomior và đầu trâu tỏ
ra có hiệu quả hơn đối với cây hoa đồng tiền so với các loại chế phẩm phân bón lá Công thức sử dụng chế phẩm Pomior và đầu Trâu đều có hiệu quả tốt đến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất
Theo nghiên cứu của Nguyễn Xuân Linh (2005) [12] cây hoa Cúc nếu được bón đầy đủ và cân đối các loại phân như phân hữu cơ (phân bắc, phân chuồng, nước giải, phân vi sinh), phân vô cơ và các loại phân vi lượng (Cu, Fe, Zn, Mn, Bo, Co)
sẽ sinh trưởng phát triển tốt, cho năng suất và chất lượng hoa cao
Theo Nguyễn Quang Thạch (2006) [22], Kỳ Nhân là loại phân bón mới nhập nội từ Trung Quốc, thông qua Viện sinh học Nông nghiệp, hiện loại phân này đang được thử nghiệm với một số cây hoa Cúc, đồng tiền…, đã đem lại những kết quả đáng kể Phân bón qua lá Kỳ nhân có tác dụng chủ yếu hoạt hoá gen tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng của cây, đồng thời cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng
Năm 2006, tác giả Nguyễn Thị Hải [4] khi nghiên cứu phân bón cho hai giống cúc Vàng pha lê và cúc Mâm xôi đã khẳng định công thức bón Phân chuồng + NPK + Kỳ nhân cho cây sinh trưởng, phát triển, chất lượng và độ bền tự nhiên hoa cao nhất
Trang 26PHẦN III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
- Hạt giống : Hạt giống hoa Phong lữ thảo nhập từ Mỹ
- Một số loại phân bón lá được sử dụng trong thí nghiệm bao gồm:
Thuốc điều hòa sinh trưởng kích phát tố lá, hạt GA – 3 Thiên Nông (phân
bón lá Thiên Nông)
- Thành phần : 1% Gibberrellic Acid GA-3, Alpha-Naphthalene Acetic Acid 2%, Beta-Naphtoxy Acetic Acid 0.5%, Gibberrellic Acid GA-3 0.1% ( thuốc dạng bột
thấm nước)
- Công dụng : kích thích tăng trưởng tế bào theo chiều dọc của cây và lá,
kích thích hạt mọc mậm, đâm chồi nhanh và khỏe, tăng đường kính lá dạng phiến lá
tròn, tăng năng suất chất lượng hoa
- Cách dùng : 100g pha cho 50 lít nước sạch ( 2g pha cho 1 lít nước sạch)
Phân bón lá cao cấp đầu trâu 902 (phân bón lá đầu trâu 902)
- Thành phần : 15%N, 30% P2Ọ5, 15% K2O, 0,05% Ca, 0,05% Mg, 0,05%
Zn, 0,025% Fe, 0,05% Cu, 0,25% Mn, 0,03%B, 50GA3 ppm, 5oNAA ppm
- Công dụng : Kích thích cây ra hoa tập trung, đậu trái nhiều Hạn chế tác
dụng của sâu bệnh, phèn mặn, hạn hán Tăng năng suất, chất lượng nông sản
- Cách dùng : Pha gói 10g cho bình 8-10lít nước, sử dụng 400-500lít/ha, phun khi trời mát, định kỳ 7-10 ngày/lần, không phun trực tiếp nên hoa đang nở
Thuốc kích thích sinh trưởng cây trồng Atonikr1.8 SL (phân bón lá Atonikr1.8 SL)
- Thành phần : Sodium-S-Nitrogualacolate 0.03+sodium-O-Nitrophenolate 0.06%+sodium - P – Nitrophenolate 0.09%
Trang 27- Công dụng : Giúp tăng sức đề kháng, tăng khả năng ra rễ, nảy mầm, tăng năng suất và chất lượng nông sản; có hiệu lực trên hầu hết các loại cây trồng Kích
thích ra tăng số chồi, kích thích ra hoa đậu quả
- Cách dùng : Liều lượng pha 10ml cho bình 8 lít
Phân bón lá NPK Trung Quốc
- Thành phần : Urea – N: 30 %, P2O5 : 10%, K2O : 10%, NO3 ( 3,32 % ), Cu: 0,02%, NH4 : 2,42%, Fe: 0,1%, Mn: 0,05%, Mo: 0,002%, Mg: 0,2%, B: 0,09 %, Co:
0,0005%
- Công dụng : Loại phân này có tác dụng giúp cây trồng phát triển nhanh, mạnh, tăng sức đề kháng, ngừa sâu bệnh, giúp tăng hoa, đậu trái, chắc hạt Tăng
năng suất, chất lượng nông sản
- Cách dùng : Pha 10gr với 8 lít nước, 60-80gr/1000 m2 (480-640 lít dung
3.1.2 Địa điểm nghiên cứu
Khu nhà lưới công nghệ cao khoa Nông Học trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
3.1.3 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện vào vụ Đông – Xuân ( từ 11/2014 đến 2/2015 )
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng sinh
trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến khả năng sinh
trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Trang 283.3 Phương pháp nghiên cứu
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
- Thí nghiệm gồm 5 công thức ( CT )
- Sử dụng 4 loại phân bón lá khác nhau làm 4 công thức thí nghiệm và dùng
nước lã làm công thức đối chứng
+ CT 1 : Phun phân bón lá NPK Trung Quốc
+ CT 2 : Phun thuốc điều hòa sinh trưởng kích phát tố lá, hạt GA – 3 Thiên Nông + CT 3 : Phun phân bón lá cao cấp đầu trâu 902
+ CT 4 : Phun huốc kích thích sinh trưởng cây trồng Atonik r 1.8 SL
+ CT 5 : Phun nước lã (đối chứng)
- Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh, gồm 5 công
thức 3 lần nhắc lại
- Mỗi công thức có 60 cây tham gia thí nghiệm chia làm 3 lần nhắc lại, mỗi lần nhắc lại 20 cây trong đó tiến hành theo dõi ngẫu nhiên 5 cây/1 lần nhắc lại
Tổng số theo dõi 15 cây trên một công thức
- Tổng số cây tham gia thí nghiệm là 300 cây
- Sơ đồ thí nghiệm:
- Phun phân bón lá định kỳ 7 ngày 1 lần, phun cho đến khi cây bắt đầu cho hoa
- Mỗi công thức theo dõi 15 cây, 10 ngày đo đếm lấy số liệu 1 lần
Trang 29* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể trồng đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
- Thí nghiệm gồm có 4 công thức:
+ CT 1 : Đất mầu 70% + trấu hun 15% + xơ dừa 15%
+ CT 2 : Đất mầu 80% + xơ dừa 20%
+ CT 3 : Đất mầu 80% + trấu hun 20%
- Tổng số cây tham gia thí nghiệm là 240 cây
- Mỗi công thức theo dõi 15 cây, 10 ngày đo đếm lấy số liệu 1 lần
- Sơ đồ thí nghiệm:
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi
3.4.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển
- Theo dõi thời gian sinh trưởng và phát triển của cây (ngày): Theo dõi từ
khi trồng đến khi ra nụ 80%, nở hoa 80%
- Theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao cây (cm) : Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng cao nhất của cây (10 ngày đo 1 lần)
Trang 30- Theo dõi động thái tăng trưởng số lá/cây (lá): Đếm số lá trên cây (10 ngày đếm 1 lần)
- Theo dõi động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) (cm) : Đo những lá có chiều rộng (đk) lớn nhất trên cây (10 ngày đo 1 lần)
- Theo dõi động thái tăng trưởng số cành nhánh (cành phụ)/cây (cành): Đếm số cành trên cây (10 ngày đếm 1 lần)
3.4.2 Các chỉ tiêu về chất lượng hoa
- Số nụ/cành hoa (nụ) : Đếm tổng số nụ trên cành hoa
- Số cành hoa/cây (cành) : Đếm tổng số cành hoa ( ngồng hoa) trên cây
- Chiều dài cành (ngồng) hoa (cm) : Đo từ gốc cành hoa mọc ra từ thân đến
vị trí ra hoa
- Đường kính hoa (cm) : Đo bằng thước kẻ li khi hoa nở hoàn toàn
- Độ bền tự nhiên (ngày) : Được tính từ khi hoa nở đến khi 30% cánh hoa bị héo và rụng trên chậu
- Đường kính gốc (cm) : Đo bằng thước palme ở vị trí to nhất của gốc.( đo khi cây nở hoa)
3.4.3 Tình hình sâu bệnh hại
- Bệnh hại : Quan sát bằng mắt thường, đếm số cây bị bệnh trên tổng số
cây thí nghiệm của mỗi công thức(%)
Trang 313.5 Các biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc đối với cây hoa Phong lữ thảo
3.5.1 Đất, giá thể và chậu trồng
* Thí nghiệm 1: Đất trồng là hỗn hợp bao gồm : 70% đất mầu + 15 % trấu
hun + 12 % xơ dừa + 3% phân vi sinh hữu cơ và phân NPK
- Chậu nilon : Chậu nilon màu đen, có kích thước chậu là 18 x 16 cm
- Mật độ cây/chậu : 1 cây/chậu
3.5.2 Phân bón
- Bón phân Vinaf 16-16-16: Hòa 1kg phân Vinaf với 100 lít nước sạch sau
đó tưới vào gốc, định kỳ 20 ngày tưới 1 lần Bón tăng cường vào thời kỳ cây sinh trưởng mạnh (Vinaf 16-16-16 là loại phân bón phức hợp vi lượng NPK tinh khiết cao cấp của Châu Âu chứa đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cây trồng đa lượng, trung lượng, vi lượng giúp cây trồng có năng suất tối đa, mẫu mã đẹp, thời gian bảo quản lâu và tránh được những sâu bệnh hại)
- Phân vi sinh hữu cơ : Trộn lẫn với đất trồng
- Phân NPK : Trộn lẫn với đất trồng
3.5.3 Tưới nước, làm cỏ, xới xáo
- Tưới nước : Tiến hành tưới ngay sau trồng, nếu trời nắng thỳ 2 ngày tưới
1 lần, trời mưa ẩm ướt thỳ 4-5 ngày tưới 1 lần
- Trời mưa ẩm ướt không tưới nhiều vì dễ gây bệnh nấm cho cây
- Sau trồng 1 tháng tiến hành xới xáo, phá váng và thường xuyên làm cỏ
3.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Số liệu thí nghiệm được xử lý thống kê bằng trên phần mềm Excel và
phần mềm IRRISTAT 5.0
Trang 32PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
4.1.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra nụ (80%) và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Thời gian sinh trưởng của cây trồng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Đặc điểm của giống, điều kiện ngoại cảnh, dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc,… Tất cả các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến thời gian sinh trưởng, thời điểm ra nụ, ra hoa… của cây Nghiên cứu các giai đoạn sinh trưởng và đặc điểm của từng giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định các biện pháp kỹ thuật để làm tăng năng suất, chất lượng hoa, đồng thời xác định được thời vụ hợp lý nhằm đem lại hiệu quả như mong muốn cho người trồng hoa
Kết quả theo dõi ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của cây hoa Phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên được trình bày ở bảng 4.1:
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra nụ (80%)
và nở hoa (80%) của cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên GĐST
Trang 33Qua số liệu bảng 4.1 cho thấy:
- Thời gian từ khi bắt đầu trồng đến khi cây ra nụ 80% ở các công thức có
sự khác nhau rõ ràng, dao động từ 85,40 – 89,87 (ngày), chênh lệch giữa các công thức từ 1-4 (ngày)
+ Công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông ) có thời gian ra nụ sớm nhất là 85,40 ( ngày)
+ Công thức V ( đ/c, phun nước lã ) có thời gian ra nụ muộn nhất là 89,87 (ngày), chậm hơn so với công thức II là 4 (ngày)
+ Còn các công thức khác dao động từ 87,27 – 87,47 (ngày)
- Thời gian từ khi bắt đầu trồng đến khi cây nở hoa 80% ở các công thức dao động từ 96,47– 99,87 (ngày), chênh lệch nhau từ 4-7 (ngày)
+ Công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông ) có thời gian cây nở hoa sớm nhất là 96,47 (ngày)
+ Công thức V (đ/c, phun nước lã ) có thời gian nở hoa muộn nhất là 99,87 (ngày) + Các công thức còn lại dao động từ 97,27 – 98,33 (ngày)
Qua đó ta thấy các loại phân bón lá có ảnh hưởng đến thời gian ra nụ và ra hoa khác nhau Việc sử dụng phân bón lá định kỳ để phun cho hoa phong lữ thảo làm cho cây ra nụ và nở hoa sớm hơn so với việc không phun phân bón lá, rút ngắn thời gian sinh trưởng của cây từ 1- 4 (ngày)
4.1.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số lá trên cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Bộ lá của cây hoa phong lữ thảo cũng là một chỉ tiêu hết sức quan trọng, không chỉ quyết định đến khả năng quang hợp của cây để biến đổi năng lượng ánh sáng mặt trời thành những chất cần thiết cho cây mà bộ lá của cây còn rất quan trọng đối với vẻ đẹp của cây hoa, bộ lá tạo ra sự cân đối và tăng giá trị thẩm mỹ đối
Trang 34với cây hoa Bộ lá được ví như những nhà máy chuyên sản xuất, tổng hợp các chất dinh dưỡng cung cấp cho mọi nhu cầu của cây vì vậy thời gian ra lá, tốc độ ra lá, số
lá/cây đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của cây
Sự tăng trưởng chiều cao cây và tăng trưởng số nhánh (cành phụ) trên cây kèm theo sự tăng trưởng về số lá Trong quá trình sinh trưởng và phát triển, số lá của cây tăng phụ thuộc vào đặc tính của giống, điều kiện ngoại cảnh, dinh dưỡng và
điều kiện chăm sóc Số lá của cây đạt cao nhất khi cây hình thành nụ cuối cùng
Qua theo dõi động thái ra lá của các công thức thí nghiệm từ khi trồng đến
khi cây nở hoa thu được kết quả ở bảng 4.2 và hình 4.1
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng số
lá trên cây phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Chỉ tiêu
CT
Số lá xanh trên cây tại thời điểm sau trồng ( ngày)
20 ngày
30 ngày
40 ngày
50 ngày
60 ngày
70 ngày
80 ngày
Trang 35Hình 4.1 Biểu đồ động thái tăng trưởng số lá trên cây của các công thức
- Sau trồng từ 70 ngày trở nên số lá/cây tăng mạnh nhất vì lúc này cây bắt đầu gia tăng số cành nhánh (cành phụ) trên cây, số lá/cây dao động từ 29,33-34,67 (lá/cây) Công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông ) có số lá trên cây lớn nhất là 34,67 (lá/cây) cao hơn 5-6 lá so với công thưc V (phun nước lã ) có số lá trên cây
Trang 36thấp nhất là 29,33 (lá/cây) Còn công thức I, công thức III, công thức IV có số lá là 30,73; 30,28; 30,53 số lá/cây sấp sỉ bằng nhau
- Sau trồng 80 ngày số lá/cây lúc này ổn định và tăng ít Số lá trên cây trong giai đoạn này dao động từ 34,33-44,33 trong đó công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông) đạt số lá/cây cao nhất là 44,33 (lá/cây), còn công thức V (phun nước
lã ) có số lá trên cây ít nhất là 34,33 (lá/cây)
Qua đó ta thấy việc sử dụng phân bón lá để phun cho cây làm tăng đáng kể
số lá trên cây so với việc chỉ phun nước lã cho cây Các công thức sử dụng các loại phân bón lá khác nhau có động thái tăng trưởng số lá khác nhau Biểu hiện rõ rệt nhất và hiệu quả tăng trưởng số lá mạnh nhất là sử dụng phân bón lá Thiên Nông
4.1.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Chiều cao cây là một trong những đặc trưng hình thái cơ bản phản ánh sát thực tình trạng sinh trưởng của cây, giá trị thẩm mỹ cũng như giá trị kinh tế của cây
Nó ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của cây trồng Chiều cao cây là một yếu tố quyết định đến chất lượng cành mang hoa, thể hiện đặc trưng của cây Chiều cao cây hoa phong lữ thảo chịu sự chi phối bởi các yếu tố ngoại cảnh, điều kiện dinh dưỡng và chăm sóc Trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng cây sinh trưởng, phát triển rất mạnh, nhanh chóng tăng trưởng chiều cao cây Khi cây bước vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực ra nụ, nở hoa thì tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của
các công thức đều giảm
Qua theo dõi động thái tăng trưởng chiều cao giữa các công thức thí nghiệm
tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.3 và hình 4.2 dưới đây:
Trang 37Bảng 4.3: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Chỉ tiêu
CT
Chiều cao cây tại thời điểm sau trồng ( cm )
20 ngày
30 ngày
40 ngày
50 ngày
60 ngày
70 ngày
80 ngày
số ngày sau trồng (ngày)
tăng trưởng chiều cao cây
Trang 38Quan sát bảng số liệu 4.3 và hình 4.2 ta thấy khi phun các loại phân bón lá cho cây hoa phong lữ thảo định kỳ 7 ngày phun 1 lần và theo dõi 10 ngày 1 lần thì chiều cao cây ở các công thức thí nghiệm đều tăng nên rõ rệt so với công thức đối chứng
- Sau trồng 20 ngày chiều cao cây đạt từ 5,78-8,49 (cm) trong đó công thưc
II (phun phân bón lá Thiên Nông) làm cho cây có chiều cao lớn nhất là 8,49 (cm) còn công thức V (phun nước lã) làm cho cây có chiều cao nhỏ nhất là 5,79 (cm) chênh lệch nhau khoảng 3(cm)
- Sau trồng 30 ngày đến 70 ngày trung bình cây tăng trưởng chiều cao từ
3-4 cm trong 10 ngày Mức độ tăng trưởng đều trong cùng một công thức Chiều cao của cây đạt lớn nhất sau trồng 70 ngày là 27,41(cm) của công thức II (phun phân bón lá Thiên Nông), công thức có chiều cao cây thấp nhất là công thức V ( đ/c, phun nước lã) chiều cao đạt 22,04 (cm)
- Sau trồng 80 ngày chiều cao cây ở công thức I (phun phân bón lá NPK Trung Quốc) đo được là: 27,55 (cm) đạt mức cao thứ 3 trong 5 công thức; công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông ) đo được là 32,24 (cm) đạt mưc cao nhất; công thức III ( phun phân bón lá đầu trâu 902 ) đo được chiều cao cây là 28,04 (cm) đạt mức cao thứ 2; công thức IV (phun phân bón lá Atonikr 1.8 SL) chiều cao cây là 26,52 (cm); công thức V (phun nước lã làm đối chứng) chiều cao cây đạt mức thấp nhất là 23,39 (cm)
Như vậy phân bón lá có ảnh hưởng tương đối rõ rệt tới động thái tăng trưởng chiều cao của cây hoa phong lữ Các công thức sử dụng các loại phân bón lá khác nhau có động thái tăng trưởng chiều cao cây là khác nhau Để thấy được sự sai khác một cách chính xác về chiều cao cuối cùng tôi đã tiến hành xử lý thống kê và thu được kết quả : Chiều cao cuối cùng của các công thức phun phân bón lá đều cao hơn so với công thức đối chứng ở mức tin cậy 95%
Trang 394.1.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên
Chiều rộng của phiến lá có ý nghĩa quan trọng giúp cây tiếp nhận ánh sáng
để quang hợp và tiếp nhận phân bón phun qua lá Phiến lá to rộng sẽ giúp cây hấp thu được nhiều ánh sáng hơn và lượng phân bón qua lá cũng được hấp thu nhiều hơn giúp cây sinh trưởng mạnh hơn Ngoài ra phiến lá dày còn giúp cho cây có khả năng thích ứng và chống chịu với điều kiện ngoại cảnh và sâu bệnh tốt, bên cạnh đó
nó còn giúp cho cây có bộ tán dày và đẹp hơn, tôn thêm vẻ đẹp rực rỡ cho chậu hoa
Kết quả theo dõi quá trình tăng trưởng chiều rộng lá được trình bày ở
bảng 4.4:
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của cây hoa phong lữ thảo trồng chậu tại Thái Nguyên Chỉ tiêu
CT
Chiều rộng lá (đk lá) tại thời điểm sau trồng ( cm )
20 ngày
30 ngày
40 ngày
50 ngày
60 ngày
70 ngày
80 ngày
Trang 40Hình 4.3: Biểu đồ động thái tăng trưởng chiều rộng lá (đk lá) của các công
thức thí nghiệm
Qua bảng số liệu bảng 4.4 và hình 4.3 ta thấy:
- Sau trồng 20 ngày các công thức phun các loại phân bón lá khác nhau làm cho chiều rộng lá của cây khác nhau nhưng mức độ chênh lệch chưa cao cụ thể như sau
+ Công thức I ( phun phân bón lá NPK Trung Quốc ) có chiều rộng lá trung bình của các cây là: 4,45 cm đạt mức cao thứ 4 trong 5 công thức
+ Công thức II ( phun phân bón lá Thiên Nông ) có chiều rộng trung bình lá của các cây thí nghiệm là: 4,61 (cm) đạt mức cao nhất trong 5 công thức thí nghiệm
+ Công thức III ( phun phân bón lá đầu trâu 902 ) chiều rộng lá trung bình là: 4,51 (cm) cao thứ 2 trong 5 công thức tham gia thí nghiệm
+ Công thức IV ( phun phân bón lá Atonikr 1.8 SL ) có chiều rộng lá trung bình là 4,49 (cm) cao thứ 3 trong 5 công thức thí nghiệm
+ Công thức V ( phun nước lã làm đối chứng ) có chiều rộng lá trung bình
là 4,39 (cm) thấp nhất trong 5 công thức thí nghiệm