LỜI CẢM ƠN Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và ban chủ nhiệm khoa Nông học, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên ảnh hưởng cuả giá thể và một số
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TULIP TẠI HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
TULIP TẠI HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
và ban chủ nhiệm khoa Nông học, em tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên ảnh
hưởng cuả giá thể và một số loại phân bón lá tới sinh trưởng và phát triển của
hoa Tulip tại Hà Nội“
Để có được kết quả quả nghiên cứu này em xin chân thành cảm ơn Ban
giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Nông học, cùng các thầy giáo, cô giáo
trong trường, trong khoa đã truyền đạt lại cho em những kiến thức quý báu trong
suốt thời gian học tập và rèn luyện tại nhà trường, đặc biệt là cô giáo TS.Nguyễn
Thúy Hà người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện
đề tài Đồng thời em cũng xin cảm ơn sự động viên của gia đình và các bạn trong
lớp đã luôn cổ vũ, động viên và đồng hành cùng em trong suốt thời gian thực tập
Do còn hạn chế về thời gian, về trình độ và kinh nghiệm thực tế của bản thân
nên không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến của các
thầy cô và các bạn để luận văn của em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 30 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Lê Chính Hữu
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Diện tích trồng hoa ở một số vùng trên thế giới năm 2012 10
Bảng 1.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012 11
Bảng 1.3 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012 12 Bảng 1.4 Diện tích và giá trị sản lượng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2012 13
Bảng 1.5 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa cây cảnh 14
giai đoạn 1997 - 2009 14
Bảng 1.6 Cơ cấu số lượng, chủng loại hoa ở Việt Nam qua một số năm 15
Bảng 4.1 Tỉ lệ nảy mầm của củ giống Tulip trên các loại giá thể khác nhau trong kho lạnh 25
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 26
Bảng 4.3 Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao 29
của hoa Tulip 29
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái ra lá của hoa Tulip 31 Bảng 4.5 Ảnh hưởng của giá thể đến năng suất chất lượng của hoa Tulip 33
Bảng 4.6 Sâu hại Tulip ở các giá thể khác nhau 36
Bảng 4.7 Bệnh hại Tulip ở các giá thể khác nhau 37
Bảng 4.8: Hoạch toán sơ bộ hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại giá thể 38
Bảng 4.9 Ảnh hưởng của giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 39
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa Tulip 40
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến động thái ra lá của hoa Tulip 43
Trang 5Bảng 4.12 Ảnh hưởng của của một số loại phân bón lá đến năng suất chất lượng của hoa Tulip 44 Bảng 4.13 Sâu hại Tulip khi sử dụng các loại phân bón lá khác nhau 46 Bảng 4.14 Bệnh hại Tulip khi sử dụng các loại phân bón lá khác nhau 47 Bảng 4.15 Hoạch toán sơ bộ hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại phân bón
lá 48
Trang 7MỤC LỤC
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2
1.2.1 Mục đích của đề tài 2
1.2.2 Yêu cầu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng giá thể và sử sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá 3
2.1.2 Nguồn gốc hoa Tulip 7
2.1.3 Phân loại 7
2.1.4 Đặc điểm thực vật học 8
2.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh 9
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam 9
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới 9
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam 13
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới và Việt Nam 18
2.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới 18
2.3.2 Tình hình nghiên cứu hoa tulip ở Việt Nam 19
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.2 Nội dung nghiên cứu 21
3.3 Phương pháp nghiên cứu 22
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22
Trang 83.3.2 Công thức và sơ đồ bố trí thí nghiệm 22
3.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 23
3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu 24
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 25
4.1.1 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tỉ lệ nảy mầm của hoa Tulip 25
4.1.2 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 26
4.1.3 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa Tulip 28
4.1.4 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái ra lá của hoa Tulip 31
4.1.5 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến năng suất và chất lượng hoa Tulip 33
4.1.6 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tình hình nhiễm một số loài sâu bệnh hại chính trên hoa Tulip 35
4.1.7.Hoạch toán sơ bộ hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại giá thể 37
4.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng các loại phân bón lá tới sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 38
4.2.1 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip 38
4.2.2 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa Tulip 40
4.2.3 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến động thái ra lá của hoa Tulip 42
4.2.4 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá đến năng suất và chất lượng của hoa Tulip 44
4.2.5 Ảnh hưởng của các loại phân bón lá tình hình nhiễm một số loài sâu bệnh hại chính trên hoa Tulip 46
4.2.6 Hoạch toán sơ bộ hiệu quả kinh tế khi sử dụng các loại phân bón lá 48
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49
Trang 95.1 Kết luận 49 5.2 Đề nghị 49
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 10PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Hoa Tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương, thuộc chi Tulip, họ liliaceae, là loài hoa đã có từ lâu đời trên thế giới, được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng và
đã được Hà Lan chọn làm Quốc hoa
Hoa Tulip là biểu tượng của tình yêu, thắng lợi và đẹp đẽ, biểu tượng của tình yêu hoàn hảo, bao gồm nhiều màu sắc khác nhau như: màu kem, màu xanh, màu cam viền trắng, màu hồng, màu vàng, màu tím, màu đỏ, màu trắng… nhiều dạng hình đẹp mắt: hình chuông, hình tháp, hình lục lăng…
Hoa Tulip cũng được nhiều người Việt Nam rất ưa thích, những năm vừa qua nhiều doanh nghiệp đã nhập hoa từ Hà Lan, Trung Quốc về cung cấp cho thị trường Việt Nam, việc nhập nội làm tăng giá thành hoa, mặt khác do vận chuyển xa dẫn đến chất lượng hoa giảm sút
Đặc điểm đất đai và thành phần dinh dưỡng trong đất ở Việt Nam có nhiều điểm khác biệt so với nơi nhập hoa Tulip Do vậy việc lựa chọn giá thể và cách bổ sung dinh dưỡng cho hoa Tuylip có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip Hiện nay có rất nhiều loại giá thể được sử dụng để trồng hoa như xơ dừa, trấu hun…việc phối trộn giá thể với tỉ lệ nhất định sẽ phù hợp với từng loại hoa khác nhau Đồng thời việc bổ sung dinh dưỡng cho hoa thông qua bón phân cũng rất quan trọng Biện pháp bón phân qua lá đang cho thấy hiệu quả rất tốt, trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại phân bón lá với thành phần dinh dưỡng khác nhau đang được sử dụng trong sản xuất hoa Xuất phát từ những vấn đề trên chúng tôi nhận thấy cần phải lựa chọn giá thể và loại phân bón lá phù hợp nhất với hoa Tulip
để nâng cao năng suất, chất lượng hoa và hiệu quả kinh tế Do vậy chúng tối tiến hành thực hiện đề tài
“Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể và một số loại phân bón lá đến sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip tại Hà Nội ”
Trang 111.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
1.2.1 Mục đích của đề tài
Lựa chọn được loại giá thể và phân bón lá phù hợp để hoa Tulip sinh trưởng
và phát triển tốt tại Hà Nội
1.2.2 Yêu cầu
- Xác định được loại giá thể phù hợp để trồng Tulip
- Xác định được loại phân bón lá phù hợp với hoa Tulip
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học về đặc điểm sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip khi trồng bằng giá thể và sử dụng phân bón lá trong quá trình trồng và chăm sóc
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu hoa nói chung và hoa Tulip nói riêng
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hoàn thiện quy trình kỹ thuật trồng
và chăm sóc hoa Tulip Bước đầu xác định được loại giá thể và loại phân bón lá ảnh hưởng tốt đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng hoa Tulip Việc lựa chọn được giá thể phân bón lá phù hợp sẽ làm tăng hiệu quả kinh tế cho người trồng hoa
Trang 12PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng giá thể và sử sử dụng phương pháp dinh dưỡng qua lá
Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [16] Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc Giá thể được để trong những khay chậu Khay chậu có thể là gỗ, đất nung, sành sứ,…tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình[17] Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất,
bã nấm ,
* Mùn xơ dừa: Là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao,
không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm Tuy
nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh
* Trấu hun: Rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu
Trang 13Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ở Liên Xô cũ đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật trồng cây con trong túi nilông trong nhà lưới có mái che đã đạt được kết quả cao Sau đó phương pháp này đã được phổ biến trong sản xuất nông nghiệp Phần cải tiến kỹ thuật vườn ươm, nó đã trở thành một nghề kinh doanh, một số nông dân sản xuất cây con với số lượng lớn để bán cho nông dân khác
Đất không phải là môi trường tốt cho cây con Cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất Sự khác nhau của môi trường nhân tạo được thể hiện như sau:
Theo Lawtence, Neverell (1950)[12], cho biết ở Anh sử dụng hỗn hợp đất + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây là 7:3:2
Bunt (1965)[10] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước +
1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ
Masstallerz (1977)[13] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả Cho thêm 5,5 – 7,7g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g Superfosfat cho một đơn vị thể tích
Nghiên cứu thành phần giá thể cho cây con cà chua ở Philippin, Duna (1997) [14] cho biết với một khay có kích thước 35x21x10 con có 72 lỗ (kích thước lỗ là 6x6cm) thì thành phần bầu có tỷ lệ đất, phân chuồng, trấu hun, là 1:1:1 (theo thể tích) và 10g NPK (15:15:15)
Đối với cây ớt nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt là 20-30oC.Số ngày trung bình sau khi gieo hạt cho tới khi cây mọc ở t0
đất khác nhau là khác nhau Sự nảy mầm của hạt có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, chất lượng hạt giống và hỗn hợp đất gieo trồng
Theo Kaplina (1976)[11] thì đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: Để gieo hạt cải bắp cải xanh nếu thành
Trang 14phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phân bò và trong 1 kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha
Nếu thành phần gía thể gồm than bùn 3 phần + mùn 1 phần + phân bò 1 phần
và lượng chất khoàng như trên thì năng suất sớm đạt 170tạ/ha Không chỉ đối với cải bắp cải xanh mà đối với dưa chuột cũng thế Nếu thành phần giá thể cây con gồm 4 phần mùn + 1 phần đất đồi và trong 1kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sơm đạt 238 tạ/ha.Nếu thành phần giá thể gồm 4 phần mùn + 1 phần đất trồng thì năng suất sớm đạt 189 tạ/ha
Berke (1997)[16] cho biết ở trung tâm nghiên cứu phát triển rau châu Á sử dụng khay có 70 lỗ để gieo cây con Môi trường trong các khay là rêu than bùn, đất
đã được chuẩn bị, hoặc hỗn hợp trong chậu được chuẩn bị từ: Đất + phân chuồng + trấu hun + chất khoáng và cát Sử dụnghỗn hợp 70% rêu than bùn và 30% chất khoáng thô Nên tự chuẩn bị hỗn hợp trong chậu sử dụng các thành phần không thô nếu có thể nên khử trùng bằng nồi hấp hoặc lò nóng ở nhiệt độ 120o
Theo Northen (1974)[15] cho rằng, việc cấy cây Phong lan con lấy ra từ ống nghiệm nên dùng 3 phần vỏ cây thông xay nhuyễn + 1 phần cát hoặc 8 phần Osmida xay nhuyễn + 1 phần than vụn Giá thể này cho tỷ lệ sống của cây lan con cao và cây sinh trưởng phát triển tốt Có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần của giá thể ảnh hưởng đến chất lượng cây trồng Tuỳ từng loại cây khác nhau mà giá thể có thành phần khác nhau.Tác giả Phạm Thị Kim Thu và Đặng Thị Vân (1997)[9] cho biết nền đất + phân hữu cơ + cát đen tỷ lệ là 1:1:1 có phủ một lớp cát đen 2 cm lên trên là tốt nhất khi đưa chuối nuôi cấy mô ra vườn ươm Đối với cây con được gieo từ hạt khả năng thích ứng với môi trường là cao hơn với cấy Invitro nhưng thời kỳ cây con ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển năng suất của cây sau
Trang 15này Vì vậy, việc xác định giá thể và hàm lượng chất khoáng cho cây con trong bầu cũng rất quan trọng.Tác giả Trần Khắc Thi (1980)[7] cho biết để trồng cây dựa trên diện tích dành cho cây vụ Đông, dùng bầu đất để gieo cây con với thành phần vật liệu gồm: 60% mùn trấu hoặc rơm đã mục + 20% bùn + 15% phân bắc mục và 5% cát (Tỷ lệ 3: 1: 0,75: 0,25) Có thể trộn thêm phân hoá học với số lượng 1m3hỗn hợp rắc 0,5kg đạm Sulfat và lân +1,5kg Kali Kết quả cho thấy gieo bầu đảm bảo mật độ cây (do tỷ lệ cây sống cao); chất lượng cây con tốt hơn, tranh thủ được thời gian gieo sớm hơn từ 10-20 ngày; mỗi ha tiết kiệm được 120 – 150 công giảm nhẹ công gieo và tưới nước
Khi bón qua lá, chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng qua hệ thống khí khổng ở bề mặt lá Theo số liệu đã được công bố, hiệu suất sử dụng chất dinh dưỡng qua lá đạt tới 95% Trong khi đó, bón qua đất, cây chỉ sử dụng được 45-50% chất dinh dưỡng Sở dĩ như vậy là vì tổng diện tích bề mặt các lá trên một cây rộng gấp 15-20 lần diện tích đất được che phủ bởi cành và lá, nghĩa là diện tích hấp thụ chất dinh dưỡng của lá rộng hơn rất nhiều so với diện tích đất trồng của một cây Qua khí khổng, các chất dinh dưỡng được dẫn đến các tế bào, mô cây để sử dụng Trong thành phần chất dinh dưỡng của phân bón lá ngoài các nguyên tố đa lượng như đạm, lân, kali còn có các nguyên tố trung lượng và vi lượng như Fe, Zn,
Cu, Mg,… các nguyên tố này tuy có hàm lượng ít nhưng lại giữ vai trò rất quan trọng vì trong môi trường đất thường thiếu hoặc không có Do đó, khi bổ sung các chất này trực tiếp qua lá sẽ giúp đáp ứng đủ nhu cầu và cân đối dinh dưỡng cho cây nên tạo điều kiện cho cây phát triển đầy đủ trong từng giai đoạn sinh trưởng Phân bón lá có tác dụng đặc biệt trong những trường hợp cần bổ sung khẩn cấp chất dinh dưỡng đạm, lân, kali hay các nguyên tố trung, vi lượng
Trong thành phần của phân bón lá còn tăng cường điều hòa sinh trưởng, tăng khả năng hấp thụ dưỡng chất kích thích đâm chồi, đẻ nhánh, ra hoa, đậu trái, giảm hiện tượng rụng trái non, trái to đẹp, phẩm chất ngon và tăng cường khả năng
đề kháng chống chịu sâu bệnh
Trang 162.1.2 Nguồn gốc hoa Tulip
Hoa Tulip xuất xứ là một loài hoa dại, mọc ở Trung Á, lần đầu tiên được trồng ở Thổ Nhĩ Kỳ vào khoảng năm 1000 sau công nguyên Các trung tâm phát sinh của loài hoa này nằm ở dãy Thiên Sơn và dãy Pamir gần Is lanabad ngày nay, vùng gần giữa Nga và Trung Quốc Chính từ khu vực này, loài hoa Tulip đã phát triển rộng sang khác về phía Tây và phía Tây Bắc, về phía Đông và sang tận Trung Quốc và Mông Cổ Vùng đất thứ hai của Tulip được hình thành là vùng Ai-dắc- bai- zan và Ac-mê- nia Từ những khu vực này, loài hoa Tulip lại tiếp tục phát triển mạnh sang những vùng lân cận, trong đó có vùng đất bao la của Châu Âu Sau đó loài hoa này được Carolus-Clusius một nhà sinh vật học nổi tiếng của Áo, được công nhận là người đã có công đem tulip du nhập vào Hà Lan những năm 1593 Ông làm được điều này nhờ vào sự giúp đỡ của một người bạn Flemish De Busbecq Trong thời gian làm sứ giả, Flemish De Busbecq đã từng bị lôi cuốn bởi một loài hoa đẹp được trồng trong các vườn hoa cung điện – Tulip (hay là hoa Uất Kim Cương) Chính ông đã gửi một ít củ giống hoa về cho Clusius để trồng chúng tại vườn hoa Leiden Những năm 1936 - 1937 Tulip bắt đầu nổi tiếng Nhiều loại Tulip đắt giá, một vườn hoa đắt ngang một căn nhà ở Amsterdam Tulip nổi tiếng bởi màu sắc tươi sáng Ngày nay, chúng ta vẫn tìm thấy loài hoa này mọc tự nhiên rất nhiều nơi trên các quốc gia Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý Tại Hà Lan hoa Tulip vẫn đang rất thịnh hành, là nguồn hàng xuất khẩu có giá trị của Hà Lan 75% hoa tulip trồng ở Hà Lan dành cho xuất khẩu
2.1.3 Phân loại
Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1978)[2], hoa Tuylip thuộc chi Tulipa,
họ hành (Alliaceae), bộ hành (Liliales), phân lớp hành (Liliidae), lớp một lá mầm (Monocotyledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermatophyta) Chi Tulipa có
khoảng 109 loài hoa tulip khác nhau Hầu hết các giống hoa tulip hiện nay có nguồn
gốc từ Tulipa gesneriana
Trang 17- Rễ: Được sinh ra từ gốc của củ, có nhiều nhánh, nằm ở dưới mặt đất có tác dụng giữ cho cây bám vào đất, hút nước và chất dinh dưỡng Rễ có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển của cây Rễ được trồng trong đất hoặc trong chất nền khác sẽ sinh ra rễ bên hút nước và dinh dưỡng cho cây Củ thương phẩm cần được bảo vệ tốt bộ rễ Bộ rễ tốt hay xấu quyết định bởi các khâu thu hoạch, đóng gói, bảo quản lạnh Rễ có thể mọc mới sau khi trồng
- Thân trục: Được tạo thành do mầm dinh dưỡng co ngắn lại, trục thân thẳng
có chiều cao từ 10 – 70 cm khi cây ra nụ thì số lá đã được cố định Chiều cao cây quyết định bởi số lá và chiều dài đốt, số lá phần lớn do đặc điểm di truyền của giống quyết định
- Lá: Hoa Tulip thông thường có từ 2-4 lá, lần lớn trên trục thân có lá, rất ít loại không có lá Có nhiều dạng khác nhau: Hình huyền, hình thuôn dài, tròn dài….lá không có cuống xếp thành vòng xoắn kích thước phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm sóc, lá giòn, rễ gẫy, màu xanh nhạt hoặc xanh đậm phụ thuộc vào giống Chiều rộng lá 5-8cm, chiều dài lá 20-25cm
- Hoa: Hoa có cuống thường có một hoa trên cây Hoa có nhiều màu sắc khác nhau như màu kem, màu xanh, cam viền, trắng, hồng, vằng, tím, tía nhạt, đỏ thẫm…nhiều hình dạng đẹp mắt: Hình chuông, tháp, lục lăng, hình kim, hình chén…hoa không có lá Bắc, có từ 6 -7 cánh chia làm hai hàng trong ngoài, có loại
có hương thơm nhẹ có loại không có 6 nhị màu đen hoặc màu vàng sáng nhạt ngắn hơn cánh, nhụy màu vàng nhạt có 3 thuỳ, mỗi thuỳ có 2 hàng hạt
Trang 18- Quả: Quả Tulip thuộc loại quả nang bên trong có 3 ngăn, mỗi ngăn có 2
hàng hạt Hạt dẹt xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu hoặc hình trụ
2.1.5 Yêu cầu ngoại cảnh
Theo Đặng Văn Đông và CS (2002)[4] yêu cầu điều kiện ngoại cảnh của chi Tulipa như sau:
- Nhiệt độ (t0C): Hoa Tulip chủ yếu được nhập từ vùng có vĩ độ cao (Hà Lan) nên có tính chịu rét tốt, chịu nóng kém, ưa khí hậu mát và ẩm, nhiệt độ thích hợp ban ngày là 16-200C, ban đêm là 10-150
C Dưới 100C và trên 300C thì cây sinh trưởng kém, hoa dễ bị mù, thời gian khoảng 2 tuần đầu nhiệt độ thấp (10 – 150C) có lợi cho sự ra rễ và phân hoá mầm hoa
- Ánh sáng: Hoa Tulip ưa cường độ ánh sáng từ trung bình đến yếu Chiếu sáng dài ngày ảnh hưởng đến thời gian phát dục của hoa Trong điều kiện Bắc Cạn nếu trồng vào thời vụ Thu Đông (thu hoạch vào dịp tết Nguyên Đán), không cần che ánh sáng chỉ cần che mưa, sương muối
- Độ ẩm: Đất quá ẩm hoặc quá khô đều ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước (tương đương độ ẩm đất 75-80%) nếu quá lớn sẽ gây thối củ và thối rễ, thời k ỳ ra hoa cây cần ít nước hơn (độ ẩm đất 65-70%) Độ ẩm đất trung bình 70-75%, độ ẩm không khí 80-85% là thích hợp với cây Tulip
- Đất: Đất trồng Tulip có thành phần cơ giới nhẹ, tơi xốp, nhiều mùn, độ
ẩm vừa phải, thoát nước nhanh nhưng giữ ẩm tốt, giàu chất hữu cơ có pH= 6,8 - 7,2 Đất sạch không có sâu bệnh, không bón lót
- Phân bón: Tulip từ khi trồng đến khi thu hoa rất ngắn ở giai doạn cây sinh trưởng không cần phải bón phân vì cây sử dụng chất dinh dưỡng ở củ Khi cây có
nụ tiến hành phun phân bón l á hoặc tưới phân với nồng độ loãng
2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và Việt Nam
2.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới
Với sự phát triển của các ngành công nghiệp, ngành sản xuất hoa, cây cảnh trên thế giới đang rất phát triển và trở thành một ngành có giá trị thương mại cao Sản
Trang 19xuất hoa cây cảnh đã mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế các nước Theo báo cáo năm 2005 của FAO, giá trị sản lượng hoa cây cảnh của toàn thế giới năm 1995 đạt 35
tỷ USD, đến năm 2005 tăng lên 56 tỷ USD (tốc độ tăng bình quân năm là 20%).Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng được mở rộng Ba nước sản xuất hoa hoa lớn nhất thế giới chiếm 50% sản lượng hoa thế giới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ
Bảng 1.1 Diện tích trồng hoa ở một số vùng trên thế giới năm 2012
(Nguồn: AIPA - Union Fleurs, International Statistics Flowers and Plants, 2012)
Theo số liệu thống kê của WTO, sản lượng hoa xuất khẩu chiếm hơn 13,362
tỷ USD năm 2006, trong đó hoa cắt cành là 6,12 tỷ USD chiếm 45,9% hoa chậu và hoa trồng thảm là 5,79 tỷ USD chiếm 43,3% loại chỉ dùng lá để trang trí là 893 triệu USD chiếm 6,7% và các loại hoa khác là 559 triệu USD chiếm 4,1% Trong các nước châu Âu, Hà Lan có thể xem là nước đứng đầu trên thế giới về sản xuất
và xuất khẩu hoa phục vụ cho thị tr ường tiêu thụ rộng lớn gồm 80 nước trên thế giới Trung bình một năm Hà Lan cung cấp cho thị trường 7 tỷ bó hoa tươi và 600 triệu chậu hoa cảnh các loại, với tổng kim ngạch xuất khẩu là 2 tỷ USD/năm Hà Lan cũng là nước dẫn đầu về áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến để tạo ra các giống hoa cây cảnh có giá trị kinh tế cao
Trang 20Bảng 1.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012
1 Hà lan 64,8 Lily, hồng, layơn, đồng tiền, phăng
2 Colombia 12,0 Cúc, hồng, layơn, đồng tiền
( Nguồn: Nguyễn Xuân Linh 2012)
Do cây hoa mang lại lợi nhuận khá cao nên một số nước rất chú trọng đầu
tư, đặc biệt là cho công tác nghiên cứu ứng dụng những thành tựu tiên tiến nhất của các ngành nghề khác có nhiều liên quan như: Công nghệ sinh học, tin học, tự động hoá, vật lý, hoá học, ngành công nghiệp làm nhà kính, nhà lưới, ngành công nghiệp sản xuất giá thể, phân bón, thuốc phòng trừ sâu bệnh…
Kết quả là mỗi năm trên thế giới tạo ra hàng trăm chủng loại hoa và giống hoa mới, đã xây dựng rất nhiều “nhà máy” sản xuất hoa với hàng tỷ bông hoa chất lượng cao cung cấp cho người tiêu dùng đồng thời đã thúc đẩy rất nhiều ngành nghề khác phát triển.Theo phân tích và dự báo của các chuyên gia kinh tế, ngành sản xuất kinh doanh hoa trên thế giới còn tiếp tục phát triển và vẫn có tốc độ phát triển cao (từ 12 – 15%) trong những năm tới
Trang 21Bảng 1.3 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới năm 2012
8 Các nước
( Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2012)
Phát triển hoa cây cảnh không chỉ đóng một vài trò quan trọng là mang lại lợi nhuận to lớn cho nền kinh tế của đất nước mà còn góp phần đáng kể trong việc cải tạo môi tr ường sống phục vụ cho nhu cầu thiết kế, xây dựng, trang trí công cộng và làm cho con ng ười trở nên gần gũi với thiên nhiên hơn
Hoa Tulip được phát hiện khoảng 400 năm, được ông Debusbecq người Đức phát hiện năm 1554 Đến năm 1593 khi nhà thực vật học Carolus Clusius (1526 – 1609), với những công trình nghiên cứu về các loại cây thuốc đến Hà Lan và trở thành nhà thực vật học đứng đầu vườn thực vật của trường ĐH Leiden Hoa Tulip
đã trở thành một trào lưu mới ở Hà Lan Nó đã đem lại lợi nhuận khổng lồ cho những giới thương mại khi họ nâng giá bán cao gấp nhiều lần.Ở Mỹ, thành phố Seattle, tiểu bang Washinhton hoa tulip nở từ tháng 4 đến nửa đầu tháng 5 với những cánh đồng hoa rực rỡ màu sắc Ngành trồng hoa tulip ở Mỹ chỉ mới phát triển hơn một thập niên qua nhưng hiện quy mô và chủng loại hoa ở nơi đây không
Trang 22thua kém gì Hà Lan Tại Canada nửa tháng đầu của tháng 5, tại thủ đô Ottawa diễn
ra lễ hội hoa Tulip Lễ hội này thu hút cả triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới và mang lại cho nền kinh tế Ottawa khoảng 50 triệu USD
Hoa tulip là biểu tượng của Hà Lan và từ đó cho đến bây giờ nó là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của Hà Lan và cũng là nước xuất khẩu hoa tulip lớn nhất thế giới tới 125 quốc gia trên thế giới
2.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loài hoa và cây cảnh phát triển Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200ha diện tích trồng hoa cây cảnh (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007)[1] Sản xuất hoa cho thu nhập cao, bình quân đạt 70 – 130 triệu đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang
mở rộng diện tích trồng hoa trên những vùng đất có tiềm năng
Bảng 1.4 Diện tích và giá trị sản lƣợng hoa cây cảnh ở Việt Nam năm 2012
Diện tích (ha) Giá trị sản lƣợng (Tr.đ)
Trang 23Mặc dù diện tích trồng hoa cây cảnh nước ta tăng, nhưng việc sử dụng hoa cắt
ở nước ta chưa nhiều, bình quân 1USD/người/năm So với các nước khác trên thế giới như: Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan…( bình quân 1 người 16,6USD/năm) thì nước ta
sử dụng hoa cắt cành còn ít Tiêu thụ hoa trong nước đa dạng về chủng loại, nhưng chất lượng hoa thấp, giá rẻ, hiệu quả kinh tế khồn cao; hoa tiêu thụ tập chung vào những ngày lễ, tết, các ngày kỉ niệm Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩu một số loại hoa cắt cành như: hồng, phong lan, cúc, đồng tiền…sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…nhưng số lượng hoa chưa nhiều bình quân 10 triệu USD/năm Sở dĩ sản phẩm hoa cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng được thị hiếu của khách hàng quốc tế Nghề sản xuất hoa cây cảnh ở Việt Nam có từ lâu đời nhưng nó chỉ được coi là một ngành kinh tế và có giá trị hàng hoá từ những năm 1980 Cũng như một số ngành trên thế giới, ngành kinh tế này có tốc độ phát triển khá nhanh
Bảng 1.5 Tốc độ phát triển của ngành sản xuất hoa cây cảnh
(Nguồn: Thống kê và điều tra của Viện Nghiên cứu rau quả năm 2010)
So với năm 1997, diện tích hoa năm 2009 đã tăng 2,76 lần, giá trị sản lượng tăng 4,5 lần và mức tăng giá trị thu nhập/ha là 39,7tr.đ/ha/năm Tốc độ tăng trưởng này là rất cao so với các ngành nông nghiệp khác Sự tăng trưởng của ngành sản xuất hoa cây cảnh luôn ổn định và theo cấp số cộng trong suốt 12 năm qua
Trang 24Theo phân tích và đánh giá của các chuyên gia Viện nghiên cứu Rau quả,
có được kết quả trên là nhờ sự đóng góp của nhân tố xã hội (do thu nhập ngày càng cao, đời sống người dân ngày càng được cải thiện), chiế m 40%; sự đầu tư của Nhà nước về cơ sở hạ tầng và cơ chế chính sách chiếm 15%; sự nỗ lực của người dân 25% và kết quả đóng góp của khoa học 20%.Trước năm 1995, Việt Nam chủ yếu sử dụng những loại hoa truyền thống, thông dụng như: Quất, đào, mai, hồng, cúc, lay ơn, thược dược Trong những năm gần đây một số giống hoa cây cảnh mới, cao cấp đã dần dần được trú trọng và đang có xu hướng tăng dần về sản lượng
Trang 25Việt Nam là nước nông nghiệp, diện tích trồng trọt trên 7 triệu ha, 80% dân
số làm nông nghiệp, nhân dân ta cần cù chịu khó, có kinh nghiệm sản xuất hoa lâu đời Nước ta có nhiều vùng thuận lợi cho nghề trồng hoa phát triển như: Hải Phòng, Sapa, Đà Lạt, Hà Nội (Ngọc Hà, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân), Mộc Châu - Sơn La.Sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững góp phần thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đưa một phần diện tích trồng lúa, rau sang rồng hoa nâng cao thu nhập cho cuộc sồng người dân như việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang sản xuất cây cảnh lâu năm: Chi phí cho 1 ha là 28.000.000 đồng, lợi nhuận thu được là: 90.000.000 đồng/ha/năm so với trồng 2 lúa + 1 màu chi phí là 11,4 triệu/ha/năm lợi nhuận đạt 7,6 triệu đồng /ha Trong thời gian 3-3,5 tháng, chi phí đầu tư trên 1 sào bắc bộ trồng hoa Lily theo phương thức nhà lưới đơn giản chi phí 88.700.000 đồng cho thu nhập 133.770.000 đồng từ hoa và phần củ có thể là vật liệu giống nếu bảo quản và xử lý lạnh
Hiện nay, do nhu cầu thị trường đòi hỏi về hoa cây cảnh với sản lượng lớn, phong phú về chủng loại và chất lượng cao trong khi hàng năm chúng ta vẫn phải nhập khẩu hoa từ nước ngoài Nắm được cơ hội này, một số doanh nghiệp lớn đang có kế hoạch đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh hoa như Công ty Rừng hoa Đà Lạt, Công ty Langbian, Công ty Hương sắc, Công ty Mặt Trời (Đà Lạt), Công ty cổ phần Hoa Nhiệt đới (Mộc Châu – Sơn La)… Đây là những doanh nghiệp có tiềm lực kinh tế khá lớn, mạnh dạn đầu tư và đã đạt được kết quả nhất định trong sản xuất kinh doanh hoa cung cấp trong thời gian qua
Dự báo nhu cầu thị trường và khả năng phát triển của ngành hoa cây cảnh trong tương lai Theo kết quả điều tra của Viện Nghiên cứu Rau Quả Trung ương cho thấy nhu cầu tiêu dùng hoa cây cảnh của Việt Nam giai đoạn 2000 - 2005 là 25.000 đồng/người/năm, Hà Lan là 350.000 đồng/người/năm, Pháp 230.000 đồng/người/năm, Hàn Quốc 260.000 đồng/người/năm, Trung Quốc 80.000 đồng/người/năm Theo dự báo với tốc độ tăng trưởng như giai đoạn trước thì đến năm 2015 nhu cầu tiêu dùng hoa của Việt Nam sẽ tăng lên đến 35.000 đồng/người/năm và 2020 là 45.000 đồng/người/năm Nếu giá trị sản lượng 1 ha hoa
Trang 26năm 2015 đạt trung bình 180 triệu đồng/ha (tính quy giá trị tiền năm 2010) thì cần phải phát triển khoảng 20.000 ha hoa và cây cảnh (tăng xấp xỉ 1,3 lần so với nă m 2009) Đó là chúng ta chưa kể đến nếu xuất khẩu được thì diện tích trên càng tăng nhiều hơn.Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO thì ngoài việc tăng diện tích, sẽ
có rất nhiều doanh nghiệp (trong và ngoài nước), các trang trại đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh hoa cây cảnh, đồng thời những giống hoa truyền thống có phẩm chất kém, nhanh tàn sẽ được thay thế bằng các giống hoa cây cảnh mới có chất lượng cao như lily, lan, hoa hồng, layơn Đến năm 2015 sẽ chỉ còn những hộ gia đình sản xuất hoa cây cảnh nhỏ lẻ chủ yếu cây cảnh trang trí, cây bonsai, dễ làm còn các loại hoa cao cấp sẽ chuyển dần cho các công ty, các chủ trang trại có đầy
đủ cơ sở vật chất, công nghệ và thị trường đảm nhận
* Định hướng phát triển: Tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, dự kiến năm
2015 sẽ phát triển 20.000 ha hoa cây cảnh các loại tăng 133% so với năm 2009, giá trị sản lượng đạt 1.900 tỷ đồng/năm (trong đó xuất khẩu 640 tỷ đồng tương đương
40 triệu USD) thu nhập trung bình đạt 180 triệu đồng/ha/năm Đầu tư xây dựng một số vùng sản xuất chuyên canh ở những nơi có điều kiện như Đà Lạt (Lâm Đồng), Mộc Châu, Ngọc Chiến (Sơn La), Đồng bằng Sông Hồng, các tỉnh miền núi Phía Bắc, các tỉnh ven Thành phố Hồ Chí Minh, một số tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long Hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư sản xuất hoa theo hướng công nghệ tiên tiến nhằm tạo ra các loại sản phẩm hoa có chất lượng cao tương đương với Số hóa bởi hoa ngoại nhập, đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm hoa cùng loại của các nước trong khu vực
* Tồn tại: Diện tích trồng hoa của nước ta còn nhỏ lẻ, chỉ bằng 0,04% diện tích trồng trọt tập trung chủ yếu ở Hà Nội 1.000ha và Thành Phố Hồ Chí Minh với
800 ha, Đà Lạt 200 ha Diện tích trồng hoa tại khu vực thành phố và đô thị có xu hướng giảm nhưng sản lượng tăng thể hiện sự đóng góp của khoa học công nghệ áp dụng trong sản xuất hoa cây cảnh.Trong những năm gần đây sản xuất hoa của nước
ta tăng nhanh nhưng chủ yếu trồng ngoài tự nhiên, người nông dân trồng hoa cây cảnh phải chịu nhiều rủi ro có thể thất thu do ảnh hưởng của thời tiết như tại làng
Trang 27hoa Hiệp Bình Chánh - Thành phố Hồ Chí Minh hàng nghìn cây mai vàng bị hư hại
vì ngập lũ
Ở nước ta hoa Tulip tuy đã được trồng ở một số nơi, loài hoa này vẫn chưa thực sự phổ biến vì nhiều hạn chế của điều kiện tự nhiên và kỹ thuật Hoa Tulip xuất hiện ở nước ta từ mùa xuân năm 1996 do công ty hoa Đà Lạt Hasfarm cung cấp Càng ngày hoa Tulip càng có sự đa dạng về chủng loại và dần dần được biết đến Ở Việt Nam hiện nay có 2 nơi sản xuất hoa Tulip lớn nhất là Đà Lạt Hassfarm
ở Đà lạt - Lâm Đồng và công ty hoa Nhiệt Đới ở Mộc Châu – Sơn La Năm
2004, hoa Tulip bắt đầu được trồng ở Mộc Châu – Sơn La với 15 giống có đủ màu sắc (duy nhất ở Việt Nam) Mùa xuân năm 2007, công ty này cung cấp cho thị trường miền Bắc gần 300.000 cành hoa tulip với giá dao động từ 15000- 30000 đ/ cành Còn lại là trồng mục đích phi thương mại với số lượng không đáng kể
2.3 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới và Việt Nam
2.3.1 Tình hình nghiên cứu hoa tulip trên thế giới
Từ khi hoa Tulip xuất hiện và trở thành cây trồng thương mại đã có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về loại hoa đẹp này Trước tiên phải kể đến sự phân loại thực vật học của chi bởi Hall (1940) dựa trên đặc điểm hình thái học và tế bào học Sau
đó, Botschantzeva (1982) đã xuất bản một luận án toàn diện về hoa Tulip Gần đây một sự sửa đổi của chi tulip dựa trên các đặc điểm về hình thái học và di truyền học
tế bào, vượt qua dữ liệu đó, dữ liệu về phân bố địa lý Theo những phân tích của họ thì chi Tulip bao gồm 55 loài phân bố trong 2 phái nhỏ là Tulip gesneriana, loài mà được liên hệ ở các vườn hoa tulip, là loài được trồng trọt nhiều nhất
Ngoài ra sản xuất hạt phấn hoa 2n cũng đã được báo cáo ở Nhật Bản Các chương trình mở rộng cũng được phát triển để điều tra tính khả thi của lai tạo và chọn giống với những đặc điểm quan trọng cho những người trồng và sản xuất củ giống hoa Đặc biệt những nỗ lực được đặt vào tính kháng bệnh, chủ yếu là nấm và các virus phá vỡ tulip (TBV) Nghiên cứu cũng đề cập đến các khía cạnh khác, bao gồm cả việc truyền tải các đặc điểm, sự phát triển của các xét nghiệm sàng lọc cho việc lựa chọn kiểu gen kháng và đánh giá đặc điểm của các giống thương mại
Trang 28Các chương trình nghiên cứu về sử dụng kĩ thuật giao nhau giữa các loài khác nhau trong lai giống để cho ra các đặc tính kháng bệnh, các đặc điểm về thẩm
mỹ và đặc điểm sinh lý mới trong nguồn giống hoa Tulip đã được phát triển ở Hà Lan Họ chỉ ra khả năng sử dụng các thể giao nhau khác loài là bị hạn chế (Van Eijk và các cộng sự, 1991; Van Raamsdonk và các cộng sự, 1995) Hoặc ức chế hạt phấn không nảy mầm hoặc hạt phấn có nảy mầm nhưng sự phát triển của ống phấn kém là những biểu hiện thường được quan sát thấy (Kho và Baer, 1971) Để khắc phục vấn đề này, đã có nhiều kĩ thuật khác nhau, bao gồm kĩ thuật nuôi cấy trong ống nghiệm invitro như thụ phấn trong ống nghiệm, nuôi cấy noãn, nuôi cấy lát mỏng của bầu nhuỵ (Van Creij và các cộng sự, 1992,1999; Okazaki 2005) nuôi cấy phôi và cứu phôi ( Custers và các cộng sự, 1992, 1995; Okazaki, 2005) và phương pháp điều trị nội tiết tố (Van Creij và các cộng sự, 1997) đã được điều tra nghiên cứu[5] Mặc dù một vài kết quả tích cực đã đạt được nhưng chúng lại có kiểu gen phụ thuộc Sau đó những nghiên cứu nuôi cấy đoạn thân trong ống nghiệm kết hợp với nuôi cấy chồi ngẫu nhiên xảy ra sau ở Hà Lan, và tỉ lệ nhân giống lên đến 6000
củ giống sau 2 năm là có thể được thu (De Klerk và các cộng sự , 2005) Hiện nay, không kĩ thuật nào trong số các kĩ thuật này được sử dụng thường xuyên trong các
Chương trình nhân giống hoa Tulip Nuôi cấy phôi và đặc biệt là nuôi cấy phôi chưa trưởng thành được quan tâm cho việc lai giống giữa các loài khác nhau (Custer và các cộng sự, 1992, 1995; Okazaki, 2005) Khả năng tái sinh của hoa tulip trong ống nghiệm là cần thiết cho các nhà lai giống để có được lợi thế của tất cả các
kĩ thuật có thể sử dụng được trong chuyên đề cây trồng nông nghiệp Ví dụ sản xuất thực vật đơn bội chưa được hoàn thiện mặc dù một số kết quả tích cực đã được công bố Do bộ gen của hoa tulip có kích kích thước lớn nên việc sử dụng phân tử đánh dấu là bị hạn chế (Krens cùng cộng sự, 2004) Tuy nhiên việc sử dụng kĩ thuật isoenzym còn cho phép nhận biết các giống hoa tulip ( Booy và các cộng sự, 1993)
2.32 Tình hình nghiên cứu hoa tulip ở Việt Nam
Theo Lê Thị Phượng (Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2011)[9], “Nghiên cứu đánh giá giống và biện pháp kỹ thuật trồng hoa tulip tại Mộc Châu – Sơn La”;
Trang 29Hoàng Mạnh Toàn (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, 2013), “Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển một số giống và biện pháp kỹ thuật sản xuất hoa tulip tại Thái Nguyên” cho thấy khả năng sinh trưởng phát triển, chất lượng hoa của một
số giống hoa tulip và xây dựng biện pháp kỹ thuật phù hợp trồng hoa tulip Nghiên cứu tập chung ở một số hướng: Khảo nghiệm để chọn được những giống phù hợp với điều kiện sinh thái từng vùng
Trang 30PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Giống hoa Tulip Leen Van Dermak
Vật liệu nghiên cứu
Giá thể: Trấu hun, sơ dừa
Phân Agriconik: Thành phần: N: 0,1%, P2O5: 0,2%, K2O4: 0,004%, Mg: 5%, Zn: 0,2%, Cu: 0,04%, Fe: 5%, Mn: 0,2%, B: 0,02%
Phân Arrow: Thành phần: N: 33%, P2O5: 11%, K2O4: 11%, Zn: 0,7%, Cu: 0,007%, Fe: 0,33%, Mn: 0,05%, B: 0,02%, Mo: 0,0005%
Phân Rong biển: Thành phần: N: 1,5%, P2O5: 3%, K2O4: 20%, S: 1,5%, Mg: 0,45%, B: 125 ppm, Fe: 200 ppm, Mn: 10 ppm, Cu: 30 ppm, Zn: 65 ppm, Alanin: 0,32%, Agrinin: 0,4%, Cystin: 0,01%, Serin: 0,08%, Glyxin: 0,29%, Histidin: 0,08%, Valin: 0,28%, Iso leucin: 0,28%, Leucin: 0,41%, Lycin: 0,16%, Prolin: 0,28%, Methyonin: 0,11%, Phenylalanin: 0,25%, Tyrocin: 0,17%, Tryptophan: 0,07%, Glutamic acid: 0,93%, Aspartic acid: 0,62%, Maniton: 0,11%, Laminarin: 0,08%, Xytokinin: 600 ppm, Auxin: 37 ppm, Gibberelin: 21 ppm
Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi đề tài: Nghiên cứu sinh trưởng, phát triển năng suất và chất lượng hoa Tulip trồng trên các loại giá thể khác nhau và sau khi sử dụng các loại phân bón lá khác nhau
- Địa điểm nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí tại huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian thực hiện: từ tháng 12/2014 đến tháng 04/2015
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sinh trưởng phát triển, năng
suất và chất lượng hoa Tulip để lựa chọn loại phân phù hợp nhất
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng hoa Tulip để lựa chọn loại phân bón lá phù hợp nhất
Trang 313.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
3.3.2 Công thức và sơ đồ bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại giá thể đến sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng hoa Tulip
- Khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- Các yếu tố phi thí nghiệm như: phân bón, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được tiến hành đồng đều ở các công thức
- Mỗi ô thí nghiệm 15 củ, mỗi chậu 5 củ Tổng số 180 củ
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng
phát triển, năng suất và chất lượng hoa Tulip
Các công thức thí nghiệm
- CT1: Phun nước lã (đối chứng)
- CT2: Phun Agriconik
- CT3: Phun Arrow
Trang 32- CT4: Phun Rong biển
Sơ đồ thí nghiệm:
- Khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
- Các yếu tố phi thí nghiệm như: phân bón, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh được tiến hành đồng đều ở các công thức
- Mỗi ô thí nghiệm 15 củ, mỗi chậu 5 củ Tổng số 180 củ
- Liều lượng phun: + Agriconik: 10ml pha với 8 lít nước
+ Arrow: 10g pha với 8 lít nước
+ Rong biển: 10g pha với 16 lít nước
3.3.3 Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi
*) Khả năng sinh trưởng, phát triển
Số củ mọc + Tỷ lệ mọc (%) = x 100%
Tổng số củ trồng + Động thái tăng trưởng chiều cao cây: (5 ngày theo dõi 1 lần, đo từ gốc đến ngọn) (cm)
+ Chiều cao cây cuối cùng: (đo ở thời điểm chuẩn bị thu hoạch, đo từ gốc đến hết chiều cao hoa) (cm)
Trang 33+ Động thái ra lá: Tổng số lá/ cây ( cứ 5 ngày theo dõi 1 lần, đếm toàn bộ số
lá trên cây Đánh dấu lá trên cùng sau mỗi lần đếm, số lá của mỗi kỳ theo dõi bằng
số lá đếm trước + số lá mới ra thêm)
+ Thời gian sinh trưởng: Từ sau khi trồng đến lúc mầm hoa xuất hiện (ngày) + Thời gian xuất hiện nụ hoa: Từ khi xuất hiện mầm hoa đến khi xuất hiện
+ Chiều dài cuống hoa
+ Đường kính hoa: (Đo khi hoa nở hoàn toàn, đo khoảng cách giữa 2 đầu cánh) + Độ bền hoa trồng chậu: (ngày)
+ Tỉ lệ hoa hữu hiệu
*) Các chỉ tiêu về sâu hại: Đối với sâu hại tiến hành điều tra mật độ con/ m2
diện tích trồng cây Mức độ phổ biến: + Rất ít phổ biến
++ Ít phổ biến
+++ Phổ biến
++++ Rất phổ biến
*) Hiệu quả kinh tế:
Lợi nhuận thu được ( đồng) = Tổng thu nhập – Tổng chi phí
3.3.4 Phương pháp xử lí số liệu
Số liệu thu được, được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học và chương trình IRRISTAT 5.0 trên máy tính
Phân tích phương sai và sai số thí nghiệm (CV%)
Kiểm tra sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa 5% (LSD)
Trang 34PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip
4.1.1 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến tỉ lệ nảy mầm của hoa Tulip
Tỉ lệ nảy mầm biểu thị khả năng sinh trưởng giai đoạn đầu của hoa Tulip Đây
là nền tảng để cây sinh trưởng và phát triển sau này Sự nảy mầm của củ giống hoa Tulip phụ thuộc vào nhiều yếu tố: xử lý lạnh, nhiệt độ, độ ẩm, không khí, trạng thái
củ và thành phần giá thể Để đánh giá ảnh hưởng của giá thể đến tỉ lệ nảy mầm và chiều cao mầm chúng tôi tiến hành thí nghiệm trồng Tulip với 4 loại giá thể khác nhau trong cùng một điều kiện: củ giống không bị nấm bệnh, không hư hỏng, nhiệt
độ 12 oC, độ ẩm cao, ánh sáng yếu, không khí đầy đủ và lưu thông tốt Kết quả thu
Trang 35tỉ lệ nảy mầm thấp nhất, sau 2 ngày trồng có 11,1% số củ nảy mầm, sau 4 này có 86,6% số củ nảy mầm
Qua theo dõi quá trình nảy mầm ta thấy trong điều kiện nhiệt độ kho lạnh (12oC) hoa Tulip phát triển khá nhanh, thời gian nảy mầm nhanh (sau 5 ngày trồng
cả bốn công thức đều đạt tỉ lệ 100% số củ nảy mầm) Tỉ lệ củ này mầm trên các thí nghiệm là tương đương nhau
4.1.2 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển
của hoa Tulip
Quá trình sinh trưởng và phát triển là khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh Các giai đoạn này phụ thuộc chủ yếu vào đặc tính di truyền của giống Bên cảnh đó còn chịu ảnh hưởng của một số điều kiện ngoại cảnh Trong quá trình nghiên cứu và theo dõi ảnh hưởng của giá thể đến các thời kì sinh trưởng và phát triển của hoa Tulip chúng tôi thu được kết quả được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của giá thể đến các thời kỳ sinh trưởng và phát triển của
Thời gian từ ngày trồng đến ngày
Trang 36Qua các số liệu ở bảng 4.2 cho thấy:
Thời gian ra nụ: Thời gian từ khi trồng đến khi 10% số cây ra nụ của hoa
Tulip trên các giá loại giá thể khác nhau biến động từ 25-27 ngày Công thức 4 xuất hiện nụ sớm nhất (25 ngày sau trồng), công thức 1 xuất hiện nụ muộn nhất ( 27 ngày sau trồng) Thời gian từ khi trồng đến khi 50% số cây ra nụ biến động từ 27-
30 ngày Thời gian từ khi trồng đến 80% số cây ra nụ biến động từ 30-32 ngày Qua theo dõi thời gian ra nụ giữa các công thức ta thấy thời gian ra nụ tương đối đồng đều Theo dõi thời gian ra nụ của hoa Tulip để nhận biết thời điểm cây chuyển từ giai đoạn sinh trưởng và phát triển sang phát dục Từ đó cần có các biện pháp bón thúc, chăm sóc để cung cấp dinh dưỡng nuôi hoa nâng cao chất lượng hoa, cho nụ
to, hoa có màu sắc đẹp
Thời gian nụ chuyển màu: Thời gian từ khi trồng đến khi chuyển màu có sự
sai khác khá lớn giữa các công thức Thời gian từ khi trồng đến khi nụ hoa chuyển màu 80% , công thức 2 và công thức 4 đều có nụ hoa chuyển màu sau 36 ngày trồng, tiếp theo là công thức 3 có nụ hoa chuyển màu sau 37 ngày trồng, công thức
1 có thời gian nụ hoa chuyển màu chậm nhất sau 38 ngày trồng Theo dõi thời gian chuyển màu của nụ hoa có ý nghĩa rất lớn, người sản xuất hoa căn cứ vào đó để tính toán thời điểm cắt hoa cho phù hợp, đúng thời điểm
Thời gian hoa nở hoàn toàn: Thời gian từ khi trồng đến khi hoa nở hoàn toàn
giữa các công thức biến động không nhiều Giai đoạn này yếu tố quyết định điến thời gian hoa nở là điều kiện nhiệt độ Trong cùng điều kiện chăm sóc và điều kiện ngoại ngoại cảnh, thời gian hoa nở hoàn toàn từ 10% đến khi đạt 80% của các công thức giá thể diễn ra nhanh trong khoảng 1-2 ngày cho thấy khả năng phát triển nhanh và mạnh Thời gian từ khi trồng đến thời điểm 80% hoa nở hoàn toàn giữa các công thức có sự khác nhau: sớm nhất là công thức 4 sau 39 ngày trồng, công thức 2 và công thức 3 là sau 40 ngày, muộn nhất là công thức 1 (đối chứng) là sau
41 ngày
Trang 37Như vậy khi trồng trên giá thể ở công thức 4 (: 40% xơ dừa+ 40% trấu hun+ 20% đất) thời gian sinh trưởng của hoa Tulip ngắn hơn 1-2 ngày so với các công thức còn lại
4.1.3 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa Tulip
Động thái tăng trưởng chiều cao biểu thị khả năng sinh trưởng và phát triển
của cây trồng Khả năng tăng trưởng chiều cao của cây phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện ngoại cảnh, sâu bệnh hại, biện pháp kỹ thuật, giá thể….Chiều cao cây có ý nghĩa rất lớn quyết định đến giá trị của cành hoa, đây là yếu tố được người sản xuất hoa rất quan tâm Tùy thuộc vào mục đích sản xuất hoa cắt cành hay hoa chậu mà
có những biện pháp tác động làm tăng hay giảm chiều cao cây để tăng giá trị thẩm
mỹ cũng như giá trị kinh tế Trong quá trình nghiên cứu và theo dõi chúng tôi đã có những đánh giá về sự ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao của hoa Tulip
Đối với các loại giá thể trồng khác nhau thì động thái tăng trưởng chiều cao
khác nhau Để thấy rõ sự khác nhau về động thái tăng trưởng chiều cao giữa các
công thức thí nghiệm, chúng tôi trình bày kết quả ở bảng 4.3
Trang 38Bảng 4.3 Ảnh hưởng của giá thể đến động thái tăng trưởng chiều cao
của hoa Tulip
Chiều cao cuối cùng
Hình 4.1 Biểu đồ ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái tăng trưởng
chiều cao của hoa Tulip
Trang 39Qua bảng 4.3 và biểu đồ ta thấy: Động thái tăng trưởng chiều cao của hoa
Tulip ở các công thức thí nghiệm là không đồng nhất qua các giai đoạn phát triển của cây Hoa Tulip ở các công thức thí nghiệm sau giai đoạn xử lý lạnh được đưa ra
môi trường bên ngoài có sự tăng trưởng liên tục và tương đối đồng đều
Sau 15 ngày trồng, công thức 4 có động thái tăng trưởng chiều cao cây lớn nhất, chiều cao cây trung bình là 11,46 cm tiếp theo công thức 2 có chiều cao cây trung bình là 10,6 cm, công thức 3 có chiều cao cây trung bình là 9,5 cm Công thức 1 có động thái tăng trưởng chiều cao cây thấp nhất, chiều cao cây trung bình là 7,28 cm Mức độ tin cậy 95%
Sau 20, 25, 30 ngày trồng cây phát triển mạnh, động thái tăng trưởng chiều cao cây giữa các công thức có sự sai khác rõ rệt Công thức 4 có chiều cao cây trung bình lớn nhất là 18,2 cm sau 20 ngày trồng và 43,8 cm sau 30 ngày trồng tăng 25,6
cm Tiếp theo là công thức 2 có chiều cao cây trung bình là 16,23 cm sau 20 ngày trồng và 42,2 cm, tăng 25,97 cm Công thức 3 có chiều cao trung bình là 14,33 cm sau 20 ngày trồng và 37,1 cm sau 30 ngày trồng, tăng 22,77 cm Công thức 1 có chiều cao cây trung bình thấp nhất là 11,37 cm sau 20 ngày trồng và 35,94 sau 30 ngày trồng tăng 24,57 cm
Sau 35 ngày trồng hoa Tulip vẫn phát triển mạnh Động thái tăng trưởng chiều cao cây giữa các công thức thí nghiệm có những sai khác rõ rệt Công thức 4
có động thái tăng trưởng chiều cao mạnh nhất chiều cao cây trung bình là 53,4 cm Tiếp theo là công thức 2 có chiều cao cây trung bình là 46,9 cm Công thức 3 có chiều cao trung bình 44,1 cm Công thức 1 có chiều cao cây trung bình thấp nhất là 41,3 cm
Hoa Tulip tiếp tục tăng trưởng chiều cao cây nhưng tốc độ giảm dần và đạt chiều cao cây cuối cùng Công thức 4 có chiều cao cây cuối cùng trung bình lớn nhất là 59,2 cm Tiếp theo là công thức 2 có chiều cao cây cuối cùng trung bình là 56,36 cm Công thức 3 có chiều cao cây cuối cùng trung bình là 54,16 cm Công thức 1 có chiều cao cây cuối cùng trung bình thấp nhất là 47,56 cm
Trang 40Như vậy hoa Tulip trồng với giá thể của công thức 4 (40% xơ dừa+ 40% trấu hun+ 20% đất) có động động thái tăng trưởng chiều cao mạnh hơn và có chiều cao cây cuối cùng lớn hơn so với đối chứng và các công thức còn lại ở mức độ tin cậy 95%
4.1.4 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái ra lá của hoa Tulip
Lá giúp cây quang hợp, tổng hợp dinh dưỡng cho mọi nhu cầu sống của cây
Vì vậy thời gian ra lá, tốc độ ra lá, số lá trên cây đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây lá trên cây đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của cây Số lá trên cây quyết định lượng dinh dưỡng
mà cây trồng được cung cấp Qua theo dõi động thái ra lá ở các công thức thí nghiệm từ khi trồng đến khi bộ lá ổn định chúng tôi thu được những kết quả sau
Bảng 4.4 Ảnh hưởng của các loại giá thể đến động thái ra lá của hoa Tulip