Tổ chức giá thành và phân tích giá tại công ty hàng tiêu dùng
Trang 1LỜI NÓI ĐẦUNgày nay, nền kinh tế nước ta đang có những biến chuyển mạnh mẽ trong cơ chếthị trường Đó là sự cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế và trong cùngthành phần kinh tế Đó là sự đầu tư mở rộng phát triển những ngành nghề mới Tómlại để có thể bắt kịp những biến đổi của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tếtrong nước nói riêng, các doanh nghiệp phải luôn nhạy bén kịp thời đổi mới cơ chế quản
lý sản xuất kinh doanh theo hướng thích nghi và tự thích nghi để tồn tại và phát triển
Để đạt được điều đó công tác hạch toán kế toán ngày càng tỏ rõ vai trò quan trọng
và hiệu quả trong quản lý kinh tế Đặc biệt khi các doanh nghiệp kinh doanh độc lập,
tự chịu trách nhiệm về kết quả mọi hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như việchưởng và phân phối lợi nhuận đạt được, họ cũng ngày càng quan tâm hơn đến giáthành sản phẩm, nguồn gốc của giá thành Trên cơ sở đó doanh nghiệp tiến hànhphân tích đánh giá giá thành tìm ra những nguyên nhân cơ bản làm tăng hoặc giảmgiá thành Từ đây các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ có sở sở vững chắc đề ra các giảipháp kịp thời, hiệu quả cho công tác quản trị
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nước, sản xuất kinh doanh quy
mô lớn sảm phẩm đa dạng về chủng loại, sản lượng sản xuất hàng năm lớn và sảnphẩm được sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu Do đó việc tính giá thành cũng nhưphân tích giá thành sản phẩm muốn có một kết quả như mong muốn là cả một vấn đềlớn.Vì vậy trong thời gian thực tập tại công ty tôi đã chọn nghiên cứu đề tài "Tổchức kế toán giá thành và phân tích giá thành" Nội dung nghiên cứu đề tài này baogồm:
- Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về kế toán giá thành và phân tích giá thành
- Phần 2: Tình hình thực tế công tác kế toán giá thành tại công ty
- Phần 3: Một số ý kiến, đóng góp nhằm hoàn thiện hơn nữa việc tổ chức thực
Trang 2Mặc dù tôi đã có cố gắng nhiều và luôn nhận được sự nhiệt tình giúp đỡ của các
cô chú, các anh chị ở phòng Kế toán và nhiều phòng ban khác ở Công ty, sự giúp đỡcủa thầy giáo song do những hạn chế nhất định về kiến thức và thực tếcũng như thời gian, chuyên đề tốt nghiệp này sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.Tôi rất mong nhận được các ý kiến đóng góp xây dựng cho chuyên đề này
Tôi xin chân thành cảm ơn
Trang 3PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG
1.1 KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT - CƠ SỞ CỦA KẾ TOÁN GIÁ THÀNH
1.1.1 Khái niệm chi phí sản xuất.
Chí phí sản xuất là toàn bộ hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chiphí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình sản xuất, biểu hiệnbằng tiền và tính cho một thời kỳ nhấ định
Nội dung chi phí sản xuất:
Yếu tố lao động sống gồm: tiền lương, tiền công
Yếu tố lao động vật hoá: Khấu hao TSCĐ, chi phí về nguyên liệu, nhiên liệu, vậtliệu
Một phần giá trị mới sáng tạo ra : BHYT, BHXH, KPCĐ, các loại thuế khôngđược hoàn trả như thuế VAT không được khấu trừ, thuế tài nguyên, lãi vay ngânhàng
1.1.2 Kế toán tập hợp chi phí sản xuất( theo phương pháp KKTX).
1.1.2.1 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi chi phí sản xuất được giới hạn nhấtđịnh và cần được tổ chức tập hợp Theo đó, giới hạn có thể là toàn bộ quy trìnhcông nghệ, phân xưởng, tổ đội, từng loại sản phẩm hoặc từng sản phẩm cụ thể.1.1.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí
1.1.2.2.1 Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa thànhphẩm mua ngoài, vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất, chếtạo sản phẩm, hoặc thực hiện các lao vụ, dịch vụ của doanh nghiệp trong các ngànhcông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông
Có thể khái quát nội dung kế toán chi phí NVL trực tiếp qua sơ đồ sau:
Trang 4Sơ đồ 1.1: Kế toán chi phí NVL trực tiếp.
1.1.2.2.2 Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân trực tiếpsản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ gồm tiền: tiềnlương chính, lương phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích BHYT,BHXH, KPCĐ theotiền lương của công nhân sản xuất
TK 111, 112, 141
(4) Nhập kho NVL sử dụng không hết
TK 331
(2) NVL mua về không nhập kho, dùng ngay cho sản xuất
(5) Cuối tháng, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí NVL trực tiếp cho từng đối tượng
Trang 5Có thể khái quát quy trình kế toán theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
1.1.2.2.3 Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung gồm: chi phí nhân viên phân xưởng; chi phí vật liệu sửdụng chung; chi phí công cụ dụng cụ sản xuất chung; chi phí khấu hao TSCĐ sửdụng trong phân xưởng, tổ đội sản xuất; chi phí dịch vụ mau ngoài phục vụ cho hoạtđộng chung ở phân xưởng, tổ đội sản xuất như chi phí điện nước ; chi phí khácbằng tiền phục vụ tổ chức quản lý sản xuất chung
TK kế toán sử dụng: TK 627
Có thể khái quát quy trình kế toán chi phí sản xuất chung qua sơ đồ sau:
(1) Tiền lương phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất
Trang 6Sơ đồ 1.3: Kế toánchi phí sản xuất chung.
Trang 71.1.3 Kế toán chi phí sản xuất ( theo phương pháp kiểm kê định kỳ).
Cũng tương tự phương pháp kê khai thường xuyên, chi phí sản xuất trong kỳđược tập hợp trên các tài khoản 621, 622, 627
Tuy nhiên do đặc điểm của kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định
kỳ, tài khoản 154 - chi phí sản xuất kịnh doanh dở dang chỉ sử dụng để phản ánhchi phí dở dang đầu kỳ và cuối kỳ, việc tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩmhoàn thành được thực hiện trên tài khoản 631- giá thành sản xuất
Như vậy dù là kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường xuyênhay kiểm kê định kỳ thì kế toán chi phí vẫn là cơ sở để xác định giá thành sản phẩm.Kết quả của kế toán chi phí sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới độ tin cậy của giá thành sảnphẩm Vì vậy để xác định được giá thành sản phẩm một cách chính xác để giá thànhsản phẩm phản ánh đúng chi phí mà doanh nghiệp thực tế chi ra cũng như sự cốgẵng của doanh nghiệp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm thì độ chính xáccủa chi phí mà kế toán tập hợp được là hết sức quan trọng
1.2 KẾ TOÁN GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
1.2.1 Khái niệm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm( lao vụ,dịch vụ ) là chi phí sản xuất tính cho một khối lượngđơn vị sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sảnvật tư, lao động tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của cácgiải pháp tổ chức kinh tế kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằmnâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm , hạ giá thành sản phẩm và tăng
Trang 8lợi nhuận của doanh nghiệp Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giábánvà xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.
1.2.2 Đối tượng tính giá thành
Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc , lao vụ mà doanhnghiệp sản xuất chế tạo và thực hiện, cần tính được tổng giá thành và giá thành đơnvị
Việc xác định đối tượng tính giá thành ở từng doanh nghiệp cụ thể phụ thuộc vàorất nhiều các nhân tố cụ thể Một số nhân tố có ảnh hưởng đến giá thành sản phẩmnhư:
Đặc điểm tổ chức sản xuất và cơ cấu sản xuất
Quy trình công nghệ sản xuất và chế tạo sản phẩm
Quy trình công nghệ sản xuất, chế tạo cũng có ảnh hưởng quyết định đến việc xácđịnh đối tượng tính giá thành Nếu doanh nghiệp có quy trình sản xuất giản đơn thìđối tượng tính giá thành chỉ có thể là sản phẩm, dịch vụ hoàn thành của quá trìnhsản xuất Ở những doanh nghiệp có quy trình sản xuất sản phẩm phức tạp kiểu liêntục thì tuỳ theo yêu cầu quản lý, đặc điểm sử dụng nửa thành phẩm( bán ra ngoài,nhập kho, ) và khả năng tính toán mà đối tượng tính giá thành có thể chỉ là sảnphẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối cùng và cũng có thể bao gồm cả thành phẩm vànửa thành phẩm ở từng giai đoạn công nghệ Đối với sản phẩm có quy trình công
Trang 9nghệ phức tạp kiểu song song thì đối tượng tính giá thành có thể là từng bộ phận,chi tiết sản phẩm hoặc sản phẩm lắp ráp hoàn chỉnh.
Các yêu cầu quản lý, đặc biệt là yêu cầu thông tin cần thiết cho việc ra quyết địnhkinh doanh trong quản trị doanh nghiệp cũng là một căn cứ quan trọng trong việcxác định đối tượng tính giá thành Điều này thể hiện rõ tính mục đích của thông tin
kế toán Tuy nhiên, việc xác định đối tượng tính giá thành cụ thể như thế nào( mức
độ tổng hợp hay chi tiết ) còn phụ thuộc vào khả năng quản lý nói chung và trình
độ hạch toán của từng doanh nghiệp
và chu kỳ sản xuất để xác định cho phù hợp Trường hợp tổ chức sản xuất với khốilượng lớn, chu kỳ sản xuất ngắn, xen kẽ liên tục thì kỳ tính giá thành thích hợp làhàng tháng vào thời điểm cuối mỗi tháng Ngày cuối tháng sau khi hoàn thành côngviệc ghi sổ kế toán, kiểm tra đối chiếu chính xác, bộ phận kế toán giá thành căn cứvào chi phí sản xuất đã tập hợp được trong tháng cho từng đối tượng kế toán tậphợp chi phí, vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp để tính toán tăng giáthành và giá thành đơn vị thực tế cho từng đối tượng tính giá thành Như vậy, trongtrường hợp này kỳ tính giá thành phù hợp với kỳ báo cáo, có tác dụng cung cấp kịpthời giá thành sản xuất thực tế làm căn cứ tính toán ghi chép số thành phẩm nhậpkho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng Trường hợp tổ chức sản xuất đơn chiếchoặc hàng loạt theo từng đơn đặt hàng của khách hàng, chu kỳ sản xuất dài, sảnphẩm hoặc loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất của sản phẩm
Trang 10xuất sản phẩm hoặc loạt sản phẩm đã hoàn thành( phiếu nhập kho thành phẩm, biênbản bàn giao công trình ), kế toán giá thành sử dụng số liệu chi phí sản xuất đãtập hợp theo đối tượng có liên quan trong suốt các tháng từ khi bắt đầu sản xuất đếnkhi kết thúc chu kỳ sản xuất để vận dụng phương pháp tính giá thành thích hợp, tínhtoán tổng giá thành và giá thành đơn vị cho sản phẩm hoặc loạt sản phẩm trong đơnđặt hàng.
Một số sản phẩm nông nghiệp do tính chất thời vụ và chu kỳ sản xuất dài, kỳ tínhgiá thành là hàng năm( hoặc hết chu kỳ thu hoạch ), trong trường hợp này khi có sảnphẩm nhập kho( hoặc giao thẳng cho khách hàng ) có thể tạm tính theo giá kếhoạch, khi tính giá thành thực tế sẽ điều chỉnh
1.2.4 Các loại giá thành.
Để quản lý giá thành sản phẩm có hiệu quả cần thiết phải phân loại giá thành sảnphẩm Tuỳ từng tiêu thức phân loại khác nhau mà có các loại giá thành sản phẩmkhác nhau
1.2.4.1 Phân loại giá thành theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành
Căn cứ vào cơ sở số liệu và thời điểm tính giá thành, giá thành sản phẩm đượcchia làm ba loại sau:
Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở chi phí sản xuất
kế hoạch và sản lượng kế hoạch Việc tính giá thành kế hoạch do bộ phận kếtoán của doanh nghiệp thực hiện trước khi bắt đầu quá trình sản xuất, chế tạo sảnphẩm, giá thành kế hoạch là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ để
so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanhnghiệp
Giá thành định mức: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở các định mứcchi phí hiện hành và chỉ được tính cho đơn vị sản phẩm Việc tính giá thành địnhmức cũng được thực hiện trước khi sản xuất, chế tạo sản phẩm Giá thành địnhmức là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác đểxác định kết quả sử dụng tài sản vật tư, lao động trong sản xuất, giúp đánh giá
Trang 11đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quátrình sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Giá thành thực tế: là giá thành sản phẩm được tính trên cơ sở số liệu chi phí sảnxuất thực tế đã phát sinh và tập hợp được trong kỳ cũng như sản lượng sản phẩmthực tế đã sản xuất và hoàn thành trong kỳ Giá thành thực tế chỉ có thể tính toánđược sau khi kết thúc quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm và được tính cho cảchỉ tiêu tổng giá thành và giá thành đơn vị Giá thành là chỉ tiêu kinh tế tổnghợp, phản ánh kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tổ chức và sử dụngcác giải pháp kinh tế - kỹ thuật - tổ chức và công nghệ để thực hiện quá trìnhsản xuất kinh doanh và nghĩa vụ của doanh nghiệp với nhà nước cũng như cácđối tác liên doanh liên kết
1.2.4.2 Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành
Theo cách phân loại này có hai loại giá thành :
Giá thành sản xuất: bao gồm chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm( chi phí NVLtrực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung ) tính cho sảnphẩm, công việc hoặc lao vụ đã hoàn thành Giá thành sản xuất của sản phẩmđược sử dụng để hạch toán thành phẩm nhập kho và giá vốn đang bán( nếu bánthẳng không qua nhập kho) Giá thành sản xuất là căn cứ để xác định giá bán vàmức lãi gộp trong kỳ ở các doanh nghiệp Giá thành sản xuất còn gọi là giáthành công xưởng
Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất, chi phíbán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tính cho sản phẩm tiêu thụ Như vậy giáthành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ chỉ xác định và tính toán khi sản phẩm,công việc đã được xác nhận là tiêu thụ Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ
là căn cứ để tính toán, xác định lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
1.2.5 Các phương pháp tính giá thành sản phẩm.
Phương pháp tính giá thành sản phẩm là phương pháp sử dụng số liệu chi phísản xuất đã tập hợp được trong kỳ để tính toán tổng giá thành và giá thành đơn vị
Trang 12Doanh nghiệp căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ sảnxuất, đặc điểm của sản phẩm, yêu cầu quản lý sản xuất và giá thành, mối quan hệgiữa đối tượng tập hợp chi phí và đối tượng tính giá thành mà áp dụng phương pháptính giá thành cho phù hợp Giá thành sản xuất sản phẩm trong các doanh nghiệpsản xuất phải được tính theo các khoản mục quy định sau:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí sản xuất chung
Nhà nước quy định thống nhất cho các doanh nghiệp ở khoản mục tính giá thànhnhưng tuỳ theo yêu cầu quản trị mà các khoản mục trên có thể chi tiết hơn để phục
vụ thiết thực cho các doanh nghiệp trong việc phân tích, đánh giá mức độ ảnhhưởng của các nhân tố, các khoản chi phí chi tiết hơn tới giá thành sản phẩm
Hiện nay, ở các doanh nghiệp sản xuất, một số phương pháp tính giá thànhthường được sử dụng gồm:
1.2.5.1 Phương pháp tính giá thành giản đơn( phương pháp trực tiếp )
Nội dung phương pháp.
Kế toán căn cứ vào toàn bộ chi phí thực tế tập hợp được trong kỳ kể cả chi phísản xuất dở dang đầu kỳ, chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ để tính ra giá thành thực
tế của sản phẩm hoàn thành theo công thức sau:
Z: Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành trong kỳ
DĐK , DCK : Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, cuối kỳ
C: Chi phí sản xuất thực tế phát sinh trong kỳ
z: Giá thành một đơn vị sản phẩm hoàn thành
STP : Số lượng thành phẩm trong kỳ
Z
STP
Trang 13 Điều kiện áp dụng.
Thường áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất những sản phẩm hoặc công
việc có quy trình công nghệ sản xuất giản đơn khép kín, sản xuất hàng loạt với
số lượng lớn, chu kỳ sản xuất xen kẽ liên tục , đối tượng tập hợp chi phí phù hợpvới đối tượng tính giá thành, kỳ tính giá thành thường là hàng tháng, quý phù hợp với kỳ báo cáo của kế toán như các doanh nghiệp sản xuất điện, nước, bánh kẹo
1.2.5.2 Phương pháp tính giá thành phân bước
Điều kiện áp dụng.
Áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phứctạp, liên tục, sản phẩm sản xuất qua nhiều giai đoạn chế biến; Đối tượng tậphợp chi phí là từng phân xưởng, từng giai đoạn còn đối tượng tính giá thành
có thể là nửa thành phẩm hoặc thành từng giai đoạn, từng phân xưởng hoặccũng có thể là sản phẩm hoàn thành ở giai đoạn cuối Vì vậy phương pháptính giá thành phân bước được chia thành hai phương pháp cụ thể sau:
1.2.5.2.1 Phương pháp tính giá thành phân bước có tính giá thành nửa thành phẩm
Điều kiện áp dụng:
Áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, liêntục, sản phẩm sản xuất qua nhiều giai đoạn chế biến liên tiếp; đối tượng tập hợpchi phí sản xuất là từng giai đoạn, từng phân xưởng còn đối tượng tính giá thành
là cả nửa thành phẩm từng giai đoạn và thành phẩm ở giai đoạn cuối cùng
Nội dung phương pháp:
Theo phương pháp này người ta căn cứ vào chi phí NVL trực tiếp và chi phíkhác bỏ ra ở giai đoạn 1 để tính ra giá thành thực tế của sản phẩm ở giai đoạn 1rồi chuyển sang giai đoạn 2 Giai đoạn 2 căn cứ vào giá thành nửa thành phẩmgiai đoạn 1 chuyển sang kết hợp với các chi phí khác bỏ ra ở giai đoạn 2 để tínhgiá thành thực tế của nửa thành phẩm ở giai đoạn 2 theo từng khoản mục chiphí
Trang 14Cứ lần lượt tuần tự như vậy sẽ tính được giá thành của thành phẩm ở giai đoạncuối cùng.
1.2.5.2.2 Phương pháp tính giá thành phân bước không tính giá thành của nửathành phẩm
Điều kiện áp dụng: Áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản
xuất phức tạp kiểu song song lắp ráp, sản phẩm sản xuất qua nhiều giai đoạn;đối tượng tính giá thành là thành phẩm ở giai đoạn cuối, đối tượng tập hợp chiphí sản xuất là từng giai đoạn Nửa thành phẩm ở từng giai đoạn không phải làhàng hoá, không bán ra ngoài như các đơn vị sản xuất hoá chất, chưng cất dầu
mỏ
Nội dung phương pháp: Căn cứ vào chi phí sản xuất của từng giai đoạn để tính
ra chi phí sản xuất từng giai đoạn trong giá thành sản phẩm Tổng hợp lại sẽ tínhđược giá thành của thành phẩm( TP )
Nếu chi phí bỏ dần vào theo mức độ gia công chế biến thì giá thành được xác định:
1.2.5.3 Phương pháp tính giá thành loại trừ chi phí sản xuất sản phẩm phụ
Áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình sản xuất thu được sản phẩm chính vàsản phẩm phụ Sản phẩm chính là sản phẩm sản xuất theo mục tiêu của doanh
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ giai đoạn i
TP giai đoạn n
+
Số lượng TP giai
làm dở cuối kỳ giaiđoạn i tính theo mức
độ hoàn thành
X
SốlượngTPgiaiđoạn n
Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ giai đoạn i
Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ giai đoạn i
Trang 15nghiệp còn sản xuất phụ là sản phẩm không phải là mục tiêu của doanh nghiệpnhưng vẫn có giá trị.
1.2.5.4 Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho các doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất theo
đơn đặt hàng và cứ mỗi đơn đặt hàng sẽ mở một bảng tính giá thành, chi phí tậphợp được trong kỳ liên quan đến đơn đặt hàng nào thì sẽ ghi vào bảng tính giáthành của đơn đặt hàng đó Đơn đặt hàng chưa hoàn thnàh thì toàn bộ chi phí tậphợp được là sản phẩm làm dở, nếu đơn đặt hàng hoàn thành thì toàn bộ chi phítập hợp được từ lúc bắt đầu sản xuất đến khi hoàn thành là giá thành thực tế củađơn đặt hàng đó
1.2.5.5 Phương pháp tính giá thành theo hệ số
Điều kiện áp dụng: Áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản
xuất thu được nhiều sản phẩm chính khác nhau như chưng cất dầu mỏ hoặc cácdoanh nghiệp hoá chất Trường hợp này đối tượng tập hợp chi phí là toàn bộ quytrình còn đối tượng tính giá thành là từng loại sản phẩm chính khác nhau.Phương pháp này chỉ sử dụng khi doanh nghiệp đã xây dựng được hệ số kinh tế
kỹ thuật của từng loại sản phẩm chính khác nhau
Nội dung của phương pháp: Căn cứ vào hệ số kinh tế kỹ thuật của từng loại sản
phẩm chính để quy đổi ra sản phẩm tiêu chuẩn và tổng hợp các sản phẩm tiêuchuẩn này sau đó lấy sản phẩm tiêu chuẩn của từng loại chia cho tổng sản phẩmtiêu chuẩn thì sẽ tính được hệ số tính giá thành của từng loại sản phẩm
Hệ số này dùng chung cho tất cả các khoản mục chi phí Căn cứ vào tổng giáthành liên sản phẩm và hệ số tính giá thành của từng loại sẽ tính được giá thànhthực tế của từng loại sản phẩm
1.2.5.6 Phương pháp tính giá thành theo tỉ lệ
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho các doanh nghiệp có quy trình công nghệ sản
xuất sử dụng một loại nguyên vật liệu nhưng thu được một loại sản phẩm vớinhiều quy cách khác nhau như sản xuất giầy dép, quần áo, bàn ghế Trường
Trang 16hợp này đối tượng tập hợp chi phí sản xuất là toàn bộ quy trình còn đối tượngtính giá thành là từng quy cách sản phẩm.
Nội dung phương pháp: Để tính giá thành thực tế ta căn cứ vào giá thành kế
hoạch và sản lượng thực tế để tính ra giá thành kế hoạch theo sản lượng thực tếcăn cứ vào tổng giá thành thực tế của các quy cách được tiến hành theo từngkhoản mục bằng cách lấy giá thành thực tế chia cho giá thành kế hoạch để tính
ra tỉ lệ tính giá thành theo từng khoản mục rồi lại căn cứ vào giá thành kếhoạch theo sản lượng thực tế của từng quy cách nhân với tỉ lệ giá thành đã tínhđược sẽ tính được giá thành thực tế theo từng khoản mục
1.2.5.7 Phương pháp tính giá thành theo định mức
Điều kiện áp dụng: áp dụng cho các doanh nghiệp đã xây dựng được nền móng
định mức kinh tế - kỹ thuật khoa học hợp lý đồng thời tổ chức sản xuất đã đi vàonền nếp ổn định Trách nhiệm và trình độ của cán bộ quản lý, cán bộ nghiệp vụtương đối cao
Nội dung phương pháp: Căn cứ vào giá thành định mức, sự thoát ly định mức và
thay đổi định mức giữa kỳ trước với kỳ này để tính ra giá thành thực tế củathành phẩm trong kỳ theo công thức:
ZTT = ZĐM mới Chênh lệch do thay đổi ĐM Chênh lệch do thoát ly ĐM
Trong đó:
ZTT : Giá thành thực tế
ZĐM mới : Giá thành định mức mới
Qua đó ta có thể thấy tuỳ loại hình doanh nghiệp đặc điểm tổ chức sản xuất kinhdoanh và quy trình sản xuất sản phẩm mà doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tínhgiá thành sao cho phù hợp và đảm bảo tính hiệu quả
1.2.6 Hình thức tổ chức công tác kế toán giá thành.
1.2.6.1 Trường hợp doanh nghiệp tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kêkhai thường xuyên thì kế toán giá thành được tổ chức như sau:
Tài khoản sử dụng:
TK 154: Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
Trang 17Ngoài ra còn sử dụng các TK liên quan: 152, 155, 157, 621, 622, 627
Phương pháp kế toán được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2.6.1: Kế toán chi phí sản xuất và giá thành
(Phương pháp kê khai thường xuyên )
1.2.6.2 Trường hợp doanh nghiệp tổ chức tập hợp chi phí và tính giá thành sảnphẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Tài khoản sử dụng:
TK 631: Giá thành sản xuất ; TK 154:Chi phí SXKD DD
TK liên quan: 621, 622, 627
Phương pháp kế toán có thể được khái qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2.6.2: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
( Phương pháp kiểm kê định kỳ )
(2) Chi phí nhân công trực tiếp
(3) Chi phí sản xuất chung
(5) Trị giá sản phẩm hỏng
bắt bồi thường phế liệu thu hồi do sản phẩm hỏng
(4a) Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành nhập kho
(4b) Giá thành thực tế sản phẩm gửi bán không qua kho
(4c) Giá thành thực tế sản phẩm hoàn thành bán ngay
SXKD DD đầu kỳ
(2)Chi phí NVL trực tiếp
TK 622
(3) Chi phí nhân công trực tiếp
Trang 181.3 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH SẢNPHẨM.
Để tồn tại và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi doanh nghiệpphải luôn cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm Việc hạgiá thành sản phẩm sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp Để hạ giáthành sản phẩm, doanh nghiệp cần biết nguồn gốc hình thành, nội dung cấu thành
TK 611,138,821
Trang 19của giá thành để từ đó biết được những nhân tố cơ bản làm tăng giảm giá thành vàtrên cơ sở đó đề ra biện pháp cần thiết để hạn chế loại trừ các nhân tố tiêu cực, pháthuy sự ảnh hưởng của nhân tố tích cực Để thực hiện được điều đó, việc tiến hànhphân tích giá thành là hết sức cần thiết.
Nội dung chủ yếu của việc phân tích giá thành sản phẩm bao gồm:
Phân tích đánh giá chung giá thành của toàn bộ sản phẩm
Phân tích đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành của sản phẩm sosánh được
Phân tích đánh giá một số khoản mục giá thành chủ yếu
Xác định xu hướng hợp lý của chi phí sản xuất trong mối tương quan với khốilượng sản phẩm sản xuất
1.3.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành của toàn bộ sản phẩm hàng hoá.
Phương pháp đánh giá:
So sánh tổng giá thành tính trên sản lượng thực tế, giá thành đơn vị thực tế vớitổng giá thành tính trên sản lượng thực tế giá thành đơn vị kế hoạch để đánh giádoanh nghiệp có hoàn thành kế hoạch giá thành không
So sánh tổng giá thành tính trên sản lượng thực tế, giá thành đơn vị thực tế vớitổng giá thành tính trên sản lượng thực tế giá thành đơn vị kế hoạch của từngloại sản phẩm để kết luận việc thực hiện kế hoạch giá thành có toàn diện khôngđồng thời xác định trọng điểm cần đi sâu phân tích là gì Trọng điểm cần đi sâuphân tích là những sản phẩm có sự biến động quá lớn
1.3.2 Phân tích tình hình thực hiện nhiệm vụ hạ giá thành của sản phẩm so sánh được.
Chỉ tiêu phân tích gồm:
Mức hạ giá thành : là số tuyệt đối phản ánh giá thành năm nay hạ được baonhiêu so với giá thành năm trước Nó phản ánh khả năng tích luỹ của doanhnghiệp
Trang 20 Tỷ lệ hạ giá thành là số tương đối nói lên giá thành năm nay hạ được baonhiêu phần trăm so với giá thành năm trước, nó phản ánh trình độ tổ chứcquản lý và phấn đấu hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp chỉ được coi là hoàn thành nhiệm vụ hạ giá thành của sản phẩm
so sánh được khi thực hiện được cả hai chỉ tiêu này
k k
z Sl
Mh Th
Tỷ lệ hạ
100
* (%)
ni
k hk
i i ni
li n
1 1
1 1
Mh Th
Th Th
Nếu Mh < 0 và
Mh < 0 và 0
0 0
Chưa hoàn thành nhiệm vụ
Trang 21Xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố
Do sản lượng sản xuất thay đổi:
MhS = Mhk* Tc - Mhk
Tổ chức : tỷ lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất chung về sản lượng
Do kết cấu mặt hàng sản xuất thay đổi
Do mức hạ cá biệt thay đổi( giá thành đơn vị thay đổi )
Tổng hợp mức độ ảnh hưởng:
MhS + Mhk/c + Mhz = Mh
1.3.3 Phân tích một số khoản chi phí chủ yếu:
Phân tích khản chi nguyên vật liệu trong giá thành
Phân tích chi phí nhân công trực tiếp
Phân tích khoản chi phí chung
Th
Nếu Mh và đều lớn hơn 0 thì doanh nghiệp đã hoàn thành vượt chỉ tiêu.
100
*1
n i
ni ni
z Sl
z Sl Tc
c k ki n
i i c
1 1
100
*(%)
1 1
/ /
c k c
k
z Sl
Mh Th
ki n
i i
1 1
1 1
z z
z Sl
Mh Th
Th Th
Trang 22PHẦN 2: TÌNH HÌNH TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN GIÁ THÀNH VÀ PHÂN TÍCH GIÁ THÀNH TẠI CÔNG TY
BÁNH KẸO HẢI HÀ.
2.1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY BÁNH KẸO HẢI HÀ
- Tên công ty: Công ty Bánh kẹo Hải Hà
- Tên giao dịch đối ngoại: Hai Ha Confectionery Company( HAIHACO )
Trang 23- Trụ sở chính: Số 25 - đường Trương Định - Hai Bà Trưng - Hà Nội.
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Bánh kẹo Hải Hà.
Công ty Bánh kẹo Hải Hà( HAIHACO ) là một doanh nghiệp Nhà nước trựcthuộc Bộ Công nghiệp Đến nay, công ty đã trải qua quá trình hình thành và pháttriển suốt 40 năm với bao khó khăn thử thách và đi lên để có được chỗ đứng vữngchắc trên thị trường như ngày nay
Tiền thân của công ty là xí nghiệp miến Hoàng Mai được thành lập ngày
25-12-1960 bởi tổng công ty Nông thổ sản miền Bắc trực thuộc bộ Nội thương quản lý.Trong thời gian đầu, xí nghiệp miến Hoàng Mai chủ yếu sản xuất các sản phẩmnhư: miến, mari, tinh bột ngô, dầu đậu tương, bột dinh dưỡng trẻ em
Năm 1966, xí nghiệp miến Hoàng Mai đổi tên thành " nhà máy thực nghiệm thựcphẩm Hải Hà "
Đến tháng 6 năm 1970, nhà máy tiếp nhận một phân xưởng kẹo của nhà máy kẹoHải Châu với công suất 900 tấn/ năm Từ đây nhà máy đổi tên thành " xí nghiệpthực phẩm Hải Hà " với nhiệm vụ chính là sản xuất các loại kẹo, đường, nha và giấytinh bột
Trong khoảng thời gian từ năm 1971 đến 1985, nhà máy đã có sản phẩm xuấtkhẩu sang một số nước Đông Âu và được trang bị thêm một số dây chuyền côngnghệ từ các nước Trung Quốc, Ba Lan, Cộng Hoà Dân Chủ Đức Năm 1976, côngsuất của nhà máy đã lên tới 6000 tấn / năm
Từ năm 1986 cho đến năm 1990, nhà máy gặp rất nhiều khó khăn Nhà máy đãphải đóng cửa một phân xưởng kẹo cứng, cho gần 200 công nhân nghỉ việc Nhàmáy đã nợ ngân hàng trên 2 tỷ đồng, vốn bị chiếm dụng trên 500 triệu đồng Đếnđầu năm 1990, nhà máy vẫn chưa khắc phục được khó khăn bế tắc, để tồn kho trên
100 tấn kẹo
Trước tình hình đó, Ban lãnh đạo nhà máy đã kịp thời có những biện pháp đểtừng bước khắc phục, nắm bắt các cơ hội trong nền kinh tế thị trường, dần dần ổnđịnh để đứng vững trên thị trường
Ngày 24 tháng 3 năm 1993, theo quyết định số 216 CNN/ TCLĐ của Bộ trưởng
bộ Công nghiệp nhẹ( nay là bộ Công nghiệp ), nhà máy đổi tên thành công ty Bánhkẹo Hải Hà với tên giao dịch là Hải Hà Confectionery Company( HAIHACO )
Từ năm 1993 đến nay công ty phát triển không ngừng Sản phẩm của công tyngày một đa dạng, phong phú về chủng loại, nâng cao về chất lượng, dần chinh
Trang 24- Nhà máy bột dinh dưỡng Nam Định.
Ngoài ra, công ty còn liên doanh với Nhật Bản và Hàn Quốc, thành lập 3 công tyliên doanh là :
- Công ty liên doanh MiWon - Hải Hà
- Công ty liên doanh Hải Hà - Kotobuki
- Công ty liên doanh Hải Hà - Kameda( nay đã giải thể )
Như vậy quá trình 40 năm hình thành, hoạt động và phát triển, đến nay công ty đãđạt được nhiều thành công đáng tự hào sau khi trải qua những thời kỳ vô cùng khókhăn do chuyển đổi cơ chế Trong khi đó không ít các cơ sở xí nghiệp khác khôngtrụ được đã bị giải thể khi xoá bỏ chế độ bao cấp Ngược lại, công ty bánh kẹo Hải
Hà lại thực sự bước vào quyền làm chủ, đã tìm được những biện pháp hữu hiệuvượt qua biết bao khó khăn về vốn, về thị trường và những cơn lốc cạnh tranh củahàng ngoại nhập, công ty vẫn không ngừng hoạt động và phát triển
Tình hình hoạt động của công ty có thể được thể hiện ở một số chỉ tiêu trongbảng dưới đây:
Chỉ tiêu ĐVT 1995 1996 1997 1998Tổng số vốn 1000 đ 42.712.291 50.921.306 57.984.209 62.537.464Tổng sản lượng tấn 10.000 10.500 10.550 11.000Tổng doanh thu 1000 đ 173.842.160 148.921.342 155.892.312 162.709.905Nộp ngân sách 1000 đ 9.162.703 10.100.500 11.320.420 11.987.296Lợi nhuận 1000 đ 741.234 965.398 2.369.419 2.725.034Thu nhập bình
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của công ty bánh kẹo Hải Hà.
Công ty bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp nhà nước, do nhà nước thành lập
và giao nhiệm vụ
Nhiệm vụ chủ yếu của công ty là sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng của mọitầng lớp dân cư Vì vậy sản phẩm của công ty rất đa dạng gồm sản phẩm cao cấp vàsản phẩm phục vụ mọi tầng lớp dân thường
Ngoài ra công ty còn sản xuất sản phẩm xuất khẩu để tăng thêm thu nhập chongười lao động đồng thời tăng thu cho ngân sách Nhà nước
2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bánh kẹo Hải Hà.
Công ty bánh kẹo Hải Hà hiện có 5 xí nghiệp thành viên:
Xí nghiệp bánh: chuyên sản xuất các loại bánh quy và bánh cracker
Xí nghiệp kẹo: chuyên sản xuất 2 loại kẹo là kẹo cứng và kẹo mềm