1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tội gây ô nhiễm môi trường trong luật hình sự việt nam luận văn ths luật

123 2K 10

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 897,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Tổng hợp, phân tích và làm rõ một số khía cạnh về tội gây ô nhiễm môi trường như: Khái niệm, cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường; - Khái quát lịch sử

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS TS NGUYỄN NGỌC ANH

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất

kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Phùng Trung Thắng

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 8

1.1 Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Việt Nam 8

1.1.1 Cơ sở lý luận của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam 8

1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự 14

1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường, tội gây ô nhiễm môi trường 18

1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường 18

1.2.2 Khái niệm tội gây ô nhiễm môi trường 19

1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội gây ô nhiễm môi trường 21

1.3.1 Giai đoạn sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất – Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999 21

1.3.2 Giai đoạn từ sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ hai – Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 23

Trang 4

1.3.3 Giai đoạn từ sau khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999

(Bộ luật hình sự hiện hành) đến nay 25

1.4 Quan điểm của cộng đồng quốc tế và quy định của một số nước về tội gây ô nhiễm môi trường 28

1.4.1 Quan điểm của cộng đồng quốc tế về tội gây ô nhiễm môi trường 28

1.4.2 Quy định về tội gây ô nhiễm môi trường trong pháp luật hình sự của một số nước 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41

Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 42

2.1 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội gây ô nhiễm môi trường 42

2.1.1 Những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự hiện hành 42

2.1.2 Quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về hình phạt đối với tội gây ô nhiễm môi trường 56

2.2 Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội gây ô nhiễm môi trường 58

2.2.1 Tình hình áp dụng 58

2.2.2 Những bất cập của việc áp dụng xử lý tội gây ô nhiễm môi trường 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG 81

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội gây ô nhiễm môi trường 81

3.1.1 Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội gây ô nhiễm môi trường 81

Trang 5

3.1.2 Hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật khác bảo đảm tính đồng

bộ, thống nhất trong phòng chống tội phạm gây ô nhiễm môi trường 93 3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật về

tội gây ô nhiễm môi trường 99 3.2.1 Tăng cường công tác, phổ biến tuyên truyền nhằm nâng cao ý

thức của cá nhân, tổ chức, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường 99 3.2.2 Tích cực phối hợp trong việc phát hiện, điều tra, xác định thiệt

hại xảy ra đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường 103 3.2.3 Nghiên cứu, kết hợp hài hòa giữa bảo vệ môi trường với chính sách

ưu đãi hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh của địa phương, đồng thời, tăng cường kiểm tra, thanh tra và kiên quyết xử lý các cơ

sở, doanh nghiệp gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường 103 3.2.4 Tăng cường trang bị cơ sở vật chất, đào tạo chuyên môn, bảo

đảm phục vụ tốt cho việc xác minh thiệt hại 105 3.2.5 Nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong việc phòng chống tội

phạm gây ô nhiễm môi trường ở Việt Nam 107 KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự

TNHS trách nhiệm hình sự

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành vi gây ô nhiễm

Bảng 2.2: Tình hình khởi tố và xét xử tội gây ô nhiễm môi

Trang 8

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Thống kê số lượng các vụ việc gây ô nhiễm môi trường bị

Biểu đồ 2.2: Sự phát triển của hành vi gây ô nhiễm môi trường

trong tổng số các hành vi vi phạm về môi trường bị

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Sau gần ba mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên nhiều phương diện Đất nước đã thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, nền kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị xã hội

ổn định, đời sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế trên trường quốc

tế không ngừng nâng cao Chúng ta đang có cả thế và lực mới để đẩy nhanh quá trình hội nhập, đồng thời, tạo đà cho sự phát triển mọi mặt của đất nước trong thiên niên kỉ mới Tuy vậy, để hướng tới một sự phát triển bền vững khi đất nước ta đang trong quá trình tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa

đã đặt ra không ít những khó khăn, thách thức mà điển hình của một trong số

đó là vấn đề về ô nhiễm môi trường Hiện nay, ô nhiễm môi trường vẫn luôn

là vấn đề nóng của tất cả các quốc gia trên thế giới dù cho quốc gia đó là quốc gia đã phát triển hay đang phát triển Đối với một đất nước đang phát triển chủ yếu dựa vào quá trình khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên tự nhiên như Việt Nam thì sự tác động, ảnh hưởng của con người đối với môi trường là rất lớn Nhận thức được tầm quan trọng sống còn của việc gìn giữ môi trường, Nhà nước ta đã áp dụng đồng thời nhiều biện pháp bảo vệ môi trường, trong đó rất chú trọng ban hành văn bản quy phạm pháp luật để xử

lý tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường Thực hiện các văn bản quy định về xử lý vi phạm pháp luật liên quan đến môi trường như xử lý tội phạm về môi trường đã đạt được một số hiệu quả nhất định Tuy nhiên, thực tế hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường ở Việt Nam đã tới mức báo động và đang trở thành vấn nạn tại nhiều địa phương trên cả nước Tại các thành phố lớn hay ngay cả nhiều vùng nông thôn, hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp đã và đang gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường xung quanh do không có công trình, thiết bị xử lý chất thải hoặc những thiết bị này hoạt

Trang 10

động không hiệu quả Nguy hiểm hơn, chính là việc các cơ sở này cố tình xả trộm trực tiếp ra môi trường xung quanh các chất thải mà không qua bất kỳ một khâu xử lý nào Điều này sẽ tiết kiệm một khoản tiền lớn khi mà các cơ

sở sản xuất, kinh doanh này không phải xây dựng hoặc vận hành các hệ thống xử lý chất thải ra trong quá trình sản xuất của đơn vị mình Nếu sự việc bị phát hiện, việc xử lý các đơn vị đó gặp rất nhiều rào cản như chính sách ưu đãi đầu tư của địa phương, quy định xử phạt vi phạm hành chính quá nhẹ.v.v không khiến cho các cá nhân, tổ chức này run tay mà tiếp tục thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường Đứng trước tình hình đó, việc các nhà làm luật tội phạm hóa các hành vi gây ô nhiễm môi trường dưới tội danh – Tội gây ô nhiễm môi trường (Điều 182) trong BLHS hiện hành là việc làm rất kịp thời và thể hiện sự quyết tâm thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra Tuy nhiên, tính cho tới thời điểm hiện nay, chưa có một vụ án nào được đưa ra xét xử theo quy định về tội gây

ô nhiễm môi trường theo BLHS hiện hành Như vậy, có thể khẳng định: pháp luật nói chung, pháp luật hình sự quy định về tội phạm gây ô nhiễm môi trường còn nhiều bất cập, gây khó khăn cho hoạt động phòng, chống tội phạm về môi trường; cần phải được tổng kết, rút kinh nghiệm để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm gây ô nhiễm môi trường Mặt khác, nhìn nhận từ góc độ lý luận cho thấy, vấn đề nghiên cứu lý luận

về tội phạm môi trường nói chung, tội gây ô nhiễm môi trường nói riêng chưa được quan tâm đúng mức Trong điều kiện đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất giải pháp hoàn thiện phối hợp và nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm gây ô nhiễm môi trường đang được đặt ra như

một nhu cầu bức xúc Nhận thức như vậy, chúng tôi đã chọn vấn đề “Tội gây

ô nhiễm môi trường trong luật hình sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc

sĩ luật học của mình

Trang 11

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận văn

Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tội phạm môi

trường mà tiêu biểu là một số công trình như: Lực lượng Công an nhân dân nâng cao trách nhiệm và hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường của

Trung tướng Đặng Văn Hiếu, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ

Công an năm 2007; Đề tài khoa học Tội phạm về môi trường - một số vấn đề

lý luận và thực tiễn năm 2003 do tiến sĩ Phạm Văn Lợi, Phó viện trưởng viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp làm chủ nhiệm; luận án tiến sĩ TNHS đối với các tội phạm về môi trường năm 2011 của tác giả Dương Thanh An; luận văn Những vấn đề lý luận và thực tiễn về các tội phạm môi trường theo Luật hình

sự Việt Nam của tác giả Nguyễn Trí Chinh năm 2010, Khoa luật – Đại học

quốc gia Hà Nội.v.v Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên các đề tài này mới chỉ đề cập nghiên cứu ở những góc độ nhất định về tội phạm môi trường nói chung mà chưa nghiên cứu một cách chi tiết về từng loại tội phạm môi trường Theo những nghiên cứu như trên cho thấy, tính cho tới thời điểm hiện tại chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về tội gây ô nhiễm môi trường ở nước ta

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về tội gây ô nhiễm môi trường; thực trạng quy định và nội dung tội gây ô nhiễm môi trường theo BLHS Việt Nam hiện hành; qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của BLHS đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đảm bảo đạt được các mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra

và giải quyết những nhiệm vụ chủ yếu sau:

Trang 12

- Tổng hợp, phân tích và làm rõ một số khía cạnh về tội gây ô nhiễm môi trường như: Khái niệm, cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường;

- Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của luật hình sự Việt Nam

về tội gây ô nhiễm môi trường và đưa ra một số nhận định đánh giá;

- Nghiên cứu quy định về tội gây ô nhiễm môi trường của pháp luật quốc tế và tại một số nước trong khu vực và trên thế giới nhằm phân tích, đánh giá để học hỏi kinh nghiệm lập pháp;

- Nghiên cứu các quy định cụ thể về tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành của Việt Nam từ đó rút ra những nhận xét, đánh giá;

- Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định về tội gây ô nhiễm môi trường để làm cơ sở chỉ ra những tồn tại, hạn chế qua việc áp dụng

và những nguyên nhân của tồn tại, hạn chế;

- Tổng hợp kết quả nghiên cứu và đề xuất những phương án, giải pháp hoàn thiện các quy định của BLHS Việt Nam cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tội gây ô nhiễm môi trường trong thực tiễn

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là qui định về tội gây ô nhiễm môi trường tại Điều 182 chương XVII Các tội phạm về môi trường của Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của BLHS (Luật số 37/2009/QH12 ngày 19 tháng 6 năm 2009); Điều 182 Tội gây ô nhiễm không khí, Điều 183 Tội gây ô nhiễm nguồn nước và Điều 184 Tội gây ô nhiễm đất của BLHS năm 1999; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta và các tài liệu khác có liên quan đến hoạt động đấu tranh đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung mà luận văn xác định bao gồm:

Trang 13

khái niệm, cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS; lịch sử hình thành, quy định về tội gây ô nhiễm môi trường theo pháp luật quốc tế và tại một số nước; quy định, thực trạng áp dụng tội gây ô nhiễm môi trường; nguyên nhân, hạn chế và đề xuất phương

án hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng tội gây ô nhiễm môi trường trong thực tiễn

- Về thời gian: luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng tội gây ô nhiễm

môi trường từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh, phòng ngừa, chống tội phạm được thể hiện trong Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX)

về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị

Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành luật hình sự và các phương pháp nghiên cứu cụ thể là: phương pháp hệ thống; phương pháp thống kê; phương pháp phân tích

và tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp điều tra xã hội học

6 Những điểm mới và đóng góp của luận văn

Là công trình nghiên cứu khoa học có hệ thống và tương đối toàn diện

về tội gây ô nhiễm môi trường trong Luật hình sự Việt Nam nên kết quả nghiên cứu của luận văn có một số điểm mới cụ thể là:

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tội gây ô nhiễm môi trường được quy định trong BLHS Việt Nam hiện hành;

Trang 14

- Chỉ ra được những vướng mắc, bất cập của các quy định hiện hành liên quan đến tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS Việt Nam hiện hành;

- Tổng hợp chi tiết những nguyên nhân chính khó khăn cho việc áp dụng quy định về tội gây ô nhiễm môi trường trên thực tế của BLHS Việt Nam hiện hành;

- Đưa ra được hệ thống các kiến nghị, nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về Tội gây ô nhiễm môi trường của BLHS;

- Với kết quả nêu trên, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho những người nghiên cứu, học tập, công tác thực tiễn liên quan đến lĩnh vực phòng chống tội phạm về môi trường

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Về mặt lý luận, luận văn đi sâu vào nghiên cứu những quy định về tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành để làm sáng tỏ những kiến thức cơ bản nhất cũng như chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong các quy định về loại tội phạm này, cùng quan điểm quốc tế về tội gây ô nhiễm môi trường cũng như quy định tương tự trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới sẽ giúp cho các nhà làm luật nước ta có thêm nguồn thông tin để phân tích, đánh giá và học hỏi kỹ thuật lập pháp để tiếp tục hoàn thiện quy định về tội này trong quá trình sửa đổi, bổ sung tiếp theo của BLHS

- Về mặt thực tiễn, những số liệu mà luận văn cung cấp sẽ giúp cho các nhà nghiên cứu có sự đánh giá chính xác về hiệu quả của việc áp dụng tội gây ô nhiễm môi trường trong thời gian qua Luận văn cũng chỉ ra những bất cập, nguyên nhân ảnh hưởng tới việc áp dụng của tội gây ô nhiễm môi trường Những giải pháp, kiến nghị mà luận văn đề xuất sẽ góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng quy định về tội gây ô nhiễm môi trường của BLHS trên thực tế, phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng chống các loại tội phạm về môi trường trong thời gian tới

Trang 15

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về tội gây ô nhiễm môi trường

Chương 2 Quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội

gây ô nhiễm môi trường và thực tiễn áp dụng

Chương 3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội gây ô nhiễm môi

trường và nâng cao hiệu quả áp dụng

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1.1 Cơ sở lý luận và ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam

1.1.1 Cơ sở lý luận của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự Việt Nam

Trong những thập kỷ gần đây, ô nhiễm môi trường luôn là vấn đề nghiêm trọng mà nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt Các vấn đề

về ô nhiễm đã khiến người dân trên khắp trái đất phải đương đầu với nhiều bệnh dịch có sức tàn phá khủng khiếp Theo một báo cáo của Tổ chức Phát triển và Hợp tác kinh tế (OECD), tới năm 2050, ô nhiễm môi trường sẽ trở thành “kẻ sát nhân” khiến 3,6 triệu người chết mỗi năm Bên cạnh đó, những thiệt hại do ô nhiễm môi trường đã tàn phá nặng nề nền kinh tế như các chi phí khám, chữa bệnh, tổn thất sức lao động, sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy, hải sản v.v… Những hội nghị quốc tế về môi trường như Hội nghị Stockholm năm 1972, Hội nghị thượng đỉnh trái đất Rio năm 1992, Tuyên bố thiên niên kỉ năm 2000, Hội nghị thượng đỉnh trái đất về phát triển bền vững năm 2002 v.v… đã gióng lên những hồi chuông cảnh báo về những thảm họa

do ô nhiễm môi trường gây ra Tại Việt Nam, ngay từ giai đoạn rất sớm của quá trình phát triển đất nước theo con đường công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn nhận thức sâu sắc những hệ lụy của ô nhiễm môi trường và đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, dưới nhiều hình thức, vừa mang tính chiến lược nhưng cũng hết sức cụ thể để bảo vệ môi trường hiệu quả hơn, trước sự gia tăng của các hành vi gây ô nhiễm ngày càng đa dạng và phức tạp

Biện pháp đầu tiên phải kể tới, đó là sự ghi nhận tại văn bản pháp lý

Trang 17

cao nhất của Nhà nước ta là Hiến pháp Tại Điều 29, Hiến pháp năm 1992 đã

quy định rõ: “Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, mọi cá nhân phải thực hiện các quy định của Nhà nước về sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường” [46, Điều 29] Trên cơ sở đó, Nhà

nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau đối với các hành vi xâm phạm tới môi trường nói chung và hành vi gây ô nhiễm môi trường nói riêng Tại BLHS của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999, lần đầu tiên các nhà làm luật của nước ta đã dành hẳn một chương riêng – Chương XVII Các tội phạm về môi trường, trong đó có 03 điều luật (Điều 182 Tội gây ô nhiễm không khí; Điều 183 Tội gây ô nhiễm nguồn nước

và Điều 184 Tội gây ô nhiễm đất) là cơ sở đầu tiên cho việc quy định cho hành

vi gây ô nhiễm môi trường được quy định tại Điều 182 BLHS hiện hành

Sự phát triển của khoa học công nghệ đã tạo ra những sản phẩm mới trên cơ sở những dạng vật chất mới, trong số đó đa phần là các chất nhân tạo, khó phân hủy khi hết hạn sử dụng hoặc sinh ra sau khi sản xuất xong sản phẩm Mặc dù vậy, không phải sản phẩm nào cũng có thể tái chế hoặc trong quá trình sản xuất không có những sản phẩm dư thừa thải ra môi trường sống của con người gây những tác động tiêu cực đến sức khỏe, sinh hoạt, thực phẩm v.v… mà không bị kiểm soát triệt để Những hành vi thải vào không khí, nguồn nước, đất đai những chất gây ô nhiễm môi trường ngày càng diễn

ra phổ biến ở nước ta tại những nơi tập chung các khu công nghiệp, khu chế xuất, làng nghề v.v… đã ngày càng đặt ra yêu cầu phải có một chế tài đủ mạnh không chỉ đơn giản là xử lý vi phạm hành chính mà phải được tội phạm hóa đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường thực sự nguy hiểm cho xã hội Trong xu hướng của chính sách hình sự nước ta, việc sử dụng vai trò của pháp luật hình sự trong việc bảo vệ môi trường trước các hành vi gây ô nhiễm

Trang 18

môi trường ngày càng được sử dụng nhiều hơn với mức độ quyết liệt hơn Việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành được dựa trên những cơ sở lý luận sau:

Thứ nhất, yêu cầu khách quan của việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ô nhiễm môi trường xuất phát từ tính nguy hiểm ngày càng cao của các hành vi gây ô nhiễm môi trường

Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế nhằm đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong điều kiện lực lượng sản xuất thấp kém, nền kinh tế thị trường chưa hoàn thiện và việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên không được kiểm soát chặt chẽ đã làm cho môi trường nông thôn bị suy thoái nghiêm trọng Việc phát triển kinh tế đô thị cũng làm cho môi trường tại chính các đô thị này ngày càng ô nhiễm nặng nề Những hành vi gây ô nhiễm môi trường không chỉ tập chung tại các khu công nghiệp, làng nghề hay xuất nhập khẩu mà hiện nay lan rộng sang cả lĩnh vực

y tế, an toàn vệ sinh thực phẩm và bảo tồn thiên nhiên v.v… Tính chất và mức

độ của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, phức tạp, tinh vi và khó phát hiện Ví dụ, năm 2008, Công ty Vedan bị phát hiện đã

bí mật xả thải ra sông Thị Vải, trong suốt 14 năm Đứng trước những thách thức do sự gia tăng tính nguy hiểm ngày càng cao của các hành vi gây ô nhiễm môi trường, việc đấu tranh, ngăn chặn và phòng ngừa bằng biện pháp hình sự là cần thiết

Thứ hai, biện pháp hình sự chiếm một vị trí quan trọng trong hệ thống các biện pháp của nhà nước để bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm

Hiện nay, các biện pháp bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm của Nhà nước bao gồm các biện pháp, cụ thể: 1) Các biện pháp mang tính chính trị, bao gồm việc xác định các phương hướng cơ bản của chiến lược bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm; 2) Các biện pháp mang tính kinh tế; 3) Các biện pháp

Trang 19

mang tính kỹ thuật, bao gồm việc xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện các biện pháp, giải pháp kỹ thuật và công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường; 4) Các biện pháp mang tính tổ chức, bao gồm việc xây dựng hệ thống các đơn vị quản lý, thanh tra, kiểm tra và khắc phục các sự cố về ô nhiễm môi trường; 6) Các biện pháp mang tính giáo dục, bao gồm các chương trình giáo dục về những hậu quả của ô nhiễm môi trường và những quy định của pháp luật đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường.v.v Mỗi biện pháp đều mang lại những hiệu quả nhất định, tuy nhiên, pháp luật hình sự chiếm vị trí quan trọng đặc biệt mà không ai có thể phủ nhận vai trò của nó Với tư cách là một biện pháp bảo vệ tính ổn định, bền vững của các mối quan hệ xã hội, pháp luật hình sự đóng vai trò phòng ngừa và giáo dục trong công cuộc đấu tranh với các hành vi gây ô nhiễm môi trường Khi những biện pháp xử phạt vi phạm hành chính tỏ ra không thực sự đủ mạnh, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng thì các biện pháp hình sự chính là giải pháp cho vấn đề này Bằng những chế tài nghiêm khắc nhất, biện pháp hình sự sẽ có sức ảnh hưởng lớn đối với những chủ thể có ý định thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường Những chủ thể này sẽ phải tính toán tới những hậu quả bất lợi có thể

bị áp dụng nếu thực hiện hành vi đó Chính vì vậy, những biện pháp hình sự chính là cơ sở để tăng cường công tác phòng ngừa và đấu tranh các hành vi vi phạm pháp luật gây ô nhiễm môi trường và tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc tội phạm hóa những hành vi gây ô nhiễm môi trường

Thứ ba, việc tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm gây ô nhiễm môi trường còn xuất phát từ yêu cầu của chính sách bảo vệ môi trường mà Đảng

và Nhà nước ta đã đề ra cũng như việc bảo đảm, thực hiện các cam kết quốc

tế của đất nước

Bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ô nhiễm khi đất nước bước vào

Trang 20

thời kỳ hội nhập từ lâu đã là một trong những chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước ta Điều này được thể hiện thông qua một số văn bản như Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị (Khoá IX) về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước, Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 21/01/2009 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị.v.v… Đặc biệt, Hiến pháp của nước ta cũng dành những quy định quan trọng về vấn đề bảo vệ môi trường

Ví dụ, khoản 5, Điều 112 Hiến pháp năm 1992 quy định, Chính phủ có nhiệm

vụ: “Bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân…; bảo vệ môi trường” [46, Điều 112]; Điều 44 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người

có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [47, Điều 44] Với việc thừa nhận quyền được sống trong môi trường

trong lành của mọi công dân, Nhà nước ta cũng khẳng định nhiệm vụ của mình trong việc bảo vệ môi trường khỏi các hệ lụy của những hành vi gây ô nhiễm môi trường gây ra đối với nhân dân, đồng thời, đây cũng chính là một trong những cơ sở cho các nhà lập pháp nước ta, tội phạm hóa các hành vi này trong pháp luật hình sự

Hiện nay, Việt Nam đã tham gia một số lượng lớn các công ước, văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường Tại các công ước và văn bản pháp

lý quốc tế này đã yêu cầu các quốc gia ký kết quy định, áp dụng các biện pháp quyết liệt, triệt để hơn trong đó có tính đến việc sử dụng các chế tài hình sự đối với các hành vi nguy hiểm cho xã hội trong lĩnh vực môi trường nói chung và gây ô nhiễm môi trường nói riêng Do vậy, pháp luật hình sự chính

là phương tiện để thực hiện các cam kết trong các công ước và văn bản pháp

lý quốc tế khác mà Việt Nam tham gia ký kết và thực hiện Ví dụ, Nghị định thư Kyoto là một nghị định liên quan đến Chương trình khung về biến đổi khí hậu mang tầm quốc tế của Liên hiệp quốc với mục tiêu cắt giảm lượng khí

Trang 21

thải gây hiệu ứng nhà kính Bản dự thảo được kí kết vào ngày 11 tháng 12 năm 1997 tại Hội nghị các bên tham gia lần thứ ba khi các bên tham gia nhóm họp tại Kyoto, và chính thức có hiệu lực vào ngày 16 tháng 2 năm 2005 Việt Nam đã ký Nghị định thư Kyoto vào ngày 3/12/1998 và phê chuẩn vào ngày 25/9/2002 Đây chính là một trong các cơ sở để Việt Nam sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 bằng Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/06/2009 sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1999 Bởi vậy, trong quá trình soạn thảo, sửa đổi bổ sung BLHS, việc nghiên cứu, áp dụng tinh thần của các công ước trong khu vực lẫn quốc tế chính là một trong các cơ sở cho việc xây dựng pháp luật của nước ta đối với các loại tội phạm về môi trường nói chung cũng như tội phạm gây ô nhiễm nói riêng

Thứ tư, yêu cầu tăng cường giáo dục, nâng cao ý thức toàn dân tuân thủ pháp luật, chủ động tham gia phòng chống tội phạm chính là một trong các cơ

sở để các nhà làm luật tội phạm hóa các hành vi gây ô nhiễm môi trường

Ý thức kém của một số bộ phận người dân chính là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường Thái độ thờ ơ, hời hợt, vô trách nhiệm cùng với những hành vi vơ vét những nguồn tài nguyên thiên nhiên khi mà lợi ích kinh tế trở thành mục tiêu duy nhất đã khiến cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng tại nhiều nơi trên đất nước ta Bởi vậy, bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm đang là nhiệm vụ thường trực, không chỉ tại một thời điểm nhất định, không chỉ của chúng ta mà các lớp thế hệ mai sau vẫn tiếp tục phải thực hiện Chúng ta không thể hoàn thành nhiệm vụ này nếu như một cá nhân không ý thức được việc bảo vệ môi trường Sức mạnh to lớn nhất đó chính là sự đồng lòng, chung tay và quyết tâm vì một hành tinh xanh, ngôi nhà chung của nhân loại Mọi người đều có quyền và nghĩa vụ tham gia hành trình này, không phân biệt giai cấp địa vị trong xã hội, trai gái, giàu nghèo, già trẻ, chủng tộc, màu da Từ thành thị đến nông thôn, người giàu hay

Trang 22

người vô gia cư đều bình đẳng trong hành trình cứu lấy ngôi nhà chung Bằng việc quy định TNHS đối với hành vi gây ô nhiễm môi trường bị coi là tội phạm, pháp luật hình sự không những có tác dụng răn đe, giáo dục người phạm tội, mà còn tác động lên ý thức của mọi thành viên của xã hội (giáo dục chung) về ý thức tuân thủ pháp luật, cũng như nâng cao tinh thần chủ động tham gia phòng chống loại tội phạm này

Tóm lại, những cơ sở lý luận trên, chính là những yếu tố quan trọng để các nhà làm luật dựa vào đó tiến hành việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành

1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội gây ô nhiễm môi trường trong Bộ luật hình sự

1.1.2.1 Củng cố lòng tin của nhân dân trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

Sau những vụ việc các cơ sở gây ô nhiễm môi trường bị phanh phui trên các phương tiện truyền thông, nhiều người đã đặt câu hỏi về trách nhiệm của các cơ quan chức năng của nhà nước ở đâu trong các vụ việc đó Đối với những người dân sống trong khu vực bị ô nhiễm, tâm lý hụt hẫng, thất vọng tại nhiều địa phương đã lên tới đỉnh điểm bởi cơ quan chức năng, quản lý, chính quyền địa phương chưa thực sự đứng về phía người dân, dù những gì

mà doanh nghiệp gây ra có thể được xem là những tội ác thực sự Thái độ thờ

ơ, đùn đẩy trách nhiệm cũng như cố tình bao che vì mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương đã khiến cho các hành vi gây ô nhiễm môi trường không được ngăn chặn kịp thời và tại nhiều nơi đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới đời sống của người dân Việc BLHS quy định tội gây ô nhiễm môi trường đã thể hiện tính răn đe mạnh mẽ, quyết liệt đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường, đồng thời, cũng là sự cảnh báo tới các đối tượng đang có ý định thực hiện và buộc chúng phải cân nhắc tới những hậu quả pháp lý hình sự bất lợi có thể bị

Trang 23

áp dụng Để thực hiện hiệu quả các quy định của BLHS đối với các tội phạm

về môi trường nói chung và tội gây ô nhiễm môi trường nói riêng, ngày 29/11/2006, Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường được thành lập và trực thuộc Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm (Tổng cục VI),

Bộ Công an Đây là cơ quan có nhiệm vụ thống nhất quản lý, tổ chức chỉ đạo hướng dẫn lực lượng Cảnh sát môi trường trong cả nước thực hiện các chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ môi trường, đồng thời, phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường theo quy định của pháp luật Trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường đã từng bước trưởng thành về lực lượng và năng lực công tác, đã đạt được một số kết quả nhất định và khẳng định được vai trò, vị trí nòng cốt trong công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm môi trường nói chung và tội phạm về gây ô nhiễm môi trường nói riêng Lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường được thành lập sẽ góp phần bảo đảm được các quy định của BLHS đối với các tội phạm

về môi trường nói chung, tội phạm về gây ô nhiễm nói riêng đi vào thực tiễn một cách hiệu quả hơn, lấy lại được niềm tin của nhân dân trong cuộc chiến chống ô nhiễm môi trường và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa

1.1.2.2 Tạo bước chuyển biến quan trọng của toàn xã hội trong nhận thức về trách nhiệm, quyền lợi trong đấu tranh phòng chống tội phạm gây ô nhiễm môi trường của toàn thể quần chúng nhân dân

Bác Hồ đã từng nói:

Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong [40, tr.212] hay Công an có bao nhiêu người, dù có vài

ba vạn, hay năm nghìn, bảy vạn đi nữa, thì lực lượng ấy cũng còn

ít lắm Bên cạnh là lực lượng nhân dân, năm vạn người thì chỉ có

5 vạn cặp mắt, 5 vạn đôi bàn tay, phải làm sao cho có hàng triệu

Trang 24

cặp mắt, hàng triệu đôi bàn tay mới được Muốn như vậy thì phải dựa vào nhân dân, không được xa rời dân, nếu không sẽ thất bại Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì ta thành công nhiều, giúp đỡ ta

ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn, dân ta rất tốt [41, tr.406]

Những lời dạy đó của Bác trong cuộc sống hôm nay vẫn muôn phần ý nghĩa Vì vậy, trong sự nghiệp bảo vệ trật tự an toàn xã hội trong những năm trước đây, hôm nay, và mãi về sau, vai trò to lớn của quần chúng nhân dân là

vô cùng to lớn Từ lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, tất cả vì mục tiêu phục vụ cho bình yên cuộc sống của nhân dân Tinh thần này đã được ghi nhận tại

khoản 4, Điều 3 BLHS năm 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009): “Mọi công dân có nghĩa vụ tích cực tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm”

[49, Điều 3] Việc BLHS hiện hành quy định tội gây ô nhiễm môi trường chính là cơ sở để nhân dân nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ cũng như quyền lợi trong đấu tranh phòng chống tội phạm Vì vậy, công tác phổ biến, tuyên truyền các quy định của pháp luật hình sự về đấu tranh, phòng chống các tội phạm về môi trường tới các tầng lớp nhân dân có vai trò rất quan trọng Khi người dân hiểu rõ được những lợi ích của việc bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ sức khỏe, sinh hoạt, thực phẩm, kinh tế v.v cho bản thân, gia đình và

xã hội thì hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm môi trường nói chung, tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng sẽ hết sức thuận lợi

1.1.2.3 Tạo cơ chế phối hợp thực hiện đồng bộ, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp tham gia phòng, chống tội phạm gây

ô nhiễm môi trường

Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm không thể thực hiện được trọn vẹn nhiệm vụ nặng nề mà Đảng, Nhà

Trang 25

nước và nhân dân giao phó nếu không có sự hỗ trợ từ các ngành, các cấp, các

tổ chức trong hệ thống chính trị của đất nước Thực tiễn đã chỉ ra, nhiều vụ án

mà lực lượng Cảnh sát môi trường đã phát hiện và xử lý trong thời gian qua, ngoài sự giúp đỡ, báo tin của nhân dân thì sự giúp đỡ, hỗ trợ và phối hợp của các ngành, các cấp khác là rất quan trọng Đây chính là một trong những lý do Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2010/NĐ-CP, ngày 08 tháng 7 năm

2010, quy định về phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác về môi trường (Nghị định số 72/2010/NĐ-CP) Theo đó, những nội dung nhằm thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm về môi trường nói chung, tội phạm về gây ô nhiễm môi trường nói riêng được quy định cụ thể đối với các cơ quan quản lý chuyên môn ở trung ương như Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tài chính, các cơ quan thuộc Chính phủ, ủy ban nhân dân các cấp v.v… đồng thời, các cơ quan này có nhiệm vụ phối hợp chặt chẽ với nhau trong quá trình công tác Tại nhiều địa phương, các cơ quan này đã xây dựng quy chế, kế hoạch phối hợp theo từng năm công tác từng đơn vị Ví dụ: sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường của Công an tỉnh, Ban quản lý các khu công nghiệp của tỉnh, ủy ban nhân dân các huyện, thành phố và các sở, ban, ngành liên quan tổ chức thực hiện có hiệu quả kế hoạch thanh tra, kiểm tra đối với các địa phương có khả năng, nguy cơ hoặc

đã xảy ra ô nhiễm để lên phương án khắc phục, ngăn chặn; sở Nội vụ chủ trì, phối hợp với sở Tài nguyên và Môi trường tham mưu với ủy ban nhân dân tỉnh tăng cường đội ngũ cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường và tập trung đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ thanh tra, kiểm tra, chủ động phát hiện và xử lý kịp thời các cơ sở vi phạm gây ô nhiễm môi trường; sở Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các ngành liên quan nghiên cứu, tham mưu với ủy ban nhân dân tỉnh về cơ chế ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích

Trang 26

đối với các dự án đầu tư trong lĩnh vực xử lý môi trường, xử lý chất thải rắn, nước thải và các dự án ứng dụng công nghệ sản xuất sạch hơn; phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường của Công an tỉnh tăng cường công tác nghiệp vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm môi trường nói chung, và tội phạm về gây ô nhiễm môi trường nói riêng, đồng thời, thực hiện việc giám định, kiểm định các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; ủy ban nhân dân các huyện, thành phố tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường và phòng chống ô nhiễm môi trường trên địa bàn Các cơ quan có liên quan, tích cực phối hợp với sở Tài nguyên và Môi trường trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật về ô nhiễm môi trường theo thẩm quyền và giải quyết tố cáo, khiếu nại có liên quan đến ô nhiễm môi trường tại địa phương.v.v… Hiện nay, tại nhiều địa phương, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng của các bộ, ngành liên quan ngày càng được củng cố, hoàn thiện Về cơ bản, hình thành được mối quan hệ phối hợp thường xuyên với các đơn vị, các lực lượng trong và ngoài ngành, bước đầu rút ra bài học kinh nghiệm trong công tác phát hiện, điều tra tội phạm và

vi phạm pháp luật về ô nhiễm môi trường, đồng thời, góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế - xã hội, ổn định chính trị, bảo đảm an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập quốc tế

1.2 Khái niệm ô nhiễm môi trường, tội gây ô nhiễm môi trường

1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Hiện nay, ô nhiễm môi trường là một khái niệm được nhiều ngành khoa học định nghĩa Dưới góc độ sinh học, khái niệm này chỉ tình trạng của môi trường trong đó những chỉ số hóa học, lí học của nó bị thay đổi theo chiều hướng xấu đi Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lí, hóa học, sinh học mà qua đó có thể gây tác hại tức thời hoặc lâu dài đến sức khỏe của con người,

Trang 27

các loài động thực vật và các điều kiện sống khác Ví dụ, theo wikipedia, “ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học, bức xạ, tiếng ồn, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và các

cơ thể sống khác” Còn theo Từ điển môi trường và phát triển bền vững Anh - Việt và Việt - Anh, ô nhiễm môi trường là:

Bất kỳ một sự thay đổi nào đó trực tiếp hoặc gián tiếp, các tính chất vật lý, hóa học, sinh học, độ phóng xạ của bất kỳ bộ phận nào của môi trường do xả, thoát, phát tán hoặc làm lắng đọng các chất thải hoặc các chất gây tác động có hại cho bất kỳ việc sử dụng bằng lợi ích nào [8, tr.300]

Dưới góc độ pháp luật bảo vệ môi trường của nước ta, ô nhiễm môi

trường được hiểu “là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [53, Điều 3]

1.2.2 Khái niệm tội gây ô nhiễm môi trường

Theo ý kiến của các chuyên gia về tội phạm môi trường, hiện nay, quy định của BLHS hiện hành về tội gây ô nhiễm môi trường chưa thật đầy đủ và

cụ thể Bên cạnh đó, nhận thức về loại tội phạm này còn chưa nhất quán về chủ thể, phạm vi ô nhiễm, hình thức lỗi cũng như xác định mức độ thiệt hại.v.v Vì vậy, việc đưa ra một khái niệm chung về tội gây ô nhiễm môi trường để thống nhất về đường lối xử lý hình sự đối với loại tội phạm này trong thời gian tới là rất cần thiết Theo quan điểm của chúng tôi, việc nhận thức và xây dựng khái niệm về tội gây ô nhiễm môi trường cần chú ý tới hai nội dung chính, cụ thể:

Thứ nhất, phải dựa trên các dấu hiệu chung của tội phạm

Tội phạm gây ô nhiễm môi trường cũng giống như bất kỳ loại tội phạm nào khác là đều có những dấu hiệu chung của tội phạm, bao gồm: thực hiện

Trang 28

những hành vi nguy hiểm cho xã hội nhằm gây ô nhiễm môi trường với tính

chất, mức độ (đáng kể); được quy định trong BLHS; do người có năng lực

TNHS và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi (đối với loại tội phạm gây ô nhiễm môi trường là lỗi cố ý) và xâm phạm đến các quan hệ xã hội về bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm được pháp luật hình sự bảo vệ Do vậy, việc xây dựng khái niệm về tội gây ô nhiễm môi trường trên cơ sở các dấu hiệu chung của tội phạm là phù hợp, là cơ sở cho việc phân biệt tội gây ô nhiễm môi trường với các tội phạm khác về môi trường, đồng thời, thể hiện được những dấu hiệu đặc thù của loại tội phạm này

Thứ hai, việc xây dựng khái niệm phải phù hợp với chính sách hình sự của Việt Nam trong thời gian tới cũng như yêu cầu của công tác đấu tranh với tội phạm gây ô nhiễm môi trường

Chính sách hình sự của Nhà nước ta trong thời gian tới đối với các tội phạm về môi trường nói chung, tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng tập trung và thể hiện ở một số khía cạnh, nội dung như: mở rộng phạm vi, lĩnh vực bảo vệ môi trường và tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội phát sinh (độ rung, tiếng ồn, âm thanh, ánh sáng); tăng nặng TNHS và bảo đảm sự tương xứng giữa các chế tài; nghiên cứu quy định cấu thành tội phạm trong lĩnh vực môi trường dưới dạng cấu thành tội phạm hình thức, lỗi vô ý v.v… Đối với phạm vi của tội gây ô nhiễm môi trường trong BLHS hiện hành, việc xử lý tội phạm xâm phạm tới môi trường hiện nay chỉ được tiến hành trong 03 lĩnh vực là môi trường nước, không khí và đất Điều này sẽ hạn chế thẩm quyền của các cơ quan chức năng trong việc xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong các thành phần khác của môi trường khi mà đã bắt đầu xuất hiện những hành vi xâm phạm tới các lĩnh vực môi trường đó trong thực tiễn hiện nay Mặt khác, hiện nay BLHS hiện hành vẫn chỉ truy cứu đối với trường hợp lỗi cố ý sẽ dẫn tới nhiều trường hợp bỏ lột tội phạm cũng như

Trang 29

khó chứng minh được tội phạm được thực hiện với lỗi cố ý Hiện tại, qua tham khảo BLHS của một số nước trên thế giới có quy định tương tự về tội gây ô nhiễm môi trường thì các nước đó cũng đã quy định cả trường hợp lỗi

vô ý thực hiện các hành vi gây ô nhiễm môi trường Theo tác giả, việc quy định cả hình thức lỗi vô ý là rất cần thiết, không những nâng cao được trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức mà còn nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm gây ô nhiễm môi trường.v.v

Vì vậy, để bảo đảm phục vụ hiệu quả đối với công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, việc xây dựng khái niệm về tội gây ô nhiễm môi trường vừa phải đáp ứng các dấu hiệu chung của tội phạm theo quy định của BLHS vừa phải phù hợp hoặc không trái với chính sách hay định hướng của pháp luật hình sự Việt Nam trong những năm tới đối với nhóm tội phạm về môi trường Trên cơ sở nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc các quan điểm của các chuyên gia

về tội phạm môi trường, theo chúng tôi có thể khái niệm của tội gây ô nhiễm

môi trường như sau: tội gây ô nhiễm môi trường là một tội phạm, được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS, có lỗi và đạt độ tuổi luật định khi thực hiện hành vi, xâm phạm đến các quan hệ xã hội bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm bằng hành vi thải vào môi trường các chất gây ô nhiễm

1.3 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình

sự Việt Nam về tội gây ô nhiễm môi trường

1.3.1 Giai đoạn sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ nhất – Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ hai - Bộ luật hình sự năm 1999

Trong giai đoạn trước những năm 1980, do những nguyên nhân cả chủ quan lẫn khách quan như hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước ta khi vừa trải qua một thời gian dài của chiến tranh giành độc lập, điều kiện kinh tế xã hội v.v… nên những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường khỏi sự ô

Trang 30

nhiễm chưa được quan tâm, chú trọng nhiều và chưa được ghi nhận chi tiết trong pháp luật hình sự của nước ta Những năm tiếp theo sau đó, vấn đề bảo

vệ môi trường nói chung đã được đạo luật cao nhất của Nhà nước ta là Hiến

pháp năm 1980 bước đầu quy định: “Các cơ quan nhà nước, xí nghiệp, hợp tác xã, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân đều có nghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo và tái sinh các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và cải thiện môi trường sống” [45, Điều 36] Thời kỳ này, khi nền kinh tế của đất

nước đang hồi phục và phát triển thì những hệ lụy từ vấn đề ô nhiễm môi trường đang dần trở nên cấp bách đã khiến cho yêu cầu bảo vệ môi trường bằng các chế tài hình sự ngày một lớn Đứng trước những yêu cầu về bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm, đồng thời, cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 1980 về bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã bước đầu quy định vấn đề bảo vệ môi trường trong BLHS năm 1985 trong một số trường hợp Ví dụ, Điều 180 Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ đất đai; Điều 181 Tội vi phạm các quy định về quản lý bảo vệ rừng; Điều 195 Tội vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường gây hậu quả nghiêm trọng v.v Tuy nhiên, việc quy định này còn rất sơ sài, không được hệ thống hóa, tập chung với tính chất là một chương riêng biệt đối với các tội phạm về môi trường, đồng thời,

có thể các nhà làm luật lúc này chủ yếu là nhấn mạnh đến khía cạnh kinh tế của các nguồn tài nguyên này mà chưa chú ý đến việc mô tả cụ thể các hành

vi Điều này, dễ dàng nhận thấy qua việc một số tội phạm về môi trường được gộp lại với những tội phạm khác và được hiểu không phải với tư cách là những tội phạm về môi trường Bên cạnh đó, đối với vấn đề ô nhiễm môi trường, BLHS năm 1985 chưa có quy định rõ đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường trong một hay một số điều luật cụ thể Do BLHS năm 1985 được xây dựng và ban hành trước thời kỳ đổi mới, vì vậy, khi tình hình kinh tế - xã hội của đất nước ta có những bước phát triển và tiến bộ vượt bậc, xã hội phát

Trang 31

sinh thêm nhiều quan hệ xã hội, nhiều loại tội phạm mới hình thành và xuất hiện dẫn tới pháp luật hình sự chưa điều chỉnh, chưa dự liệu hết được là điều

có thể hiểu được Đây chính là những hạn chế đã được nhà làm luật đánh giá, phân tích và bổ sung các hành vi có dấu hiệu của tội phạm mới phát sinh, cho việc tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật hình sự về bảo vệ môi trường nói chung, bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm nói riêng trong lần pháp điển hóa lần thứ hai (BLHS năm 1999)

1.3.2 Giai đoạn từ sau khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự lần thứ hai – Bộ luật hình sự năm 1999 đến trước khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999

Hiến pháp năm 1992 ra đời trong hoàn cảnh vấn đề bảo vệ môi trường ngày càng được dư luận trong nước và quốc tế quan tâm Nếu như, Hiến pháp

năm 1980 chỉ quy định việc bảo vệ môi trường chỉ dừng lại ở mức độ “nghĩa vụ” đối với mọi công dân, các cơ quan, đơn vị, thì đến bản Hiến pháp năm

1992, đã thể hiện một mức độ quyết liệt hơn, nghiêm khắc hơn, cụ thể:

“Nghiêm cấm mọi hành động làm suy kiệt tài nguyên và huỷ hoại môi trường”

[46, Điều 29] Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1992 trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hóa việc bảo vệ môi trường như: Luật đất đai năm 1993, Luật bảo vệ môi trường năm 1993; Nghị định số 26/CP ngày 26/04/1996 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường v.v Đây là sự nỗ lực của Nhà nước ta nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hoàn chỉnh

để bảo vệ môi trường trước thực trạng môi trường sinh thái ngày càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Pháp luật hình sự cũng phải đứng trước những áp lực và yêu cầu mới về vấn đề bảo vệ môi trường khi mà trước đó (BLHS năm 1985) không được đánh giá cao về hiệu quả thi hành cũng như còn nhiều bất cập trong nội dung các quy định Bởi vậy, ở lần pháp điển hóa lần thứ 2 này

Trang 32

(BLHS năm 1999), nhà làm luật đã rất coi trọng vấn đề này và ghi nhận tại một chương riêng - Chương XVII với 10 điều luật quy định khá cụ thể và chi tiết các hành vi xâm hại đến môi trường Theo đó, hành vi gây ô nhiễm môi trường gồm có 03 tội (tội gây ô nhiễm không khí - Điều 182; tội gây ô nhiễm nguồn nước - Điều 183 và tội gây ô nhiễm đất - Điều 184) Việc quy định các tội phạm về gây ô nhiễm trong một số thành phần của môi trường sống như nước, không khí, đất đã thể hiện sự quan tâm kịp thời của Đảng và Nhà nước trước thực trạng môi trường đang bị ô nhiễm với mức độ nghiêm trọng tại nhiều địa phương trên cả nước Tuy nhiên, theo quy định của BLHS năm

1999, việc xử lý về mặt hình sự đối với các tội (tội gây ô nhiễm không khí, tội gây ô nhiễm nguồn nước và tội gây ô nhiễm đất) phải bảo đảm có đủ ba yếu

tố mới cấu thành tội phạm, cụ thể: Thải chất gây ô nhiễm môi trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép; đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện

các biện pháp khắc phục và gây hậu quả nghiêm trọng Việc quy định như vậy

là thiếu tính khả thi và khó áp dụng trong thực tế, bởi xác định hậu quả nghiêm trọng của hành vi gây ô nhiễm môi trường có nhiều trường hợp không xác định được ngay mà phải sau một thời gian dài mới có thể xác định được hậu quả Còn việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, thường chỉ áp dụng đối với pháp nhân nên rất khó khăn để làm căn cứ xử lý

về hình sự đối với người có hành vi gây ô nhiễm môi trường Ví dụ, trong năm 2008, sự kiện gây xôn xao dư luận trong nước liên quan đến thực trạng gây ô nhiễm môi trường là vụ của Công ty Vedan xả thải ra sông Thị Vải Ngày 08-9-2008, cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường bắt quả tang Công ty Vedan xả trộm nước thải chưa qua xử lý, Vedan đã lắp đặt hệ thống bơm, đường ống ngầm để xả trực tiếp nước thải ra sông Thị Vải nhằm qua mặt chính quyền Hành vi này đã gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản

và sức khỏe của nông dân ba tỉnh Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu và TP Hồ

Trang 33

Chí Minh nằm bên sông Thị vải Cơ quan công an đã vào cuộc nhưng không thể xử lý hình sự mà chỉ phạt hành chính với mức tiền phạt 267,5 triệu đồng Khoảng một tháng sau, đêm 10-10-2008, cảnh sát môi trường TP Hồ Chí Minh lại bắt quả tang công ty thuộc da Hào Dương đang lén điều khiển hệ thống điện đặc biệt xả thẳng nước thải chưa qua xử lý ra sông Đồng Điền Cùng với 23 lần bị lập biên bản gây ô nhiễm môi trường, hồ sơ vụ việc được chuyển đi nhằm khởi tố vụ án hình sự về tội gây ô nhiễm nguồn nước Nhưng tháng 3-2009, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận không khởi tố do chưa đủ cơ sở để truy tố Hào Dương bị xử phạt hành chính, mức tiền tối đa chỉ 33 triệu đồng.v.v Tuy nhiên, tất cả các vụ vi phạm trên đều không thể xử lý hình sự Sở dĩ các vụ gây ô nhiễm môi trường nói trên không thể xử lý hình sự là vì BLHS năm 1999 quy định dấu hiệu đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn cố tình vi phạm mới cấu thành tội phạm Theo pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, khi các cơ sở sản xuất (công ty/pháp nhân) có hành vi gây ô nhiễm môi trường, việc xử phạt hành chính sẽ được tiến hành đối với pháp nhân đó Trong khi

đó, BLHS chỉ coi cá nhân là chủ thể của tội phạm Do đó, khi các cơ quan chức năng muốn khởi tố người đứng đầu pháp nhân hoặc người trực tiếp điều hành việc xả thải gây ô nhiễm môi trường thì hành vi của người này không đủ yếu tố cấu thành tội phạm vì dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính chưa được thỏa mãn Chính vì vậy, khắc phục điểm bất cập, vướng mắc này trong quy định của BLHS năm 1999 đối với quy định về các tội phạm gây ô nhiễm môi trường là rất cần thiết

1.3.3 Giai đoạn từ sau khi sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm

1999 (Bộ luật hình sự hiện hành) đến nay

Tính đến năm 2009, trải qua gần mười năm thi hành, BLHS năm 1999

đã góp phần quan trọng vào việc bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã

Trang 34

hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế – xã hội Tuy nhiên, đứng trước yêu cầu của thực tiễn áp dụng, một số quy định của BLHS năm 1999 về tội phạm môi trường nói chung, tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng đã phát sinh một số hạn chế, vướng mắc và bất cập, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, nhất là việc tăng cường hội nhập quốc tế và quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước BLHS sửa đổi, bổ sung năm 2009 (BLHS hiện hành) đã quy định 11 tội danh về các tội phạm môi trường, trong đó hành vi gây ô nhiễm môi trường chỉ duy nhất được quy định tại một điều luật – Điều 182 Tội gây ô nhiễm môi trường Đây chính là kết quả của việc các nhà làm luật đã gộp các tội (tội gây ô nhiễm không khí - Điều 182, tội gây ô nhiễm nguồn nước - Điều 183 và tội gây ô nhiễm đất - Điều 184 trong BLHS năm 1999) thành tội gây ô nhiễm môi trường - Điều

182 BLHS hiện hành Sự thay đổi này trong quy định của BLHS hiện hành bắt nguồn từ việc thay đổi quan niệm về ô nhiễm môi trường của pháp luật bảo vệ môi trường (Luật bảo vệ môi trường năm 1993 đã được thay thế bằng Luật bảo vệ môi trường năm 2005), của kĩ thuật lập pháp.v.v Ví dụ, một số hành vi phạm tội được mô tả trong khoản 1 của mỗi điều luật có sự lặp lại như

“thải các yếu tố độc hại, phát các bức xạ, chất phóng xạ” [48, Điều 182-184];

đều được xây dựng với cấu thành vật chất – dấu hiệu hậu quả gây ra đối với

môi trường quá tiêu chuẩn cho phép Như vậy, việc nhập 3 tội danh về gây

ô nhiễm không khí, gây ô nhiễm nguồn nước, gây ô nhiễm đất thành tội gây ô nhiễm môi trường là một điểm mới, hợp lý, là sự tiến bộ về mặt kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật, đồng thời, giúp cho việc áp dụng trên thực tế được linh hoạt, thuận lợi hơn Bên cạnh đó, đối với các yếu tố để cấu thành tội phạm được đặt ra đối với loại tội phạm này như: Thải chất gây ô nhiễm môi

Trang 35

trường vượt quá tiêu chuẩn cho phép; đã bị xử phạt hành chính mà cố tình không thực hiện các biện pháp khắc phục; gây hậu quả nghiêm trọng, đã nhận được khá nhiều ý kiến phản ánh của các chuyên gia nghiên cứu về tội phạm môi trường trong quá trình xin ý kiến sửa đổi, bổ sung BLHS năm 1999 Về nội dung này, các chuyên gia đều cho rằng, việc BLHS năm 1999 quy định như vậy đã cản trở đến hiệu quả áp dụng, xử lý về mặt hình sự đối với các tội phạm gây ô nhiễm môi trường Chính vì vậy, sau khi BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nội dung đã bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm

đã được nhà làm luật bỏ trong các dấu hiệu cấu thành tội gây ô nhiễm môi trường Do vậy, về bản chất, cấu thành tội phạm của tội gây ô nhiễm môi trường đã được sửa đổi khác so với cấu thành tội phạm của ba hành vi gây ô nhiễm môi trường trong BLHS năm 1999 khi chưa được sửa đổi, bổ sung Theo đó, chỉ truy cứu TNHS đối với những người có hành vi gây ô nhiễm môi

trường “vượt quá quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải ở mức độ nghiêm trọng hoặc làm môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác” [49, Điều 182] Đây rõ ràng là một trong những điểm mới

và tiến bộ của BLHS sau khi sửa đổi, bổ sung năm 2009, đồng thời, khắc phục được một phần những bất cập, khó khăn về cơ sở pháp lý để truy cứu TNHS các cá nhân gây ô nhiễm môi trường Tuy vậy, việc xác định thiệt hại của hành vi gây ô nhiễm môi trường vẫn đặt ra những thách thức không nhỏ cho nhà làm luật khi hiện nay vấn đề đó đã cản trở không nhỏ tới hiệu quả của việc áp dụng tội gây ô nhiễm môi trường trong thực tế Ngoài những sửa đổi,

bổ sung đã được đề cập ở trên, BLHS hiện hành còn có một số nội dung liên quan đến việc tăng nặng TNHS đối với tội phạm gây ô nhiễm môi trường Việc tăng mức hình phạt theo quy định của BLHS hiện hành đối với tội gây ô nhiễm môi trường đã thể hiện sự cân nhắc của nhà làm luật với sự phát triển tình hình kinh tế xã hội nước ta so với giai đoạn trước đó, đồng thời, điều đó

Trang 36

còn có tác dụng răn đe, ngăn ngừa những hành vi gây ô nhiễm môi trường ở mức độ cao hơn, quyết liệt hơn so với BLHS năm 1999

1.4 Quan điểm của cộng đồng quốc tế và quy định của một số nước

về tội gây ô nhiễm môi trường

1.4.1 Quan điểm của cộng đồng quốc tế về tội gây ô nhiễm môi trường

Ngày nay, việc tăng cường sử dụng pháp luật hình sự để chống lại các hành vi gây ô nhiễm môi trường diễn ra khá phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới Không chỉ dừng lại ở phạm vi quốc gia, luật hình sự về bảo vệ môi trường khỏi sự ô nhiễm còn nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế Điều này được minh chứng bởi những sự kiện như: trong suốt Hội nghị lần thứ tám của Liên hợp quốc về phòng ngừa tội phạm và đấu tranh với tội phạm

có tổ chức tại Havana, Cuba năm 1990, vấn đề kiểm soát chặt chẽ hơn những hoạt động phạm tội có tổ chức gây thiệt hại cho môi trường tự nhiên đã được đưa ra thảo luận Nghị quyết số 45/121 ngày 14 tháng12 năm 1990 với sự nhất trí của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thúc đẩy các quốc gia sửa đổi luật hình sự để tạo ra một giải pháp có hiệu quả đối với những hiểm họa môi trường mà đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường Thêm một lần nữa, vai trò của luật hình sự trong việc bảo vệ môi trường trước những hiểm họa do ô nhiễm môi trường lại được nhấn mạnh trong một loạt các Nghị quyết của Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc như: Nghị quyết số 28 năm 1993, Nghị quyết số 15 năm 1994, Nghị quyết số 27 năm 1995 v.v… Tại châu Âu, văn bản pháp lí đầu tiên đề cập yêu cầu phải kiểm soát các hành vi xâm hại, gây ô nhiễm môi trường là Nghị quyết (77) 28 về sự đóng góp của luật hình

sự đối với việc bảo vệ môi trường, được thông qua tại cuộc gặp lần thứ 27,

Uỷ ban các bộ trưởng của Hội đồng châu Âu ngày 28/9/1977 Nghị quyết này

đã đưa ra một yêu cầu khẩn thiết về sự can thiệp của luật hình sự để ngăn

Trang 37

ngừa những hành vi phá hủy môi trường Sau đó, Công ước số 172 của Hội đồng châu Âu về bảo vệ môi trường bằng pháp luật hình sự ngày 04/11/1998

đã nhấn mạnh luật hình sự đóng góp một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường Bên cạnh đó, hàng loạt các hội thảo quốc tế cũng thảo luận sôi nổi vấn đề sử dụng pháp luật hình sự để bảo vệ môi trường, trong đó điển hình là Hội thảo về chính sách hình sự về bảo vệ thiên nhiên và môi trường tại châu Âu được tổ chức tại Lauchhammer (Đức), từ ngày 25 đến ngày 29/4/1994 Tại đây, luật hình sự đã được đánh giá là một công cụ không thể thiếu trong việc bảo vệ môi trường trước các nguy cơ bị xâm hại, ô nhiễm v.v Hiện nay tội phạm gây ô nhiễm môi trường đang được quốc tế nhìn nhận với một số điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, đó là sự gia tăng nhanh chóng của các hành vi gây ô nhiễm môi trường

Hiện nay, tại nhiều nước đang phát triển, việc ưu tiên phát triển kinh tế trong đó ưu tiên cho hoạt động xây dựng các khu công nghiệp, khu chế xuất.v.v… đang phải đối mặt với tình hình ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng Những ưu đãi về tài chính, cơ sở hạ tầng cùng một loạt các điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nước ngoài mà buông lỏng việc quản lý bảo vệ môi trường đã khiến cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất lợi dụng để thực hiện những hoạt động tàn phá môi trường Ngay cả đối với những nước phát triển, những hành vi gây ô nhiễm môi trường cũng không ngừng gia tăng và không

hề có ngoại lệ khác Những hành vi này không chỉ phát triển về mặt số lượng

mà còn gây mối lo ngại cả về tính nguy hiểm cho xã hội của chúng Ví dụ, tại Thụy Điển, theo số liệu thống kê chính thức của nước này đã chứng minh sự gia tăng rõ rệt các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường nói chung, hành

vi gây ô nhiễm môi trường nói riêng Theo đó, trong năm 2000, số các quyết định xử lý các hành vi xâm phạm môi trường tại Thụy Điển đã tăng lên tới

Trang 38

278% so với các năm trước đó Cũng theo khảo sát của một nhà nghiên cứu Thụy Điển, hoạt động của gần một nửa triệu các công ty của Thụy Điển đang

bị xếp vào loại tạo ra những mối nguy hiểm cho môi trường v.v

Thứ hai, việc tăng cường sử dụng luật hình sự để bảo vệ môi trường trước các nguy cơ ô nhiễm là do sự thiếu hiệu quả của các biện pháp pháp lí khác đối với việc xử lí các vi phạm pháp luật về môi trường

Đây cũng chính là một trong những nhận định đã được đưa ra tại Hội thảo Lauchhammer, khi nhiều chuyên gia của nhiều nước đều cho rằng luật hình sự cần phải được áp dụng đối với những người vi phạm mà trước đó các chế tài hành chính áp dụng đối với họ đã không có hiệu quả Bên cạnh đó, Uỷ ban châu

Âu trong một kiến nghị cho Nghị quyết về bảo vệ môi trường bằng pháp luật

hình sự cũng khẳng định tầm quan trọng của luật hình sự là phương tiện duy

nhất để bảo đảm cho việc thực thi luật của Cộng đồng châu Âu một cách hiệu quả, các quốc gia thành viên có trách nhiệm phải quy định các biện pháp pháp lí hình sự nhằm bảo vệ môi trường Khi bàn về mức độ can thiệp của luật hình sự vào công tác bảo vệ môi trường trước các hành vi gây ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng, đa số các quan điểm đều nhất trí rằng, tuy luật hình sự được đánh giá là biện pháp không thể thiếu trong tổng thể hoạt động đấu tranh phòng chống

vi phạm pháp luật về môi trường song cũng không vì thế mà lạm dụng nó và chỉ nên là giải pháp cuối cùng, khi mà các biện pháp khác không được tuân thủ hoặc được thực hiện một cách không có hiệu quả hoặc hiệu quả không đáng kể Theo

đó, luật hình sự nên được xem là một công cụ hỗ trợ bên cạnh luật hành chính, là công cụ phòng ngừa đối với cả khả năng tái phạm của người phạm tội lẫn ý định phạm tội của những công dân khác Tóm lại, trong mối quan hệ với việc bảo vệ môi trường trước các hành vi xâm phạm, gây ô nhiễm v.v luật hình sự được xem là một công cụ để phòng ngừa, để răn đe là chính Do vậy, việc sử dụng pháp luật hình sự được cho là nên có giới hạn Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới

Trang 39

đang tồn tại hai loại ý kiến trái ngược nhau về tính nguy hiểm của các tội phạm gây ô nhiễm môi trường Theo đó, loại ý kiến thứ nhất cho rằng tội phạm gây ô nhiễm môi trường là loại tội vi cảnh, là những hành vi nguy hiểm không đáng kể hoặc không nên bị xem là tội phạm Như một số hiện tượng xã hội mới khác, tội phạm gây ô nhiễm môi trường không được mọi người chấp nhận như một loại tội phạm thực sự Những quan niệm đánh giá thấp tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm gây ô nhiễm môi trường được biện minh bởi một lí do liên quan đến yếu tố nạn nhân Những người theo quan điểm này cho rằng, tội phạm gây ô nhiễm môi trường được xem là loại tội không có nạn nhân hoặc nạn nhân không

rõ ràng Chính vì quan niệm trên nên sẽ gây khó khăn đối với mọi người để có thể nhận thức về các tội phạm gây ô nhiễm môi trường theo cùng một cách suy nghĩ về những loại tội phạm truyền thống khác và thật nguy hiểm bởi vì điều đó làm cho người ta dễ dàng vi phạm các quy định của pháp luật về môi trường Ví

dụ, hành vi đổ lượng thuốc sâu tự chế tạo còn dùng thừa xuống ao cá nhà hàng xóm và người đổ không ý thức được rằng, hành vi của mình có thể bị coi là tội phạm v.v… Trong khi đó, có những ý kiến ngược lại cho rằng những hành vi gây ô nhiễm môi trường là nguy hiểm và cần phải bị xử lí bằng pháp luật hình sự Những hành vi này bị lên án là không chỉ gây thiệt hại cho tài sản mà còn gây nguy hiểm cho con người cũng như các giá trị khác Chính

vì vậy, tội phạm gây ô nhiễm môi trường nói riêng và các tội phạm về môi trường nói chung trong một số trường hợp có ý kiến đã coi là một trong những loại tội phạm xâm hại tới những giá trị nhân văn quan trọng, do đó có thể bị xem là một loại tội chống loài người Không những thế, tội phạm gây ô nhiễm môi trường cùng với các tội phạm khác về môi trường còn bị yêu cầu đưa ra xét xử như một loại tội phạm quốc tế theo hướng thành lập một toà án môi trường quốc tế bên cạnh việc kêu gọi toà án hình sự quốc tế xét xử những tội phạm về môi trường nghiêm trọng v.v…

Trang 40

Thứ ba, đây là loại tội phạm mặc dù được coi là có tính nguy hiểm cho

xã hội chưa rõ ràng nhưng ảnh hưởng tới môi trường sống rõ dệt và nhanh chóng hơn các loại tội phạm môi trường khác

Nói một cách khác, việc chứng minh tính nguy hiểm cho xã hội của loại tội phạm này chưa đủ sức thuyết phục đối với cả cộng đồng Tuy nhiên,

so về tính chất và mức độ nguy hiểm của loại tội phạm này so với các loại tội phạm môi trường khác thì tội phạm gây ô nhiễm môi trường vẫn thể hiện ở mức độ cao hơn, nghiêm trọng hơn Ví dụ như các hành vi xâm hại tới động vật hoang dã cần bảo vệ, tài nguyên rừng thì ảnh hưởng tới môi trường sống phải một thời gian khá lâu con người mới nhận thấy được Tuy nhiên, những hành vi gây ô nhiễm môi trường thì thời gian tác động tới môi trường, sức khỏe con người, động vật, thực vật ít hơn và nhiều trường hợp là ảnh hưởng ngay lập tức Bên cạnh đó, nhiều nước cũng đã chứng minh được một số chất gây ô nhiễm môi trường còn ảnh hưởng qua một thời gian dài hoặc gây ra các bệnh di truyền cho nhiều thế hệ

Thứ tư, hậu quả của các tội phạm gây ô nhiễm môi trường được cho là khó xác định

Về vấn đề này, hiện nay nhiều tác giả cũng tán thành quan điểm này và đều có chung nhận định, việc đánh giá thiệt hại để làm cơ sở cho việc xác định TNHS và những biện pháp khắc phục hậu quả đối với tội phạm này là hết sức phức tạp bởi một thực tế là thiệt hại gây ra có thể được tích lũy dần (là loại thiệt hại tiềm ẩn, dần dần nảy sinh) và gây ra cho nhiều nạn nhân mà một vài người trong số họ thậm chí có thể không biết rằng mình đang là nạn nhân Hơn nữa, thiệt hại do tội phạm gây ô nhiễm môi trường gây ra được xem là rất đa dạng và phức tạp Chúng không chỉ là thiệt hại về tính mạng, về sức khoẻ của con người, của tập quán, nguồn sống của động thực vật, mà còn là thiệt hại cho thiên nhiên, cảnh quan, môi sinh v.v… Vì vậy, loại tội phạm này

Ngày đăng: 21/08/2015, 12:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Thanh An (2008), “Một số khó khăn trong việc áp dụng pháp luật hình sự để xử lý các tội phạm về môi trường”, Toà án nhân dân, (15), tr.19-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số khó khăn trong việc áp dụng pháp luật hình sự để xử lý các tội phạm về môi trường”, "Toà án nhân dân
Tác giả: Dương Thanh An
Năm: 2008
2. Dương Thanh An (2011), Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường, luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về môi trường
Tác giả: Dương Thanh An
Năm: 2011
3. Nguyễn Hải Anh (2009), “Cần sớm sửa đổi, bổ sung các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự 1999”, Kiểm sát, (4), tr.33-39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần sớm sửa đổi, bổ sung các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự 1999”, "Kiểm sát
Tác giả: Nguyễn Hải Anh
Năm: 2009
4. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Bình luận khoa học Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự năm 1999
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2009
6. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Giáo trình luật hình sự Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
7. Nguyễn Ngọc Anh (2012), Giáo trình luật hình sự dùng cho hệ cao học, chuyên ngành tội phạm học và điều tra tội phạm, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật hình sự dùng cho hệ cao học, chuyên ngành tội phạm học và điều tra tội phạm
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2012
8. Ban từ điển nhà xuất bản khoa học kĩ thuật (2001), Từ điển môi trường và phát triển bền vững Anh - Việt và Việt - Anh, Nxb Khoa học kĩ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển môi trường và phát triển bền vững Anh - Việt và Việt - Anh
Tác giả: Ban từ điển nhà xuất bản khoa học kĩ thuật
Nhà XB: nhà xuất bản khoa học kĩ thuật (2001)
Năm: 2001
9. Bộ Công an - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư liên tịch 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày 06/02 hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch 02/2009/TTLT-BCA-BTNMT ngày 06/02 hướng dẫn quan hệ phối hợp công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường
Tác giả: Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
10. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (1996), Thông tư số 2433/TT- KCM ngày 03/10 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 2433/TT-KCM ngày 03/10 hướng dẫn thi hành Nghị định số 26/CP ngày 26/4/1996 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Tác giả: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường
Năm: 1996
11. Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường (2002), Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25/06 về việc công bố danh mục Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 25/06 về việc công bố danh mục Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường bắt buộc áp dụng
Tác giả: Bộ Khoa học, công nghệ và môi trường
Năm: 2002
12. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2006), Quyết định số 22/2006/QĐ- BTNMT ngày 18/12 về bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12 về bắt buộc áp dụng Tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2006
13. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 03/7 hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2007/TT-BTNMT ngày 03/7 hướng dẫn phân loại và quyết định danh mục cơ sở gây ô nhiễm môi trường cần phải xử lý
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
14. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), Quyết định số 16/2008/QĐ- BTNMT ngày 31/12/2008 của ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 của ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2008
15. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT ngày 07/10 quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 16/2009/TT-BTNMT ngày 07/10 quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11 ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 25/2009/TT-BTNMT ngày 16/11 ban hành quy chuẩn quốc gia về môi trường
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
17. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2009), Thông tư số 21/2009/TT-BTNMT ngày 05/11 quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước xả thải của nguồn nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 21/2009/TT-BTNMT ngày 05/11 quy định về định mức kinh tế - kỹ thuật điều tra, đánh giá hiện trạng xả nước thải và khả năng tiếp nhận nước xả thải của nguồn nước
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2009
18. Phạm Văn Beo (2011), “Một số suy nghĩ về tội gây ô nhiễm môi trường”, Nhà nước và pháp luật, (4), tr.68-72 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về tội gây ô nhiễm môi trường”, "Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Phạm Văn Beo
Năm: 2011
19. Chính phủ (1994), Nghị định số 175/CP ngày 18/10 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 175/CP ngày 18/10 về hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1994
20. Chính phủ (1996), Nghị định số 26/CP ngày 26/4 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 26/CP ngày 26/4 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 1996
21. Chính phủ (2004), Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 121/2004/NĐ-CP ngày 12/5 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2004

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:   Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành vi gây ô nhiễm - Tội gây ô nhiễm môi trường trong luật hình sự việt nam luận văn ths  luật
Bảng 2.1 Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành vi gây ô nhiễm (Trang 7)
Bảng 2.1: Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành - Tội gây ô nhiễm môi trường trong luật hình sự việt nam luận văn ths  luật
Bảng 2.1 Tỷ lệ xử phạt vi phạm hành chính hành (Trang 67)
Bảng 2.2: Tình hình khởi tố và xét xử tội gây ô  nhiễm môi trường từ năm 2009 đến năm 2013  Năm  Số vụ án bị - Tội gây ô nhiễm môi trường trong luật hình sự việt nam luận văn ths  luật
Bảng 2.2 Tình hình khởi tố và xét xử tội gây ô nhiễm môi trường từ năm 2009 đến năm 2013 Năm Số vụ án bị (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm