1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU của các MARKER HBV ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN mạn HOẠT ĐỘNG và NGƯỜI MANG HBSAG KHÔNG TRIỆU CHỨNG

3 271 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 118,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 864 - số 3/2013 129 Tìm hiểu sự khác nhau của các marker HBV ở bệnh nhân viêm gan mạn hoạt động và người mang HBsag không triệu chứng Nguyễn Khuyến - Bệnh viện đa khoa

Trang 1

Y học thực hành (864) - số 3/2013 129

Tìm hiểu sự khác nhau của các marker HBV ở bệnh nhân

viêm gan mạn hoạt động và người mang HBsag không triệu chứng

Nguyễn Khuyến - Bệnh viện đa khoa Đức Giang

Đỗ Tuấn Anh - Bệnh viện 103 Tóm tắt

Nghiên cứu trên 60 bệnh nhân được chia thành

hai nhóm viêm gan mạn hoạt động (VGMHĐ) và

người mang HBsAg không triệu chứng (NMHKTC)

bằng phương pháp tiến cứu cắt ngang với mục tiêu

tìm hiểu sự khác nhau của các marker HBV ở bệnh

nhân viêm gan mạn hoạt động và người mang HBsAg

không triệu chứng, chúng tôi nhận thấy: ở nhóm tuổi

16-30, NMHKTC có tỷ lệ HBsAg (+) cao hơn có ý

nghĩa so với nhóm VGMHĐ (53,33% và 16,67%)

Không có sự khác biệt về tỷ lệ HBsAg (+) giữa hai giới

tính Bệnh nhân VGMTHĐ có hàm lượng HBsAg cao,

nồng độ HBV- DNA > 105 copies/ ml và HBeAg(+)

trong khi NMHKTC có hàm lượng HBsAg thấp, nồng

độ HBV- DNA < 105 copies/ ml và Anti- HBe(+)

Từ khóa: viêm gan mạn hoạt động

summary

Study on 60 patients who were divided into two

groups of chronic active hepatitis patients and

asymptomatic carriers of HbsAg by the

cross-sectional prospective study with the aim to

understand the differences of markers of HBV in

chronic active hepatitis patients and asymptomatic

carriers of HBsAg, we found that: in group age 16-30,

rate of HBsAg (+) of the asymptomatic carriers of

HBsAg was significantly higher than group of the

chronic active hepatitis (53.33% and 16.7%) There

was no difference in the rate of HBsAg (+) between

the sexes The chronic active hepatitis patients had

high levels of HBsAg, HBV-DNA levels> 105

copies/ml and HBeAg (+) while the asymptomatic

carriers of HBsAg had low levels of HBsAg,

HBV-DNA levels <105 copies/ml and anti-HBe (+)

Keywords: chronic active hepatitis

Đặt vấn đề

Viêm gan virút B là bệnh truyền nhiễm phổ biến ở

hầu hết các nước trên thế giới với tỷ lệ mắc khác

nhau

Việt Nam là quốc gia nằm trong vùng dịch lưu

hành có tỷ lệ nhiễm HBV cao trên thế giới Theo số

liệu điều tra của Bộ Y tế, có khoảng 12 - 16 triệu

người mang HBV, tương ứng với tỷ lệ người có

HBsAg(+) trong cộng đồng từ 14 - 26%, số người

nhiễm HBV mạn tính trên dưới 10 triệu người

HBsAg(+) ở 58% số BN XG, ở ung thư gan nguyên

phát tỷ lệ HBsAg(+) là 84% Ung thư gan nguyên phát

chiếm 3,6% và đứng hàng thứ 3 trong các bệnh lý ác

tính, là nguyên nhân tử vong hàng thứ 3 cho nam giới,

hàng thứ 5 cho nữ giới Bệnh VGVR B có nhiều thể

khác nhau VGVR B mạn tính hoạt động là một trong

những thể hay gặp Tiến triển của bệnh thường âm thầm xen lẫn những đợt bùng phát Hậu quả thường dẫn tới XG, ung thư tế bào gan Do vậy, việc phát hiện và điều trị sớm thực sự có ý nghĩa

Người mang HBsAg không triệu chứng (carrier) và VGVR B mạn tính hoạt động là hai thể bệnh hay gặp

và trong thực tế đôi khi khó xác định Song, việc tiên lượng hai thể bệnh này lại hoàn toàn khác nhau Từ lâu, nhiều tác giả đã quan tâm, phân tích sự có mặt của các marker HBV và đây có thể là một căn cứ quan trọng để phân biệt hai thể bệnh trên Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm mục tiêu: Tìm hiểu sự khác nhau của các marker HBV ở bệnh nhân viêm gan mạn hoạt động và người mang HBsAg không triệu chứng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

- Nhóm 1: (người mang HBsAg không triệu chứng): Là những người có HBsAg (+) nhưng không

có triệu chứng (lâm sàng, sinh hoá đều bình thường), tuổi từ 16 đến 60, gồm nhiều ngành nghề khác nhau

và ở nhiều địa phương

- Nhóm 2: (BN VGVR B mạn tính hoạt động): Là những BN được chẩn đoán là VGVR B mạn tính hoạt

động điều trị nội trú tại bệnh viện quân y 103 và Bệnh viện TƯQĐ 108

Cỡ mẫu nghiên cứu

- Nhóm 1: 30 người mang HBsAg (+) không triệu chứng

- Nhóm 2: 30 BN VGVR B mạn tính hoạt động

2 Tiêu chuẩn loại trừ Loại trừ những BN có những đặc điểm sau: Bệnh có kết hợp các nguyên nhân khác như: VG

do thuốc, do hoá chất, do rượu, tự miễn

BN đồng nhiễm HCV, HDV, HIV

BN đang mắc bệnh kết hợp như: sốt rét, tiểu

đường, viêm đường mật

HBsAg (+) ở BN XG, ung thư gan…

3 Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu tiến cứu trên cơ sở theo dõi cắt ngang Tất cả BN nhiên cứu được đăng ký theo một mẫu thống nhất

3.1 Phương pháp nghiên cứu lâm sàng Tất cả BN nghiên cứu được khám bệnh tỷ mỷ ngay sau khi vào viện và hàng ngày cho đến khi ra viện Các triệu chứng xét nghiệm thu thập được, được ghi chép đầy đủ Khai thác Tiền sử bệnh:

Có vàng da, niêm mạc trước khi vào viện 6 tháng

Trang 2

Y học thực hành (864) - số 3/2013 130

Xét nghiệm HBsAg (+) trước khi vào viện 6

tháng

3.2 Xét nghiệm

Xét nghiệm HBsAg định tính được làm tại Khoa

huyết học, bệnh viện quân y 103 và 108

Xét nghiệm: HBsAg định lượng, HBeAg, Anti-

HBe, Anti- HBc được làm tại Khoa miễn dịch bệnh

viện quân y 108 và labo vi sinh vật - Viện vệ sinh dịch

tễ quân đội

Xét nghiệm HBV-DNA được làm tại labo sinh học

phân tử Viện vệ sinh dịch tễ quân đội

* HBsAg định tính được phát hiện bằng kỹ thuật

ELISA, sử dụng KIT của hãng Sanofi trên nguyên lý

“bánh kẹp” Huyết thanh BN được coi là có HBsAg(+)

khi có chỉ số mật độ quang OD ≥ giá trị ngưỡng

* HBsAg định lượng: Xác định bằng kỹ thuật miễn

dịch phóng xạ pha rắn (SP RIA) sử dụng KIT “IMK-

413” của Trung Quốc sản xuất

* Anti- HBc: MONOLISA HBc là thử nghiệm miễn

dịch gắn men để xác định sự có mặt của KT kháng

KN lõi của virút VG B Kết quả được đọc ở bước sóng

492/620 nm Mẫu (+) khi OD > giá trị ngưỡng, mẫu (-)

khi OD < giá trị ngưỡng

* HBeAg và Anti- HBe: MONOLISA HBe là thử

nghiệm miễn dịch gắn men nhằm phát hiện HBeAg

hoặc Anti - HBe trong huyết thanh hoặc trong huyết

tương người Sự phát hiện KT nhờ sử dụng hỗn hợp

KT đơn dòng đánh dấu bằng peroxidaza

- HBV - DNA: Xác định bằng phương pháp Real

time PCR

4 Xử lý số liệu

Các số liệu được xử lý theo các phương pháp

thuật toán thống kê:

Tỷ lệ %, tính số trung bình (X), độ lệch chuẩn

(SD)

So sánh 2 số trung bình bằng thuật toán T-

student

So sánh 2 tỷ lệ bằng χ2

Tính hệ số tương quan (r)

Các kết quả được phân tích và xử lý trên máy tính

theo phần mềm EPI INFO 2002

Kết quả nghiên cứu và bàn luận

1 Phân bố theo tuổi, giới của hai nhóm

nghiên cứu

30 người trong nhóm NMHKTC có tuổi từ 16 đến

60, nhóm tuổi có tỷ lệ nhiều nhất là nhóm 1 (16 - 29

tuổi) chiếm 53,33%, rồi đến nhóm 2 chiếm tỷ lệ

26,67%, nhóm 3 và nhóm 4 cùng chiếm 10,00%

Trong nhóm NMHKTC, nam giới chiếm đa số

(73,33%), nữ giới chỉ chiếm 26,67% Sự khác nhau có

ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

Tỷ lệ VGBMTHĐ cao nhất ở nhóm tuổi 30-49

chiếm 70% sở dĩ như vậy vì số liệu lấy ở hai bệnh

viện quân đội do vậy đối tượng vào điều trị chủ yếu là

quân nhân Nhóm tuổi từ 50 tuổi trở lên chiếm

13,33%, nhóm tuổi dưới 30 tuổi chiếm 16,67%

Nhóm đối tượng nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ

nam là 86,67%, tỷ lệ nữ là 13,37% Sự khác biệt về

giới trong nhóm VGBMTHĐ qua kết quả nghiên cứu

có ý nghĩa thống kê với p < 0,05

Bảng 1: So sánh sự phân bố của BN theo tuổi ở hai nhóm

Nhóm Tuổi NMHKTC (n = 30) VGBMTHĐ (n = 30) p 16-30 16 (53,33%) 5 (16,67%) < 0,01 30-39 8 (26,67%) 13 (43,33%) > 0,05 40-49 3 (10,00%) 8 (56,67%) > 0,05 50-60 3 (10,00%) 4 (13,33%) > 0.05

Kết quả bảng 1 cho thấy: Sự phân bố theo tuổi ở hai nhóm BN nghiên cứu có sự khác biệt rõ ở lứa tuổi

16 - 30 (p < 0,01) Trong khi đó, sự phân bố theo tuổi

ở các lứa tuổi khác của 2 nhóm nghiên cứu không thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Bảng 2: So sánh sự phân bố của BN ở hai nhóm theo giới

Nhóm Giới tính

NMHKTC (n = 30)

VGBMTHĐ

(n = 30) p Nam 22 (73,33%) 26 (86,67%) > 0,05 Nữ 8 (26,67%) 4 (13,33%) > 0,05

Bảng 2 cho thấy: So sánh sự phân bố của BN ở hai nhóm nghiên cứu theo giới là không có sự khác biệt với p > 0,05

2 So sánh sự hiện diện của các Marker HBV Bảng 3: So sánh sự hiện diện của các marker HBV ở hai nhóm

Nhóm Marker NMHKTC (n = 30) VGBMTHĐ (n = 30) p HBsAg 528,409± 988,67 4038,79± 6840,89 < 0,05 HbeAg(+) 8 (26,67%) 19 (63,33%) < 0,01 Anti-HBe(+) 23 (76,67%) 9 (30,00%) < 0,001 HBeAg(+)/Anti-HBe(-) 5 (16,67%) 18 (60,00%) < 0,01 HBeAg(-)/Anti-HBe(+) 20 (66,67%) 8 (26,67%) < 0,01 HBeAg(+)/Anti-HBe(+) 3 (10,00%) 1 (3,33%) > 0,05 HBeAg(-)/Anti-HBe(-) 2 (6,67%) 3 (10,00%) > 0,05 Anti-HBc IgG(+) 30 (100%) 30 (100%) Kết quả nghiên cứu trình bày ở bảng 3 cho thấy: Hàm lượng trung bình của HBsAg, tỷ lệ HBeAg(+), tỷ

lệ Anti-HBe (+) ở hai nhóm nghiên cứu là có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (tương ứng p<0,05, p<0,01, p<0,001) Tỷ lệ BN có HBeAg(+) mà Anti-HBe(-) và tỷ

lệ BN có HBeAg(-) mà Anti-HBe(+) ở hai nhóm nghiên cứu có sự khác biệt (p < 0,01)

Bảng 4: So sánh nồng độ HBV- DNA ở hai nhóm Nhóm

HBV-DNA NMHKTC (n = 30) VGBMTHĐ (n = 30) P

< 105 copies/ml 23(76,66%) 9(30,00%) < 0,001

≥ 105 copies/ml 7 (23,33%) 21 (70%) <0,01

Trang 3

Y học thực hành (864) - số 3/2013 131

Kết quả bảng 4 cho thấy: Nồng độ HBV-DNA ở

mức < 105 copies ở hai nhóm nghiên cứu có sự khác

biệt với p < 0,001 Nồng độ HBV-DNA ở mức ≥ 105

copies ở hai nhóm nghiên cứu có sự khác biệt với p <

0,01 Trong đó, so sánh nồng độ HBV-DNA > 105

copies ở hai nhóm nghiên cứu có sự khác biệt (p <

0,01) còn nồng độ HBV-DNA ở mức 105-107 copies ở

hai nhóm là không có sự khác biệt (p > 0,05)

Bảng 5: So sánh mối liên quan giữa HBV- DNA

với HBsAg ở hai nhóm

Nhóm

HBV- DNA

NMHKTC HBsAg

VGBMTHĐ

< 105 copies/ml 183,47±329,39 959,16±2483,71 < 0,05

105-107

copies/ml 1227,59±892,34 1318,16±1450,62 > 0,05

> 107 copies/ml 2747,23±2783,49 7845,08±8944,92 > 0,05

Kết quả nghiên cứu ở bảng 5 cho thấy: Hàm lượng

trung bình của HBsAg ở nồng độ HBV- DNA < 105

copies/ ml ở hai nhóm nghiên cứu là có sự khác biệt

nhau (p < 0,05) Trong khi đó, ở nồng độ HBV-DNA ≥

105 copies/ml thì sự khác nhau về hàm lượng HBsAg

không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 6: So sánh mối liên quan giữa HBV- DNA

với HBeAg ở hai nhóm

Nhóm

HBV-DNA NMHKTC HBeAg VGBMTHĐ HBeAg p

≥ 105/ HBeAg(+) 5 (16,67%) 14 (46,67%) < 0,05

< 105/ HBeAg(-) 20 (66,66%) 4 (13,33%) < 0,001

≥ 105/ HBeAg(-) 2 (6,67%) 7 (23,33%) > 0,05

< 105/ HBeAg(+) 3 (10,00%) 5 (16,67%) > 0,05

Nhận xét: tỷ lệ HBeAg(-) ở nồng độ HBV-DNA <

105 copies/ml ở hai nhóm nghiên cứu có sự khác biệt

rõ rệt (p < 0,001) và tỷ lệ HBeAg(+) ở nồng độ HBV-

DNA ≥ 105 copies/ml ở hai nhóm nghiên cứu cũng có

sự khác biệt (p < 0,05)

Bảng 7: So sánh mối liên quan giữa HBV-DNA với

Anti-HBe ở hai nhóm

Nhóm

HBV-DNA

NMHKTC Anti-HBe

VGBMTHĐ

Anti-HBe p

≥105/Anti-HBe (+) 3 (10,00%) 7 (23,33%) > 0,05

< 105/ Anti-HBe(-) 3 (10,00%) 7 (23,33%) > 0,05

≥ 105/ Anti-HBe(-) 4 (13,33%) 14 (46,67%) < 0,01

<105/Anti-HBe (+) 20 (66,67%) 2 (6,67%) < 0,001

Kết quả bảng 7 cho thấy: tỷ lệ Anti-HBe(+) ở nồng

độ HBV-DNA <105 copies/ml và tỷ lệ Anti-HBe(-) ở

nồng độ HBV-DNA ≥ 105 copies/ml ở hai nhóm

nghiên cứu là có sự khác biệt nhau (p tương ứng là <

0,001; < 0,01)

Kết luận Qua nghiên cứu tìm hiểu sự hiện diện marker HBV

và mối liên quan giữa nồng độ HBV-DNA với các dấu

ấn khác của HBV ở hai nhóm nghiên cứu NMHKTC

và VGBMTHĐ, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

ở nhóm tuổi 16-30, NMHKTC có tỷ lệ HBsAg(+) cao hơn có ý nghĩa so với nhóm VGMHĐ (53,33% và 16,67%) Không có sự khác biệt về tỷ lệ HBsAg(+) giữa hai giới tính

Bệnh nhân VGMTHĐ có hàm lượng HBsAg cao, nồng độ HBV-DNA > 105 copies/ ml và HBeAg(+) trong khi NMHKTC có hàm lượng HBsAg thấp, nồng

độ HBV-DNA < 105 copies/ ml và Anti-HBe(+) Tài liệu tham khảo

1 Bộ môn Truyền nhiễm-Học viện quân y (2002) Viêm gan virút Bệnh học Truyền nhiễm NXB y học

2 Bộ môn Vi sinh-Học viện quân y (1997) Vi sinh vật y học (Sách dùng để dạy và học bậc sau đại học) Các virút gây bệnh viêm gan Nhà in Học viện quân y

Tr 151- 168

3 Trần Thị Chính, Phan Thị Phi Phi, Trương Mộng Trang (1993), Một số nghiên cứu về người lành mang HBsAg Hội nội khoa Việt Nam Nội khoa 2- 1993 Tr

40

4 Trần Kim Chi (1998), Đặc điểm lâm sàng, biến

đổi sinh hoá và dấu ấn virut ở bệnh nhân viêm gan B mạn Luận văn thạc sỹ y học

5 Lê Thu Hà (2002), áp dụng kỹ thuật PCR phát hiện HBV-DNA trong huyết thanh bệnh nhân viêm gan B mạn tính hoạt động và người mang HBsAg không triệu chứng Luận văn thạc sỹ y học

6 Hoàng Tiến Tuyên (2004), Nghiên cứu đặc

điểm lâm sàng, hoá sinh, marker và tổn thương mô bệnh học ở bệnh nhân viêm gan B mạn hoạt động, Luận văn thạc sỹ y học

7 Dienstag JL, Isselbacher K (1998) Chronic viral hepatitis Harrison’s Volume 2, 14th edition 1998

pp 1696- 1704 Principles and pratice of gastroenterology and hepatology 1994 pp 997-

1002

8 Kendai yalcin (2003), “Determinatin of serum hepatitis B virus DNA in chronic HBsAg carriers: Clinical significance and correlation with serological markers”, Turk J Gastroenterol 2003 U (3), pp

157-163

Ngày đăng: 21/08/2015, 11:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: So sánh nồng độ HBV- DNA ở hai nhóm. - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU của các MARKER HBV ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN mạn HOẠT ĐỘNG và NGƯỜI MANG HBSAG KHÔNG TRIỆU CHỨNG
Bảng 4 So sánh nồng độ HBV- DNA ở hai nhóm (Trang 2)
Bảng  1:  So  sánh  sự  phân  bố  của  BN  theo  tuổi  ở  hai nhãm. - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU của các MARKER HBV ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN mạn HOẠT ĐỘNG và NGƯỜI MANG HBSAG KHÔNG TRIỆU CHỨNG
ng 1: So sánh sự phân bố của BN theo tuổi ở hai nhãm (Trang 2)
Bảng  2  cho  thấy:  So  sánh  sự  phân  bố  của  BN  ở  hai  nhóm  nghiên  cứu  theo  giới  là  không  có  sự  khác  biệt với p &gt; 0,05 - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU của các MARKER HBV ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN mạn HOẠT ĐỘNG và NGƯỜI MANG HBSAG KHÔNG TRIỆU CHỨNG
ng 2 cho thấy: So sánh sự phân bố của BN ở hai nhóm nghiên cứu theo giới là không có sự khác biệt với p &gt; 0,05 (Trang 2)
Bảng 7: So sánh mối liên quan giữa HBV-DNA với - TÌM HIỂU sự KHÁC NHAU của các MARKER HBV ở BỆNH NHÂN VIÊM GAN mạn HOẠT ĐỘNG và NGƯỜI MANG HBSAG KHÔNG TRIỆU CHỨNG
Bảng 7 So sánh mối liên quan giữa HBV-DNA với (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w