XáC ĐịNH Sự Có MặT CủA NấM ở HàM GIả Và TRONG MIệNG CủA BệNH NHÂN MANG PHụC HìNH THáO LắP Đàm Ngọc Trâm, Nguyễn Minh Lương Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Hà Nội Tóm tắt N
Trang 1thời nhiều kháng sinh (≥ 6-7 kháng sinh) là đặc trưng
của các vi khuẩn E.coli sinh ESBL E.coli sinh ESBL
kháng 4-5 kháng sinh chiếm tỉ lệ 1.4%, kháng 6-7
kháng sinh chiếm 16.9% và kháng > 8 kháng sinh
đồng thời chiếm 81.7% Và E.coli không sinh ESBL
kháng từ 1 kháng sinh cho đến 8 kháng sinh từ 5%
đến 55%, tỉ lệ kháng kháng sinh giữa 2 loại E.coli này
khoảng: ESBL(+)/ESBL(-) = 1,5-2 nói lên tình trạng
E.coli sinh ESBL kháng kháng sinh gần gấp đôi E.coli
không sinh ESBL
TàI LIệU THAM KHảO
1- Chu Thị Nga, Nguyễn Thị Thông và cs (2006) Tỷ
lệ sinh ESBL ở các chủng Klebsiella, E.coli và
Enterobacter phân lập tại bệnh viện Việt Tiệp-Hải phòng
Báo cáo hội nghị tổng kết Chống nhiểm khuẩn bệnh viện
năm 2006 Vụ điều trị Bộ Y tế trang 66-72
2- Đoàn Mai Phương và cs (2005) Kết quả phát hiện
men beta-lactamase phổ rộng tại bệnh viện Bạch mai từ
1/7/2005 đến 1/12/2005 Thông báo nội bộ 2005
3- Chia-Jung Hsieh, Yea-Huei Shen, Kao-Pin Hwang
(2010) Clinical Implications, Risk Factors and Mortality
following Community-onset Bacteremia caused by ESBL and non-ESBL producing E.coli J microbiol Immunol Infect 43(3):240-248
4- Fatna Bourjilat, Brahim Bouchrif et al (2011) Emergence of ESBL-producing E.coli in community-acquired urinary infections in Casablanca, Morocco J Infect Dev Ctries;5(12):850-855
5-National Committee for Clinical Laboratory Standard-NCCLS (2011) Performance Standards for Antimicrobial Susceptibility testing; twenty-First Informational Supplement, Vol.31 No1pp 115-139 6- Patrice Nordmam (2009) ESBL-producing E.coli
in the community: An emerging Public health Threat: result from SMART(Study for Mornitoring Antimicrobial Resistance Trends).International Journal of Antimicrobial Agents
7- Simon Auer, Alexandra Wojna and Markus Hell(2010) ESBL Producing E.coli in ambulatory Urinary Tract Infections-Oral treatment Options? Agents Chemother.doi:10.1128/AAC.01760-09
XáC ĐịNH Sự Có MặT CủA NấM ở HàM GIả Và TRONG MIệNG
CủA BệNH NHÂN MANG PHụC HìNH THáO LắP
Đàm Ngọc Trâm, Nguyễn Minh Lương Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt - Trường Đại học Y Hà Nội Tóm tắt
Nghiên cứu được tiến hành tại Viện Đào tạo RHM-
Bộ môn Vi sinh - Trường Đại Học Y Hà Nội và khoa
Phục hình- Bệnh viện Răng hàm mặt trung ương
trong thời gian từ tháng 2- tháng 5 / 2012 Mục đích
của nghiên cứu là xác định sự có mặt của nấm ở trên
hàm giả và bề mặt lưỡi của các bệnh nhân mang hàm
giả tháo lắp từ 6 tháng trở lên Đối tượng- Phương
pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân được điều trị mất
răng bằng hàm giả tháo lắp tại Viện Đào tạo RHM -
Trường Đại Học Y Hà Nội và khoa Phục hình- Bệnh
viện Răng hàm mặt Trung Ương Hà Nội từ 6 tháng trở
lên Phương tiện lấy bệnh phẩm do Bộ môn Vi sinh-
Trường Đại Học Y Hà Nội cung cấp Yêu cầu bệnh
phẩm phải gửi tới labo xét nghiệm trước 72 giờ Xác
định sự có mặt của nấm bằng phương pháp soi tươi
và nuôi cấy và test mầm giá Kết quả: bằng phương
pháp soi tươi có 5 BN (16,13%) phát hiện sự có mặt
của nấm trên hàm giả, phương pháp test mầm giá có
5 BN (16,13 %) phát hiện sự có mặt của nấm trên
hàm giả, phương pháp nuôi cấy có 11 BN (35,5%)
phát hiện sự có mặt của nấm trên hàm giả Với bệnh
phẩm trên bề mặt niêm mạc lưỡi: Phương pháp soi
tươi: 5 BN(16,13%), phương pháp nuôi cấy: 10 BN
(32,25%), phương pháp test mầm giá: 5 BN (16,13%)
Từ khóa: nấm, hàm giả, bề mặt lưỡi
summary
The study was carried out at School of Dentistry
and Dept of Microbiology, Hanoi Medical University
and Dept of Prosthodontics, National Hospital of
May/2012 The study aims to determine the presence
of fungi in dental prostheses and tongue’s surface of those patients, who use removable dentures for more than 6 months
Material and Method: Inclusion criteria: Edentulous patients, treated by removable dentures for more than
6 months Materials for taking specimens donated by Dept of Microbiology, Hanoi Medical University All the specimens were analyzed no later than 72 hours from their taking The presence of fungi was detected using microscopic and growing and test method Results: 16.43 % specimens have fungi’s presence in dentures using microscopic method and test method and 35.5% specimens have fungi’s presence in dentures using growing method The fungi’s presence in tongue’s surface of those patients was 16.13%; 16.13% and 32.25% respectively
Keywords: Inclusion criteria, Edentulous patients
ĐặT VấN Đề Tình trạng nhi ễm nấm ở hàm giả là việc phát hi ện nấm trên bề mặt hàm gi ả bằng phương pháp soi tươi
và nhuộm bệnh phẩm, nuôi cấy được lấy trên hàm giả tháo lắp của các bệnh nhân đang mang hàm giả
Từ trước đến nay, ở những bệnh nhân mang hàm giả trong lâm sàng, các bác sĩ có thể gặp các tình trạng viêm loét ở niêm mạc miệng, ở lưỡi như viêm
Trang 2nấm lưỡi bản đồ, tưa lưỡi Mặc dù vậy, ở Việt Nam
hiện nay vẫn chưa có những nghiên cứu chính thức
để khẳng định các tổn thương đó do nấm hay không,
chính vì vậy, chúng tôi tiến hành làm đề tài này để có
những cách nhìn vừa khái quát, vừa chi tiết, nhưng
vẫn đảm bảo tính khoa học và thực tiễn trong lâm
sàng Theo một số nghiên cứu của các tác giả nư ớc
ngoài đã rút ra đư ợc m ột vài kết luận đáng chú ý
như: người ta nhận thấy có sự tăng đáng kể độ bám
dính các loại C.albicans khi được nuôi cấy trong môi
trường đường sucrose gợi ý rằng chế độ ăn mềm,
giàu cacbonhydrate của những người đeo hàm giả
dẫn tới sự cư trú và bám dính dai dẳng của nấm trên
bề mặt hàm giả Trên lâm sàng, loại nấm thường gây
nhiễm khuẩn nhất ở người là Candida albicans (bệnh
nấm Candida miệng hay tưa miệng) Sự chuyển từ
cộng sinh sang kí sinh và sự phát triển nhanh chóng
của chúng thường liên quan tới những thay đổi trong
môi trường miệng (ví dụ như hàm giả không được vệ
sinh, khô miệng, tăng tiết nước bọt do có hàm giả
trong miệng) và/hoặc các yếu tố hệ thống như đái
tháo đường và suy giảm miễn dịch
Tổn thương ở niêm mạc miệng có rất nhiều
nguyên nhân như: viêm quanh răng, viêm tủy răng;
do những sang chấn từ bên ngoài; do nhiễm vi khuẩn,
nhiễm siêu vi; nhiễm nấm; do dị ứng thuốc; do bệnh
lý tự miễn; ung thư biểu mô Biểu hiện tại chỗ thường
là các triệu chứng viêm nhiễm, sưng loét rất khó chịu
nhất là khi nhai, nuốt, phát âm, ăn uống; có thể là
những vết dát với màu sắc khác nhau, hoặc là những
vết sần, nốt hay mụn mủ, bọng nước, hoặc có thể là
những áp xe ở dưới lưỡi, dưới niêm mạc; những vết
loét, ở lưỡi và niêm mạc miệng, khi viêm cấp thường
tấy đỏ và rất đau, thậm chí sốt cao, nổi hạch góc
hàm Sự mất răng dù ít hay nhiều đều có ảnh hưởng
tới chức năng và thẩm mỹ người bệnh: đồng thời làm
rối loạn đường cong Wilson, Spee…rối loạn khớp
cắng và bộ máy nhai, hậu quả là làm cho bệnh nặng
thêm và quá trình mất răng diễn ra nhanh hơn
Do vậy, để hướng dẫn bệnh nhân sử dụng, bảo
quản hàm giả được tốt, đảm bảo chức năng và thẩm
mỹ, cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống Chúng
tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: Xác định sự có mặt
của nấm ở hàm giả và trong miệng của bệnh nhân
mang phục hình tháo lắp” với mục tiêu sau: Xác định
sự có mặt của nấm ở miệng và hàm giả
Các yếu tố ảnh hưởng: cách sử dụng và bảo quản
hàm giả, chất lượng hàm giả và quá trình lấy, xét
nghiệm tìm nấm ở hàm giả và trong miệng
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
1 Đối tượng nghiên cứu
- Là những bệnh nhân đang sử dụng hàm giả tháo
lắp tại Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương và Viện
Đào tạo Răng Hàm Mặt
1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn:
-Các đối tượng không phân biệt giới tính, tuổi đang
sử dụng hàm giả tháo lắp tại Bệnh viện Răng Hàm
Mặt Trung Ương và Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt
-Số lượng mẫu hàm giả tháo lắp dự kiến: 60 mẫu -Các hàm giả làm đúng tiêu chuẩn
-Bệnh nhân tự nguyện, đồng ý tham gia nghiên cứu
-Thời gian bệnh nhân đeo hàm giả từ 6 tháng trở lên
1.2 Tiêu chuẩn loại trừ:
-Đối tượng không ở những khu vực trên
-Không sử dụng hàm giả tháo lắp
-Không đồng ý tham gia nghiên cứu
2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 2.1 Địa điểm nghiên cứu:
Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương và Viện
Đào tạo Răng Hàm Mặt
Bộ môn vi sinh trường đại học Y Hà Nội
2.2 Thời gian nghiên cứu:
Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2012
3 Phương pháp nghiên cứu:
3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang (điều tra cắt ngang- Cross sectional Study), sử dụng bảng câu hỏi
3.2 Cỡ mẫu:
Theo công thức tính cỡ mẫu
(1 / 2 ) 2
2 2
pq
d
α
Z: Độ tin cậy, ở xác suất 95% (1,96)
P: Tỉ lệ mang hàm giả tháo lắp có nấm Candida albican ước tính tỉ lệ cao nhất là 0,95
q: = 1- p n: Là cỡ mẫu d: Độ chính xác mong muốn 0,05 e: khoảng sai lệch cho phép giữa tỉ lệ thu được từ mẫu và tỉ lệ của quần thể, e= 5%
Thay số vào công thức, tính ra là cần khoảng 60 mẫu Nhưng vì đây là nghiên cứu bước đầu, theo một
số tài liệu nghiên cứu của nước ngoài đã tiến hành nghiên cứu trên khoảng 15 mẫu Nên ở đây, chúng tôi quyết định tiến hành trên 30 mẫu
4 Dụng cụ khám
- Bộ khay khám răng: khay quả đậu, gương thám châm, gắp
- Máy ảnh kỹ thuật số, gương chụp trong miệng, banh miệng
- Dụng cụ để khử khuẩn
- Bông quệt để lấy mẫu trên nền hàm giả do Bộ môn Vi sinh- Trường Đại học Y Hà Nội cung cấp
- Các dụng cụ khác như bông, cồn, giấy lau tay, găng tay
- Phiếu thu thập thông tin về tình trạng toàn thân của bệnh nhân, tình trạng hàm giả và sử dụng hàm giả, nhu cầu cần điều trị, phiếu thu thập thông tin về hiểu biết, thái độ và hành vi (phụ lục kèm theo)
5 Các bước tiến hành nghiên cứu:
* Bước 1: Liên hệ, lập danh sách đối tượng nghiên cứu:
- Liên hệ với Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung
Trang 3Ương và Viện Đào tạo Răng Hàm Mặt để tiến hành tổ
chức thu thập mẫu vi sinh từ các hàm giả của bệnh
nhân đang điều trị ở đây
- Liên hệ với phòng xét nghiệm vi sinh để tiến
hành xét nghiệm tìm nấm trong mẫu hàm giả và trong
miệng
*Bước 2: Tập huấn điều tra viên:
- Được tập huấn kỹ để nắm vững mục đích và yêu
cầu của đề tài, các tiêu chuẩn đánh giá lâm sàng,
cách ghi phiếu khám và quy trình làm xét nghiệm,
tuân thủ theo quy trình nghiên cứu khoa học, kiểm tra
độ tin cậy phiếu khám theo chỉ số Kappa
* Bước 3: Tiến hành lấy mẫu nghiên cứu:
- Hỏi bệnh nhân, khám:
- Tiến hành tiếp xúc với bệnh nhân, đặt câu hỏi và
khám từng bước theo bảng thu thập thông tin
- Tiến hành lấy mẫu nghiên cứu cảu các bệnh
nhân trong nhóm nghiên cứu ở 2 vị trí:
+ Các mẫu hàm giả tháo lắp phần nền hàm là
nhựa acrylic
+ Trên niêm mạc vùng lưỡi
- Gửi các mẫu nghiên cứu đến phòng xét nghiệm
Vi sinh trong vòng 3 ngày để tiến hành xác định số
lượng và chủng loại nấm có trong các mẫu
– Trình bày quy trình nuôi cấy ở bộ môn vi sinh:
+ Yêu cầu mẫu bệnh phẩm: Tăm bông lấy phải
đóng kín trong ống nhựa, xé giấy lấy mẫu ngay không
được để chạm vào các dụng cụ khác Tăm bông được
dùng 2 chiếc cho mỗi bệnh nhân, một chiếc lấy ở
trong miệng, một chiếc lấy ở hàm giả của bệnh nhân
đó, có ghi phân loại như vậy rõ ràng trên ống nhựa
Sau khi lấy xong, mang những bệnh phẩm đó về
Bộ môn Vi sinh càng sớm càng tốt, đợi kết quả, và
chụp ảnh
* Bước 4 Thu thập số liệu
- Đối tượng tham gia nghiên cứu được trả lời bảng
câu hỏi trước khi khám Người khám sau khi khám
toàn than, đánh giá tình trạng răng miệng và hàm giả,
tiến hành dùng cây bông để quết lấy mẫu vi sinh trên
mẫu hàm và trong niêm mạc miệng bệnh nhân
- Chụp ảnh trong miệng
* Bước 5 Xử lý kết quả
-Xử lý số liệu bằng phương pháp toán thống kê y
học, có sử dụng phần mềm spss và các test thống kê
so sánh trung bình, so sánh tỉ lệ, phương sai
* Bước 6 Độ tin cậy
Trong thời gian khám răng miệng có 5-10% các
mẫu được khám lại bởi cùng một người khám và bởi 1
người khác để xác định độ tin cậy của mỗi người
khám và giữa những người khám khác nhau, phiếu
khám được ghi lại như bình thường Sau đó lập bảng
Kappa về độ tin cậy và so sánh với phân loại chuẩn
(3):
Kappa = Phù hợp thực tại/Phù hợp tiềm ẩn
KếT QUả
1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Bảng 1: Tính chất tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ
học vấn và thời gian đeo hàm giả:
Đặc điểm N (Số lượng) Tỉ lệ % Giới Nam Nữ 14 17 45,16 54,84
Nghề nghiệp
Trình độ học vấn
ĐH & >ĐH 8 25,81 Thời gian
đeo hàm giả
6 tháng- 1 năm 8 25,81
Nhận xét: Bảng 1 cho thấy trong số 31 đối tượng nghiên cứu có tỷ lệ nữ chiếm 54,84 %, nam chiếm 46,15% số lượng nam nữ là tương đương nhau với p < 0,05 Tỷ lệ tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ cao với 83,87 % và thời gian đeo hàm từ 3 năm trở lên là chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,74%
Bảng 2 Thói quen vệ sinh răng miệng và hàm giả:
Tiêu chí lượng) N (Số Tỷ lệ %
ng 0
mất răng bán phần 3 9,68 mất răng toàn phần 0 0
Ngay sau ăn 5 16,13
ng Có
Listerine 3 9,68 Nước muối 5 16,13
C lư Không Có 25 6 80,65 19,35
g Slầ vệ s
D2 hóa chất 0 0
Không dùng bàn chải 0 0
H đựng
c Ngâm trong nước khi không
Nhận xét: Bảng 2 cho thấy có 3 đối tượng là không chải răng với tỷ lệ 9,68% là mất răng bán phần, trong 31 đối tượng nghiên cứu đa phần là chải răng ngày 2 lần với tỷ lệ là 70,97%, còn về vệ sinh hàm giả thì tất cả đều dùng bản chải và ngân trong nước muối
Trang 4Bảng 6 Tình trạng vệ sinh răng miệng theo chỉ số
cao răng, viêm lợi
N (Số lượng) Tỷ lệ % Cao răng
Viêm lợi
Nhận xét: Bảng 6 tỷ lệ cao răng và viêm lợi độ 1 là
nhiều nhất, chứng tỏ các đối tượng có chế độ vệ sinh
răng miệng tương đối tốt
2 Xác định sự có mặt của nấm ở trong miệng
và hàm giả của các bệnh nhân đang mang phục
hình tháo lắp
Bảng 10 Tỷ lệ nấm ở hàm giả
N (Số lượng) Tỷ lệ % Soi Không có nấm Nấm 26 5 16,13 83,87
Nuôi cấy Không có nấm Nấm 11 20 64,52 35,5
Test mầm
giá
Nấm candida albicans 5 16,13
Nhận xét: Bảng 10 cho thấy có sự khác biệt về kết
quả giữa các lần soi nuôi cấy và test Nguyên nhân
có thể là do kỹ thuật labo hoặc phụ thuộc vào sự sinh
trưởng phát triển của nấm
Bảng 11 Tỷ lệ nấm trong miệng
N (Số lượng) Tỷ lệ % Soi
Không có nấm 26 83,87
Nuôi cấy Không có nấm Nấm 10 21 32,26 67,74
Test mầm giá
Nấm candida
Nhận xét: Bảng 11 bệnh phẩm được lấy ở hàm giả
cũng có sự khác biệt về kết quả tương tự như ở miệng
và nguyên nhân cũng có thể như trên
Bảng 12 Mối liên quan giữa nấm và thời gian đeo
hàm giả:
N (Số lượng) Tỷ lệ %
Nhận xét: Từ tỷ lệ phần trăm cho thấy có sự tương
quan nhất định giữa thời gian đeo hàm giả và nấm ở
hàm giả theo tỷ lệ thuận (trên 3 năm là 60%)
BàN LUậN Và KếT LUậN Mục tiêu chính cần tìm hiểu của chúng tôi trong nghiên cứu này là xác định sự có mặt của nấm ở trong miệng và hàm giả của bệnh nhân đang mang phục hình tháo lắp Qua cơ sở kết quả nghiên cứu thu
được chúng tôi nhận thấy:
1 Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu: 1.1 Về giới:
Theo như kết quả của mẫu nghiên cứu, trong số
31 bệnh nhân thì có 14 bệnh nhân nam (45,16%), và
17 bệnh nhân nữ (54,84%), điều này chứng tỏ là quá trinh điều tra đã tiến hành một cách khách quan, không quá chênh lệch về bên nào
1.2 Về tuổi:
Trong số 31 bệnh nhân, thì có đến 26 người là có
độ tuổi trên 60 (83,87%), chỉ có 5 người là dưới 60 tuổi (16,13%), (trong đó chú ý đến 1 trường hợp là mới có 39 tuổi nhưng đã sử dụng hàm giả tháo lắp)
Điều này, có thể được lí giải là do, hàm giả tháo lắp thường được sử dụng hiệu quả cho những trường hợp mất nhiều răng, và có tổ chức nha chu kém, suy giảm, mô nâng đỡ răng yếu, do vậy mà phù hợp với tình trạng răng miệng của những người cao tuổi là như vậy
Mặt khác, những bệnh nhân được phát hiện là có Nấm Candida ở trong hàm giả hay miệng, lại tập trung hầu hết vào nhóm đối tượng trên 60 tuổi (5 bệnh nhân) Có thể là do, khi tuổi càng cao, hệ miễn dịch của cơ thể càng giảm, trong đó có cả ở miệng, thêm vào là ở tuổi cao, nhiều bệnh nhân ngại hoặc không còn khả năng tự vệ sinh răng miệng cho mình một cách đầy đủ, chính xác như lúc trẻ, do vậy, những yếu tố thuận lợi này đã giúp cho Nấm Candida
có thể dễ sinh sôi, phát triển hơn
1.3 Về trình độ học vấn và nghề nghiệp Trong số khoảng 5 bệnh nhân được phát hiện là
có Nấm Candida ở hàm giả hay miệng, thì có đến 2 người là chưa từng đi học, 3 người là làm nghề nông (42,84%) Điều này, chứng tỏ, là trình độ học vấn và nghề nghiệp có ảnh hưởng đến sự có mặt của nấm trong miệng Có thể, vì do trình độ văn hoá không cao, đã khiến hạn chế khả năng nhận thức của người dân về tầm quan trọng của vệ sinh răng miệng, cũng như những người làm nghề nông thì ít có điều kiện
đuợc giáo dục và chăm sóc sức khoẻ răng miệng 1.4 Về thời gian đeo hàm giả:
Theo bảng 11, thì có khoảng 21 bệnh nhân là có thời gian đeo hàm trên 3 năm (67,74%), 2 bệnh nhân
đeo 2 năm (6,45%), và 8 người là đeo 1 năm(25,81%) Vậy là, có thể thấy là đa số những bệnh nhân được điều tra có thời gian đeo hàm khá lâu, đó có thể là 1 yếu tố thuận lợi cho Nấm thích nghi
và phát triên Trong số 5 bệnh nhân có Nấm Candida, thì có
đến 3 người là có thời gian đeo hàm giả trên 3 năm Như vậy, có thể thấy, thời gian đeo hàm giả càng lâu,
có ảnh hưởng nhất định đến sự xuất hiện và gia tăng Nấm ở người bệnh
Trang 51.5 Về thói quen vệ sinh răng miệng, hàm giả
a) Về việc chải răng, dung dung dịch súc miệng:
Theo kết quả nghiên cứu, có 3 người không đánh
răng mà bị mất răng bán phần(9,68%), 1 người chỉ
đánh răng 1 lần trong ngày(3,22%), và đa số (22
người) là đánh răng 2 lần trong ngày sang
tối(70,97%) Như vậy, có thể thấy, đa số các bệnh
nhân cao tuổi vẫn ý thức được việc vệ sinh răng
miệng bằng chải răng là quan trọng Ngoài ra, số
người dung dung dịch súc miệng cũng tương đối ít (3
Listerine, 5 nước muoi), còn lại là 23 người không
dung (74,19%)
b) Về vệ sinh hàm giả:
*, Số lần vệ sinh hàm giả:
Theo kết quả nghiên cứu, có 14 người vệ sinh
hàm 1 lần(46,15%), và 17 người vệ sinh hàm 2-3
lần(54,84%), không có người nào là không vệ sinh cà
Điều này, nghĩa là hầu như mọi người đều có ý thức
giữ gìn, vệ sinh hàm giả
.*, Phương tiện vệ sinh:
Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra, tất cả mọi người
đều có sử dụng bàn chải, nước muối để vệ sinh hàm
giả, Điều này, có thể góp phần làm giảm tỉ lệ nấm
trong hàm giả, với tỉ lệ bệnh nhân có nấm ít
*, Hộp đựng hàm giả:
Tất cả mọi người trong nghiên cứu, đều không có
hộp đựng hàm giả riêng, đó có thể là 1 nguy cơ gây
nhiễm vi sinh vật ở môi trường vào hàm giả Tuy
nhiên, mọi người lại đều biết bảo quản hàm bằng
cách là ngâm hàm giả vào nước khi không sử dụng,
như vậy, cũng hạn chế sự nhiễm bẩn
2 Xác định sự có mặt của nấm ở hàm giả
Trong 31 mẫu thu được lấy ở hàm giả, có 5 mẫu
phát hiện có nấm bằng cách soi (16,13%), 11 mẫu là
nuôi cấy có nấm (64,52%), và 5 mẫu test mầm giá có
nấm (16,13%) Có sự chênh lệch này, có thể lí giải, là
khi soi thì không soi vào vị trí có nấm, hoặc lúc ấy,
nấm chưa phát triển nhiều Nhưng khi tiến hành nuôi
cấy, nấm được bổ sung chất dinh dưỡng nên phát
triển nhiều hơn, làm tăng số lượng nấm Nhưng khi
làm test mầm giá, thì chỉ phát hiện thấy 5 mẫu là nấm
candida albicans, còn lại là nấm khác
Bệnh phẩm được tiến hành lấy tập trung ở vòm
miệng, biên giới nền hàm tiếp xúc với niêm mạc
miệng Như vậy, có thể nghĩ đến khả năng, nấm phát
triển nhiều ở những vùng này, đó là những nơi tiếp
xúc nhiều giữa niêm mạc miệng và hàm giả, những
nơi thức ăn dễ bám Theo nghiên cứu, tác giả
J.P.RALPH cũng nêu trong cuốn sách: "Hướng dẫn
thực hành tháo lắp hàm khung", sự phát triển của
nấm chủ yếu do chế độ vệ sinh răng miệng và vệ
sinh hàm giả kém, cộng với chấn thương niêm mạc
miệng do hàm giả [12]
3 Xác định sự có mặt của nấm ở miệng
Với kết quả thu được, thấy có 5 mẫu là soi thấy
nấm (16,13%), 10 mẫu là nuôi cấy có nấm (64,52%),
và 5 mẫu là test mầm giá có nấm (16,13%) Có sự
khác biệt nhau giữa lúc nuôi cấy và lúc soi, test như
này Có thể là do: lúc soi không chuẩn, tìm không hết
được bệnh phẩm nấm, nhưng khi nuôi cấy thì nấm có
điều kiện phát triển, nên đã làm tăng bệnh phẩm có nấm và đến khi làm test mầm giá, thì chỉ có 5 mẫu là
có nấm candida, còn lại là loại khác
Bệnh phẩm lấy chủ yếu ở lưỡi, nên có thể nấm tập trung nhiều ở những vị trí này, đó là những chỗ rộng, tiếp xúc nhiều thức ăn, và khó vệ sinh để làm sạch, nên nấm dễ sống và phát triển ở đó
3.1 Mối liên quan giữa nấm và thời gian đeo hàm giả:
Trong 5 mẫu có nấm, thì 1 mẫu là thời gian đeo hàm 1 năm, 1 mẫu là đeo hàm 2 năm, và 3 mẫu là
đeo hàm 3 năm trở lên Có sự chênh lệch đáng nói giữa thời gian đeo hàm 3 năm trở lên, với còn lại Như vậy, có thể có sự liên quan tỉ lệ thuận giữa thời gian
đeo hàm và tỉ lệ nấm có trong hàm giả Có thể đeo hàm càng lâu, nấm càng có điều kiện sinh tồn, thích nghi, phát triển
3.2 Mối liên quan giữa nấm và phương pháp
vệ sinh hàm giả
Với 5 mẫu có nấm, thì 2 mẫu là có dùng bàn chải
đề vệ sinh, 3 mẫu là dùng dung dịch vệ sinh khác Nghĩa là không có sự khác biệt đáng kể giữa các phương pháp vệ sinh và tỉ lệ nấm ở hàm giả, chúng không có sự liên quan với nhau
KếT LUậN Qua quá trình điều tra 31 bệnh nhân trên địa bàn
Hà Nội, chúng tôi thu được những kết luận sau:
1 Đặc điểm của nhóm đối tượng nghiên cứu
- Về giới là không có sự chênh lệch đáng kể nào giữa 2 nhóm đối tượng là nam và nữ Trong đó tỷ lệ nhiễm nấm ở hai nhóm này cũng tương đương nhau
- Về tuổi, chúng tôi thấy, nhóm đối tượng bị nhiễm nấm cao, tập trung nhiều vào nhóm đối tượng trên 60 tuổi, do khả năng nhận thức, thao tác vệ sinh kém dần
- Về trình độ học vấn và nghề nghiệp: có sự liên quan nhất định, khi nhóm bệnh nhân bị nấm tập trung nhiều vào nhóm người có trình độ học vấn thấp và làm nghề nông, có thể khả năng nhận thức hạn chế
và điều kiện kinh tế eo hẹp đã khiến giảm khả năng ngăn ngừa bị nấm
- Về vệ sinh hàm giả, tất cả mọi bệnh nhân đều dùng bàn chải và nước muối để vệ sinh hàm giả, và thường là chải 2 lần 1 ngày, sáng tối
- Về vệ sinh miệng: đa số mọi người đều có thói quen chải răng, tuy nhiên việc sử dụng nước súc miệng lại ít, dẫn tới không thể loại bỏ triệt để vi khuẩn
và nấm
- Về hiểu biết hàm giả và hậu quả của mất răng, thì chỉ khoảng một nửa trả lời được, còn lại là chưa đạt yêu cầu, nên cần được tư vấn, chăm sóc thêm
- Về trình độ học vấn, nghề nghiệp liên quan đến tình trạng răng miệng và nhu cầu làm phục hình thì thấy rằng, nhóm có học vấn thấp có tình trạng răng miệng kém hơn nhóm có học vấn cao
2 Xác định sự có mặt của nấm ở trong miệng
Trang 6Với kết quả thu được, thấy có 5 mẫu là soi thấy
nấm (16,13%), 10 mẫu là nuôi cấy có nấm (64,52%),
và 5 mẫu là test mầm giá có nấm (16,13%)
Bệnh phẩm lấy chủ yếu ở lưỡi, nên có thể hướng
đến rằng, nấm tập trung nhiều ở vị trí rộng này, do
tiếp xúc nhiều thức ăn, và khó vệ sinh cũng như ít
được quan tâm để làm sạch, nên nấm dễ sống và
phát triển ở đó
3 Xác định sự có mặt của nấm ở hàm giả
Trong 31 mẫu thu được lấy ở hàm giả, có 5 mẫu
phát hiện có nấm bằng cách soi (16,13%), 11 mẫu là
nuôi cấy có nấm (64,52%), và 5 mẫu test mầm giá có
nấm (16,13%)
Bệnh phẩm được tiến hành lấy tập trung ở vòm
miệng, biên giới nền hàm tiếp xúc với niêm mạc
miệng Như vậy, có thể nghĩ đến khả năng, nấm phát
triển nhiều ở những vùng này, đó là những nơi tiếp
xúc nhiều giữa niêm mạc miệng và hàm giả, những
nơi thức ăn dễ bám
KIếN NGHị
- Tăng cường giáo dục, tư vấn, chăm sóc sức khoẻ
răng miệng cho người cao tuổi nói riêng và cộng đồng
nói chung
- Tiến hành thêm những nghiên cứu về mối liên
quan của nấm với hàm giả, răng miệng, để có thêm
thông tin cho việc tăng cường sức khoẻ răng miệng
cộng đồng, cho ra những biện pháp, sản phẩm nâng
cao sức khỏe răng miệng
TàI LIệU THAM KHảO
1 Răng Hàm Mặt tập 1, Bộ môn RHM, ĐHYKHN, NXBYH và TDTT 1969, trang 199
2 Nguyễn Văn Bài (1994), “Góp phần đánh giá tình trạng mất răng và nhu cầu điều trị phục hình ở 1 số tỉnh Phía Bắc”, luận văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp II, trường Đại học Y Hà Nội, trang 1-2
3 Dương Đình Thiện (2001), “Dịch tễ học lâm sàng”, NXB Y học Hà Nội, tập 1, trang 17-31
4 Trần Văn Trường (1988), Viêm nhiễm vùng hàm mặt, NXBYH, trang 98
5 Triệu chứng học bệnh học mịêng, Bộ môn Bệnh học miệng, khoa RHM, Trường Đại học Y Dược TPHCM, NXBYH 2010, trang 11-12
6 Nguyễn Lân Dũng, Nguyễn Đình Quyến, Phạm Văn Ty (2001), Vi Sinh Vật Học,Trường Đại Học KHTN-
ĐHQGHN, NXBGD, trang 84
7 Trần Thiên Lộc (2008) Thực hành phục hình răng tháo lắp bán phần, NXB Y Học TP Hồ Chí Minh, trang
12
8 Giải Phẫu Người, Trường Đại Học Y Hà Nội, NXBYH 2011, trang 225, 226
9 PGS TS Lê Đình Roanh, Ths Nguyễn Văn Chủ, Bệnh học viêm và các bệnh nhiễm khuẩn, NXBYH 2009, trang163, 164, 165
10 Ths Lê Long Nghĩa, Bài giảng “Bệnh căn bệnh sinh vùng quanh răng”, Viện Đào Tạo Răng Hàm Mặt
2011
ĐáNH GIá KHả NĂNG SẵN SàNG ĐáP ứNG TìNH HUốNG KHẩN CấP
Và ứNG PHó VớI BIếN ĐổI KHí HậU CủA BệNH VIệN ĐA KHOA TỉNH ĐĂK LắK NĂM 2012
Hà Văn Như - Trường Đại học Y tế công cộng Đỗ Thị Thược - Trường Đại học Tây Nguyên Trần Thanh Bình - Trung tâm PC AIDS tỉnh Đăk Nông Ninh Tiên Hoàng - Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Anh Tuấn- Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP HCM
TóM TắT
Nghiên này nhằm mô tả khả năng sẵn sàng đáp
ứng với tình huống khẩn cấp/thảm họa và ứng phó với
biến đổi khí hậu của bệnh viện đa khoa tỉnh Đăk Lăk
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 6 năm 2012 Bộ
công cụ đánh giá BVAT và khả năng ứng phó với biến
đổi khí hậu của bệnh viện do Tổ chức Y tế thế giới
xây dựng đã được sử dụng Kết quả: nhóm các chỉ số
phi kết cấu đạt cao nhất: 136/146 chỉ số đạt (93,1%);
nhóm chỉ số chức năng: 86/142 chỉ số đạt (70,5%);
nhóm chỉ số về khả năng thích ứng với biến đổi khí
hậu và đáp ứng dịch bệnh truyền nhiễm và của bệnh
viện có 45/69 chỉ số đạt (66,2%) Tuy bệnh viện đã có
chính sách về tiết kiệm năng lượng và nước nhưng
việc thực hiện chưa thực sự hiệu quả do đó cần tuyên
truyền cho cán bộ, bệnh nhân và người nhà kết hợp
với kiểm tra, giám sát thường xuyên nhằm nâng cao
kiến thức và thực hành tiết kiệm năng lượng góp phần nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu của bệnh viện
Từ khóa: bệnh viện an toàn, tình huống khẩn cấp, biến đổi khí hậu
SUMMARY This cross-sectional study was conducted in June
2012 to assess safety of provincial general hospital of Dak Lak province and the hospital resiliency to climate change Results: proportions of specific groups of indicators met the standards are: 93.1% of non-structural indicators; 70.5% of functional indicators and 66.2% climate change resiliency indicators Specific actions regarding energy saving should be implemented which include (i) training, education health staff as well as patients and their