Nhằm đánh giá hiệu quả tiêm vắcxin VGB của CT.TCMR, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo dõi tỷ lệ nhiễm VGB, kháng thể tồn lưu và tỷ lệ phơi nhiễm với vi rút trong hai nhóm trẻ đã tiê
Trang 1§¸NH GI¸ TRÝ NHí MIÔN DÞCH ë TRÎ 7 Vµ 10 TUæI SAU KHI TI£M
V¾CXIN VI£M GAN B TRONG TI£M CHñNG Më RéNG T¹I TP R¹CH GI¸, KI£N GIANG, 2008-2010
Hå VÜnh Th¾ng, NguyÔn ThÞ Minh Ph−îng,
NguyÔn ThÞ Thanh Hµ,
Viện Pasteur TP.Hồ Chí Minh,
NguyÔn ThÞ Ph−íc - TT YTDP tỉnh Kiên Giang
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Năm 1997, vắcxin viêm gan B (VGB)
huyết tương được đưa vào Chương trình Tiêm chủng
mở rộng (CT.TCMR) cho trẻ em dưới 1 tuổi ở các
thành phố/ thị xã nguy cơ cao Năm 2002, Việt Nam
mở rộng diện tiêm chủng trên toàn quốc, sử dụng
vắcxin VGB tái tổ hợp với lịch tiêm có liều sơ sinh
Nhằm đánh giá hiệu quả tiêm vắcxin VGB của
CT.TCMR, chúng tôi tiến hành nghiên cứu theo dõi tỷ
lệ nhiễm VGB, kháng thể tồn lưu và tỷ lệ phơi nhiễm
với vi rút trong hai nhóm trẻ đã tiêm vắcxin sau 8 và 5
năm tương ứng Phương pháp nghiên cứu: Trong
12/2007, chúng tôi kiểm tra kháng nguyên bề mặt vi
rút VGB (HBsAg) và kháng thể tương ứng (anti-HBs)
của tổng cộng 765 trẻ em sống ở thành phố Rạch
Giá Trong đó, 387 trẻ sinh năm 1999 (tiêm vắcxin
VGB huyết tương 2.5µg/0.5ml, lịch 2,3,4 tháng tuổi)
và 378 sinh năm 2002 (tiêm vắcxin VGB tái tổ hợp
10µg/0.5ml, lịch 0,2,4 tháng tuổi) Những trẻ em có
anti-HBs <10mUI/ml và HBsAg(-) được theo dõi và
xét nghiệm lại trong 01/2010 Kết quả nghiên cứu:
Trong 12/2007, kết quả kiểm tra 387 trẻ sinh năm
1999 có anti-HBs >10 mUI/ml là 23,3% (90/387) và
HBsAg(+) là 5,9% (23/387); trong khi 378 trẻ sinh
năm 2002 có anti-HBs >10 mUI/ml là 28,3%
(107/378) và HBsAg(+) là 2,1% (8/378) Trong
01/2010, bao gồm nhóm 266 trẻ sinh năm 1999 có
anti-HBs >10 mUI/ml là 15,0% (40/266) và HBsAg(+)
là 3,0% (8/266); nhóm 260 trẻ sinh năm 2001 có
anti-HBs >10 mUI/ml là 17,7% (46/260) và anti-HBsAg(+) là
0,4% (1/260) Tỷ lệ phơi nhiễm với vi rút VGB trong 2
năm ở trẻ sinh năm 1999 và 2002 lần lượt là 18,0% và
18,1% trong khi tỷ lệ nhiễm là 3,0% và 0,4% (RR = 7,8;
p = 0,04; 95% CI = 1,0 - 62,1) Kết luận: Các nhóm trẻ
em đang lớn lên tại Việt Nam với mức độ miễn dịch
chống lại HBV cao và tỷ lệ lây nhiễm thấp Điều này
cho thấy được hiệu quả của việc tiêm vắcxin VGB
trong CT.TCMR và đặc biệt là lịch tiêm chủng với liều
tiêm sơ sinh vẫn chứng minh được ưu thế
CHILDREN 7 AND 10 YEARS AFTER HEPATITIS B
VACCINATION IN EXPANDED PROGRAMME ON
IMMUNIZATION IN RACH GIA CITY, KIEN GIANG
PROVINCE
SUMMARY
Background: In 1997, a plasma-derived hepatitis
B (hepB) vaccine was introduced in the Expanded
Program on Immunization (EPI) for children living in
selected high risk towns and cities In 2002, Vietnam expanded the immunization for all children nationwide using a new recombinant hepB vaccine and birth-dose schedule To evaluate the effectiveness of these programs, we assessed hepatitis B virus (HBV) immunity, exposure and infection rates in the two cohorts of vaccinees 8 and 5 years after
immunization, respectively Methods: In December
2007, we screened HBV surface antigen (HBsAg) and its corresponding antibody (anti-HBs) in altogether 765 children living in Rach Gia City Of them, 387 were born in 1999 (received plasma-derived hepB vaccine at 2, 3, 4 months) and 378 born
in 2002 (received recombinant hepB vaccine at 0, 2,
4 months) Children who were tested anti-HBs
<10mUI/ml and HBsAg(-) were followed up and
retested in January 2010 Results: In December
2007, there were 387 children born in 1999 with the prevalence of anti-HBs >10mUI/ml accounted for 23.3% (90/387) and HBsAg(+) 5.9% (23/387) While
378 children born in 2002 with the prevalence of anti-HBs >10mUI/ml was 28.3% (107/378) and anti-HBsAg(+) 2.1% (8/378) In January 2010, including 266 children born in 1999 with the incidence of anti-HBs
>10mUI/ml was 15.0% (40/266), HBsAg(+) 3.0% (8/266) And 260 children born in 2002 with the incidence of anti-HBs >10mUI/ml was 17.7% (46/260), HBsAg(+) 0.4% (1/260) HBV exposure rates were 18.0% and 18.1% whereas infection rates were 3.0% and 0.4% (rate ratio = 7.8; p = 0.04; 95%CI = 1.0 - 62.1) in the children born 1999 and
2002, respectively Conclusions: Cohorts of children
are growing up in Vietnam with high level of immunity against HBV and low rates of infection This
particularly the birth-dose schedule which should continue to be emphasized
Viêm gan B là một bệnh phổ biến và là vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng, trên thế giới
có hơn 2 tỉ người từng bị nhiễm virút VGB và 400 triệu người bị nhiễm mãn tính Việt Nam nằm trong vùng có tỷ lệ người nhiễm virút VGB mạn tính 10-20%[7,9,11] và chịu nhiều hậu quả nghiêm trọng của bệnh này như viêm gan mạn, xơ gan và ung thư gan Mặc dù hiện nay việc tiêm phòng vắcxin VGB đã trở nên phổ biến đối với người dân Tuy nhiên, tỷ lệ hiện mắc trong cộng đồng vẫn còn cao hơn so với các
Trang 2nước trong khu vực Theo số liệu nghiên cứu năm
2003 của David B Hipgrave, Nguyễn Thu Vân và Vũ
Minh Hương cho thấy tỷ lệ nhiễm virút VGB ở người
trưởng thành khỏe mạnh là 18,8%, ở trẻ em là
12,5%[3] Một nghiên cứu tại Hà Nội và Thành phố
Hồ Chí Minh có tỷ lệ hiện nhiễm virút VGB là
9-14%[7,11] Các nghiên cứu trên đối tượng thai phụ
với tỷ lệ có HBsAg(+) trong máu khoảng
10-12%[8,10] Vắcxin VGB được bắt đầu đưa vào TCMR
từ năm 1997, tuy nhiên hàng năm chỉ đủ vắcxin tiêm
cho khoảng 20% số trẻ em dưới 1 tuổi tại một số địa
phương nguy cơ Từ năm 2002 đã mở rộng diện tiêm
cho tất cả trẻ trên toàn quốc Vì vậy việc đánh giá
kháng thể tồn lưu và tỷ lệ nhiễm ở trẻ sau 5 năm tiêm
chủng là rất cần thiết để TCMR có chiến lược tiêm
vắcxin thích hợp
Nghiên cứu dọc theo dõi trên 2 nhóm trẻ sinh năm
1999 và sinh năm 2002 với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống dựa vào sổ tiêm chủng trẻ em được thực hiện trong tháng 12/2007 Chúng tôi kiểm tra kháng nguyên bề mặt vi rút VGB (HBsAg) và kháng thể tương ứng (anti-HBs) của tổng cộng 765 trẻ em sống ở thành phố Rạch Giá Trong đó, 387 trẻ sinh năm 1999 (tiêm vắcxin VGB huyết tương 2.5µg/0.5ml, lịch 2,3,4 tháng tuổi, với tỷ lệ bao phủ 3 mũi vắcxin VGB là 95,5%) và 378 sinh năm 2002 (tiêm vắcxin VGB tái tổ hợp 10µg/0.5ml, lịch 0,2,4 tháng tuổi, với tỷ lệ bao phủ 3 mũi vắcxin VGB là 92,4% và tỷ lệ tiêm vắcxin mũi 1 < 24 giờ sau sinh là 73,1%) Kỹ thuật định lượng anti-HBs (AxSYM-AUSAB) Các mẫu anti-HBs <10 mlUI/ml sẽ tiếp tục kiểm tra HBsAg (Monolisa Ag HBs Plus) Những trẻ
em có anti-HBs <10mUI/ml và HBsAg(-) được theo dõi và xét nghiệm lại trong 01/2010
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Mô tả đặc tính của mẫu nghiên cứu
Bảng 1: Tần số và tỷ lệ trẻ phân bố theo các đặc tính mẫu nghiên cứu
Đặc tính
Năm sinh
Giới
Cân nặng lúc sinh
Tình trạng dinh dưỡng
Trẻ mắc bệnh mạn tính
Có người thân mắc viêm gan B
Cân nặng lúc sinh trung bình ± độ lệch chuẩn ở cả 2 nhóm tương đương nhau lần lượt là 3061,9 ± 417,8 gram và 3069,4 ± 457,6 gram Cân nặng hiện tại trung bình của trẻ sinh năm 1999 là 23,7 ± 5,0 kg và trẻ sinh năm 2002 là 17,6 ± 3,6 kg Chiều cao hiện tại trung bình ở trẻ năm 1999 là 122,9 ± 8,1 cm và trẻ sinh năm
2002 là 106,1 ± 7,1 cm
2 Kết quả xét nghiệm anti-HBs và HBsAg lần 1 (tháng 12/2007):
Bảng 2: Tỷ lệ trẻ hiện có anti-HBs >10 mUI/ml và tỷ lệ trẻ có HBsAg(+)
Có kháng thể Anti-HBs bảo vệ
Có kháng nguyên HBsAg trong máu
Có thể tiêm nhắc vắcxin viêm gan B
Trang 3* Mẫu số 731 = 765 - 31 trẻ có HBsAg(+) và 3 trẻ
không đủ mẫu máu xét nghiệm HBsAg
Tỷ lệ trẻ có anti-HBs ở mức bảo vệ (>10 mUI/ml)
của cả 2 nhóm là 25,8%, phân theo năm sinh thì
nhóm sinh năm 1999 là 23,3%; nhóm sinh năm 2002
là 28,3%
Tỷ lệ trẻ có HBsAg trong máu chung của 2 nhóm
là 4,0%, trong đó nhóm trẻ sinh năm 1999 có HBsAg
trong máu là 5,9% cao hơn nhóm sinh năm 2002 là
2,1%, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p=
0,007; PR= 2,81; KTC-95% (1,27-6,20)
Các trẻ có mức anti-HBs <10 mUI/ml và xét
nghiệm HBsAg âm tính, có thể tiêm nhắc vắcxin viêm
gan B chung của 2 nhóm là 73,0%, phân theo năm
sinh 1999 và 2002 lần lượt là 75,3% và 70,8%
Biểu đồ 1: So sánh tỷ lệ các mức anti-HBs của nhóm
năm sinh 1999 và 2002
So sánh tỷ lệ các mức Anti-HBs của nhóm năm sinh 1999 và 2002
10.3
5.4
2.6
4.9
19.6
6.4
0.8 1.6
0 5 10 15 20
10 - 99 UI/L 100 - 499 UI/L 500 - 999 UI/L > 1000 UI/L
Anti-HBs
%
1999 2002
Hiệu giá kháng thể trung bình nhân (GMT) của những trẻ có anti-HBs >10 mUI/ml ở nhóm sinh năm 1999 (23,3%) là 132,5 mUI/ml cao hơn nhóm sinh năm 2002 (28,3%) là 54,6 mUI/ml
Phân theo mức nồng độ kháng thể (anti-HBs) trong từng nhóm tuổi, ở các mức thấp từ 10 mUI/ml đến 499,9 mUI/ml thì trẻ sinh năm 1999 có tỷ lệ thấp hơn so với trẻ sinh năm 2002 Nhưng ở các mức cao từ 500 mUI/ml đến > 1000 mUI/ml thì ngược lại, trẻ sinh năm 1999 có tỷ lệ cao hơn trẻ sinh năm 2002
3 Kết quả xét nghiệm anti-HBs và HBsAg lần 2 (tháng 01/2010):
Bảng 3: Tỷ lệ trẻ mới có anti-HBs >10 mUI/ml và tỷ lệ trẻ mới mắc HBsAg(+) theo dõi trong 2 năm
Có kháng thể Anti-HBs miễn dịch tự nhiên
Có kháng nguyên HBsAg mới mắc
Phơi nhiễm với virút viêm gan B trong 2 năm
* Số trẻ có anti-HBs <10 mUI/ml và HBsAg âm tính được lấy máu lần 2 như sau:
Nhóm trẻ sinh năm 1999 là (266/274) 97,1%, mất theo dõi 8 trẻ
Nhóm trẻ sinh năm 2002 là (260/263) 98,9%, mất theo dõi 3 trẻ
Tỷ lệ trẻ có anti-HBs >10 mUI/ml miễn dịch tự nhiên trong 2 năm (2008-2009) của nhóm sinh năm 1999 là 15,0% và nhóm sinh năm 2002 là 17,7% Tỷ lệ trẻ có HBsAg(+) mới mắc trong 2 năm ở nhóm trẻ sinh năm
1999 là 3,0% cao hơn nhóm trẻ sinh năm 2002 là 0,4% (RR= 7,8; p= 0,04; 95% CI= 1,0-62,1) Vì vậy tỷ lệ trẻ phơi nhiễm với virút VGB trong 2 năm của nhóm trẻ sinh năm 1999 và nhóm trẻ sinh năm 2002 tương ứng là 18,0% và 18,1%
4 So sánh anti-HBs >10 mUI/ml trước và sau khi tiêm nhắc VGB mũi 4:
Bảng 4: So sánh anti-HBs >10 mUI/ml trước và sau khi tiêm nhắc vắcxin VGB mũi 4
Trước khi tiêm nhắc
Sau khi tiêm nhắc VGB
GMT tăng lên gấp 9,9 lần
GMT tăng lên gấp 29,9 lần
Trang 4* Số trẻ đã tiêm nhắc vắcxin VGB mũi 4 và được
lấy máu lần 3 như sau:
Nhóm trẻ sinh năm 1999 là (256/266) 96,2%, mất
mẫu 10 trẻ
Nhóm trẻ sinh năm 2002 là (257/260) 98,8%, mất
mẫu 3 trẻ
Biểu đồ 2: So sánh nồng độ kháng thể anti-HBs
trước và sau khi tiêm nhắc
Sau khi tiêm nhắc vắcxin VGB mũi 4 nhóm trẻ
sinh năm 1999 tăng tỷ lệ có kháng thể bảo vệ
(anti-HBs >10 mUI/ml) từ 15,0% lên 57,4% và GMT tăng
lên gấp 9,9 lần; trong khi nhóm trẻ sinh năm 2002
tăng tỷ lệ có kháng thể bảo vệ (anti-HBs >10 mUI/ml)
từ 17,7% lên 78,6% và GMT tăng lên gấp 29,9 lần
BÀN LUẬN
1 Tỷ lệ trẻ có đủ kháng thể bảo vệ (anti-HBs
>10 mlUI/ml)
Theo TCYTTG sau khi tiêm 3 mũi vắcxin VGB cho
trẻ dưới 1 tuổi đủ liều và đúng lịch sẽ tạo kháng thể
có khả năng bảo vệ từ 90-95%[12] Nghiên cứu của
A Faustini tại Ý, tiêm 3 mũi vắcxin VGB tái tổ hợp
cho 533 trẻ sinh năm 1991-92 (trẻ mới sinh, 5-10µg/
liều) và 659 trẻ sinh năm 1979-81 (trẻ lớn, 10-20µg/
liều), sau 5 năm còn 92,9% trẻ nhỏ và 94,1% trẻ lớn
có anti-HBs >10 mUI/ml[2] Một nghiên cứu đoàn hệ
khác của Hong BL tại Trung Quốc theo dõi 12 năm
với 688 bà mẹ có HBsAg(-) và 74 bà mẹ có
HBsAg(+), được tiêm chủng 3 liều vắcxin VGB huyết
tương (10µg/ liều) lúc 0,1,6 tháng tuổi Kết quả là tỷ
lệ anti-HBs giảm dần từ 94,4% xuống còn 51,3% và
84,2% xuống còn 52,5% tương ứng với năm thứ 1
đến năm thứ 12 Giá trị GMT thay đổi từ 31,6 mUI/ml đến 3,1 mUI/ml và từ 24,0 mUI/ml đến 3,7 mUI/ml của 2 nhóm trên Có 2 mốc thay đổi giá trị GMT là năm thứ 3-5 và thứ 9-10[6]
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ trẻ
có anti-HBs >10 mUI/ml của cả 2 nhóm là 25,8%, nhóm 8 tuổi có anti-HBs >10 mUI/ml là 23,3% và nhóm 5 tuổi là 28,3% (Bảng 2) So sánh với kết quả của A Faustini và Hong BL.[2,6] thì tỷ lệ trong nghiên cứu này thấp hơn Tuy nhiên so với nghiên cứu trong nước của Đỗ Tuấn Đạt, Nguyễn Thu Vân và Hoàng Thủy Long với cùng loại vắcxin VGB huyết tương (2,5µg/0,5ml), tỷ lệ anti-HBs >10 mUI/ml trong nhóm
đô thị là 69% và nhóm nông thôn là 48,6% ở trẻ
12-24 tháng tuổi[4] thì kết quả là tương đương Sự khác nhau về tỷ lệ trẻ có kháng thể bảo vệ của các nghiên cứu nước ngoài và trong nước có thể lý giải là do nồng độ kháng nguyên HBsAg trong vắcxin khác nhau Các nghiên cứu nước ngoài sử dụng vắcxin VGB (10µg/ liều) trong khi tại Việt Nam vắcxin VGB (2,5µg/ liều) Ở thời điểm năm 1997 đến 2002 nguồn vắcxin VGB trong nước còn hạn hẹp do vậy chủ trương của CT.TCMRQG giảm lượng kháng nguyên trong mỗi liều vắcxin, nhằm tăng diện bao phủ cộng đồng với sự đáp ứng kháng thể vừa đủ[5] Đó là một chính sách đúng và phù hợp cho các nước đang phát triển như Việt Nam thời điểm bấy giờ Hiện nay nguồn vắcxin VGB (10µg/ liều) đã có đủ và được sử dụng trong CT.TCMRQG cho trẻ dưới 1 tuổi
Trong nghiên cứu của chúng tôi, hiệu giá trung bình nhân (GMT) của những trẻ có anti-HBs >10 mUI/ml ở nhóm 8 tuổi là 132,5 mUI/ml cao hơn nhóm
5 tuổi là 54,6 mUI/ml Ở các mức nồng độ anti-HBs
từ 10 mUI/ml đến 499,9 mUI/ml thì trẻ 8 tuổi có tỷ lệ thấp hơn so với trẻ 5 tuổi Nhưng ở các mức cao từ
500 mUI/ml đến >1000 mUI/ml thì ngược lại (Biểu đồ 1) Điều này cho thấy trẻ lớn hơn thì có cơ hội tiếp xúc (phơi nhiễm) với virút VGB nhiều hơn và có miễn dịch nhắc tự nhiên trong cộng đồng sau khi tiêm chủng Đó cũng là lý do giải thích tại sao nhóm trẻ 8 tuổi đã tiêm vắcxin VGB lâu hơn nhưng lại có GMT cao hơn nhóm trẻ 5 tuổi
2 Tỷ lệ trẻ có HBsAg(+) trong máu (dương tính)
Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ nhiễm virút VGB mạn cao Theo số liệu nghiên cứu của David B Hipgrave năm 2003, cho thấy tỷ lệ nhiễm virút VGB ở người trưởng thành khỏe mạnh là 18,8%, ở trẻ em là 12,5%[3] Các nghiên cứu trên đối tượng thai phụ với tỷ lệ có HBsAg(+) trong máu là 10-12%[8,10] Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi,
tỷ lệ trẻ đã tiêm 3 mũi vắcxin sau 5 năm có HBsAg trong máu chung của 2 nhóm là 4,0% Trong đó nhóm 8 tuổi có HBsAg trong máu là (5,9%) cao hơn nhóm 5 tuổi là (2,1%), có sự khác biệt có ý nghĩ thống kê giữa 2 nhóm tuổi với p= 0,007; PR= 2,81; KTC-95% là 1,27-6,20 Sự khác biệt này vẫn tồn tại sau khi đưa vào phân tích hồi quy đa biến Kết quả này gợi ý cho ta thấy hiệu quả rõ ràng của lịch tiêm 0,2,4 nhằm phòng ngừa lây nhiễm viêm gan B chu sinh So sánh hiệu quả tiêm vắcxin VGB sau khi đưa vào CT.TCMRQG ở một số nước như sau:
Trang 5Bảng 5: Hiệu quả tiêm vắcxin VGB so với tỷ lệ nhiễm virút viêm gan B mạn tính[12]
chủng Trước khi tiêm chủng Sau khi tiêm chủng Nhiễm VGB mạn tính
* Tiêm vắcxin viêm gan B lúc sơ sinh
** Không tiêm vắcxin viêm gan B lúc sơ sinh
Thật vậy, khi tiêm vắcxin VGB lúc sơ sinh trong vòng 24 giờ có thể phòng được 90% việc lây lan từ mẹ sang con, nếu tiêm sau khi sinh 7 ngày sẽ không có tác dụng phòng viêm gan B do mẹ truyền trong quá trình sinh đẻ[12] Ở khu vực Tây Á Thái bình dương, lây truyền từ mẹ sang con trong lúc sinh đóng vai trò quan trọng đối với dịch tễ nhiễm virút VGB, có khoảng 3-5% trẻ mới sinh sẽ nhiễm virút VGB mạn tính nếu không được tiêm chủng ngay sau khi sinh[12] Nghiên cứu này củng cố thêm về hiệu quả thật sự của việc tiêm vắcxin viêm gan B sơ sinh Ý nghĩa quan trọng ở chổ không phải chỉ so sánh tác dụng phòng ngừa của lịch tiêm 0,2,4 tháng tuổi so với lịch tiêm 2,3,4 tháng tuổi trên từng cá thể, mà là hiệu quả phòng ngừa lây truyền chu sinh của lịch tiêm 0,2,4 được ứng dụng trên cộng đồng như thế nào
3 Đáp ứng trí nhớ miễn dịch với vắcxin VGB
Nghiên cứu ở New Zealand trên 318 trẻ có đáp ứng sau chủng ngừa Sau 5 năm lượng anti-HBs trung bình
từ 1010 mUI/ml giảm xuống còn 89 mUI/ml 9 ngày sau tiêm 1 liều nhắc lại lượng kháng thể anti-HBs tăng lên rất cao 4777 mUI/ml Điều này chứng tỏ ký ức miễn dịch sau chủng ngừa vắcxin VGB gần như 100% Vì vậy việc tiêm nhắc đại trà là không cần thiết sau khi chủng ngừa 3 mũi cơ bản vắcxin VGB ở vùng dịch tễ Đối với trường hợp người có nguy cơ lây nhiễm cao nên được nhắc lại sau 7-8 năm
Bảng 6: Tỷ lệ % anti-HBs bảo vệ và GMT trước, sau khi tiêm nhắc vắcxin VGB của trẻ sau 5-12 năm trong các nghiên cứu ở một số quốc gia[1]
nhắc Tiêm nhắc Huyết thanh bảo vệ/ GMT trước và sau khi tiêm nhắc Tăng lên gấp
P = plasma HB vaccine; R = Recombinant HB
vaccine
Trong khi nghiên cứu của Đỗ Tuấn Đạt, Nguyễn
Thu Vân và Hoàng Thủy Long với vắcxin VGB huyết
tương (2,5µg/0,5ml) sản xuất trong nước, có tỷ lệ
anti-HBs(+) và GMT ở trẻ 12-24 tháng tuổi trong
nhóm đô thị là 69% và 157 mUI/ml cao hơn so với
nhóm trẻ cùng độ tuổi trong nhóm nông thôn là
48,6% và 107,2 mUI/ml Tỷ lệ trẻ có đáp ứng kháng
thể anti-HBs ở mức độ bảo vệ đã tăng từ 48,7% lên
80,2% sau khi được tiêm nhắc lại mũi vắcxin VGB
Cũng trong nghiên cứu này hiệu lực vắcxin VGB ở
nhóm đô thị là 72,2% và nhóm nông thôn là 36,1%[4]
Trong nghiên cứu này, sau khi tiêm nhắc vắcxin
VGB mũi 4 nhóm trẻ sinh năm 1999 tăng tỷ lệ có
kháng thể bảo vệ (anti-HBs >10 mUI/ml) từ 15,0% lên
57,4% và GMT tăng lên gấp 9,9 lần; trong khi nhóm
trẻ sinh năm 2002 tăng tỷ lệ có kháng thể bảo vệ
(anti-HBs >10 mUI/ml) từ 17,7% lên 78,6% và GMT
tăng lên gấp 29,9 lần Điều đó cho thấy trẻ vẫn được
duy trì hệ thống trí nhớ miễn dịch Khuyến cáo của
TCYTTG và chính sách TCMR là không cần thiết tiêm nhắc mũi 4 cho trẻ ít nhất là 10-15 năm, nhất là
ở những vùng dịch tễ mắc viêm gan B cao như Việt Nam, vì có lẽ trẻ đã có dịp phơi nhiễm một cách tự nhiên với virút VGB lúc nào mà không biết và những lần tiếp xúc đó xem như cơ thể đã được “nhắc lại” Tuy nhiên đối với từng cá thể, nếu có điều kiện vẫn nên kiểm tra việc đáp ứng kháng thể và nếu mức kháng thể thấp thì tiêm nhắc vắcxin VGB Vì thực tế vẫn có 2,1% - 5,9% trẻ có HBsAg(+) mặc dù đã tiêm
3 mũi vắcxin VGB trong TCMR lúc dưới 1 tuổi và 0,4% - 3,0% trẻ mới mắc HBsAg(+) trong 2 năm Từ tháng 6 năm 2010 đến nay CT.TCMR.QG đã đưa vắcxin 5 trong 1 (phòng Bạch hầu, Ho gà, Uốn ván, Viêm gan B và bệnh do Hib) tiêm miễn phí cho trẻ Lịch tiêm vắcxin VGB cũng đã nâng lên 4 mũi bao gồm 1 mũi tiêm trong 24 giờ sau sinh và 3 mũi trong vắcxin 5 trong 1
KẾT LUẬN
Các nhóm trẻ em đang lớn lên tại Việt Nam với mức độ miễn dịch chống lại virút viêm gan B cao và
Trang 6tỷ lệ lây nhiễm thấp Điều này cho thấy được hiệu
quả của việc tiêm vắcxin VGB trong CT.TCMR và đặc
biệt là lịch tiêm chủng với liều tiêm sơ sinh vẫn chứng
minh được ưu thế
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Abdollah Jafarzadeh, Sayed Jalal Montazerifar
Persistence of anti-HBs antibody and immunological
memory in children vaccinated with hepatitis B vaccine
at birth J Ayub Med Coll Abbottabad; 18(4): 4-9
2 A Faustini, E Franco, M Sangalli (2001)
Persistance of anti-HBs 5 years after the introduction of
routine infant and adolescent vaccination in Italy
Elsevier Vaccine 19, pp 2812-2818
3 David B Hipgrave, Nguyen Thu Van, Vu Minh
Huong (2003) Hepatitis B infection in rural Vietnam and
the implication for a National Program of Infant
Immunization Am J Trop Med Hyg 69(3), pp 288-294
4 Đỗ Tuấn Đạt, Nguyễn Thu Vân, Hoàng Thủy Long
(2004) Đáp ứng kháng thể Anti-HBs sau khi tiêm vắcxin
viêm gan B do Viện vệ sinh dịch tễ trung ương sản xuất ở
trẻ 12-24 tháng tuổi trong chương trình Tiêm chủng mở
rộng Tạp chí Y học dự phòng, tập XIV, số 2+3, tr 66
5 Guan R, Tay HH, Yap I, Smith R, Tan LH (1990)
The immune response of low dose recombinant DNA
hepatitis B vaccine in teenagers in Singapore Trans R
Soc Trop Med Hyg 1990 Sep-Oct;84(5), pp 731-732
6 Hong BL, Zong DM, Jing CM, Chang QH and Hui
LC (2000) A 12-year cohort study on the efficacy of plasma-derived hepatitis B vaccine in rural newborns World J Gastroentero 6(3), pp 381-383
7 Nakata S, Song P, Duc DD, Nguyen XQ, Murata
K, Tsuda F, Okamoto H (1994) Hepatitis C and B virus infections in populations at low or high risk in Ho Chi Minh and Hanoi, Vietnam J Gastroenterol Hepatol 9,
pp 416-419
8 Nguyễn Minh Trung, Trần Thị Lợi (2008) Tỷ lệ nhiễm siêu vi viêm gan B ở thai phụ tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang Y học Tp Hồ Chí Minh Tập 12, phụ bản 1, tr 201-207
9 Phạm Song, Đào Đình Đức, Trịnh Thị Ngọc, Hoàng Thuỷ Nguyên, Nguyễn Thu Vân, Howard A Fields (1991) Viêm gan virut cấp tại Việt Nam, Báo cáo tại hội thảo 100 năm thành lập viện Pasteur TP.HCM 17-18/12/1991
10 Trần Thị Lợi (1995) Lây truyền virút viêm gan
B từ mẹ sang con Khả năng dự phòng Luận án Phó tiến sĩ Đại học Y dược TP.HCM, tr 78-80
11 Tran Van Be, Buu Mat, Nguyen TM, Morris GE (1993) Hepatitis B in Ho Chi Minh City, Viet Nam Trans
R Soc Trop Med Hyg, pp 87: 262
12 World Health Organization (2006) Preventing Mother-to-Child Transmission of Hepatitis B Operational Field Guidelines for Delivery of the Birth Dose of Hepatitis B vaccine