1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ĐÓNG góp của cắt lớp VI TÍNH 64 dãy TRONG CHUẨN đoán bất THƯỜNG bẩm SINH NIỆU QUẢN SAU TĨNH MẠCH CHỦ dưới

3 277 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 709,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Y học thực hành 864 - số 3/2013 161 ĐóNG GóP CủA CắT LớP VI TíNH 64 DãY TRONG CHẩN ĐOáN BấT THƯờNG BẩM SINH NIệU QUảN SAU TĩNH MạCH CHủ DƯớI Trịnh Tú Tâm, Nguyễn Quốc Dũng Bệnh viện Hữu

Trang 1

Y học thực hành (864) - số 3/2013 161

ĐóNG GóP CủA CắT LớP VI TíNH 64 DãY TRONG CHẩN ĐOáN BấT THƯờNG BẩM SINH NIệU QUảN SAU TĩNH MạCH CHủ DƯớI

Trịnh Tú Tâm, Nguyễn Quốc Dũng

Bệnh viện Hữu Nghị

Lê Anh Đức - Đại học Y Dược Thái Nguyên Tóm tắt

Niệu quản sau tĩnh mạch chủ dưới (TMCD) là một

bất thường bẩm sinh hiếm gặp của hệ tiết niệu, vấn

đề điều trị phẫu thuật không quá khó nhưng chẩn

đoán xác định trước mổ không phải lúc nào cũng thực

hiện được Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quyết

định, trước đây thường dựa vào phim chụp UIV và

siêu âm, những năm gần đây cắt lớp vi tính (CLVT)

đặc biệt là CLVT đa dãy đầu dò với ưu điểm không

xâm lấn, có thể dựng hình không gian 3 chiều hệ tiết

niệu và đánh giá chính xác mối quan hệ giải phẫu

giữa niệu quản và TMCD giúp cho các bác sỹ lâm

sàng đưa ra phương pháp điều trị phù hợp, tiên lượng

và tránh được các biến chứng trong phẫu thuật

Chúng tôi giới thiệu 2 trường hợp niệu quản sau

TMCD được chẩn đoán chính xác tại phòng chụp

CLVT 64 dãy Bệnh viện Hữu Nghị

summary

Retrocaval ureter is a rare congenital anomaly of

the urinary system Surgical treatment is not really

complicated, but sometimes it is infeasible to detect

an accurate diagnosis before a surgery Thus,

radiology plays the decisive role Previously,

retrocaval ureter used to diagnosed by UIV and

retrograde pyelography; nowadays, CT scan is the

best modality for diagnosis, especially multislice

computed tomography (MSCT) which provides with

the advantages of non-invasive treaments,

three-dimensional images of the urinary system and

accurate assessments of the anatomical relationship

between the ureter and the inferior vena assisting

clinical physicians in ordering appropriate treatments,

making prognoses and avoiding complications in

surgery This report introduces two cases of

retrocaval ureter correctly diagnosed in MSCT 64,

Huu Nghi Hospital

Đặt vấn đề

Niệu quản sau TMCD là một bất thường bẩm sinh

hiếm gặp của hệ tiết niệu, chiếm tỷ lệ khoảng 1/1500

người và thường kết hợp một số bất thường khác, tỷ lệ

Nam/Nữ: 3/1 Mặc dù tổn thương bẩm sinh, nhưng

các triệu chứng thường xuất hiện ở lứa tuổi 30 – 40 với

biểu hiện đau và khó chịu vùng mạn sườn phải

Chẩn đoán hình ảnh đóng vai trò quyết định Siêu

âm gợi ý một tình trạng ứ nước bể thận và niệu quản

đoạn 1/3 trên

Phim UIV có thể cho thấy hình ảnh niệu quản bị

hẹp và có hình “móc câu”, hình chữ chữ “S” hay chữ

“J” ngược, ngang mức L3 cho dị tật loại I hoặc hình

ảnh bể thận nằm ngang sau TMCD cho dị tật loại II

Phim CLVT 64 dãy có dựng hình đường tiết niệu sẽ cho hình ảnh rõ nét hơn

Vấn đề điều trị phẫu thuật không quá khó nhưng chẩn đoán xác định trước mổ không phải lúc nào cũng thực hiện được Chúng tôi giới thiệu hai trường hợp được chẩn đoán chính xác trong thời gian gần

đây tại phòng chụp CLVT 64 dãy tại Bệnh viện Hữu Nghị

Trường hợp bệnh nhân Trường hợp 1:

Bệnh nhân Nguyễn An H; Giới: Nam; Tuổi: 21 Không có tiền sử bệnh thận

Lâm sàng: đau vùng mạn sườn phải Siêu âm (tại BV Đại học Y Hà Nội): giãn niệu quản phải

Chụp CLVT 64 dãy (26/7/2012): Giãn đài bể thận

và niệu quản 1/3 trên, niệu quản chạy sau TMCD

đoạn ngang L3 rồi vòng ra phía trước đổ vào bàng quang ở vị trí bình thường

Bệnh nhân đã được mổ nội soi tạo hình niệu quản tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội

Trường hợp 2:

Bệnh nhân Lưu Văn H; Giới: Nam; Tuổi: 36 Lâm sàng: đau vùng mạn sườn phải, thỉnh thoảng

có tiểu ra máu Siêu âm (tại BV St Paul): Sỏi 1/3 trên niệu quản phải

Chụp CLVT 64 dãy (02/8/2012): bể thận và niệu quản đoạn đầu gần như nằm ngang và nằm sau TMCD, niệu quản cách vị trí bể thận 43mm, ngang L3

có sỏi kích thước 10x19mm Chức năng bài tiết, bài xuất hai thận trong giới hạn bình thường

Bệnh nhân đã được mổ mở lấy sỏi và tạo hình niệu quản tại Bệnh viện St Paul – Hà Nội

Bàn luận Niệu quản sau TMCD là một bệnh lý bẩm sinh hiếm gặp, do sự phát triển bất thường của mạch máu vùng bụng Do sự tồn tại của tĩnh mạch dưới tim (subcardinal vein) bên phải làm cho niệu quản bên phải chạy vòng ra sau TMCD Bất thường này lần đầu tiên được báo cáo bởi Hochstetter vào năm 1893 [3]

Tỷ lệ phát hiện niệu quản sau TMCD qua khám nghiệm tử thi khoảng 1/1500 [1, 3] Bệnh thường biểu hiện triệu chứng ở tuổi 30-40, tỉ lệ nam:nữ là 3:1 [1, 3] Các dị tật liên quan với niệu quản sau TMCD trong các báo cáo trước đây bao gồm biến thể tĩnh mạch chủ bẩm sinh, thận móng ngựa, thoát vị tủy-màng tủy,

lỗ tiểu lệch dưới, hội chứng Turner, hẹp thực quản,

Trang 2

Y học thực hành (864) - số 3/2013 162

đảo ngược phủ tạng [1, 5] Theo Andrea và cộng sự

có 2 loại chính:

Loại 1: “quai thấp”, trong đó đoạn niệu quản gần

giãn to và có hình chữ “J” ngược, niệu quản đoạn gần

chạy xuống rồi quặt ngược lên và vòng ra sau

TMCD ngang mức L3 Đoạn niệu quản xa không

giãn, nằm phía trong TMCD, đi xuống, bắt chéo phía

trước bó mạch chậu bên phải Còn gọi là “niệu quản

vòng quanh TMCD” (circumcaval ureter)

Loại 2: “quai cao”, hiếm gặp hơn, khúc nối

bể thận- niệu quản chạy gần như nằm ngang phía sau TMCD Còn gọi là “niệu quản sau TMCD” (retrocaval ureter)

Loại 1 thường có ứ nước thận mức độ trung bình

và nặng trong 50% bệnh nhân do niệu quản bị đè ép bởi cơ thắt lưng chậu, cột sống và TMCD dẫn đến viêm và xơ hóa Loại 2 ứ nước nhẹ hoặc không có [1] Loại 2 hiếm gặp hơn, chiếm khoảng 10% trong tổng

số các trường hợp

Trong hai trường hợp của chúng tôi:

- Trường hợp thứ nhất thuộc loại 1 với hình ảnh đài bể thận và niệu quản giãn, niệu quản 1/3 trên hình

“lưỡi câu” nằm sau TMCD sau đó vòng ra phía trước và đi xuống đổ vào bàng quang

-

Niệu quản phải hình “lưỡi câu” hay hình chữ “J” ngược

ảảảảnh VR thấy niệu quản giãn và gián đoạn đoạn niệu quản

nằm sau TMCD (mũi tên)

- Trường hợp thứ 2 thuộc loại 2, hiếm gặp với hình ảnh khúc nối bể thận - niệu quản nằm ngang và sau TMCD, đi xuống tạo thành một đường cong hình liềm, đồng thời có sỏi ở đoạn 1/3 trên niệu quản ngay sát bờ trái TMCD, điều đó có thể giải thích phần nào nguyên nhân đái máu của bệnh nhân

ảảảảnh axial thấy bể thận nằm ngang, đoạn đầu niệu quản chạy

sau TMCD

ảảảảnh CPR thấy niệu quản chạy thành đường cong hình liềm, có

sỏi cách bể thận 43mm

- Lâm sàng: Bệnh nhân có niệu quản sau TMCD

thường biểu hiện triệu chứng vào khoảng 30 – 40

tuổi do sự tắc nghẽn và ứ nước thận, với những biểu

hiện đau vùng mạn sườn phải, đái máu toàn bãi,

nhiễm trùng tiết niệu, sốt, một số trường hợp có thể

có sỏi kèm theo… [1, 7]

- Chẩn đoán hình ảnh:

Trước đây, chụp UIV và UPR được dùng để chẩn

Trang 3

Y học thực hành (864) - số 3/2013 163

đoán niệu quản sau TMCD UIV trong giai đoạn đầu

có hẹp niệu quản chỉ biểu hiện bằng hình ảnh giãn

đài bể thận, có thể có sỏi niệu quản, thông thường

UIV không thể thấy được phần niệu quản phía sau

TMCD, tuy nhiên, hình ảnh niệu quản trên hình “lưỡi

câu” hay hình chữ “J” ngược, đường cong hướng tới

đường giữa ở ngang mức L3 - L4 có thể gợi ý chẩn

đoán [1, 6, 8]

Hiện nay, CLVT đa dãy (Multislice Computed

Tomography) được xem là lựa chọn tối ưu cho chẩn

đoán bất thường của TMCD và niệu quản sau TMCD

[1, 6, 8] CLVT 64 dãy với ưu điểm không xâm lấn, có

thể dựng hình không gian 3 chiều hệ tiết niệu, đánh

giá chính xác mối quan hệ giải phẫu giữa niệu quản

và tĩnh mạch chủ, đặc biệt với chương trình tạo ảnh

CPR (Curved Planer Refomation) có thể duỗi được

toàn bộ chiều dài niệu quản trên một mặt phẳng để

đánh giá tổn thương dễ dàng hơn so với các ảnh gốc

cắt ngang (axial), giúp cho các bác sỹ lâm sàng đưa

ra phương pháp điều trị phù hợp, tiên lượng và tránh

được các biến chứng trong phẫu thuật

- Điều trị: dị tật này theo y văn chủ yếu là phẫu

thuật cắt rời và cắt bỏ niệu quản hẹp chuyển dịch

niệu quản sang phải TMCD, nối tận tận bằng kỹ thuật

mổ mở hoặc nội soi [7], trong những năm gần đây với

những ưu điểm: xâm lấn tối thiểu, thời gian mổ và thời

gian nằm viện ngắn hơn, lượng máu mất ít… phẫu

thuật nội soi đã chiếm ưu thế trong điều trị những

trường hợp niệu quản sau TMCD đơn thuần

Kết luận

CLVT 64 dãy có thể chẩn đoán chính xác bất

thường bẩm sinh niệu quản sau TMCD với các ưu

điểm không xâm lấn, đánh giá chi tiết mối liên quan giải phẫu giữa TMCD và niệu quản

Tài liệu tham khảo

1 Andrea Salonia, Carmen Maccagnano, Ariann a Lesma et al (2006) “Diagnosis and Treatment of the Circumcaval Ureter.” European urology supplements 5: p 449–462

2 Bass FE, Redwine MD, Kramer LA, Huynh PT, Harris JH (2000) “Spectrum of congenital anomalies

of the inferior vena cava: cross-sectional imaging findings.” RadioGraphics;20:639–52

3 Bateson EM, Atkinson D (1969) “Circumcaval ureter: a new classification.” Clin Radiol; 20:173-7

4 Hochstetter F (1893) “Beitrage zur entwicklungsgeschichte des venen-systems der amnioten: III” Sauger Morph Jahrb; 20:542

5 Ishitoya S, Arai Y, Okubo K (1997) “Left retrocaval ureter associated with the Goldenhair Syndrome (brachial arch syndrome).” J Urol; 158(2):572-3

6 Lin WC, Wang JH, Wei CJ, Chang CY (2004)

“Assessment of CT urography in the diagnosis of urinary tract abnormalities.” J Chin Med Assoc;

67:73-8

7 Polascik T J., Chen R N (1998)

“Laparoscopic ureteroureterostomy for retrocaval ureter.” J Urol; 160:121

8 Singh DD, Sanjeev P, Sharma RK (2001)

“Spiral CT evaluation of circumcaval ureter (retrocaval ureter).” Ind J Radiol Imag;11:83-4

LOéT GIáC MạC DO Hở MI TRÊN BệNH NHÂN LồI MắT áC TíNH GRAVES BASEDOW

THÔNG BáO MộT TRƯờNG HợP Và HồI CứU Y VĂN

Nguyễn Hữu Quốc Nguyên

TểM TẮT

Mục tiờu: Loột giỏc mạc do hở mi do lồi mắt ỏc

tớnh cú tỷ lệ mắc bệnh thấp Chỳng tụi thụng bỏo hai

trường hợp loột giỏc mạc do lồi mắt ỏc tớnh trờn hai

bệnh nhõn Graves Basedow cú biểu hiện khỏ điển

hỡnh về lõm sàng và cận lõm sàng tại khoa mắt bệnh

viện C Đà Nẵng, nhằm rỳt kinh nghiệm trong chẩn

đoỏn, điều trị và theo dừi bệnh nhõn Phương phỏp

nghiờn cứu: tổng quan ghi nhận về đặc điểm lõm

sàng và cận lõm sàng hồi cứu trong y văn Kết quả:

Hai bệnh nhõn, một nam, một nữ, bị loột giỏc mạc do

lồi mắt gõy hở mi trờn bệnh nhõn Graves Basedow

đó được chẩn đoỏn xỏc định trờn lõm sàng và cận

lõm sàng Kết luận: Chẩn đoỏn xỏc định hai bệnh

nhõn Graves Basedow cú triệu chứng lồi mắt ỏc tớnh

cần phải can thiệp ngoại khoa

SUMMARY

Objectives: Corneal ulcers caused by acute

exophthalmos are not common; we report two cases

of corneal ulcers caused by acute exophthalmos in patients of Graves Basedow with clinical and laboratory signs correlation of Graves Basedow in Ophthalmology department - Da Nang C Hospital

Method: Case study Results: Two patients of

Graves Basedow, one man, one woman have got corneal ulcers caused by exophthalmos

Conclusion: Two patients were diagnosed Graves

Basedow that have clinical acute exophthalmos

ĐẶT VẤN ĐỀ:

Cỏc trường hợp lồi mắt ỏc tớnh gõy hở mi trờn bệnh nhận Graves Basedow là một trong những bệnh

lý hiếm gặp, tỉ lệ mắc bệnh là rất thấp Trong thực tế

Ngày đăng: 21/08/2015, 10:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w