1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

BƯỚC đầu ĐÁNH GIÁ kết QUẢ của gây tê đám rối THẦN KINH CÁCH TAY ĐƯỜNG TRÊN đòn dưới HƯỚNG dẫn của SIÊU âm tại BỆNH VIỆN SAINT PAUL hà nội

3 696 8

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 143,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phương pháp này đảm bảo độ chính xác cao, thời gian khởi tê ngắn,thời gian gây tê kéo dài tùy theo yêu cầu của phẫu thuật, an toàn hiệu quả, tránh được các biến chứng.. Gây tê ĐRTKCT

Trang 1

Y HỌC THỰC HÀNH (860) - SỐ 3/2013 10

B¦íC §ÇU §¸NH GI¸ KÕT QU¶ CñA G¢Y T£ §¸M RèI THÇN KINH C¸NH TAY §¦êNG TR£N §ßN D¦íI H¦íNG DÉN CñA SI£U ¢M T¹I BÖNH VIÖN SAINT PAUL Hµ NéI

§ç thÞ H¶i

Vò v¨n Kh©m

TÓM TẮT

Gây tê đám rối thần kinh cánh tay (ĐRTKCT)

đường trên đòn dưới hướng dẫn của siêu âm là một

phương pháp vô cảm tốt cho các phẫu thuật từ 1/3

trên cánh tay trở xuống Phương pháp này đảm bảo

độ chính xác cao, thời gian khởi tê ngắn,thời gian gây

tê kéo dài tùy theo yêu cầu của phẫu thuật, an toàn

hiệu quả, tránh được các biến chứng Phẫu thuật viên

(PTV) và bệnh nhân (BN) hài lòng

Gây tê ĐRTKCT đường trên đòn dưới hướng dẫn

của siêu âm được thực hiện thành công trên tất cả

các bệnh nhân (32/32) Sự phối hợp thuốc Lidocain

và Adrenalin có hiệu quả gây tê tốt, kéo dài thời gian

tác dụng, tránh được các biến chứng, giảm liều lượng

thuốc tê Thay đổi mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2

trước và sau gây tê không có ý nghĩa thống kê (P<

0,05) Khó thở 0/32 BN, nói khàn 2/32 BN, khô

miệng,khó nuốt 0/32 BN, tụt huyết áp có 1/ 32 BN,

run có 2/32 BN được điều trị ổn định bằng truyền

dịch, ephedrin và midazolam Có 1 bệnh nhân có

cảm giác đau mức độ ít khi rạch da ở 1/3 trên cánh

tay cần phối hợp điều trị thêm 0,1 mg fentanyl đường

tĩnh mạch Không có bệnh nhân nào có biểu hiện tràn

khí màng phổi, tổn thương thần kinh, mạch máu và

ngộ độc thuốc tê Không có bệnh nhân nào phải

chuyển sang phương pháp gây mê toàn thân

Từ khóa: Gây tê đám rối thần kinh cánh tay, siêu

âm

SUMMARY

Untrasound- guided supraclavicula brachial plexus

block is a good anaesthetic method for the higher third

of the humerus and lower The method achieves high

accuracy, safe, effect, and the time it takes depend on

the demand of the surgeon and avoids complication

Surgeons and patients are pleased with it

Untrasound- guided supraclavicula brachial plexus

block was carried out successfuly on all patients

(32/32) The combination of Lidocain / Fentanyl /

Adrenalin obtained good result, prolongable active

time, avoiding complications, lower anaesthetic

doses Changing heart rhythm, tension and breathing

rhythm before and after anaesthetic had no statistical

value (P<0,05) Among patients, 0/32 were stuffy,

2/32 were hoarse, 0/32 dried mouth, 0/32 had trouble

swallowing, 1/32 suffered from hypotension, 2/32

shivered They were treated well with ephedrin and

midazolam transfusion One patients who were

incised the skin of the higher third of the humerus

suffered from slightly pain and should have been

given an intravenous injection of 0,1mg fentanyl

Nobody had any signs or symtoms of pneumothorax,

nervous and vascular damage or poison Nobody were switched to total anaesthetic

Keywords: Untrasound- guided supraclavicula

brachial plexus block, Surgeons, patients

ĐẶT VẤN ĐỀ

Gây tê ĐRTKCT là tiêu chuẩn vàng trong thực hành và kiểm soát đau đối với những phẫu thuật chi trên Phương pháp này có đầy đủ ưu điểm của phương pháp gây tê vùng như: Đảm bảo ức chế vận động và cảm giác tốt đáp ứng cho yêu cầu của phẫu thuật, đảm bảo tính an toàn cho BN, sự hài lòng của PTV BN tránh được một cuộc gây mê do đó ít bị ảnh hưởng đến hô hấp, tuần hoàn và có hậu phẫu nhẹ nhàng

Trước đây gây tê ĐRTKCT chủ yếu được tiến hành bằng phương pháp tê mò và tê bằng máy kích thích thần kinh cơ Tuy nhiên hai phương pháp này

có thể gây tổn thương thần kinh, tổn thương mạch máu, đỉnh phổi Đặc biệt đối với những bệnh nhân béo phì việc xác định mốc giải phẫu để gây tê rất khó khăn và có nguy cơ thất bại hoặc để lại biến chứng Dưới hướng dẫn của siêu âm bác sỹ gây mê quan sát trực tiếp được đám rối thần kinh cánh tay, động mạch, tĩnh mạch, đỉnh phổi Việc đưa kim gây

tê vào chính xác vị trí ĐRTKCT đảm bảo mức độ gây

tê tốt, giảm liều lượng thuốc tê, tránh được các biến chứng

Phương pháp này đã được thực hiện ở các nước phát triển trên thế giới Tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này còn khá mới mẻ

Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Bước đầu đánh giá kết quả của gây tê đám rối thần kinh cánh tay đường trên đòn dưới hướng dẫn của siêu âm tại bệnh viện Saint paul Hà Nội ” nhằm mục tiêu:

1 Đánh giá mức độ ức chế vận động và cảm giác trong và sau mổ của phương pháp gây tê ĐRTKCT đường trên đòn dưới hướng dẫn của siêu

âm trong phẫu thuật chi trên

2 Đánh giá những tác dụng không mong muốn của phương pháp

ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu:

Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân: Lựa chọn

những trường hợp có chỉ định phẫu thuật từ 1/3 trên cánh tay trở xuống tại bệnh viện Saint Pault Thể trạng ASA I và ASA II, không có chống chỉ định gây

tê Tuổi từ 13 đến 65 không phân biệt nam, nữ Không lựa chọn vào nghiên cứu những BN có nhiễm

trùng tại chỗ chọc kim Rối loạn đông máu hoặc đang

Trang 2

Y HỌC THỰC HÀNH (860) - SỐ 3/2013 11

dùng thuốc chống đông Động kinh, tâm thần, từ chối

phương pháp gây tê

2 Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến

cứu mô tả cắt ngang trên 32 bệnh nhân có ASA I và

ASA II, được chỉ định phẫu thuật chi trên

3.Thuốc và phương tiện gây tê:

Lidocain 2 %, Adrenalin

Máy siêu âm, kim luồn, Opsite cố định, dây nối

bơm tiêm điện, Monitor

Thước đo điểm đau đồng dạng nhìn VAS (Visual_

Analog_ Scale) 10 điểm

Đèn, ống NKQ, ambu, mask oxy, thuốc cấp cứu

hồi sức tim mạch

Các phương tiện hồi sức cấp cứu khác

4 Quy trình nghiên cứu

4.1 Chuẩn bị bệnh nhân trước mổ:

Khám BN hỏi tiền sử, thăm khám lâm sàng, kiểm

tra toàn bộ các xét nghiệm có liên quan đến cuộc mổ,

phân loại sức khỏe BN theo chỉ số ASA, đánh giá

theo bệnh hiện tại có hoặc không có bệnh kết hợp,

đề xuất điều chỉnh các rối loạn nếu có

Giải thích, động viên cho BN hiểu, tin tưởng và

hợp tác tốt với BS trong quá trình gây tê và phẫu

thuật

4.2 Kỹ thuật gây tê ĐRTKCT đường trên đòn

dưới hướng dẫn của siêu âm:

4.2.1 Bệnh nhân nằm ngửa, đầu quay sang bên

đối diện, cánh tay khép chặt thân mình và hạ thấp hết

cỡ (mục đích mở rộng góc ức đòn)

Sử dụng đầu dò phẳng siêu âm xác định đám rối

thần kinh cánh tay ở vị trí trên xương đòn

4.1.2 Sát khuẩn vùng gây tê, trải săng vô khuẩn

4.2.3 Dùng kim luồn đi vào ĐRTKCT, hướng kim

song song với mặt phẳng đầu dò Quan sát trên màn

hình siêu âm, khi thấy đầu kim gây tê nằm ở trung

tâm của ĐRTKCT, rút nòng kim, hút không có máu

ra, tiến hành tiêm thuốc liều ban đầu Lidocaine

6mg/kg phối hợp Adrenalin 1/200 000 pha thành thể

tích 8ml/ kg cân nặng

4.2.4 Cố định kim luồn làm catheter để tiêm liều

nhắc lại khi cần thiết

5 Theo dõi bệnh nhân:

Đánh giá các chỉ số về điện tim, huyết áp, nhịp

thở, SpO2 trước, trong và sau phẫu thuật trên

monitor theo dõi liên tục

Đánh giá tác dụng không mong muốn trên lâm

sàng: tụt huyết áp, mạch chậm, buồn nôn, nôn, rét

run, ngứa, nhức đầu, tổn thương thần kinh, tràn khí

màng phổi

6 Các chỉ tiêu đánh giá kết quả nghiên cứu:

6.1: Đánh giá tác dụng ức chế vận động và cảm

giác

Đánh giá thời gian chờ đáp ứng với ức chế vận

động và cảm giác sau khi tiêm thuốc

+ Đánh giá mức độ ức chế vận động theo Modifiel

Bromage scale:

0: Bình thường 1: Gấp cổ tay

2: Gấp khuỷu tay 3: Liệt hoàn toàn

Đánh giá 5 phút / lần, trong 30 phút đầu

+ Đánh giá mức độ ức chế cảm giác theo Pin prick scale:

0: Bình thường 1: Giảm cảm giác

2: Mất cảm giác hoàn toàn

Đánh giá 2 phút / lần, trong 30 phút đầu

+ Trong mổ dùng thang điểm đo mức độ đau của Visual- Analogue- Scale:

0 - 1 điểm: Không đau 2 – 4 điểm: Đau ít

5 – 6 điểm: Đau vừa 7 – 8 điểm: Đau nhiều

9 – 10 điểm: Rất đau

Đánh giá bằng cách hỏi bệnh nhân và để bệnh nhân tự chỉ ra mức độ đau của mình trên thước 6.2 Đánh giá sự thay đổi của mạch, huyết áp, điện tim, SpO2 trước, trong và sau gây tê dựa vào theo dõi trên monitor

6.3 Đánh giá tác dụng không mong muốn của phương pháp bằng cách theo dõi trong quá trình phẫu thuật và 24h đầu sau phẫu thuật

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1 Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Trong 32 BN có có 22/32 nam, 10/32 nữ Tuổi thấp nhất 13, cao nhất 56 Tuổi trung bình 33,13 + 11,67 Cân nặng trung bình 49,06 + 8,353 Chiều cao trung bình 160,75 + 7,313cm

Khi gây tê ĐRTKCT có cảm giác dị cảm 6/ 32 BN, không có cảm giác dị cảm 26/32 BN

Thời gian khởi tê (khoảng thời gian từ lúc bắt đầu tiêm thuốc cho đến khi úc chế cảm giác đáp ức được cho phẫu thuật) ngắn nhất 4 phút, dài nhất 10p, TB 5,11 + 1,813 phút

Thời gian tác dụng tê với liều ban đầu trung bình 136,54 + 48,88 phút

2 Kết quả gây tê ĐRTKCT đường trên đòn dưới hướng dẫn của siêu âm

Bảng 1: Các kết quả liên quan gây mê hồi sức:

Dị cảm/ không dị cảm 6/26

Sử dụng thêm fentanyl đường TM (Có sử dụng thêm fentanyl / Không sử dụng

thêm Fentanyl)

3/29

Chuyển sang gây mê toàn thân 0/32 Mức độ hài lòng của bệnh nhân

(Rất hài lòng/ Hài lòng/ Chấp nhận được/

Không chấp nhận được)

19/12/1/0

Bảng 2: Thời gian khởi tê

Thời gian Số Bệnh Nhân %

Bảng 3: Tác dụng giảm đau trong phẫu thuật: Dựa vào cảm giác chủ quan của bệnh nhân theo thang điểm đo mức độ đau của Visual- Analogue- Scale

Trang 3

Y HỌC THỰC HÀNH (860) - SỐ 3/2013 12

Mức độ

đau

Không

đau

Đau ít Đau

vừa

Đau nhiều

Rất đau

Tỷ lệ (%) 90,63 % 3,12 % 0 % 0 % 0 %

3 Tác dụng phụ và tai biến của phương pháp

gây tê ĐRTKCT đường trên đòn dưới hướng dẫn

của siêu âm

Bảng 4 : Các biến chứng sau gây tê:

Triệu chứng Số BN Tỷ lệ %

Khô miệng, khó nuốt 0 0 %

BÀN LUẬN

Gây tê ĐRTKCT đã được nghiên cứu và chứng

minh có nhiều ưu điểm hơn so với gây mê toàn thân,

Bn tỉnh táo hoàn toàn trong mổ tránh được các ảnh

hưởng của gây mê trên hô hấp, tuần hoàn, chức

năng gan, thận và tránh được một số tai biến liên qua

đến gây mê NKQ như trào ngược, tổn thương răng

lợi, đau họng Bn sau mổ có hậu phẫu nhẹ nhàng

Đặc biệt tốt với những bệnh nhân có bệnh phổi tắc

nghẽn mãn tính, hen phế quản, suy gan, suy thận

Sử dụng siêu âm để gây tê đám rối thần kinh

cánh tay mang lại kết quả thành công cao, tránh

được nhiều tác dụng không mong muốn Việc sử

dụng kim luồn luồn vào đám rối thần kinh cánh tay

đảm bảo được thời gian gây tê kéo dài tùy theo yêu

cầu của phẫu thuật

Qua nghiên cứu và thực hiện phương pháp gây tê

đám rối thần kinh cánh tay dưới hướng dẫn của siêu

âm trên 32 BN, trong đó có 22 BN nam và 10 BN nữ,

tuổi từ 13 đến 56 (Trung bình 33,13) Phần lớn bệnh

nhân đều có hiệu quả giảm đau tốt Đánh giá mức độ

đau theo thang điểm đo mức độ đau của Visual-

Analogue- Scale thì có 31/ 32 BN có kết quả tốt, 1/32

BN có đau it khi rạch da ở 1/3 trên cánh tay nhưng

được điều trị tốt bằng 0,1 mg fentanyl TM

Nhờ sử dụng siêu âm bác sỹ gây mê quan sát

trực tiếp được mạch máu, đám rối thần kinh, màng

phổi do đó kết quả 32/32 BN (100 %) không có biến

chứng như tổn thương thần kinh, màng phổi, tổn

thương mạch máu

Không có trường hợp nào phải chuyển sang gây

mê toàn thể 32/32 BN duy trì SpO2 trong mổ ổn định

97-100 %

Với kết quả này bước đầu cho thấy hiệu quả và

tính an toàn của phương pháp gây tê ĐRTKCT dưới hướng dẫn của siêu âm

Về các biến chứng phiền nạn của gây tê

ĐRTKCT dưới hướng dẫn của siêu âm:

Trong 32 BN được thực hiện kĩ thuật thì có 2 trường hợp bệnh nhân run sau gây tê, gặp ở bệnh nhân nữ, được điều trị bằng an thần 2mg midazolam hết run.Có 2 trường hợp biểu nói khàn, chiếm tỷ lệ 3,12 % Nói khàn là do gây tê dây thần kinh quặt ngược thanh quản, không cần điều trị gì, triệu chứng này sẽ hết khi dừng thuốc.Có 1 trường hợp tụt huyết

áp gặp ở bệnh nhân vết thương cẳng bàn tay có mất máu và trước mổ được điều trị ổn định bằng truyền dịch và ephedrin 30 mg truyền nhỏ giọt tĩnh mạch Khi hỏi phẫu thuật viên và bệnh nhân thì 100 % đều hài lòng và đánh giá gây tê ĐRTKCT đường trên đòn dưới siêu âm là phương pháp vô cảm tốt thuận lợi cho phẫu thuật

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu và thực hiện phương pháp gây tê đám rối thần kinh cánh tay dưới hướng dẫn của siêu

âm trên 32 BN, trong đó có 22 BN nam và 10 BN nữ, tuổi từ 13 đến 56 chúng tôi có một số kết quả bước đầu như sau:

1.Gây tê ĐRTKCT đường trên dòn dưới hướng dẫn của siêu âm là phương pháp vô cảm tốt cho các phẫu thuật chi trên, an toàn và hiệu quả Tỷ lệ thành công 32/32 BN (100%) Tỷ lệ biến chứng tràn khí màng phổi, tổn thương thần kinh, chọc vào mạch máu là 0/ 32 BN (0 %)

2.Tuy gặp một số phiền nạn nhỏ: run, nói khàn nhưng đều được xử trí đơn giản, không ảnh hưởng tới cuộc mổ

3.Phương pháp này cần được nghiên cứu trên một số lượng bệnh nhân lớn hơn để có thể đánh giá đầy đủ những ưu nhược điểm và áp dụng rộng rãi đối với những trường hợp có chỉ định phẫu thuật chi trên

và có thể áp dụng để giảm đau sau mổ hoặc giảm đau trong các bệnh lý nội khoa

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Nguyễn Quang Quyền (1997) Nách Bài giảng Giải phẫu học, Nhà xuất bản y học Hà Nội, 50-61

2 Công Quyết Thắng (2002) Thuốc tê Bài giảng Gây mê hồi sức tập 1 Nhà xuất bản Y học Hà Nội, 531- 550

3 Công Quyết Thắng (2009) Gây tê Đám rối thần kinh cánh tay Bài giảng gây mê hồi sức tập 2 Nhà xuất bản y học, 7- 15

4 Reuben S.Jonh P (2000) Brachial plexus anesthesia with verapamil and/ ỏ morphine Anesth Analg,91,pp 379- 383

5 CaoWen (2007) Clinical Evaluating of ultrasound Guidance for Brachial plexus anaesthesia Master’s thesis

Ngày đăng: 21/08/2015, 10:48

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  siêu  âm,  khi  thấy  đầu  kim  gây  tê  nằm  ở  trung - BƯỚC đầu ĐÁNH GIÁ kết QUẢ của gây tê đám rối THẦN KINH CÁCH TAY ĐƯỜNG TRÊN đòn dưới HƯỚNG dẫn của SIÊU âm tại BỆNH VIỆN SAINT PAUL hà nội
nh siêu âm, khi thấy đầu kim gây tê nằm ở trung (Trang 2)
Bảng 4 : Các biến chứng sau gây tê: - BƯỚC đầu ĐÁNH GIÁ kết QUẢ của gây tê đám rối THẦN KINH CÁCH TAY ĐƯỜNG TRÊN đòn dưới HƯỚNG dẫn của SIÊU âm tại BỆNH VIỆN SAINT PAUL hà nội
Bảng 4 Các biến chứng sau gây tê: (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w